ĐH QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐH KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
----------
VÕ ĐINH THỤY MÂN
VĂN PHONG
THƯ TÍN THƯƠNG MẠI TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
---------Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2015
ĐH QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------
VÕ ĐINH THỤY MÂN
VĂN PHONG
THƯ TÍN THƯƠNG MẠI TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60.22.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ KHẮC CƯỜNG
---------TP. Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2015
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kinh tế phát triển kéo theo nhu cầu trao đổi thông tin, liên lạc giữa các cơ quan
tổ chức trong và ngoài nƣớc tăng cao. Một trong những hình thức giao tiếp chính
thức trong giao dịch thƣơng mại trong nƣớc là thƣ tín – thƣ từ trao đổi bằng đƣờng
bƣu điện.
Thƣ tín thƣơng mại có vai trị rất quan trọng trong giao dịch kinh doanh. Thƣ
đƣợc viết ra nhằm thực hiện những chức năng giao dịch khác nhau. Khác với thƣ
điện tử (E-mail), thƣ tín đại diện tiếng nói chính thức từ cơ quan, tổ chức gửi cho
đối tác, khách hàng và vì vậy thiết kế một bức thƣ sao cho hiệu quả, vừa truyền tải
đƣợc thông điệp của ngƣời viết vừa thỏa mãn các yêu cầu về tính trang trọng, lịch
sự trong giao tiếp kinh doanh là một nhu cầu thiết yếu. Tìm hiểu nội dung lẫn hình
thức thể hiện các loại thƣ giúp nâng cao năng lực viết từ đó cải thiện chất lƣợng
giao tiếp, chuyển tải thông tin giữa các tổ chức kinh tế.
Hiện nay trên thị trƣờng sách, tài liệu hƣớng dẫn viết thƣ tín thƣơng mại khá
nhiều nhƣng chủ yếu là thƣ tín thƣơng mại tiếng Anh. Tài liệu hƣớng dẫn viết thƣ
tín thƣơng mại tiếng Việt hầu nhƣ khơng có hoặc q ít ỏi.
Xu hƣớng quốc tế hóa đang diễn ra trên mọi mặt của đời sống và cùng với đó,
phong cách viết thƣ tín thƣơng mại tiếng Việt bị ảnh hƣởng ít nhiều bởi phong cách
viết thƣ tín thƣơng mại tiếng Anh đặc biệt về phƣơng diện từ vựng và bố cục văn
bản.
Luân văn “VĂN PHONG THƢ TÍN THƢƠNG MẠI TIẾNG VIỆT” phân tích
cách thức bố trí các thành phần thể thức văn bản, bố cục nội dung, đặc điểm từ
vựng, ngữ pháp giúp định hình phong cách riêng biệt của thƣ tín thƣơng mại tiếng
Việt. Có thể nói luận văn cung cấp cái nhìn tổng quan về thƣ tín thƣơng mại tiếng
Việt với mong muốn nâng cao năng lực giao tiếp giữa các cơ quan, tổ chức trong
hoạt động giao dịch thƣơng mại.
2
2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn trên cơ sở phân tích 100 mẩu văn bản giao dịch thƣơng mại từ các cơ
quan, tổ chức đang hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam nhằm tìm ra đặc điểm phong
cách riêng biệt của thƣ tín thƣơng mại tiếng Việt. Đồng thời, trên cơ sở so sánh, đối
chiếu giữa hiện trạng trình bày các thành phần thể thức hay bố cục văn bản và các
quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản theo Thông tƣ số 01/2011/TTBNV; tác giả góp phần làm rõ những sai khác giữa hình thức văn bản theo quy định
và hình thức văn bản đang áp dụng tại cơ quan, tổ chức trong nƣớc. Qua đó, tác giả
một lần nữa nhấn mạnh vai trị của tính thống nhất trong cách thức, kỹ thuật trình
bày văn bản giao dịch thƣơng mại, một bƣớc tiến nhằm chuyên nghiệp hóa q
trình giao tiếp trong nội bộ các cơ quan, tổ chức cũng nhƣ giữa các cơ quan, tổ chức
với nhau. Quan trọng hơn, tác giả nghiên cứu bố cục nội dung văn bản và đặc điểm
ngơn ngữ trình bày văn bản thƣ tín thƣơng mại tiếng Việt nhằm định hình một cách
rõ nét phong cách ngơn ngữ viết và đặc điểm diễn ngơn của thƣ tín thƣơng mại
tiếng Việt. Kết quả q trình nghiên cứu đặc điểm ngơn ngữ và diễn ngôn của 100
mẩu thƣ tiếng Việt sẽ chứng minh liệu các văn bản thƣ tín thƣơng mại tiếng Việt có
đƣợc trình bày theo đúng u cầu của ngôn ngữ viết theo Thông tƣ số 01/2011/TTBNV và tƣơng khớp đặc điểm từ vựng, ngữ pháp, diễn ngôn theo tài liệu Phong
cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt của tác giả Cù Đình Tú.
3. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
Trƣớc hết, cần làm rõ khái niệm “thƣ tín” đƣợc sử dụng ở tên đề tài nghiên cứu.
“Thƣ tín” ở đây chỉ tất cả các loại văn bản đƣợc sử dụng trong hoạt động giao dịch
kinh doanh gồm: thƣ công, công văn, biên bản, đơn từ, phiếu gửi, phiếu chuyển ..
với các chức năng khác nhau nhƣ thơng báo, thúc giục, phàn nàn, thể hiện tính biểu
cảm, thể hiện sự phản ứng.
Luận văn nghiên cứu các đặc trƣng phong cách thƣ tín thƣơng mại tiếng Việt
trên cơ sở phân tích bố cục văn bản, đặc điểm từ vựng, đặc điểm ngữ pháp của 100
mẩu thƣ thu thập từ các cơ quan, tổ chức trong nƣớc. Khi thu thập các mẩu thƣ
thuộc nhiều thể loại với các chức năng khác nhau, tác giả muốn cung cấp cái nhìn
3
tổng quát về hiện trạng thực hành thƣ tín thƣơng mại tiếng Việt, từ đó đúc rút ra
những đặc trƣng phong cách viết thƣ tiếng Việt trên cơ sở so sánh với thƣ tín một số
nƣớc khác chủ yếu là các nƣớc nói tiếng Anh.
Các mẩu thƣ tiếng Anh trong khảo sát đƣợc rút trích từ cuốn sách “A Handbook
of Commercial Correspondence” hiện đang đƣợc sử dụng tại các trƣờng Đại học
đào tạo chuyên ngành tiếng Anh Thƣơng mại. Các mẩu thƣ tiếng Anh luận văn sử
dụng là các mẫu thƣ điển hình trong từng tình huống giao tiếp cụ thể ở các tổ chức,
cơ quan sử dụng tiếng Anh là ngơn ngữ chính thức trong giao tiếp thƣơng mại.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phƣơng pháp thống kê miêu tả, phân tích và quy nạp để tập
hợp các mẫu thƣ thƣơng mại gửi qua đƣờng bƣu điện, khám phá những nét đặc
trƣng của từng loại thƣ và tổng hợp thành đặc điểm văn phong.
