ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---
---
DƯƠNG MINH NGỌC
YẾU TỐ THỊ DÂN TRONG TÁC PHẨM
“TAM NGÔN” CỦA PHÙNG MỘNG LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Tp Hồ Chí Minh, năm 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---
---
DƯƠNG MINH NGỌC
YẾU TỐ THỊ DÂN TRONG TÁC PHẨM
“TAM NGÔN” CỦA PHÙNG MỘNG LONG
Chuyên ngành: Văn học Nước Ngoài
Mã số: 66.22.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS TRẦN LÊ HOA TRANH
Tp Hồ Chí Minh, năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu
trong luận văn là trung thực, bảo đảm độ chuẩn xác cao nhất. Các tài liệu tham
khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng. Tơi hồn tồn chịu trách nhiệm về cơng trình
nghiên cứu của mình.
Tác giả luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Quý thầy cô Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, quý
thầy cơ giảng dạy lớp cao học Văn học Nước ngồi khóa
01năm 2011-2013 đã tận tình giảng dạy giúp chúng tơi hồn
thành chương trình học.
PGS.TS. Trần Lê Hoa Tranh người thầy giúp tơi thực hiện
luận văn với tất cả lịng nhiệt tình và sự chu đáo.
Phịng đào tạo Sau Đại học, Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện
thuận lợi cho chúng tơi trong q trình học tập và thực hiện
luận văn.
Tơi gửi lịng biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè – những
người đã khơng ngừng giúp đỡ, động viên tơi trong q
trình học tập và nghiên cứu đề tài này.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2015
Dương Minh Ngọc
MỤC LỤC
DẪN LUẬN........................................................................................................................................1
1.
Lý do chọn đề tài .................................................................................................................. 1
2.
Lịch sử vấn đề ....................................................................................................................... 3
2.1.
Tình hình nghiên cứu về Tam ngơn ở Việt Nam........................................................ 3
2.2.
Tình hình nghiên cứu về Tam ngơn ở Trung Quốc ................................................... 8
2.3.
Tình hình nghiên cứu về Tam ngôn ở các nước khác.............................................. 11
3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................................... 12
4.
Phương pháp nghiên cứu................................................................................................... 13
5.
Đóng góp mới của đề tài .................................................................................................... 14
6.
Bố cục .................................................................................................................................. 14
Chương I: PHÙNG MỘNG LONG – TÁC GIA CỦA DÒNG VĂN HỌC THỊ DÂN CUỐI
ĐỜI MINH .................................................................................................................................. 15
1.1.
Tác gia Phùng Mộng Long ........................................................................................ 16
1.2.
Đô thị, thị dân và văn học thị dân ............................................................................. 20
1.3.
Thoại bản, nghĩ thoại bản và Tam ngôn ................................................................... 27
Chương II: TAM NGÔN – BỨC TRANH ĐA DIỆN VỀ XÃ HỘI THỊ DÂN CUỐI ĐỜI
MINH .......................................................................................................................................... 31
2.1. Đời sống kinh tế của thị dân ........................................................................................... 32
2.2. Tình u, hơn nhân và đời sống gia đình của thị dân .................................................. 43
2.3. Đời sống tơn giáo tín ngưỡng của thị dân ..................................................................... 53
2.4. Những mâu thuẫn trong lòng xã hội thị dân ................................................................ 56
Chương III: TAM NGÔN – TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CHO NGHỆ THUẬT TIỂU
THUYẾT THỊ DÂN CUỐI ĐỜI MINH................................................................................... 65
3.1. Người kể chuyện (thuyết thoại nhân) và nghệ thuật kể chuyện .................................. 66
3.2. Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật thị dân ...................................................... 76
3.3. Nghệ thuật xây dựng không gian và thời gian thị dân................................................. 91
KẾT LUẬN ....................................................................................................................................105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 107
PHỤ LỤC 1 ....................................................................................................................................115
PHỤ LỤC 2 ....................................................................................................................................128
1
DẪN LUẬN
1. Lý do chọn đề tài
Lần đầu chúng tôi tiếp xúc với Tam ngôn là qua ngôn thứ hai Cảnh thế thông
ngôn do tập thể các giáo sư Nguyễn Khắc Phi, Trần Thị Băng Thanh… biên dịch,
nhà xuất bản Lao động và Trung tâm Văn hóa Ngơn ngữ Đơng Tây ấn hành. Sách
bìa cứng, khổ to, dày 843 trang cỡ như những cuốn giáo trình văn học. Phần nội
dung của sách cả thảy bốn mươi thiên, bao gồm những câu chuyện vừa quen lại vừa
lạ. Quen vì những con người, những sự việc này như đã từng xuất hiện đâu đó trong
đời sống hàng ngày: qua những câu cửa miệng, những tuồng tích cải lương, những
truyện dân gian các bà, các mẹ hay kể; lạ vì nội dung của các câu chuyện có lớp
lang, có thứ bậc, tình tiết tuy ly kỳ biến ảo nhưng rõ ràng rành mạch do được trình
bày hiển hiện trên trang sách chứ khơng phải qua lớp bụi mờ của ký ức chỉ còn
mang máng phần nội dung. Do niềm đam mê đối với các câu chuyện kể, chúng tơi
đã cố cơng tìm đọc trọn vẹn bộ sách để rồi bị lôi cuốn vào thế giới của Tam ngôn.
Thứ đến, chúng tôi nhận thấy cơng trình của chúng tơi tìm hiểu về Tam ngơn
có tác dụng nhất định để bổ sung vào việc nghiên cứu tiểu thuyết cổ điển Trung
Quốc ở Việt Nam. Trước nay, nhắc đến tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, bạn đọc và
các học giả đa phần hướng tới các tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng như Tam quốc
diễn nghĩa, Thủy Hử, Tây du ký, Hồng lâu mộng… Tuy nhiên, bên cạnh tiểu thuyết
chương hồi, tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc cịn có một thể tài quan trọng khơng
kém đó chính là các đoản thiên tiểu thuyết bạch thoại (truyện ngắn viết bằng bạch
thoại) mà Tam ngôn là đại diện ưu tú nhất. Tiền thân của tiểu thuyết đời Minh đa
phần là các thoại bản (truyện kể) đời Tống – Nguyên. Theo Lỗ Tấn, thuyết thoại (kể
chuyện) là loại hình sinh hoạt văn nghệ chủ yếu vào thời Tống cả ở thành thị và
nông thôn. Trong thuyết thoại lại chia thành bốn khoa: “giảng sử; thuyết kinh và hội
kinh; tiểu thuyết và hợp sinh.” [88, tr. 336] Nếu “giảng sử” phát triển thành các
trường thiên tiểu thuyết diễn nghĩa lịch sử với nội dung là các câu chuyện hưng phế
của các triều đại thì “tiểu thuyết” lại phát triển thành các đoản thiên tiểu thuyết bạch
2
thoại với nội dung đa phần là sinh hoạt thường ngày của tầng lớp thị dân trong xã
hội. Đoản thiên tiểu thuyết bạch thoại ra đời vào cuối thời Minh đánh dấu bước phát
triển của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc. Từ đây, tiểu thuyết đã thoát ra khỏi ảnh
hưởng và ràng buộc của văn học truyền thống dựa vào lịch sử, dẫn đến tiểu thuyết
càng tiếp cận cuộc sống, tiếp cận dân chúng, nhờ đó mà các tác phẩm đậm đà hơi
thở của thời đại.
