Tải bản đầy đủ (.pdf) (105 trang)

Công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.54 MB, 105 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

LƢƠNG THỊ THU HÀ

CƠNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA ĐƢƠNG SỰ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

LƢƠNG THỊ THU HÀ

CƠNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA ĐƢƠNG SỰ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số 60380103

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN TIẾN

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016


LỜI CAM ĐOAN



Tôi tên là Lương Thị Thu Hà, mã số học viên: 1320030203. Hiện là
học viên lớp Cao học Luật khóa 20, chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng
dân sự, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. Tơi xin cam đoan luận văn
này là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện với sự hướng dẫn
của Ts. Nguyễn Văn Tiến. Những thông tin tôi đưa ra trong luận văn là trung
thực, có trích dẫn nguồn tham khảo đầy đủ. Những phân tích, kiến nghị được
tơi đề xuất dựa trên quá trình tìm hiểu, nghiên cứu của cá nhân và chưa từng
được công bố trong các cơng trình trước đó.

Tác giả luận văn

Lƣơng Thị Thu Hà


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT

TÊN ĐẦY ĐỦ

VIẾT TẮT

1

BLTTDS 2004

Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011

2


BLTTDS 2015

Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi năm 2015

3

BLDS 2015

Bộ luật dân sự năm 2015

4

CNSTT

Công nhận sự thoả thuận

5

HĐXX

Hội đồng xét xử

6

PLTTGQCVADS Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989

7

TANDTC


Toà án nhân dân tối cao


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

STT

TÊN BẢNG, BIỂU

1

Bảng 1. Kết quả công nhận sự thoả thuận của các đương sự tại Việt
Nam trong những năm gần đây (Giai đoạn 2010 - 2015)

2

Bảng 2. Kết quả giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk (Giai đoạn 2010 - 2015)

3

Bảng 3. Kết quả giải quyết các vụ án dân sự của Tịa án nhân dân tỉnh
Đắk Nơng (Giai đoạn 2010 - 2015)

4

Bảng 4. Kết quả giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai (Giai đoạn 2010 - 2015)


5

Bảng 5. Kết quả giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân tỉnh
Kon Tum (Giai đoạn 2010 - 2015)

6

Bảng 6. Kết quả giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng (Giai đoạn 2010 - 2015)

7

Bảng 7. Kết quả công nhận sự thoả thuận của các đương sự tại một số
TAND các tỉnh trong những năm gần đây (Giai đoạn 2010 - 2015)


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ......................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .............................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài .......................................................................5
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu ...........................................................................5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ..................................................................................6
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài .........................................6
7. Bố cục và nội dung cơ bản của luận văn .......................................................7
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG NHẬN SỰ THỎA
THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT
NAM...........................................................................................................................8
1.1. Khái niệm, đặc điểm của công nhận sự thỏa thuận của các đƣơng sự
trong tố tụng dân sự ...............................................................................................8

1.1.1. Khái niệm công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng
dân sự ............................................................................................................. 8
1.1.2. Đặc điểm của công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố
tụng dân sự ................................................................................................... 11
1.2. Ý nghĩa của việc quy định công nhận sự thỏa thuận của các đƣơng sự
trong tố tụng dân sự .............................................................................................13
1.3. Nguyên tắc công nhận sự thỏa thuận của các đƣơng sự trong tố tụng
dân sự.......................................................................................................................14
1.3.1. Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự ...................... 15
1.3.2. Nội dung sự thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm
của luật và không trái đạo đức xã hội. ........................................................ 16