Luận văn còn sử dụng phƣơng pháp so sánh đối chiếu để tìm ra những khác biệt
giữa văn phong thƣ tín thƣơng mại tiếng Anh và văn phong thƣ tín thƣơng mại tiếng
Việt, từ đó đƣa ra những lỗi thƣờng gặp khi viết thƣ tín thƣơng mại tiếng Việt do
thói quen dùng cách viết văn bản tiếng Anh.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học:
Đề tài cung cấp cái nhìn rõ nét về văn phong thƣ tín thƣơng mại, là cơ sở dữ
liệu giúp việc nghiên cứu thƣ tín thƣơng mại tiếng Việt dễ tiếp cận hơn với những ai
quan tâm.
Luận văn phân tích sâu sắc ứng dụng của lý thuyết lịch sự vào giao tiếp viết thƣ
thƣơng mại và vì vậy sẽ rất hữu ích cho những ai quan tâm đến chủ đề „ứng dụng
của lý thuyết hội thoại vào hiệu quả giao tiếp‟.
Đề tài là tiền đề cho hƣớng nghiên cứu so sánh đối chiếu văn phong thƣ tín
thƣơng mại tiếng Việt và văn phong thƣ tín thƣơng mại tiếng Anh.
- Ý nghĩa thực tiễn
4
Đề tài định hình rõ nét phong cách thƣ tín thƣơng mại tiếng Việt nhằm cải thiện
năng lực giao tiếp viết, từ đó giúp việc thơng tin, trao đổi giữa các cơ quan, tổ chức
hiệu quả và chuyên nghiệp hơn.
6. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Nhƣ đã khẳng định từ đầu, trên thị trƣờng hiện có rất nhiều sách nghiên cứu văn
phong thƣ tín thƣơng mại tiếng Anh nhƣng tài liệu viết về văn phong thƣ tín thƣơng
mại tiếng Việt thì hầu nhƣ khơng có hoặc rất ít ỏi.
Cụ thể hiện có một số tác giả nghiên cứu văn phong thƣ tín thƣơng mại nói
chung nhƣ: TS. Nguyễn Thị Bích Lan với đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ
“Nghiên cứu văn phong thƣ tín thƣơng mại tiếng Nga”, và nổi bật là Ashley với
cuốn sách “A handbook of commercial Correspondence”.
Ngoài ra, liên quan đến chủ đề này là các cơng trình nghiên cứu về phong cách
và ứng dụng của lý thuyết lịch sự vào giao tiếp nhƣ:
- Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt của tác giả Cù Đình Tú. Với cơng
trình này, tác giả đã phân loại các phong cách viết tiếng Việt, đƣa ra đặc điểm của
từng loại phong cách xét trên tất cả các bình diện từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm. Đây
là một trong những cuốn sách quan trọng và đặt nền móng đầu tiên cho ai nghiên
cứu về phong cách và phong cách chức năng.
- Ngữ dụng học của tác giả Nguyễn Đức Dân cung cấp cơ sở lý thuyết quan
trọng về các nguyên lý lịch sự, cho cái nhìn khái qt nhất về vai trị, ý nghĩa của “
tính lịch sự‟ trong thực hành văn bản.
7. Hƣớng tiếp cận tƣ liệu để thực hiện đề tài
Để đƣa ra các kết luận về đặc trƣng phong cách thƣ tín thƣơng mại cũng nhƣ để
có thể tìm ra những khác biệt giữa văn phong thƣ tín thƣơng mại tiếng Việt và tiếng
Anh, tác giả đã tiếp cận tài liệu thƣ tín thƣơng mai ở cả hai ngôn ngữ. Hơn nữa đối
tƣợng nghiên cứu sẽ đƣợc khai thác ở tất cả các thể loại nên việc tập hơn đa dạng
các mẫu thƣ gửi qua đƣờng bƣu điện từ các công ty trong nƣớc là cần thiết.
5
8. Kết cấu của luận văn
Luận văn đƣợc chia làm ba chƣơng và mỗi chƣơng gồm những nội dung chính
sau!
Phần 1: Mở đầu. Phần này nêu ra lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, sơ
lƣợc lịch sử nghiên cứu đề tài, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đồng thời giới
thiệu phƣơng pháp nghiên cứu cùng ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
nghiên cứu.
Phần 2: Nội dung chính gồm 3 chƣơng
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận trình bày các khái niệm cơ bản về phong cách và thƣ
tín; phân biệt các thể loại phong cách khác nhau, phân loại các lớp từ vựng, trình
bày các lý thuyết chi phối quá trình giao tiếp kinh doanh nhƣ lý thuyết hợp tác hội
thoại và lý thuyết lịch sự
Chƣơng 2: trình bày bố cục tổng thể và bố cục nội dung thƣ tín thƣơng mại
tiếng Việt, phân tích đặc trƣng về hình thức thƣ tín thƣơng mại, phân tích hiện
trạng thực hành viết thƣ tín trong giao tiếp kinh doanh
Chƣơng 3: phân tích đặc điểm ngơn ngữ thƣ tín thƣơng mại trên phƣơng diện
từ vừng và ngữ pháp
Phần 3: Kết luận
Ngoài 3 phần trên, luận văn cịn có năm (05) phụ lục dài 135 trang gồm 100
mẫu thƣ thƣơng mại tiếng Việt thu thập từ các cơ quan, tổ chức hoạt động trong
nhiều lĩnh vực khác nhau.
6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Khái niệm phong cách, phong cách học
Thuật ngữ phong cách học đƣợc du nhập từ ngôn ngữ Âu châu, là sự kết hợp
của từ phong cách “Styl, Stil‟ kết hợp với phần đuôi cấu tạo từ với ý nghĩa là môn
học “Istique”, “istics”, “istika”.
Theo định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), nhà xuất bản
Giáo dục Hà Nội 1994; phong cách là dạng của ngơn ngữ sử dụng trong những hồn
cảnh xã hội điển hình nào đó, khác với những dạng khác về đặc điểm từ vựng, ngữ
pháp, ngữ âm
Ví dụ: phong cách ngơn ngữ khoa học, phong cách chính luận
“Phong cách học” mà chúng tôi nghiên cứu thực chất là “Phong cách học ngơn
ngữ”. Đó là bộ mơn khoa học nghiên cứu những đặc điểm và cách sử dụng ngôn
ngữ trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể để cuối cùng tiến tới quy loại và miêu tả
các phong cách chức năng ngôn ngữ.