Bên cạnh đó, chúng tơi nhận thấy Phùng Mộng Long là một tác giả thú vị.
Ông là một nhà Nho theo kiểu “nhà Nho tài tử”. Ơng có sự am hiểu nhất định đối
với học thuật và lễ giáo của Nho gia, có khát vọng làm quan để đem tài năng của
mình ra giúp đời nhưng lại lận đận con đường khoa cử. Ông từng đi khắp nơi vừa
du lịch vừa giảng dạy để sinh sống. Với cốt cách tài tử cùng với cuộc đời phiêu bạt
mang đến cho ông vốn sống dày dặn để phản ánh hết những cung bậc của tình cảm
con người. Với khối lượng tác phẩm đồ sộ, “Phùng Mộng Long là tác giả có cống
hiến quan trọng trong tất cả các phương diện của văn học thơng tục”. [50, tr.185]
Ngồi ra, chúng tôi nhận thấy Tam ngôn ra đời vào buổi hồng hơn của xã
hội phong kiến, tác phẩm lấy chất liệu từ hiện thực cuộc sống đã phản ánh những
vết thương khơng thể chữa khỏi trong lịng xã hội phong kiến. Tư tưởng thống trị xã
hội lúc bấy giờ do Lý học Trình Chu đề xuất là “Tồn thiên lý, diệt nhân dục” (Giữ
đạo trời, diệt lòng ham muốn) đi ngược lại bản chất tự nhiên của con người, do đó
kìm hãm sự phát triển của xã hội. Đi cùng với sự phồn vinh của kinh tế thành thị,
giai tầng thị dân ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã
hội. Giai tầng mới xuất hiện này có những thị hiếu và nhu cầu tinh thần khác xưa,
văn học không thể mãi chỉ là nhu cầu tinh thần của riêng một giai cấp nào mà nó
phải đáp ứng được thị hiếu của đơng đảo độc giả. Bên cạnh nền văn chương cử
nghiệp thì nền văn học của thị dân cũng phát triển mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu
tinh thần của tầng lớp thị dân ngày càng đông đảo. Thị dân không những là đối
tượng văn học hướng đến mà còn là đối tượng văn học phản ánh. “Yếu tố thị dân”
3
trở thành chiếc chìa khóa quan trọng để mở cánh cửa dẫn vào thế giới của Tam
ngôn.
2. Lịch sử vấn đề
2.1.
Tình hình nghiên cứu về Tam ngơn ở Việt Nam
Tam ngôn bao gồm Dụ thế minh ngôn (1620), Cảnh thế thông ngôn (1624)
và Tỉnh thế hằng ngôn (1627) cùng do nhà văn học dân gian cuối đời Minh là
Phùng Mộng Long có cơng sưu tầm, chỉnh lý và xuất bản.
Một trong những cơng trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về tiểu thuyết
cổ điển Trung Hoa nói chung và Tam ngơn nói riêng đó chính là cuốn sách Khảo
luận về tiểu thuyết Trung Hoa in năm 1959 của Nguyễn Huy Khánh. Trong đó,
Nguyễn Huy Khánh qui tiểu thuyết đời Minh về năm loại là: “loại anh hùng”, “loại
lịch sử”, “loại thần ma”, “nhơn tình tiểu thuyết” và “đoản thiên tiểu thuyết”. Tác giả
chú trọng giới thiệu các loại anh hùng, lịch sử và thần ma tiểu thuyết đồng thời đi
sâu vào phân tích thành tựu nghệ thuật của các bộ tiểu thuyết tiêu biểu của mỗi loại.
Tác giả dành ra năm trang (198 đến 203) để giới thiệu về đoản thiên tiểu thuyết.
Theo tác giả, thành tựu tiêu biểu của đoản thiên tiểu thuyết đời Minh chính là Tam
ngơn và Lưỡng phách (gộp chung lại gọi là Kim cổ kỳ quan). Giai đoạn này, Kim cổ
kỳ quan đang được Trần Thanh Đạm và Nguyễn Tố Nguyên dịch ra tiếng Việt.
Nguyễn Huy Khánh nhận định: “Kim cổ kỳ quan được lưu truyền rất rộng rãi trong
dân gian Trung Quốc. Có nhiều truyện mà hiện nay ai cũng biết. Ngay cả những
người chưa từng đọc Kim cổ kỳ quan cũng biết qua một ít truyện, bất quá là họ
chẳng biết những chuyện đó ở trong Kim cổ kỳ quan mà thơi.” [53, tr.199] Nguyễn
Huy Khánh cũng qui nội dung của Kim cổ kỳ quan về hai loại đó là “ca tụng tình
yêu chân thật” và “ca tụng tình bạn”. Lời giới thiệu sơ sài, mang tính chung chung
chưa đi sâu vào Tam ngôn.
4
Bạn văn cùng thời với Nguyễn Huy Khánh là nhà nghiên cứu Vương Hồng
Sển trong Hiếu cổ đặc san số 2 xuất bản năm 1970, sau này còn được biết đến dưới
nhan đề Thú xem truyện Tàu cũng có đơi lời bàn về sách Kim cổ kỳ quan.
“Bộ truyện này hết sức rộng rãi trong dân gian Trung Quốc, không ai khơng
biết. Có nhiều tích nay được phổ biến bằng xi-nê. Đọc Kim Cổ kỳ quan, chúng ta
không thấy cái giọng quyết liệt hùng hồn của bộ Tam Quốc Chí hay Thủy Hử, giọng
châm biếm trào lộng của bộ Tây Du, hoặc mỉa mai nhưng rất tục trong bộ Kim
Bình Mai, nhưng văn Kim Cổ Kỳ Quan làm thỏa bụng những người khó tánh, vì nhẹ
nhàng, êm ái, lời thanh tao, ý đậm đà, trung hậu, nhiều tình tứ nhưng khơng ủy mị,
lả lơi. Theo nhiều nhà phê bình, Kim Cổ Kỳ Quan là một bộ truyện trong sạch có
chơn giá trị, tuy đối với vài nhà khó tánh cịn trách Kim Cổ Kỳ Quan ưa tán dương
thuyết định mệnh và đơi chỗ ưa đề cao phong kiến”. [84, tr.76]
Nhìn chung, Vương Hồng Sển cũng có cách nhìn nhận tương tự như Nguyễn
Huy Khánh, tuy nhiên ơng có bổ sung tình hình dịch thuật Kim cổ kỳ quan và có
nhận xét về từng bản dịch.