1.3.3. Sự thỏa thuận của các đương sự không được ảnh hưởng đến quyền
lợi hợp pháp của người khác ....................................................................... 17
1.4. Quy định của pháp luật Việt Nam về công nhận sự thỏa thuận của
các đƣơng sự trong tố tụng dân sự từ năm 1945 đến nay ............................18
1.4.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989 .............................................. 18
1.4.2. Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004 .............................................. 22
1.4.3. Giai đoạn từ năm 2005 đến nay......................................................... 24
CHƢƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
VỀ CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƢƠNG SỰ TRONG
TỐ TỤNG DÂN SỰ ..............................................................................................27
2.1. Công nhận sự thỏa thuận của các đƣơng sự tại thủ tục sơ thẩm vụ án
dân sự.......................................................................................................................27
2.1.1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ở giai đoạn chuẩn bị xét
xử sơ thẩm vụ án dân sự .............................................................................. 27
2.1.2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tịa sơ thẩm vụ
án dân sự ...................................................................................................... 32
2.2. Cơng nhận sự thỏa thuận của các đƣơng sự tại thủ tục phúc thẩm vụ

án dân sự .................................................................................................................34
2.2.1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ở giai đoạn chuẩn bị xét
xử phúc thẩm vụ án dân sự .......................................................................... 34
2.2.2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tịa phúc thẩm
vụ án dân sự ................................................................................................. 36
2.3. Cơng nhận sự thỏa thuận của các đƣơng sự tại thủ tục giám đốc
thẩm, tái thẩm........................................................................................................39
CHƢƠNG 3. THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HỒN
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƠNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC
ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM .............................42


3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về công nhận sự thỏa thuận của các
đƣơng sự trong tố tụng dân sự ...........................................................................42
3.1.1. Tình hình áp dụng pháp luật về cơng nhận sự thỏa thuận của các
đương sự trong tố tụng dân sự trong những năm gần đây .......................... 42
3.1.2. Những hạn chế, tồn tại trong việc thực hiện các quy định của pháp
luật Việt Nam về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng
dân sự ........................................................................................................... 47
3.2. Những bất cập và một số kiến nghị nhằm hồn thiện pháp luật về
cơng nhận sự thỏa thuận của các đƣơng sự trong tố tụng dân sự. ............53
3.2.1. Về công nhận sự thoả thuận của các đương sự trong trường hợp
đương sự thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận sau khi Toà án đã lập biên bản
hoà giải thành ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. .................................. 53
3.2.2. Về công nhận sự thoả thuận của các đương sự trong thời gian từ sau
khi Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử đến trước khi mở phiên tòa sơ
thẩm vụ án dân sự ........................................................................................ 54
3.2.3. Về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại thủ tục tranh tụng
tại phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự .............................................................. 58
3.2.4. Về hậu quả pháp lý của việc các đương sự tự thoả thuận tại phiên toà

sơ thẩm vụ án dân sự ................................................................................... 61
3.2.5. Về công nhận sự thoả thuận của các đương sự tại thủ tục phúc thẩm
vụ án dân sự ................................................................................................. 65
3.2.6. Về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên toà giám đốc
thẩm .............................................................................................................. 68
KẾT LUẬN ............................................................................................................71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Theo Nghị quyết số 48/NQ - TW của Bộ Chính trị ngày 24/5/2005 về
Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm
2010, định hướng đến năm 2020 đã nêu rõ mục tiêu: “Xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng
tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân
dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật;
phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ
vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà
nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ
của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước cơng nghiệp theo hướng
hiện đại vào năm 2020”.
Để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích
hợp pháp, chính đáng của người dân, bảo đảm kỷ cương xã hội, một trong
những nhiệm vụ hết sức quan trọng được Đảng và Nhà nước đặt ra là phải

từng bước hồn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hồn thiện pháp luật tố
tụng dân sự nói riêng, nhằm điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội trên tất cả
các lĩnh vực đời sống.
Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2005, được
sửa đổi, bổ sung bằng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
dân sự và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 01/01/2012. Sau khi Hiến pháp
năm 2013 có hiệu lực, đã đặt ra yêu cầu cần phải sửa đổi, bổ sung toàn diện
Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 (BLTTDS 2004)
nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối chính sách của Đảng về cải cách tư
pháp, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp nhằm đảm bảo sự đồng bộ trong
hệ thống pháp luật, đặc biệt là Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, khắc
phục các hạn chế, tăng cường tranh tụng, bảo đảm tính công khai, dân chủ,