1.2. Phân loại phong cách và đặc điểm riêng của từng loại phong cách
1.2.1. Phong cách ngôn ngữ gọt giũa
1.2.1.1. Đặc điểm chung
Phong cách ngôn ngữ gọt giũa khơng phải là cái gì hồn tồn khác biệt và
khơng có quan hệ gì với phong cách khẩu ngữ tự nhiên. Có thể xem phong cách
ngơn ngữ gọt giũa là phong cách khẩu ngữ tự nhiên xuất hiện trong tình hình mới:
có sự giao tiếp mang tính chính thức xã hội giữa những thành viên, những công dân
của xã hội. Đứng trƣớc tình hình mới này thoạt đầu ngƣời ta phải dùng cái đang có
của khẩu ngữ tự nhiên, lƣợc bỏ những yếu tố không cần thiết, bổ sung dần những
yếu tố mới cho phù hợp (chẳng hạn các thuật ngữ khoa học, các từ ngữ hành chính)
và cứ thế với thời gian, phong cách ngôn ngữ gọt giũa ra đời tách khỏi phong cách
khẩu ngữ tự nhiên. [45,127]
7
Phong cách ngôn ngữ gọt giũa là hệ thống các phƣơng tiện biểu hiện của ngơn
ngữ tồn dân đƣợc dùng trong giao tiếp mang tính chính thức xã hội. Đó là phong
cách ngôn ngữ đƣợc dùng trong sách báo, công văn, dùng trong các tập thể lớn có tổ
chức của xã hội nhƣ nhà trƣờng, cơ quan, chính quyền, đồn thể, v.v…
Nhu cầu giao tiếp mang tính chính thức xã hội trên tất cả các mặt hoạt động
trong khắp mọi vùng của đất nƣớc địi hỏi phong cách ngơn ngữ gọt giũa của ta phải
vừa phát triển vừa thống nhất. Nó phải phát triển để đáp ứng kịp thời nhu cầu diễn
đạt của xã hội, đồng thời nó phải thống nhất để sự giao tiếp mang tính chính thức xã
hội có hiệu lực cao. Do vậy trong nhiều năm qua ý thức hƣớng về xây dựng các
chuẩn mực có tính chất quy phạm là đặc điểm lớn nhất chi phối việc xây dựng cũng
nhƣ sử dụng phong cách ngôn ngữ gọt giũa tiếng Việt. [45, 130-131]
a) Đặc điểm sử dụng các phƣơng tiện ngữ âm
Phong cách ngôn ngữ gọt giũa tiếng Việt đƣợc sử dụng dƣới dạng văn viết và
văn nói. Xét cho cùng thì văn viết là cái cơ bản, văn nói chỉ là cách cơng bố văn bản
viết bằng miệng, hoặc đƣợc chuẩn bị trƣớc bằng dàn ý, đề cƣơng.
Ở phong cách ngôn ngữ gọt giũa, dùng thổ âm, biến âm địa phƣơng sẽ gây trở
ngại cho sự giao tiếp bởi vì đây là sự giao tiếp mang tính chính thức xã hội diễn ra
giữa tất cả các vùng của đất nƣớc.
Hƣớng về chuẩn mực trong phát âm là đặc điểm nổi bật nhất trong sử dụng các
phƣơng tiện ngữ âm ở phong cách ngôn ngữ gọt giũa.
b) Đặc điểm sử dụng các phƣơng tiện từ vựng
Tính phức tạp về nhiều mặt của đề tài giao tiếp và mục đích giao tiếp khiến cho
ở phong cách này, bên cạnh việc sử dụng vốn từ ngữ đa phong cách, ngƣời ta còn
phải sử dụng nhiều lớp từ ngữ khác nhƣ: thuật ngữ khoa học, từ ngữ hành chính, từ
ngữ chính trị, từ ngữ gọt giũa nói chung. Trái với quy luật sử dụng từ ngữ của
phong cách khẩu ngữ tự nhiên, phong cách ngôn ngữ gọt giũa luôn hƣớng tới những
từ ngữ trừu tƣợng, trung hòa về sắc thái biểu cảm.
8
c) Đặc điểm sử dụng các phƣơng tiện cú pháp
Phong cách ngôn ngữ gọt giũa sử dụng các kết cấu hồn chỉnh khơng thừa
khơng thiếu. Đặc điểm này trái ngƣợc với đặc điểm sử dụng các phƣơng tiện cú
pháp ở phong cách khẩu ngữ tự nhiên (dùng kết cấu tỉnh lƣợc xen lẫn kết cấu có yếu
tố dƣ).
Những hình thức cảm thán, nghi vấn mang màu sắc cá nhân, có tác dụng làm
chậm lại nhịp độ trình bày hay xảy ra ở phong cách khẩu ngữ tự nhiên, ít gặp ở
phong cách ngơn ngữ gọt giũa bởi vì chúng khơng phù hợp với tính khẩn trƣơng,
nghiêm túc trong giao tiếp mang tính chính thức xã hội.
d) Đặc điểm diễn đạt của phong cách ngôn ngữ gọt giũa
Ngắn gọn: Viết ngắn gọn, súc tích nhằm đạt hiểu quả cao nhất trong giới hạn về
thời gian, về đề tài.
Chính xác: Tính phức tạp của đề tài giao tiếp cùng với tính chính thức xã hội
của giao tiếp đòi hỏi sự diễn đạt ở phong cách ngơn ngữ gọt giũa phải chính xác.
Khi nói đến tính chính xác trong giao tiếp ngƣời ta thƣờng nghĩ trƣớc hết đến tính
chính xác trong dùng từ, đặt câu. Phong cách ngôn ngữ gọt giũa không chấp nhận
lối diễn đạt tùy tiện, khơng mạch lạc.
Giản dị: Nói viết phải giản dị để ngƣời nghe có thể nhanh chóng tiếp nhận, dễ
dàng tiếp nhận. Giản dị gắn liền với sự trong sáng trong cách dùng từ, trong cách
diễn đạt, với chống thói lai căng, với chống thói cầu kỳ.
Cả ba yêu cầu nói trên về phƣơng pháp diễn đạt trong phong cách ngôn ngữ gọt
giũa gắn chặt với nhau, có mối quan hệ phù hợp và hỗ trợ nhau. Khơng thể có sự
diễn đạt chính xác mà lại cầu kì, khơng thể nào thừa nhận một sự diễn đạt là ngắn
gọn mà lại kém chính xác.
Đi sâu vào từng chức năng cụ thể của phong cách ngôn ngữ gọt giũa tiếng Việt,
ta thấy có thể chia nó ra thành các phong cách ngôn ngữ gọt giũa bộ phận nhƣ sau:
1.2.1.2. Phân loại phong cách ngôn ngữ gọt giũa
a) Phong cách khoa học tiếng Việt
Các văn bản sau đây đƣợc viết theo phong cách khoa học:
9
- Các cơng trình nghiên cứu, khảo cứu, dịch thuật về khoa học tự nhiên và khoa
học xã hội.
- Các hình thức giới thiệu, nhận xét, phê bình khoa học.