Nguyễn Hiến Lê trong tác phẩm Đại cương văn học sử Trung Quốc cũng có
nhắc đến Kim cổ kỳ quan như là một ví dụ về Đoản thiên tiểu thuyết trong chương
IV (Tuồng và tiểu thuyết đời Minh) của Phần thứ năm (Văn học các đời Nguyên Minh – Thanh). Tuy nhiên, Nguyễn Hiến Lê chỉ giới thiệu cho có chứ chưa đào sâu.
Nguyên do là thời kỳ này ở Việt Nam, Tam ngôn vẫn chưa được dịch một
cách trọn vẹn mà thường dựa vào bộ sách Kim cổ kỳ quan do Bảo Ủng lão nhân
biên soạn lại.
Phải đến năm 1998, Tam ngôn mới bắt đầu được dịch một cách hệ thống ra
tiếng Việt. Trong đó, Cảnh thế thông ngôn được dịch trọn vẹn (40 truyện) cả hai lần:
một bản của 2 dịch giả Lê Đức Tính và Nguyễn Huy, nhà xuất bản Mũi Cà Mau ấn
hành vào năm 1998; một bản do tập thể các giáo sư Nguyễn Khắc Phi, Trần Thị
Băng Thanh, Phạm Tú Châu, Trần Đình Sử, Lê Văn Tẩm dịch, nhà xuất bản Lao
5
động và Trung tâm văn hóa ngơn ngữ Đơng Tây ấn hành vào năm 2009. Cả hai
cuốn đều có lời giới thiệu ở đầu sách là tiền đề nghiên cứu tác phẩm. Tuy nhiên bản
năm 1998 là Lời nhà xuất bản văn học nhân dân Bắc Kinh nên sẽ được đề cập đến
trong phần lịch sử nghiên cứu Tam ngôn ở Trung Quốc. Bản năm 2009, ngồi lời
Tự của Vơ Ngại cư sĩ đã được viết vào năm 1624 (năm Cảnh thế thơng ngơn được
xuất bản lần đầu tiên) cịn có lời giới thiệu của các dịch giả về bộ sách.
“Cảnh thế thông ngôn là những câu chuyện dân gian được Phùng Mộng
Long sửa chữa, gia công thêm, phản ánh nhân tình thế thái, ước mơ và khát vọng
của những con người thuộc nhiều tầng lớp khác nhau nhưng đều khát khao vươn tới
hạnh phúc trong tình u và hơn nhân ở xã hội cũ. Mỗi câu chuyện trong Cảnh thế
thơng ngơn dù là tình bạn hay tình u trai gái, vợ chồng, dù là giữa người với
người hay người với ma quỷ đều mang nội dung răn dạy đạo đức và phản ánh nhiều
loại người trong xã hội. Nội dung của bộ sách khá phức tạp nhưng có thể thấy chủ
yếu nó khẳng định quyền được lựa chọn một đời sống hạnh phúc theo đúng ý muốn
của nhân vật. Các nhân vật đã vượt qua những ràng vuộc về lễ nghĩa của đạo đức
truyền thống để khẳng định ước mơ về tình u và hơn nhân của mình. Mượn “cảnh
thế”, thông qua sinh hoạt của tầng lớp thị dân để nói về nhân tình, về quan niệm
đạo đức, Phùng Mộng Long đã biến những câu tiểu thuyết thu hút được đông đảo
người đọc và khẳng định thể loại tiểu thuyết bạch thoại trong đời sống văn học,
phản ánh hiện thực đời sống tình cảm và ý thức của tầng lớp thị dân, tuy có những
mặt phong kiến dung tục nhưng nhân tố dân chủ chủ nghĩa, tinh thần nhân đạo chủ
nghĩa và tính tức cực chủ quan cho đến thái độ trào phúng, châm biếm vị trí chủ
đạo trong tác phẩm”. [14, tr.6]
Các dịch giả cũng đồng thời giới thiệu về tình hình dịch thuật các cuốn khác
của bộ sách Tam ngôn cũng như các tác phẩm của Phùng Mộng Long ở Việt Nam,
tuy nhiên các dịch giả đã nhầm khi nói Dụ thế minh ngơn vẫn chưa được dịch ra
tiếng Việt.
Bởi Dụ thế minh ngôn đã được Lê Đức Tính dịch từ năm 1999, tuy nhiên bản
dịch khơng đầy đủ; ngồi Lời nói đầu của Hứa Chính Dương thì Dụ thế minh ngơn
6
mới chỉ được dịch ra 19 truyện (thiếu 21 truyện). Lời nói đầu phản ánh tình hình
nghiên cứu về Tam ngôn ở Trung Quốc nên chúng tôi chưa bàn đến.
Cũng trong năm 1999, Tỉnh thế hằng ngôn được Nguyễn Huy dịch ra tiếng
Việt, nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội ấn hành, tuy nhiên chỉ mới có 34 truyện
(thiếu 6 truyện). Nguyễn Huy cũng dịch Lời nói đầu của Cố Học Hiệt (một học giả
hiện đại) và Nguyên tựa của Tỉnh thế hằng ngôn do Khả Nhất cư sĩ đề cho tác phẩm
vào năm 1627 (năm tác phẩm ra đời).
Đến năm 2006, Tỉnh thế hằng ngôn và Dụ thế minh ngôn được nhà xuất bản
Phương Đông tái bản tuy nhiên vẫn khơng có gì thay đổi so với lần xuất bản trước.
Năm 2011, Nhà sách Phương Nam và nhà xuất bản Văn học có phát hành
cuốn sách Tiểu thuyết cổ Trung Hoa Tam ngôn Nhị phách Độc chiếm hoa khôi, do
Phạm Thị Hảo tuyển dịch một số tác phẩm từ cả Tam ngôn lẫn Nhị phách. Phần
Tam ngôn tác giả dịch trọn vẹn một thiên Tưởng Hưng Ca trùng hội trân châu sam
đồng thời tóm dịch 21 thiên khác (trong đó có 5 thiên của Dụ thế minh ngôn trước
đây chưa được dịch).
Phạm Thị Hảo nhận định:
“Nội dung trong “Tam ngôn” và “Nhị phách” rất phong phú, đề tài rất rộng,
đề cập nhiều phương diện của cuộc sống xã hội. Có những truyện phản ánh nền
chính trị đen tối, vạch trần tội ác bọn quan lại tham ô thối nát, xử án bất cơng. Có
những truyện tán dương các ơng quan tốt sáng suốt thương dân. Có những truyện
chê trách hành vi bội tín, phi nghĩa, phụ bạc. Nhiều hơn cả là những tác phẩm miêu
tả đời sống của tầng lớp thị dân nơi thị thành khi nền kinh tế thương nghiệp bắt đầu
phát đạt giữa đời Minh, thể hiện phong phú và sinh động ý thức tư tưởng, ý chí đấu
tranh phản kháng các quan niệm cũ, tinh thần tích cực và khát vọng muốn có đời
sống tốt hơn của họ”. [16, tr.12]….