2

công bằng, tạo thuận lợi cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và
nghĩa vụ trong quá trình tham gia tố tụng, bảo vệ được quyền và lợi ích chính
đáng của mình. Ngày 25/11/2015 Quốc Hội khố XIII tại kỳ họp thứ 10 đã
thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi 2015 (BLTTDS 2015), Bộ luật
chính thức có hiệu lực vào ngày 01/7/2016.
Một trong những quyền quan trọng của công dân được pháp luật tố
tụng dân sự quy định là quyền tự định đoạt. Khi có quyền và lợi ích hợp pháp
bị xâm phạm, có tranh chấp xảy ra, các đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình bằng nhiều phương thức khác nhau, trong đó có u
cầu Tồ án cơng nhận sự thỏa thuận.
Việc đương sự thỏa thuận, thương lượng giải quyết tranh chấp trong
mọi giai đoạn tố tụng luôn được Nhà nước khuyến khích. Bởi, khi các đương
sự đã thỏa thuận được với nhau, việc giải quyết tranh chấp sẽ tiết kiệm thời
gian, tài chính, góp phần củng cố khối đoàn kết toàn dân và tạo thuận lợi cho

việc giải quyết vụ án dân sự và thi hành án dân sự.
Nhìn ở góc độ tổng qt, vấn đề cơng nhận sự thỏa thuận của đương sự
tại Tòa án theo quy định của luật và thực tiễn áp dụng vẫn cịn có sự khác
nhau, cần được hồn thiện, thống nhất. Nhằm hồn thiện pháp luật về cơng
nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự, tác giả chọn đề tài:
“Công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam”
để làm đề tài luận văn Thạc sĩ Luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự đã
được cơ quan, nhà nghiên cứu đề cập ở nhiều cấp độ khác nhau, như:
- Một số tài liệu là Giáo trình được sử dụng để giảng dạy đối với
chuyên ngành luật tại các cơ sở đào tạo trên cả nước, cụ thể phải kể đến:
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật tố tụng
dân sự, NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam; Trường Đại học Luật Hà
Nội (2012), Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân;


3

Học viện Tư pháp (2007), Giáo trình Luật tố tụng dân sự, NXB Cơng an nhân
dân; Nguyễn Cơng Bình (2011), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam,
NXB Giáo dục. Từ nguồn tài liệu này, người đọc được cung cấp những kiến
thức lý luận cơ bản về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố
tụng dân sự Việt Nam, giúp người đọc có cái nhìn tổng quan, làm nền tảng
nghiên cứu sâu hơn về quy định.
- Các sách tham khảo cũng là một nguồn tài liệu có giá trị lý giải vấn đề,
như: Nguyễn Đức Mai (2012), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự năm
2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011, NXB Chính trị quốc gia; Viện Nhà nước và
pháp luật (2012), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự, NXB Tư pháp,
trong nguồn tài liệu này, các tác giả phân tích, luận giải từng điều luật cụ thể