- Các sách giáo khoa và giáo trình học tập các loại.
- Các bài làm của học sinh, đồ án, luận văn tốt nghiệp, luận án khoa học.
Phong cách khoa học cũng tồn tại dƣới dạng lời nói miệng:
- Lời giảng bài, lời phát biểu trong các buổi sinh hoạt khoa học
- Lời hỏi và đáp trong các kỳ thi, kiểm tra vấn đáp.
* Những đặc điểm riêng của phong cách khoa học
- Về các phƣơng tiện từ ngữ
Văn bản phong cách khoa học sử dụng nhiều thuật ngữ khoa học.
Các khái niệm khoa học là công cụ để nghiên cứu khoa học bởi vậy phong cách
ngơn ngữ khoa học địi hỏi ngƣời dùng phải nắm chắc nội dung của thuật ngữ khoa
học để có thể sử dụng nó thật chính xác.
Trong số các phong cách ngôn ngữ gọt giũa bộ phận thì việc phong cách khoa
học sử dụng các từ ngữ trừu tƣợng, trung hòa về sắc thái biểu cảm là rõ nét hơn cả.
- Về các phƣơng tiện cú pháp
Phong cách khoa học sử dụng những kiểu cấu có cấu trúc phức hợp để có thể
trình bày đầy đủ nội dung, trọn vẹn ý nghĩa các khái niệm, những định lý, những
biện luận, những suy lí khoa học.
Phong cách khoa học sử dụng những câu phức hợp dùng những cặp liên từ hô
ứng chỉ những quan hệ logic (nhân quả, điều kiện – kết quả, nhƣợng bộ, tăng tiến)
nhƣ: vì … nên, nếu … thì, tuy … nhƣng, càng … càng, chẳng những … mà cịn…
b) Phong cách chính luận tiếng Việt
Các văn bản sau đây đƣợc viết theo phong cách chính luận:
-Lời hịch, lời kêu gọi
- Các báo cáo chính trị
- Các bài xã luận, bình luận trên báo chí, phát thanh và truyền hình
- Các tin tức đƣa trên báo chí, dƣới các hình thức lƣợc thuật, điều tra, phóng sự
10
Phong cách chính luận cũng có thể tồn tại dƣới dạng lời nói miệng:
-Diễn thuyết, phát biểu trong mít tinh, đón tiếp ngoại giao
- Phát biểu, báo cáo trong hội nghị (sinh hoạt chính trị)
- Nói chuyện thời sự chính sách
Phong cách chính luận có hai chức năng: chức năng thông báo, thông tin, và
chức năng tuyên truyền, tác động.
c) Phong cách văn chƣơng
Trong tiếng Việt, một số nhà nghiên cứu cịn dùng thuật ngữ "phong cách ngơn
ngữ văn học", phong cách ngôn ngữ nghệ thuật". Song thuật ngữ "phong cách ngơn
ngữ văn chƣơng" là hợp hơn cả vì hai chữ "văn chƣơng" sát nghĩa hơn là "nghệ
thuật" còn "văn học" thì nên hiểu là khoa học văn chƣơng.
Phong cách ngôn ngữ văn chƣơng thực hiện đồng thời ba chức năng: thơng báo,
tác động, thẩm mĩ.
Ngơn ngữ văn chƣơng có ba đặc điểm lớn:
- Ngơn ngữ văn chƣơng có chức năng thẩm mĩ
- Ngơn ngữ văn chƣơng sử dụng tồn bộ các phƣơng tiện ngôn ngữ của các
phong cách
- Ngôn ngữ văn chƣơng vừa tôn trọng chuẩn mực vừa đi chệch chuẩn mực,
mang dấu ấn phong cách tác giả
d) Phong cách hành chính
Các văn bản sau đây đƣợc viết theo phong cách hành chính:
- Hiến pháp, luật, điều lệ, nội quy
- Nghị quyết, thông cáo, sắc lệnh, nghị định, quyết định, thông tƣ, chỉ thị, lệnh
- Bằng khen, văn bằng, giấy chứng nhận các loại …
- Đơn từ các loại..
- Hợp đồng, hóa đơn, biên nhận…
Phong cách hành chính tồn tại dƣới dạng văn bản viết. Chức năng của phong
cách này là thơng báo. Nó thơng báo bằng các giấy tờ, văn kiện nghiêm chỉnh.
11
* Những đặc điểm riêng của phong cách hành chính
- Về các đặc điểm chữ viết
Chữ viết đƣợc trình bày dƣới dạng chữ in hoặc chữ viết theo những mẫu thống
nhất.
- Về các phƣơng tiện từ ngữ
Từ ngữ chính xác về mặt nội dung. Tránh dùng những từ ngữ mơ hồ, không rõ
nghĩa. Thêm nữa, từ ngữ phải trang trọng hoặc trung hịa về mặt sắc thái biểu cảm.
Nhìn chung phong cách hành chính khơng dùng các từ ngữ khẩu ngữ bởi vì sắc
thái biểu cảm âm tính có tính chất đánh giá chủ quan của nhiều từ ngữ khẩu ngữ tỏ
ra khơng thích hợp với tính chất thể chế, trang trọng cần phải có của phong cách
hành chính.
Phong cách hành chính có lớp từ vựng riêng: từ vựng hành chính, góp phần tạo
nên vẻ riêng nghiêm chỉnh, có thể chế của sự diễn đạt hành chính.
- Về các phƣơng tiện cú pháp
Phong cách hành chính dùng câu tƣờng thuật là chủ yếu, các kiểu câu cảm thán,
nghi vấn không thích hợp với u cầu thơng tin của phong cách này.
Phong cách hành chính cũng cần dùng những kiểu câu có kết cấu phức hợp để
trình bày trọn vẹn nội dung nhiều mặt gồm nhiều ý gắn bó với nhau của những
quyết định, điều lệnh, chỉ thị.
- Về phƣơng pháp diễn đạt
Văn bản hành chính thuộc loại giấy tờ có quan hệ trực tiếp đến sự thực hiện
thống nhất trong xã hội. Bởi vậy trong cách trình bày, văn bản hành chính phải ln
thể hiện tính đơn nghĩa về nội dung để mọi ngƣời cùng hiểu và cùng thực hiện theo
một cách.
Văn bản hành chính thuộc loại giấy tờ có quan hệ đến thể chế quốc gia, của xã
hội có tổ chức nên sự diễn đạt ở đây phải luôn ln thể hiện sự nghiêm túc. Các
hình thức châm biếm, hài hƣớc, nói bóng gió, nói mát mẻ đều khơng thích hợp với
văn bản hành chính.