““Tam ngơn”, “Nhị phách” có nét mộc mạc của loại văn học thông tục song
đọc rất hấp dẫn. Các tác phẩm ưu tú đều có cốt truyện hồn chỉnh, tình tiết khúc
chiết, chi tiết phong phú, khắc họa cá tính nhân vật rất rõ. Về thủ pháp nghệ thuật,
hai bộ sách này rõ ràng là tinh tế hơn loại thoại bản nhiều, có thể thấy sự gọt giũa
7
kỹ lưỡng khi miêu tả hoàn cảnh, động tác, đối thoại, chi tiết, đặc biệt là có chú ý
miêu tả tâm lý. Nhiều chỗ miêu tả hoạt động tâm lý rất sinh động”. [16, tr.15]
Tóm lại, Tam ngơn được giới thiệu ở Việt Nam trong trào lưu dịch và xuất bản
tiểu thuyết Tàu ào ạt ở cả hai miền Nam Bắc Việt Nam vào những thập niên đầu thế
kỷ XX nhưng đa phần rời rạc, vụn vặt không theo hệ thống mà theo sở thích chủ
quan của dịch giả. Điển hình như tập sách Kim cổ kỳ truyện của dịch giả Phan Hồng
Trung tuy có phần nào bảo lưu được nội dung nhưng đã xa rời hình thức của Tam
ngơn. Phải đến những năm 1998 – 1999, hai dịch giả Nguyễn Huy và Lê Đức Tính
mới tiến hành phiên dịch Tam ngơn một cách có hệ thống trên cơ sở bảo tồn cả
phần hồn lẫn phần xác của bộ tác phẩm này. Theo thống kê của chúng tôi, hai dịch
giả đã dịch được tổng cộng 93 truyện toàn văn (Dụ thế 19, Cảnh thế 40, Tỉnh thế
34). Đồng thời việc phiên dịch Lời nói đầu của các học giả Trung Quốc hiện đại
giới thiệu về Tam ngôn là nguồn tài liệu hết sức quý báu cho chúng tôi tiến hành tìm
hiểu về đặc trưng thể loại của bộ tác phẩm này.
Năm 2009, Trung tâm Văn hóa Ngơn ngữ Đơng Tây xuất bản cuốn Cảnh thế
thông ngôn do tập thể các giáo sư Hán học uyên thâm như Nguyễn Khắc Phi, Trần
Thị Băng Thanh, Phạm Tú Châu, Trần Đình Sử, Lê Văn Tẩm tiến hành dịch thuật
toàn văn của 40 thiên truyện. Ấn phẩm dịch thuật này đã cung cấp cho chúng tôi
thêm một tài liệu tham khảo quan trọng để có thể tiến hành phân tích tác phẩm trên
cơ sở đối chiếu ngôn ngữ dịch của hai bản.
Đến năm 2011, dịch giả Phạm Thị Hảo xuất bản cuốn Tam ngôn nhị phách
độc chiếm hoa khôi. Dịch giả đã cung cấp thêm cho chúng tơi nội dung tồn văn của
một thiên (Tưởng Hưng Ca trùng hội trân châu sam) và nội dung tóm lược của 21
thiên (trong đó có 5 thiên trước đây vẫn chưa được dịch). Phạm Thị Hảo cũng đã có
phần giới thiệu giá trị về nội dung và nghệ thuật của bộ tác phẩm Tam ngôn.
Năm 2012, chúng tơi cũng có được một bài báo cáo khoa học được trình bày
ở hội nghị khoa học trẻ của khoa văn học và ngôn ngữ với tiêu đề Phùng Mộng
Long – nhà văn tiên phong của nghĩ thoại bản đời Minh. Trong bài báo cáo chúng
8
tơi đã trình bày về giá trị nội dung và nghệ thuật của Tam ngôn để đi đến khẳng
định vị trí của Phùng Mộng Long trong văn học sử Trung Quốc cuối đời Minh.
2.2.
Tình hình nghiên cứu về Tam ngơn ở Trung Quốc
Những bản in đầu tiên của Tam ngôn đến nay đã khơng cịn nữa do có một
dạo bị các nhà cầm quyền cấm đốn. Chúng tơi cố gắng tổng hợp lại q trình
nghiên cứu về Tam ngơn thơng qua: Chương 21 (Tiểu thuyết đời Minh mô phỏng
tiểu thuyết thị dân đời Tống và các tuyển tập do người đời sau làm) trong sách Lịch
sử tiểu thuyết Trung Quốc của Lỗ Tấn; Chương IX (Sự thịnh vượng của truyện
ngắn bạch thoại) trong phần Văn học đời Minh của sách Lịch sử văn học Trung
Quốc của Sở nghiên cứu văn học thuộc Viện khoa học xã hội Trung Quốc; Tiết 3
(Phùng Mộng Long và Tam ngôn) trong phần Văn học đời Minh của sách Văn học
sử Trung Quốc của Chương Bồi Hoàn, Lạc Ngọc Minh; Phần thứ tư (Tiểu thuyết
đời Minh) trong sách Tiểu thuyết Sử thoại các thời đại Trung Quốc của Trương
Quốc Phong; cùng với Lời nói đầu của các học giả Trung Quốc: Cố Học Hiệt, Hứa
Chính Dương trong lần xuất bản Tam ngôn ở Trung Quốc.
Trong lời tựa của sách Lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc, Lỗ Tấn đã viết: “Tiểu
thuyết Trung Quốc đến nay không có sử” [92, tr.19]. Có thể coi, ơng là học giả
Trung Quốc hiện đại tiên phong nghiên cứu về tiểu thuyết Trung Quốc. Lỗ Tấn
nhận định chí quái, truyền kỳ của đời Tống khơng có được thành tựu, tuy nhiên lại
nở rộ nền văn nghệ dùng lời tiếng thông tục mà viết sách, tự thuật truyện cũ, gọi là
Bình thoại hay Bạch thoại. Cũng theo Lỗ Tấn, văn thông tục thịnh lên do hai lẽ: một
là để mua vui, hai là để khuyến thiện, mà khuyến thiện là chủ yếu. Lỗ Tấn cũng giải
thích là do thời Tống đóng đơ ở Biện Kinh, nhân dân yên vui, của cải phong phú,
việc chơi bời giải trí nhiều, ở thành thị cũng như nơng thơn có trị văn lặt vặt, trong
đó có lối thuyết thoại, người làm nghề đó gọi là thuyết thoại nhân. Công việc thuyết
thoại tuy mỗi người thuyết thoại đều phải vận dụng cái khéo léo hay ho của mình,
tùy lúc mà sinh ra và phát huy lên nhưng vẫn có sách vở để làm chỗ dựa, sách vở đó
gọi là thoại bản. Đến khoảng cuối đời Minh thì tiểu thuyết thị dân đời Tống lại trỗi
9
dậy. Các nhà sách tranh nhau in ấn lưu hành. Tên gọi nghĩ thoại bản cũng là do Lỗ
Tấn gọi đầu tiên để chỉ những tiểu thuyết thị dân thời Minh mơ phỏng thoại bản mà
viết lại.