quy định về vấn đề công nhận sự thoả thuận của các đương sự trong tố tụng
dân sự Việt Nam, giúp người đọc có cái nhìn pháp lý và tồn diện.
- Ngồi ra, tác giả Nguyễn Thị Hồi Phương (2016), Bình luận những
điểm mới trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, NXB Hồng Đức - Hội Luật
gia Việt Nam, thông qua tài liệu trên tác giả đã giúp người đọc nắm bắt được
sự khác nhau giữa BLTTDS 2004 và BLTTDS 2015 về quy định công nhận
sự thoả thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự, từ đó người đọc sẽ có
những so sánh, đánh giá về sự kế thừa của BLTTDS 2015, cũng như chắt lọc
được những vướng mắc về công nhận sự thoả thuận của các đương sự mà
BLTTDS 2015 chưa giải quyết được.
- Bên cạnh đó, có các bài viết liên quan đến vấn đề công nhận sự thỏa
thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự, cụ thể: Đỗ Đức Anh Dũng
(2006), “Về hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự theo quy định tại Điều 220 BLTTDS”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 16;
Trần Anh Dũng (2006), “Khi các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận bồi
thường trong giao dịch vơ hiệu”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 01; Nguyễn
Thị Hạnh (2013), “Thụ lý, giải quyết yêu cầu xác định con cho cha, mẹ khi
bản án ly hơn, quyết định cơng nhận thuận tình ly hơn và sự thỏa thuận của
các đương sự đã có hiệu lực pháp luật”, Tạp chí Tịa án nhân dân số 23; Bùi


4

Thị Huyền (2007), “Về sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tịa sơ thẩm
dân sự”, Tạp chí Luật học số 08. Đây là các tài liệu hữu ích trong quá trình
nghiên cứu đề tài luận văn, các bài viết đề cập đến các vướng mắc về sự thoả
thuận của đương sự trong BLTTDS 2004, giúp tác giả có cái nhìn tổng thể
hơn đối với từng khía cạnh.
- Một số bài viết khác: Yến Nga (2001), “Thủ tục hòa giải và ra quyết
định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự”, Tạp chí Kiểm sát số 09;

Trần Thị Mai Phước (2002), “Về thời hạn Tòa án ra quyết định công nhận sự
thỏa thuận của các đương sự”, Tạp chí Kiểm sát số 10; Từ Văn Thiết (2003),
“Thêm quyền hạn cho Tòa án cấp phúc thẩm dân sự là cần thiết”, Tạp chí Tịa
án nhân dân số 05; Ngơ Anh Dũng (2003), “Cần quy định thêm quyền hạn
cho Tòa án cấp phúc thẩm dân sự”, Tạp chí Tịa án nhân dân số 01. Mặc dù
những bài viết dựa trên các văn bản pháp luật khơng cịn hiệu lực, đã được
thay thế bằng các văn bản pháp luật khác, nhưng thơng qua các bài viết này,
người đọc có cái nhìn từ nhiều khía cạnh về sự phát triển của vấn đề công
nhận sự thoả thuận của các đương sự theo thời gian.
Nhìn chung, các nguồn tài liệu có giá trị nghiên cứu nhất định đối với
việc thực hiện đề tài luận văn. Đây là những tài liệu có sự liên quan, đã nêu
lên và luận bàn về vấn đề công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng
dân sự Việt Nam. Tuy nhiên, các cơng trình chỉ nghiên cứu các quy định về
công nhận sự thoả thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự ở tầm khái
quát, dừng lại ở việc tìm hiểu lý luận mang tính chất kiến thức cơ bản. Đồng
thời, một số cơng trình chỉ nghiên cứu ở khía cạnh hẹp, các tác giả chỉ đi vào
phân tích từng vấn đề cụ thể, tản mạn, chưa có sự tổng hợp mang tính khái
qt cao.
Qua khảo sát của tác giả, hiện chưa có cơng trình nghiên cứu khoa học
nào chuyên sâu, đầy đủ và tồn diện về cơng nhận sự thỏa thuận của đương sự
trong tố tụng dân sự Việt Nam. Từ đó, tác giả mong muốn mang đến cho
người đọc một nguồn tài liệu giá trị về vấn đề này dưới dạng luận văn thạc sĩ.