12
1.2.2. Phong cách khẩu ngữ tự nhiên
1.2.2.1. Khái niệm
Phong cách khẩu ngữ tự nhiên đƣợc dùng trong sinh hoạt hằng ngày của cá
nhân: một mẩu tâm sự, một câu hỏi thăm ngƣời thân hay bạn bè, một lời đàm tiếu
về cách thức ăn ở, một thái độ trƣớc những biến đổi đột ngột của thời tiết, một phản
ứng tức thì “sốt dẻo” trong cuộc sống hằng ngày … tất cả đều đƣợc diễn đạt theo
phong cách khẩu ngữ tự nhiên.
Phong cách khẩu ngữ tự nhiên chủ yếu dùng lời nói miệng nhƣng không phải
bất cứ lời nào cũng đều là đƣợc nói theo phong cách khẩu ngữ tự nhiên. Lời đọc
theo một văn bản của phong cách ngôn ngữ gọt giũa, lời phát biểu trong hội nghị,
lời giảng bài trong lớp, lời diễn thuyết … đều là những hình thức chuyển tin của
phong cách khẩu ngữ tự nhiên.
Phong cách khẩu ngữ tự nhiên không chỉ dùng lời mà đôi khi còn dùng chữ viết
dƣới dạng thƣ riêng thân mật trong gia đình, với bạn bè hoặc dƣới dạng nhật ký cá
nhân. [45, 95]
1.2.2.2. Đặc điểm
- Có nhiều biến thể
Theo dõi sự sử dụng phong cách khẩu ngữ tự nhiên ở các tầng lớp nhân dân tại
các địa phƣơng khác nhau ta dễ dàng nhận ra sự khác biệt về cách dùng từ (ngữ
nghĩa), phát âm
- Phong cách khẩu ngữ tự nhiên sử dụng từ ngữ mang tính miêu tả cụ thể, giàu
hình ảnh và sắc thái biểu cảm. Có thể nói ƣa dùng những từ ngữ giàu hình ảnh và
sắc thái biểu cảm là một quy luật trong phong cách khẩu ngữ tự nhiên. Đó là lý do
tại sao trong lời khẩu ngữ hằng ngày, ta hay dùng các thán từ, trợ từ, ngữ khí từ,
quán ngữ biểu cảm nhƣ: à, ƣ, nhỉ, hả, dào, khốn nỗi, chết nỗi, khí vơ phép, khí
khơng phải, bỏ q cho, đời thuở nhà ai ...
- Phong cách khẩu ngữ tự nhiên một mặt sử dụng các kết cấu tỉnh lƣợc, có khi
tỉnh lƣợc tới mức tối đa; mặt khác cũng lại dùng các kết cấu cú pháp có xen nhiều
yếu tố dƣ, yếu tố lặp lại, có khi dƣ thừa một cách dài dòng lủng củng. Hai xu thế
13
trái ngƣợc nhau này cùng đƣợc lý giải bằng một nguyên nhân chung, thống nhất: đó
là sự giao tiếp trực tiếp bằng lời miệng, không đƣợc chuẩn bị trƣớc giữa hai phía.
1.3. Vấn đề về câu và liên kết câu
1.3.1. Khái niệm câu và phân loại câu
Trong ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu vẫn chƣa có một định nghĩa nhất trí về
câu.
Viện sĩ V.V. Vi-nơ-gra-đốp: “Câu là đơn vị hồn chỉnh của lời nói đƣợc hình
thành về mặt ngữ pháp theo các quy luật của một ngôn ngữ nhất định, làm công cụ
quan trọng nhất để cấu tạo, biểu thị và truyền đạt tƣ tƣởng. Trong câu, không phải
chỉ có sự truyền đạt về hiện thực, mà cịn có cả mối quan hệ của ngƣời nói với hiện
thực.”
Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến: “Câu là đơn vị ngơn ngữ
có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngồi) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang
một tƣ tƣởng tƣơng đối trọn vẹn có kèm thái độ của ngƣời nói, hoặc chỉ biểu thị thái
độ của ngƣời nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tƣ tƣởng, tình cảm với tƣ
cách là đơn vị thơng báo nhỏ nhất”.
Diệp Quang Ban: “Câu là đơn vị của nghiên cứu ngơn ngữ có cấu tạo ngữ pháp
(bên trong và bên ngồi) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tƣơng
đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của ngƣời nói, hoặc có thể kèm theo thái độ,
sự đánh giá của ngƣời nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tƣ tƣởng, tình
cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ”.
Nguyễn Minh Thuyết: “Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có khả năng thơng báo
một sự việc, một ý kiến, một tình cảm hoặc một cảm xúc.”
Nói một cách vắn tắt, trong một định nghĩa câu ngày nay ngƣời ta thƣờng đề
cập đến các vấn đề sau:
Yếu tố hình thức: Câu có cấu tạo ngữ pháp bên trong và bên ngồi có tính chất
tự lập và có một ngữ điệu kết thúc.
Yếu tố nội dung: Câu có nội dung là một tƣ tƣởng tƣơng đối trọn vẹn và có thể
kèm thái độ của ngƣời nói hay nội dung là thái độ, tình cảm của ngƣời nói.
14
Yếu tố chức năng: Câu có chức năng hình thành và biểu hiện, truyền đạt tƣ
tƣởng, tình cảm. Nó là đơn vị thông báo nhỏ nhất.
Lĩnh vực nghiên cứu: Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ.
Sự phân loại câu trong ngôn ngữ học hiện nay khá phức tạp. Thông thƣờng câu
đƣợc phân loại dựa vào hai căn cứ sau:
- Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp: Câu đƣợc phân ra thành câu đơn, câu
ghép và câu phức
Câu đơn: là câu chỉ có một cụm chủ - vị
Câu phức: câu gồm từ hai cụm chủ - vị trở lên, mỗi cụm trong số đó có tƣ cách
tƣơng đƣơng một nịng cốt câu đơn.
Câu phức: là câu có thành phần phụ của từ (bổ ngữ, định ngữ, trạng ngữ của từ)
là cụm chủ - vị hoặc tự thân chủ ngữ hay vị ngữ là cụm chủ - vị.
- Phân loại câu theo mục đích nói:
Câu tường thuật:
Câu tƣờng thuật đƣợc dùng để kể, xác nhận (là có hay khơng có), mơ tả một vật
với các đặc trƣng (hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ) của nó, hoặc để thể hiện
một nhận định, đánh giá của ngƣời nói về một sự vật, hiện tƣợng nào đó.
Về mặt hình thức, câu tƣờng thuật khi nói, ngữ điệu bình thƣờng và hạ thấp dần
ở cuối câu, khi viết kết thúc bằng dấu chấm (.).
Câu tƣờng thuật đƣợc phân ra thành câu tƣờng thuật khẳng định và câu tƣờng
thuật phủ định.
Câu tƣờng thuật khẳng định là câu xác nhận hoạt động, trạng thái, tính chất,
quan hệ … của một đối tƣợng nào đó. Đây là loại câu khơng chứa các từ phủ định
(không, chƣa, chẳng …) Tuy nhiên trong một số trƣờng hợp câu khẳng định có thể
chứa các từ khơng, chƣa, chẳng nhƣng dƣới hình thức “phủ định của phủ định”.