Giáo trình Lịch sử văn học Trung Quốc của Sở nghiên cứu văn học thuộc
Viện Khoa học xã hội Trung Quốc đã giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp của Phùng
Mộng Long đồng thời đi vào phân tích sơ bộ tác phẩm Tam ngơn của họ Phùng.
“Diện mạo tinh thần của những nhân vật trong truyện trên cơ bản phản ánh đặc
trưng thời đại mà giai cấp địa chủ phong kiến đang dần dần suy tàn và tầng lớp thị
dân đang dần dần vươn lên”. [86, tr.513] Giáo trình nhận định những thiên truyện
về tình yêu, tình bạn, tình người là những thiên thành công nhất trong bộ tác phẩm
đã biểu hiện ý thức tư tưởng và quan niệm đạo đức của tầng lớp thị dân.
Sách Văn học sử Trung Quốc của Chương Bồi Hoàn, Lạc Ngọc Minh đã
nhận định: Phùng Mộng Long đã đạt được những thành tựu nhất định trong lĩnh vực
hoạt động văn học thông tục. “Tiểu thuyết trong Tam Ngôn vừa phù hợp với sở
thích của độc giả thuộc tầng lớp thị dân rộng rãi, đồng thời cũng phản ánh sự suy
nghĩ nghiêm túc của tác giả đối với đời sống, và hướng vươn tới trong nghệ thuật –
đặc biệt là trong một số bài hoàn mỹ nhất.” [48, tr.449] Mặc dù Tam ngôn đậm đà
màu sắc răn dạy đạo lý, nhưng nhìn chung đó là những đạo lý tích cực mang tư
tưởng tiến bộ về tình u, hơn nhân của tầng lớp thị dân đang lên trong xã hội. Tác
giả đồng thời khẳng định những đột phá nghệ thuật tiểu thuyết trong Tam ngôn.
“Trước khi được những nhà văn học ưu tú như Phùng Mộng Long nhúng tay vào,
tiểu thuyết “thoại bản” về mặt hình thái nghệ thuật có thể nhận định là khá vụng về,
nhưng nó lại mang hơi thở của cuộc sống rất đậm đà, và cũng cung cấp một hình
thức ngơn ngữ mới mẻ, sinh động và giàu khả năng biểu hiện” [48, tr.452].
Trong phần thứ ba (Truyện kể thời Tống – Nguyên) của sách Tiểu thuyết sử
thoại các thời đại Trung Quốc, Trương Quốc Phong đã coi sự xuất hiện của thoại
bản như là cột mốc quan trọng của thể loại tiểu thuyết. Theo ông, thoại bản có lịch
sử lâu đời (Thiên Thành tướng trong sách Tuân Tử (thế kỷ III trước Công nguyên là
thoại bản đầu tiên), tuy khơng thuộc dịng văn học chính thống nhưng thoại bản vẫn
10
âm thầm lưu truyền bén rể trong dân gian. Đến đời Tống, do sự phát triển của đô thị
và thị dân, thoại bản đã trở nên lớn mạnh. Tác giả cũng phân tích sơ bộ đặc điểm và
ảnh hưởng của thoại bản. Theo tác giả, thoại bản đã đặt nền móng vững chắc cho
tiểu thuyết phát triển để chiếm lĩnh vị trí then chốt trên văn đàn Trung Quốc.
Lời nói đầu sách Dụ thế minh ngơn, học giả Hứa Chính Dương đã xác nhận
công lao to lớn của Phùng Mộng Long đối với dòng văn học thị dân khi họ Phùng
đã có cơng “sưu tầm, chỉnh lý và biên khắc” để các tác phẩm hay còn được lưu
truyền. “Cùng với Thông ngôn, Hằng ngôn, bộ tuyển tập này thể hiện tài năng nghệ
thuật kiệt xuất về sáng tạo tiểu thuyết của các nhà văn học dân gian cổ đại; đồng
thời cũng thể hiện sự phát triển không ngừng của tiểu thuyết thoại bản giữa các
thời đại Tống – Nguyên – Minh.” [8, tr.9] Hứa Chính Dương cũng giới thiệu về
hồn cảnh ra đời của Tam ngôn gắn liền với sự phồn thịnh của xã hội thị dân.
“Những tác phẩm này đã sáng tạo ra vơ số hình tượng chân thực của nhân vật
đương đại, khắc họa được diện mạo tinh thần của họ, phong tục tập quán và sự liên
hệ đấu tranh giữa họ với nhau; từ đó mở ra cho chúng ta từng bức họa sinh động
của cuộc sống đương thời.” [8, tr.15]
Lời nói đầu sách Cảnh thế thơng ngôn giới thiệu về bối cảnh ra đời của bộ
sách: “Thời Tống, đặc biệt là Nam Tống, ở một số thành thị lớn kinh tế hàng hóa đã
tương đối phát triển. Các tầng lớp thị dân ngày càng chiếm địa vị quan trọng trong
đời sống xã hội. Trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa…, họ đều có nhu cầu.
Các mặt sinh hoạt xã hội tất sẽ nảy sinh ra các nhu cầu thích hợp với họ.” [4, tr.5]
Đồng thời cũng khẳng định thuyết thoại và nghe thuyết thoại là nội dung chủ yếu
của sinh hoạt văn hóa thị dân. Đó là thể thoại “tập trung thiên tài sáng tạo của quần
chúng trong một thời gian lâu dài, từ tính tư tưởng, tính nghệ thuật, cũng như các
mặt khác đều có biển hiện mới mẻ, ưu tú, được rộng rãi độc giả hoan nghênh.”[4,
tr.7]
Lời nói đầu sách Tỉnh thế hằng ngôn học giả Cố Học Hiệt đã khẳng định:
11
“Thoại bản và thoại bản mơ phỏng, đều chỉ có thể sản sinh trong điều kiện
thành thị đã tương đối phát triển. Thời nhà Tống, kinh tế hàng hóa đã tương đối
phát triển ở một số thành thị lớn, tuy sau đó có gặp phải sự phá hoại và trở ngại
phần nào ở thời kỳ nhà Nguyên, nhưng đến thời nhà Minh, trải qua một thời kỳ khôi
phục, lại được tiếp tục phát triển, đuổi kịp và hơn nữa, còn vượt qua trình độ của
thời Lưỡng Tống, dần dần đạt tới thời kỳ manh nha của chủ nghĩa tư bản ở Trung
Quốc. Tầng lớp thị dân dần dần mở rộng, ngày càng chiếm địa vị quan trọng trong
đời sống xã hội. Tầng lớp này có yêu cầu riêng rõ rệt của mình trong mọi lĩnh vực
chính trị, kinh tế, văn hóa; và trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, tất nhiên cũng sản
sinh ra những thứ phù hợp với những yêu cầu của tầng lớp thị dân này. – “Thuyết
thoại” là một loại nghệ thuật đáp ứng được yêu cầu của tầng lớp này trong lĩnh vực
sinh hoạt văn hóa.” [6, tr.7]
Tóm lại, ở Trung Quốc do điều kiện thuận lợi hơn các học giả có cái nhìn
tồn diện hơn về quá trình hình thành và phát triển của thoại bản và nghĩ thoại bản.