5

Đề tài luận văn thạc sĩ “Công nhận sự thoả thuận của đương sự trong tố
tụng dân sự” được tác giả phân tích khơng chỉ dưới góc độ lý luận mà cịn
dưới góc độ thực tiễn xét xử. Thơng qua tổng hợp số liệu và phân tích các bản
án, quyết định của Toà án, tác giả sẽ mang đến một cái nhìn đa chiều từ lý

luận đến thực tiễn. Qua đó, tìm ra hạn chế, vướng mắc, đưa ra giải pháp hồn
hiện pháp luật tố tụng dân sự về cơng nhận sự thoả thuận của các đương sự.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Từ tính cấp thiết của đề tài cũng như tình hình nghiên cứu chung, luận
văn sẽ làm rõ các vấn đề lý luận về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Sau đó, luận văn sẽ
phân tích và chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật cũng
như áp dụng trên thực tế về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong
tố tụng dân sự. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất các kiến nghị để hồn thiện
pháp luật về cơng nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định của
pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là hoạt động tố tụng được
Tòa án tiến hành trong cả quá trình giải quyết vụ án dân sự và giải quyết việc
dân sự. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả chỉ tập
trung nghiên cứu những quy định của pháp luật có liên quan đến cơng nhận sự
thỏa thuận của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự; trên cơ
sở phân tích những vấn đề mang tính lý luận cơ bản và thực tiễn áp dụng của
quy định này để từ đó đưa ra một số kiến nghị góp phần hồn thiện pháp luật
với những nội dung chính như sau:
Một là, nghiên cứu các vấn đề lý luận về công nhận sự thỏa thuận của
các đương sự trong tố tụng dân sự.
Hai là, nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành về công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự.


6

Ba là, tìm hiểu những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các
quy định của pháp luật về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố

tụng dân sự.
Bốn là, đề xuất những kiến nghị góp phần hồn thiện pháp luật về cơng
nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sẽ sử dụng một số phương
pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề
cơng nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự qua các thời kỳ tại
mục 1.4 của Chương 1;
- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp được sử dụng hầu hết ở
Chương 1, Chương 2, Chương 3 của luận văn, khi nghiên cứu về những vấn
đề lý luận cơ bản liên quan đến công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
trong tố tụng dân sự; khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn đề được
nghiên cứu trong luận văn; phân tích các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự về công nhận sự thoả thuận của các đương sự;
- Phương pháp so sánh được thực hiện nhằm tìm hiểu quy định của quy
định về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015; phương pháp được sử dụng chủ yếu ở các mục 2.1, 2.2 và 2.3 của
Chương 2.
- Phương pháp đánh giá, khảo sát thực tiễn, liệt kê được sử dụng chủ
yếu ở Chương 3 của luận văn. Các phương pháp này được thực hiện trong quá
trình thu thập các bản án, số liệu cụ thể từ thực tiễn hoạt động xét xử của
ngành Tòa án.
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Với việc thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn góp phần cung cấp
cho khoa học pháp lý những nền tảng lý luận và thực tiễn về công nhận sự


7


thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự. Đề tài sẽ là một tài liệu khoa
học hữu ích cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự
của các tác giả khác. Đặc biệt, kết quả của đề tài này có thể sử dụng để tham
khảo trong quá trình xây dựng, ban hành và áp dụng pháp luật tố tụng dân sự
về công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam.
7. Bố cục và nội dung cơ bản của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn bao gồm 03 chương, cụ thể như sau:
Chƣơng 1. Những vấn đề chung về công nhận sự thỏa thuận của
các đƣơng sự trong tố tụng dân sự Việt nam
Chƣơng 2. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về công
nhận sự thỏa thuận của các đƣơng sự trong tố tụng dân sự
Chƣơng 3. Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hồn thiện pháp
luật về cơng nhận sự thỏa thuận của các đƣơng sự trong tố tụng dân sự
Việt Nam.