Mục đích của hình thức này là khẳng định ở mức độ cao hơn.
Câu tƣờng thuật phủ định: là câu có chứa các từ ngữ phủ định, nhằm xác nhận
sự vắng mặt của sự vật, hiện tƣợng, hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ đƣợc
nêu trong câu.
15
Câu nghi vấn
Câu nghi vấn thƣờng đƣợc dùng để nêu lên điều chƣa biết hoặc cịn hồi nghi
và chờ đợi sự trả lời, giải thích của ngƣời tiếp nhận câu đó. Về mặt hình thức, câu
nghi vấn thƣờng đƣợc kết thúc bằng dấu hỏi (?). Câu nghi vấn cũng đƣợc chia ra
thành câu nghi vấn khẳng định và câu nghi vấn phủ định.
Câu nghi vấn tiếng Việt đƣợc cấu tạo nhờ các phƣơng tiện sau đây:
-Các đại từ nghi vấn,
- Kết từ hay (với ý nghĩa lựa chọn),
- Các phụ từ nghi vấn,
- Các tiểu từ chuyên dụng
- Ngữ điệu thuần túy
Khác với câu tƣờng thuật, mục đích của câu nghi vấn là để hỏi và yêu cầu
ngƣời nghe trả lời.
Tuy nhiên, theo Lyons trong cuốn “Ngữ nghĩa học dẫn luận”, câu nghi vấn
không chỉ thực hiện giá trị ngôn trung điển hình của nó là u cầu thơng tin về
“điều chƣa biết” mà còn thể hiện các giá trị ngơn trung phái sinh khác.
Câu mệnh lệnh
Câu mệnh lệnh (cịn gọi là câu cầu khiến) đƣợc dùng để bày tỏ ý muốn nhờ hay
bắt buộc ngƣời nghe thực hiện điều đƣợc nêu lên trong câu.
Khi viết câu mệnh lệnh đƣợc kết thúc bằng dấu chấm than (!) hoặc dấu chấm
(.).
Câu mệnh lệnh đƣợc cấu tạo nhờ những phụ từ mệnh lệnh đứng trƣớc vị từ nhƣ
hãy, đừng, chớ, và các phụ từ mệnh lệnh đứng sau vị từ nhƣ đi, thôi, đi thôi, nào, đi
nào hoặc đƣợc cấu tạo bắt đầu bằng các từ: đề nghị, yêu cầu, mong, xin, phải, cần,
nên … .
Câu Cảm thán
Câu cảm thán dùng để bộc lộ những cảm xúc, tình cảm, thái độ của ngƣời nói,
ngƣời viết đối với sự vật, hiện tƣợng đƣợc nói đến trong câu.
Khi viết câu cảm thán kết thúc bằng dấu chấm than (!).
16
Câu cảm thán tiếng Việt đƣợc cấu tạo nhờ các phƣơng tiện sau:
-Thán từ: Ơi, ơ hay …
- Tiểu từ thay (đứng sau vị từ), nhỉ (đứng cuối câu)
- Phó từ: lạ, thật, ghê, thế, dường nào, biết mấy, xiết, biết bao …
Trong luận văn này, ngƣời viết tập trung vào sự phân loại câu theo mục đích
nói.
1.3.2. Câu bị động trong tiếng Việt
Câu bị động đƣợc biết tồn tại trong các ngơn ngữ có hình thái biến hình ở động
từ. Trong tiếng Việt, một ngơn ngữ khơng biến hình từ, hiện tƣợng câu bị động trở
thành một vấn đề nan giải. Cho đến nay vẫn tồn tại hai ý kiến trái ngƣợc nhau:
-Trong tiếng Việt khơng có câu bị động, vì động từ tiếng Việt khơng có dạng bị
động phân biệt với dạng chủ động.
- Trong tiếng Việt có câu bị động, kiểu câu này đƣợc hình thành với phƣơng
thức ngữ pháp hƣ từ và trật tự từ, không phải bằng phƣơng thức phụ tố nhƣ của các
ngôn ngữ biến hình từ.
Theo Diệp Quang Ban (2009) trong tiếng Việt có câu bị động và ý nghĩa bị
động của câu tiếng Việt đƣợc tạo ra bởi hai điều kiện sau đây:
- Sự có mặt của một trong hai từ bị, được đã hƣ hóa;
- Sau các từ bị, được có mặt một kết cấu chủ - vị, trong đó yếu tố chính trong vị
ngữ là động từ ngoại động, chủ ngữ của động từ này phải khác với chủ ngữ của toàn
câu (tức là chủ ngữ đứng trƣớc bị, được), và chủ ngữ của động từ có thể vắng mặt
nhƣ trong ví dụ sau đây:
Giáp được (thầy) khen.
Vật nêu ở chủ ngữ câu bị động thƣờng giữ vai trò đối tƣợng trực tiếp của hành
động nêu ở động từ đứng sau bị, được, nhƣng cũng có thể giữ những vai khác. Dù là
vai đối tƣợng trực tiếp hay vai khác, những vật nêu ở chủ ngữ câu bị động nhất thiết
phải có mặt trong câu khơng bị động tƣơng ứng.
Chẳng hạn:
Thầy khen Giáp.
17
Theo cách hiểu nêu trên, có thể kết luận rằng trong tiếng Việt có kiểu câu bị
động đối lập với kiểu câu khơng bị động mặc dù khơng có sự phân biệt động từ ở
dạng bị động và động từ ở dạng chủ động.
1.4. Phân loại từ vựng dựa theo tính trang trọng:
Từ vựng có thể đƣợc chia làm ba loại dựa theo mức độ trang trọng.
1.4.1. Các loại từ sau đƣợc xếp vào lớp từ có mức độ trang trọng cao:
1.4.1.1. Thuật ngữ
Thuật ngữ trong tiếng Việt bao gồm những từ ngữ là tên gọi chính xác của các
khái niệm và đối tƣợng sử dụng giới hạn trong một lĩnh vực chun mơn của con
ngƣời. Ví dụ trong tốn học có các thuật ngữ: đạo hàm, tích phân, vi phân,... trong
ngữ âm học có các thuật ngữ: âm vị, âm tiết, nguyên âm...
Đặc điểm cơ bản của thuật ngữ bao gồm tính chính xác, tính hệ thống, và tính
quốc tế.
1.4.1.2. Từ ngữ cổ và từ ngữ lịch sử
Dựa theo nguyên nhân làm cho từ vựng lỗi thời có thể chia ra hai loại: từ ngữ
cổ và từ ngữ lịch sử. Từ ngữ cổ là những từ ngữ đã biến mất khỏi ngơn ngữ hiện đại
hoặc vẫn cịn dấu vết trong tiếng Việt hiện đại nhƣng ý nghĩa đã bị lu mờ và khơng
cịn đƣợc dùng độc lập. Ví dụ: trong Túi đã không tiền khôn chác rƣợu (Quốc âm
thi tập) thì chác là mua, khơn là khó.