Điểm chung của các học giả đều khẳng định thoại bản và nghĩ thoại bản chỉ có thể
sản sinh trong điều kiện văn hóa thị dân phát triển đến đỉnh cao, đang trên đường
bức phá để chống lại những giá trị phong kiến cổ hủ đang bóp nghẹt quyền sống,
quyền mưu cầu hạnh phúc, tự do yêu đương của giai cấp thị dân đang trên đà phát
triển.
2.3.
Tình hình nghiên cứu về Tam ngơn ở các nước khác
Sách Tiểu thuyết truyền thống Trung Quốc ở Châu Á có viết: “Thoại bản hay
truyện ngắn bạch thoại phát triển mạnh trong thế kỷ 17. Về sau loại tác phẩm này
được lưu truyền dưới hình thức tuyển tập, trong đó nổi tiếng nhất là Kim cổ kỳ quan.
Các tác phẩm loại này được người Nhật Bản và Mãn Châu cực kỳ hâm mộ. Bản
dịch các tuyển tập truyện ngắn này đã xuất hiện ở Nhật (đáng chú ý là vào các năm
1743, 1751 và 1758). Người Mãn Châu cũng dịch một số thoại bản như: Bát động
tiên, Giác thế minh ngơn, Liên thành bích. Người Mơng Cổ, trong chừng mực ít hơn,
cũng ưa thích thoại bản. Riêng Kim cổ kỳ quan được chuyển tải bằng một số ngôn
12
ngữ: Mông Cổ (1816), Triều Tiên (thế kỷ 19), Maylay (1884), Việt Nam (19101911), Makassar (thế kỷ 20)”. [31, tr.39]
Đặc biệt ở Mỹ, giáo sư Shuhui Yang của trường Bates (Bates College) có cơng
trình Appropriation and Representation: Feng Menglong and the Chinese
Vernacular Story (Trích lập và đại diện: Phùng Mộng Long và truyện phương ngữ
Trung Quốc). Đây là cơng trình nghiên cứu về vai trò biên tập của Phùng Mộng
Long về quá trình phát triển của tiểu thuyết bằng tiếng địa phương ở Trung Quốc.
Bên cạnh đó, Shuhui Yang cùng với vợ của mình là Yunqin Yang đã dịch trọn vẹn
bộ Tam ngôn ra tiếng Anh với tên gọi Stories to Enlighten the World (Dụ thế minh
ngôn) hay Stories Old and New do nhà xuất bản University of Washington Press ấn
hành vào năm 2000; Stories to Caution the World (Cảnh thế thông ngôn) do nhà
xuất bản University of Washington Press ấn hành vào năm 2005; Stories to Awaken
the World (Tỉnh thế hằng ngôn) do nhà xuất bản University of Washington Press ấn
hành vào năm 2009.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là “yếu tố thị dân" đóng vai trị là
thành tố chính hình thành nên giá trị tác phẩm.
b. Phạm vi nghiên cứu:
Bộ Tam ngôn bao gồm 120 bạch thoại đoản thiên tiểu thuyết do tác giả sưu
tầm và biên soạn theo lối mới. Do trình độ ngoại ngữ có hạn chúng tôi tiến hành
nghiên cứu bộ tác phẩm dựa trên bản dịch tiếng Việt bao gồm:
-
19 thiên của Dụ thế minh ngơn của dịch giả Lê Đức Tính, Nhà xuất
bản Mũi Cà Mau ấn hành vào năm 1999.
-
40 thiên của Cảnh thế thông ngôn qua hai bản dịch của Lê Đức Tính
(bộ 2 cuốn), Nhà xuất bản Mũi Cà Mau ấn hành vào năm 1998 và bản dịch của tập
thể dịch giả Nguyễn Khắc Phi, Trần Thị Băng Thanh, Phạm Tú Châu, Trần Đình Sử,
Lê Văn Tẩm do nhà xuất bản Lao động ấn hành vào năm 2009.
13
-
34 thiên của Tỉnh thế hằng ngôn của dịch giả Nguyễn Huy, Nhà xuất
bản Khoa học xã hội Hà Nội ấn hành vào năm 1999.
-
Ngồi ra chúng tơi cịn tham khảo thêm bản lược dịch Kim cổ kỳ
truyện của dịch giả Phan Hồng Trung do nhà xuất bản Văn hóa thông tin ấn hành
vào năm 2006 và Tam ngôn nhị phách độc chiếm hoa khôi của dịch giả Phạm Thị
Hảo do nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành vào năm 2011.
-
Chúng tơi cũng có tham khảo ngun tác Hán văn của bộ truyện Tam
ngôn trên trang web />Do Tam ngôn là một tuyển tập của Phùng Mộng Long gia cơng chỉnh lý dựa
trên những bản có sẵn từ trước nên thành tựu nội dung và nghệ thuật của các tác
phẩm không đều nhau. Chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát trên một số đoản thiên tiểu
thuyết mà theo chúng tôi đạt được thành tựu cao nhất. Tác gia Phùng Mộng Long
đã bỏ công sưu tầm và biên soạn theo lối mới (cách thức biên soạn là đặt lại tên các
thoại bản bằng các cặp câu đối xứng để tạo sự hài hịa) nên chúng tơi vẫn tơn trọng
giữ ngun tên của các thiên bằng Hán văn (có chú thích bằng tiếng Việt).
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phân tích tổng hợp: chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm hướng tới
phân tích, giải mã tác phẩm, để từ đó, đi sâu vào đặc điểm thi pháp của tác phẩm.
- So sánh: được vận dụng để chỉ ra những nét tương đồng và dị biệt trong
phong cách, bút pháp của tác giả so với các thể tài khác.
- Thi pháp học: trong q trình phân tích tác phẩm chúng tơi chú trọng đến các
khía cạnh của thi pháp tiểu thuyết như nghệ thuật kể chuyện, nghệ thuật xây dựng
hình tượng nhân vật…
- So sánh liên ngành: vì Tam ngơn là tác phẩm chứa nhiều đặc thù của một số
lĩnh vực khoa học và nghệ thuật khác, do đó, chúng tơi có sử dụng những kiến thức
liên ngành để giải mã tác phẩm, chẳng hạn như văn hóa học, xã hội học, sử học…
14
5. Đóng góp mới của đề tài
- Lần đầu tiên Tam ngôn của Phùng Mộng Long được nghiên cứu một cách có
hệ thống nên chúng tơi cố gắng phục dựng lại cuộc đời và sự nghiệp của tác gia
Phùng Mộng Long và khẳng định vị thế của ông trong tiến trình văn học Trung
Quốc.
- Chúng tơi tiến hành nghiên cứu tác phẩm dựa nền tảng là “yếu tố thị dân”.
Trong q trình nghiên cứu, chúng tơi sẽ chỉ rõ yếu tố thị dân là gì và yếu tố thị dân
tác động như thế nào đối với tiến trình hiện đại hóa văn học Trung Quốc.
6. Bố cục
Ngồi phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục (gồm bản dịch
tóm lược một số truyện trong bộ sách Tam ngơn), phần nội dung luận văn gồm có
các chương sau:
Chương 1 Phùng Mộng Long – tác gia của dòng văn học thị dân cuối đời
Minh. Ở chương này chúng tôi giới thiệu những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp
sáng tác của Phùng Mộng Long đồng thời giới thiệu về dòng văn học thị dân bắt
đầu hưng khởi vào cuối thời nhà Minh mà Tam ngơn là điển hình tiêu biểu.
Chương 2 Tam ngôn – bức tranh đa diện về xã hội thị dân cuối đời Minh.
Chúng tôi nghiên cứu về “yếu tố thị dân” trong bộ tác phẩm Tam ngơn nhìn từ
phương diện nội dung tư tưởng. Qua đó, chúng tôi chứng minh tác phẩm là bức
tranh đa diện về xã hội thị dân cuối đời Minh.
Chương 3 Tam ngôn – tác phẩm tiêu biểu cho đặc trưng nghệ thuật tiểu
thuyết thị dân cuối đời Minh. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu về “yếu tố thị dân”
trong bộ tác phẩm Tam ngơn nhìn từ phương diện nghệ thuật. Tác phẩm đã bảo tồn
được thành tựu nghệ thuật của thể loại thoại bản đời Tống Nguyên và sự gia công
nghệ thuật của tác giả trên các phương diện kể chuyện, xây dựng hình tượng nhân
vật…
15
CHƯƠNG I:
PHÙNG MỘNG LONG – TÁC GIA
CỦA DÒNG VĂN HỌC THỊ DÂN
CUỐI ĐỜI MINH
16
1.1.
Tác gia Phùng Mộng Long
1.1.1. Cuộc đời
Phùng Mộng Long (1574 – 1646) là tác gia văn học và hí khúc cuối đời
Minh. Ông tên tự là Do Long hoặc Tử Do, hiệu là Long Tử Do, Mặc Hám Trai chủ
nhân, Cố Khúc Tản Nhân, Ngô Hạ Từ Nô, Cô Tô Từ Nơ... Ơng thuộc dân tộc Hán,
người phủ Tơ Châu, huyện Trường Châu (nay thuộc thành phố Tô Châu tỉnh Giang
Tơ). Gia đình ơng thuộc thành phần sĩ đại phu. Anh ông là Mộng Quế giỏi về họa,
em trai Mộng Hùng là Thái học sinh giỏi về thơ. Ba anh em được mọi người tôn
xưng là “Ngô Hạ Tam Phùng” (3 ông Phùng của đất Ngô).
Tác phẩm của ông đa phần ca ngợi tình yêu và hành động vì tình yêu. Những
tác phẩm nổi tiếng nhất bao gồm Dụ thế minh ngơn (hay cịn được gọi là Cổ kim
tiểu thuyết), Cảnh thế thông ngôn, Tỉnh thế hằng ngôn, gọi chung là Tam ngôn. Tam
ngôn cùng Sơ khắc phách án kinh kỳ, Nhị khắc phách án kinh kỳ của Lăng Mông Sơ
đời Minh gọi chung là Tam ngôn Nhị phách (hay Tam ngôn Lưỡng phách), là đại
diện tiêu biểu của đoản thiên tiểu thuyết bạch thoại Trung Quốc. Phùng Mộng Long
có công sáng tác, sưu tập, chỉnh lý, biên tập đối với tiểu thuyết, hí khúc, dân ca,
truyện tiếu lâm của văn học thông tục. Sách Thân thế - sự nghiệp 180 nhà văn
Trung Quốc nhận định: “Trong lịch sử văn học Trung Quốc, Phùng Mộng Long là
tác giả cống hiến quan trọng trong tất cả phương diện của văn học bình dân”. [50,
tr.185]
Phùng Mộng Long ngồi việc viết thơ văn, tâm huyết chủ yếu nằm ở viết
tiểu thuyết lịch sử và tiểu thuyết tình u. Thi tập của ơng đến nay khơng cịn nữa,
nhưng đáng mừng là ơng đã biên soạn được hơn 30 tác phẩm có giá trị, lưu lại cho
kho tàng văn hóa của Trung Quốc một kiện trân bảo. Trong đó ngoại trừ Tam ngơn
cịn có Tân liệt quốc chí, Tăng bổ Tam Toại bình u truyện, Cổ kim liệt nữ diễn
nghĩa, Quảng Tiếu Phủ, Cổ kim đàm khái, Trí nang, Thái Bình quảng ký sao, Tình
sử, Mặc Hám Trai định bản truyền kỳ, cùng rất nhiều tác phẩm giải thích kinh điển,
ký sự, lập thân, tu chí. Tuy nhiên chỉ có Tam ngơn là có ảnh hưởng sâu rộng nhất.
17
Phùng Mộng Long sở dĩ biên soạn những tác phẩm này, xét từ khía cạnh
kinh tế, xã hội lúc bấy giờ chú trọng thực dụng. Những ghi chép của ông tại thời
điểm ấy rất có ý nghĩa về mặt tin tức; những giải thích của ơng về kinh thư phụ đạo
dành cho việc thi cử rất được sĩ tử hoan nghênh; những sáng tác “nghĩ thoại bản”
(truyện kể mô phỏng), các loại tiểu thuyết trường thiên cùng với kịch bản dân ca,
truyện cười đều có đơng đảo độc giả, mang lại lợi nhuận lớn cho giới kinh doanh
sách. Bản tính tài hoa và vốn sống dạn dày tạo tiền đề cho những tác phẩm của ông.