Khác với từ ngữ cổ, từ ngữ lịch sử khơng có các từ ngữ đồng nghĩa trong tiếng
Việt hiện đại, tuy nhiên khi cần diễn đạt các khái niệm mang tính chất lịch sử,
ngƣời ta vẫn phải sử dụng đến chúng. Ví dụ nhƣ tên gọi các chức, tƣớc, phẩm, hàm
thời phong kiến: án sát, lãnh binh, tuần phủ,.. hay các hình thức thi cử: cử nhân,
hoàng giáp, trạng nguyên,...
1.4.1.3. Từ ngữ gốc Hán
Sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán bắt đầu khi nhà Hán của Trung Quốc
xâm chiếm nƣớc Việt. Quá trình tiếp xúc lâu dài đã đƣa vào tiếng Việt một khối
lƣợng từ ngữ rất lớn của tiếng Hán. Hiện tƣợng này diễn ra khác nhau trong các thời
kỳ. Giai đoạn đầu có tính chất lẻ tẻ, rời rạc, chủ yếu thông qua đƣờng khẩu ngữ qua
18
sự tiếp xúc giữa ngƣời Việt và ngƣời Hán. Đến đời Đƣờng, tiếng Việt mới có sự
tiếp nhận các từ ngữ Hán một cách có hệ thống qua đƣờng sách vở. Các từ ngữ gốc
Hán này chủ yếu đƣợc đọc theo ngữ âm đời Đƣờng tuân thủ nguyên tắc ngữ âm
tiếng Việt gọi là âm Hán-Việt. Ví dụ: phiền, phịng, trà, trảm, chủ... Các từ ngữ gốc
Hán nhƣng không đọc theo âm Hán-Việt ngoài các từ đƣợc du nhập vào tiếng Việt
trƣớc đời Đƣờng (ví dụ các âm Hán cổ tƣơng ứng với các âm Hán-Việt trên là buồn,
buồng, chè, chém, chúa...), cũng cần kể đến những từ xuất phát từ các phƣơng ngữ
Trung Quốc khác nhau (nhƣ tiếng Quảng Đông, tiếng Triều Châu,...) đƣợc du nhập
thông qua đƣờng khẩu ngữ nhƣ: ca la thầu, mì chính, xì dầu, bánh pía, sƣơng sáo,
lẩu...
1.4.1.4. Từ gốc Ấn-Âu
Kể từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, tiếng Pháp đã có ảnh hƣởng
đáng kể đến tiếng Việt và các từ ngữ gốc Pháp thâm nhập khá nhiều vào tiếng Việt,
chỉ sau từ Hán-Việt. Sự ảnh hƣởng này là do tiếng Pháp đƣợc sử dụng trong các văn
bản, giấy tờ của Nhà nƣớc và trong giảng dạy ở nhà trƣờng, cũng nhƣ trong các loại
sách báo khác. Ảnh hƣởng này kéo theo sự xuất hiện của nhiều từ gốc Pháp trong
nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ:
Tên món ăn: bít tết, kem, pho mát, rƣợu vang, xúc xích, súp, nƣớc sốt,...
Tên quần áo: may ơ, si líp, sơ mi, vét tơng, gi lê, len, đầm,...
Tên thuốc: canxi, vitamin, pênixilin,...
Thuật ngữ quân sự: lô cốt, đoan, com măng đô,...
Thuật ngữ âm nhạc: tăng gô, ácmônica, viôlông,...
Thuật ngữ khoa học kỹ thuật: bê tông, cao su, ô tô,...
Đồng thời qua tiếng Pháp, một số từ tiếng Anh, tiếng Đức cũng du nhập vào
tiếng Việt, ví dụ nhƣ: mít tinh, boong ke,...
Ngồi ra, ảnh hƣởng của Nga cũng dẫn đến sự du nhập của một số từ gốc Nga
nhƣ: bơnsêvích, Xơ Viết,...
19
1.4.2. Các loại từ sau đƣợc phân vào lớp từ có mức độ trang trọng thấp:
1.4.2.1. Từ địa phương
Từ vựng hạn chế về mặt lãnh thổ gọi là từ địa phƣơng. Từ địa phƣơng tiếng
Việt có ba loại:
Từ địa phƣơng dân tộc học: là những từ ngữ biểu thị những sự vật, hiện tƣợng,
hoạt động, lối sống... chỉ có tại một số địa phƣơng chứ khơng phổ biến tồn dân, do
đó khơng có từ tƣơng tự trong ngơn ngữ tồn dân. Ví dụ: Nam Bộ Việt Nam có các
từ ngữ nhƣ: chôm chôm, măng cụt, sầu riêng, tàu ki,... Vùng Nghệ Tĩnh có những từ
nhƣ: chẻo (một loại nƣớc chấm gồm vừng giã nhỏ trộn mật hoặc đƣờng và nƣớc
mắm), nhút (dƣa muối từ cây đậu đen, quả mít xanh, cà vàng thái nhỏ trộn lẫn
nhau)...
Từ địa phƣơng có sự đối lập về ý nghĩa: là những từ ngữ giống với từ ngữ toàn
dân về mặt ngữ âm nhƣng mang ý nghĩa khác nhau. Ví dụ: vùng Thái Bình gọi châu
chấu (đầu nhọn) là cào cào và cào cào (đầu bằng) là châu chấu; Trung Bộ, Nam Bộ
và Hải Dƣơng, Hƣng Yên gọi anh trai của mẹ là cậu. Nam Bộ gọi mủ chỉ nhựa, té là
ngã, mận là quả doi, chén là bát, củ sắn là củ đậu; ở Hải Hƣng hạt tiêu gọi là ớt;
Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh gọi hòm chỉ quan tài...
Từ địa phƣơng có sự đối lập về ngữ âm: là những từ ngữ địa phƣơng chỉ cùng
khái niệm với từ toàn dân những có ngữ âm khác.
1.4.2.2. Từ lóng
Từ vựng hạn chế về mặt tầng lớp sử dụng gọi là từ (tiếng) lóng. Tiếng lóng của
một tầng lớp nào đó là những từ ngữ có tên gọi song song với từ ngữ tồn dân. Từ
lóng có thể thƣờng xun thay đổi tùy theo mơi trƣờng, hồn cảnh mà tầng lớp xã
hội sản sinh ra nó.
1.4.2.3. Từ ngữ nghề nghiệp
Từ ngữ chuyên môn trong tiếng Việt là những từ ngữ sử dụng hạn chế trong
một nghề nào đó của xã hội, những ngƣời khơng làm nghề đó có thể ít biết hoặc
khơng biết. Ví dụ, nghề nơng có các từ ngữ: cày vỡ, cày ải, bón lót, bón đón địng,
bón thúc, gieo thẳng, gieo vại, lúa chia vè, lúa đứng cái, lúa von,...