Phùng Mộng Long từ nhỏ đã ham mê đọc sách, cũng như bao thanh niên
cùng thời trong xã hội phong kiến, ông đặt hết tất cả tinh lực vào việc sôi kinh nấu
sử để chờ khoa thi. Tuy nhiên, ông không được đắc ý trên con đường khoa cử, sau
lại về nhà viết sách. Nhân yêu tha thiết một ca kỹ tên Hầu Tuệ Khanh, thường
xuyên lui đến trà phường tửu lâu ở Tô Châu nên ơng có dịp tiếp xúc với sinh hoạt
văn học dân gian nơi đây. Các tập dân ca Quế chi nhi, Sơn ca của ông ra đời trong
thời gian này.
Đến năm Sùng Trinh thứ 3 (1630), ông đã năm mươi bảy tuổi mới được bổ
làm Cống sinh, năm sau phá lệ được nhận làm Đan Đồ huấn đạo, rồi chuyển đến
làm tri huyện Thọ Ninh. Trong phần giới thiệu tác giả Phùng Mộng Long của sách
Tiểu thuyết cổ Trung Hoa Tam ngôn Nhị phách Độc chiếm hoa khôi dịch giả Phạm
Thị Hảo có dẫn câu chuyện trong thời gian ơng làm quan đã làm được một việc
được ca ngợi rất nhiều. “Bấy giờ, vùng này thịnh hành hủ tục dìm chết trẻ con gái.
Ông đã tự tay khởi thảo cáo thị nghiêm cấm chuyện đó. Ơng viết: “Mười tháng hồi
thai, chịu bao đau đớn khổ sở, dù trai hay gái đều là cốt nhục sao lại nhẫn tâm dìm
chết? Huống chi, sinh nam chưa chắc đã hiếu thuận, sinh nữ vị tất đã hư hỏng”.
Cáo thị đã được dán lên và lệnh cấm khắp nơi có kết quả ngay”. [16, tr.10]
Phùng Mộng Long vốn là một nhà yêu nước, vào những năm Sùng Trinh khi
làm tri huyện, từng dâng thơ trần thuật lại nguyên nhân quốc gia suy bại. Giữa thế
cục rung chuyển khi qn Thanh Nam hạ, ơng tích cực tuyên truyền việc phản
Thanh, phát hành Trung Hưng vĩ lược, ngồi bảy mươi tuổi vẫn tự mình bơn tẩu vì
18
việc lớn. Mùa xuân năm Thuận Trị thứ ba (1646) triều Thanh, ơng đau buồn mà
chết, có thuyết nói ơng bị qn Thanh sát hại.
Trên bình diện văn học, ơng coi trọng văn học thơng tục hàm chứa tình cảm
chân thành cùng tác dụng giáo hóa lớn. Ơng cho rằng thơng tục văn học chính là
con đường chân tình thật sự. Trong bài Tự sách Sơn ca ông đề xuất chủ trương
“Mượn chân tình của nam nữ, phá thuốc độc của danh giáo”, biểu hiện ở việc phá
lễ giáo trói buộc, theo đuổi giải phóng cá tính. Ơng coi trọng tác dụng giáo hóa của
văn học thơng tục, trong bài tự của Cổ kim tiểu thuyết, ông viết “Mỗi ngày tụng
Hiếu kinh, luận ngữ chưa chắc nhập tâm, thế nhưng tiểu thuyết thơng tục có thể
giáo hóa được con người”. Thật sự là một sự đả kích đối với quan niệm khinh bỉ
văn học thông tục đương thời.
Một đời ông, tuy có chí trị quốc nhưng lại chịu sự ước thúc của đạo đức
phong kiến. Ơng có ý tơn sùng tư tưởng của Lý Trác Ngô về “đồng tâm thuyết”
trong sáng tác văn nghệ. Ông sinh hoạt cùng ca nhi kỹ nữ, ơng u thích tiểu thuyết
thơng tục khiến cho bị các Lý học gia phê phán có hành vi dâm ơ, khơng biết tiết
chế, khó có thể tha thứ. Cho nên ơng chỉ cịn cách hịa mình với tầng lớp dưới của
xã hội, hoặc im hơi ngậm miệng hoặc ra sức sáng tác.
1.1.2. Sự nghiệp
Phùng Mộng Long chuyên cần sáng tác, tổng số tác phẩm vượt quá 50 loại.
Trong thời gian làm tri huyện Thọ Ninh, ơng có nhiều chính tích, từng biên soạn địa
chí của địa phương là Thọ Ninh đãi chí. Đến thời Minh Mạt, thiên hạ đại loạn, quân
Thanh nhập quan, Phùng Mộng Long mười phần quan tâm quốc gia đại sự, theo dân
nam hạ tránh nạn binh đao cùng thu thập tài liệu, viết thành Giáp Thân kỷ sự, Trung
Hưng vĩ lược hai bộ bảo tồn trân quý lịch sử tư liệu địa phương. Đồng thời, Phùng
Mộng Long cũng có tài năng đối với các thể loại văn học thơng tục khác như dân ca,
hí khúc, tiểu thuyết đều có sáng tác.
19
Trang web đã thống kê, đồng thời phân chia tác phẩm
của ông thành từng tiểu loại bao gồm:
-
Loại thoại bản đoản thiên tiểu thuyết có Dụ thế minh ngơn; Cảnh thế
thông ngôn; Tỉnh thế hằng ngôn;
-
Loại thoại bản trường thiên lịch sử diễn nghĩa có Hữu Hạ chí truyện;
Đơng Chu liệt quốc chí; Lưỡng Hán chí truyện; Bình u truyện; Tân liệt
quốc chí; Bàn Cổ chí Đường Ngu truyện;
-
Loại dân ca có Quế chi nhi; Sơn ca; Giáp trúc đào đính chân thiên gia
thi;
-
Loại bút ký tiểu phẩm có Trí nang; Cổ kim đàm khái; Tình sử; Tiếu phủ;
Yến cư bút ký;
-
Loại hí khúc:
+ Do ơng soạn theo thể truyền kỳ có Song hùng ký; Vạn sự túc;
+ Do ơng cải biên đính chính có Tân qn viên; Tửu gia dung; Nữ
trượng phu; Lượng giang ký; Tinh trung kỳ; Mộng lỗi ký; Sái tuyết đường; Tây lâu
sở giang tình; Tam hội thân phong lưu mộng; Song hoàn ký; Sát cẩu ký; Tam báo
ân…;
-
Loại án khúc, thi tập, khúc phổ có Uyển chuyển ca; Thất Nhạc trai cảo;
Thái hà tân tấu; Tối ngu tình; Mặc Hàm Trai truyền kỳ định bản…;
-
Loại thời sự có Vương Dương Minh xuất sinh tĩnh nan lục; Giáp thân kỷ
sự; Trung hưng thực lục; Trung hưng vĩ lược;
-
Loại ứng cử có: Xuân thu hành khố; Lân kinh chỉ nguyệt; Xuân thu biệt
bản đại toàn; Tứ thư chỉ nguyệt; Xuân thu định chỉ tham tân;