20
Ngồi ra trong tiếng Việt cịn có nhiều thành ngữ, tục ngữ thể hiện kinh
nghiệm, cách thức làm việc,... trong nghề nào đó. Ví dụ trong nghề mộc có các câu:
mộc gia nề giảm, cắt cƣa đóng đanh...
1.5. Thƣ tín thƣơng mại
1.5.1. Khái niệm
Thƣ, theo định nghĩa trong Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân,
là giấy của một ngƣời gửi cho một ngƣời khác để nói lên ý kiến hay tình cảm của
mình.
Thƣ tín theo định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt (GS. Hoàng Phê chủ biên) nhà
xuất bản Hà Nội 1994; là thƣ từ gửi qua bƣu điện.
Trong kinh doanh, nhất là đối với những ngƣời làm cơng tác quản trị, thƣ tín
hầu nhƣ khơng thể thiếu trong suốt q trình làm việc. Thƣ tín là một phần tất yếu
của giao tiếp viết, là sợi dây liên lạc trong nội bộ cơ quan, tổ chức cũng nhƣ giữa cơ
quan, tổ chức này với cơ quan, tổ chức hay giữa cơ quan, tổ chức với cá nhân đối
tác, khách hàng. Khác với các phƣơng tiện truyền tin khác nhƣ thƣ điện tử, fax…
thƣ tín là đại diện tiếng nói chính thức của cơ quan, tổ chức và vì vậy hình thức bố
cục cũng nhƣ ngơn ngữ thể hiện ln đƣợc trau chuốt cẩn thận.
Thƣ tín thƣơng mại mà luận văn nghiên cứu bao gồm các văn bản đƣợc sử dụng
phổ biến trong giao dịch kinh doanh nhƣ công văn, thƣ công, các loại biên bản, đơn
từ, phiếu gửi, phiếu chuyển. Các loại văn bản trên đều đƣợc cơng nhận là văn bản
hành chính, thuộc phong cách hành chính tiếng Việt.
Từ trƣớc ngày 08 tháng 4 năm 2010 thƣ cơng chƣa đƣợc chính thức trở thành
một trong các loại văn bản hành chính của Nhà nƣớc ta. Tuy nhiên Nghị định sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm
2004 của Chính phủ về cơng tác văn thƣ đã đƣa thƣ cơng vào danh sách các văn bản
hành chính, và nhƣ vậy công nhận thƣ công thuộc phong cách ngôn ngữ hành chính,
là một thể loại đặc biệt của cơng văn.
Vì là văn bản hành chính nên các văn bản trên phải thỏa mãn tất cả các yêu cầu
về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính đƣợc chỉ rõ trong các nghị
21
định của Chính phủ và thơng tƣ của Bộ nội vụ. Nhƣ vậy về bố cục tổng thể, thƣ tín
thƣơng mại tiếng Việt tuân thủ theo các mẫu văn bản hành chính hiện hành.
Vấn đề cần đặt ra là: những đặc điểm riêng của phong cách hành chính về từ
vựng, ngữ pháp, phƣơng pháp diễn đạt đƣợc thể hiện ra ở thƣ tín thƣơng mại tiếng
Việt nhƣ thế nào hay những chất liệu nào ngoại trừ hình thức bố trí các thành phần
thể thức góp phần tạo nên phong cách riêng biệt của thƣ tín thƣơng mại tiếng Việt.
Vấn đề này sẽ đƣợc phân tích kỹ ở các chƣơng tiếp theo.
1.5.2. Quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày
Các Nghị định và thông tƣ hƣớng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản
hành chính:
- Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về
công tác văn thƣ
- Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ sửa
đổi, bổ sung Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính
phủ về cơng tác văn thƣ
- Thơng tƣ hƣớng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính ngày
19 tháng 01 năm 2011
Từ các Nghị định và thơng tƣ trên, có thể nêu ra một số điểm chính sau:
1. Về thể thức văn bản
a) Thể thức văn bản là tập hợp các thành phần cấu thành văn bản bao gồm:
- Quốc hiệu;
- Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản;
- Số, ký hiệu của văn bản;
- Địa danh và ngày, tháng, năm ban hành văn bản;
- Tên loại và trích yếu nội dung của văn bản;
- Nội dung văn bản;
- Chức vụ, họ tên và chữ ký của ngƣời có thẩm quyền;
- Dấu của cơ quan, tổ chức;
- Nơi nhận;
22
- Dấu chỉ mức độ khẩn, mật (đối với những văn bản loại khẩn, mật).
(Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 2 năm 2014)
b) “Đối với công điện, bản ghi nhớ, bản cam kết, bản thỏa thuận, giấy chứng
nhận, giấy ủy quyền, giấy mời, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, giấy đi đƣờng, giấy
biên nhận hồ sơ, phiếu gửi, phiếu chuyển, thƣ cơng khơng bắt buộc phải có tất cả
các thành phần thể thức trên và có thể bổ sung địa chỉ cơ quan, tổ chức; địa chỉ thƣ
điện tử (E-mail); số điện thoại, số Telex, số Fax; địa chỉ Trang thông tin điện tử
(Website) và biểu tƣợng (logo) của cơ quan, tổ chức.”
(Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 2 năm 2014)
2. Về kỹ thuật trình bày văn bản
Kỹ thuật trình bày văn bản bao gồm khổ giấy, kiểu trình bày, định lề trang văn
bản, vị trí trình bày các thành phần thể thức, phông chữ cỡ chữ, kiểu chữ và các chi
tiết trình bày khác đƣợc áp dụng đối với văn bản soạn thảo trên máy vi tính và in ra
giấy; văn bản đƣợc soạn thảo bằng các phƣơng pháp hay phƣơng tiện kỹ thuật khác
hoặc văn bản đƣợc làm trên giấy mẫu in sẵn; không áp dụng đối với văn bản đƣợc
in thành sách, in trên báo, tạp chí và các loại ấn phẩm khác.
1.5.3. Phân loại thƣ tín thƣơng mại
Thƣ tín thƣơng mại đƣợc viết ra với nhiều mục đích khác nhau, thực hiện
những chức năng khác nhau: thông báo, thuyết phục, cảm ơn, yêu cầu, hỏi thông
tin, từ chối hoặc chấp nhận (lời chào hàng), than phiền…
Dựa vào tên gọi, có thể phân loại thƣ tín thƣơng mại nhƣ sau: cơng văn, thƣ
cơng, đơn từ, biên bản, phiếu gửi, phiếu chuyển , thông báo, bản cam kết, bản thỏa
thuận, tờ trình, giấy mời, v.v.
Sau đây là các mẫu trình bày thƣ tín thƣơng mại tiếng Việt tuân thủ quy định về
thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính theo Thơng tƣ số 01/2011/TTBNV.
23
Mẫu Công văn