8

CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN
CỦA CÁC ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

1.1. Khái niệm, đặc điểm của công nhận sự thỏa thuận của các đƣơng sự
trong tố tụng dân sự
1.1.1. Khái niệm công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố
tụng dân sự
Về mặt lý luận, hệ thống pháp luật Việt Nam được chia ra thành các
ngành luật và các chế định pháp luật. Các ngành luật và các chế định pháp

luật bao gồm các quy phạm pháp luật, là những quy tắc, chuẩn mực chung
mang tính bắt buộc phải thi hành đối với tất cả cơ quan, tổ chức, cá nhân có
liên quan, và được ban hành bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trong
khoa học pháp lý, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự được gọi là tố
tụng dân sự. Là một ngành luật tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh
các quan hệ xã hội phát sinh giữa Tòa án và các chủ thể tham gia tố tụng
khác trong quá trình Tịa án giải quyết vụ việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các chủ thể khác, “Luật Tố
tụng dân sự Việt Nam được thừa nhận là một ngành luật độc lập trong hệ
thống pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật Tố
tụng dân sự bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan
hệ tố tụng phát sinh trong q trình Tồ án giải quyết các vụ việc dân sự
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân
sự, quan hệ pháp luật hơn nhân và gia đình, quan hệ pháp luật thương mại,
quan hệ pháp luật lao động cho nhà nước, cá nhân, cơ quan, tổ chức”1.
Tố tụng dân sự là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau
như khởi kiện, lập hồ sơ, hòa giải vụ án dân sự đến xét xử sơ thẩm, phúc
thẩm, xét lại bản án, quyết định của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật bằng thủ
1

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật tố tụng dân sự, NXB Hồng Đức Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr 3.


9

tục đặc biệt giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ án dân sự và xem xét lại quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Quá trình giải quyết
các vụ việc dân sự làm phát sinh các quan hệ khác nhau giữa Tòa án với các
đương sự và những người tham gia tố tụng khác.
Pháp luật tố tụng dân sự quy định quyền và nghĩa vụ của Tòa án với

các chủ thể tham gia tố tụng ở mỗi giai đoạn tố tụng. Đối với Toà án, với
chức năng “là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
thực hiện quyền tư pháp. Tịa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ
quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”2. Tồ án
có trách nhiệm chủ động trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời bảo đảm
cho các đương sự trong vụ án dân sự có đầy đủ quyền tố tụng để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình, trong đó tơn trọng quyền tự định đoạt của
đương sự được xác định là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật
tố tụng dân sự. Để đảm bảo nguyên tắc này, Toà án nhân dân phải tiến hành
nhiều hoạt động khác nhau, trong đó có hoạt động cơng nhận sự thoả thuận
của các đương sự.
Theo Từ điển Hán Việt, cơng có nghĩa là chung, nhận mang nghĩa là
bằng lịng. “Những sự gì do mọi người cùng đồng ý”3, “mọi người thừa nhận,
đều cho là đúng”4 thì được gọi là cơng nhận. Cịn theo Từ điển Tiếng Việt thì
cơng nhận được hiểu với nghĩa “cho là phải, là đúng, là hợp lí, tuyên bố là
chính đáng”5 hoặc cơng nhận là “thừa nhận đúng với sự thật, với lẽ phải hoặc
là hợp lệ”6. Như vậy, cơng nhận có thể được hiểu là sự thừa nhận, chấp thuận,
tuyên bố những sự việc là đúng đắn, là phù hợp với sự thật, là chính đáng.
Theo Từ điển Tiếng Việt, thỏa thuận là “đi tới sự đồng ý sau khi cân
nhắc, thảo luận”7. Thỏa thuận cũng có nghĩa là sự nhất trí chung, được thể
2

Điều 2 Luật Tổ chức Toà án nhân dân 2014.
Thiều Chửu (1942), Hán Việt tự điển, Hà Nội. truy cập 06h25’ ngày 06/5/2016.
4
truy cập 6h20’ ngày 06/5/2016.
5
truy cập 6h30’ ngày 06/5/2016.
6

truy cập 06h35’ ngày 06/5/2016.
7
truy cập lúc 22h01 ngày 21/5/2016.
3


10

hiện thông qua sự thống nhất quan điểm về việc giải quyết tranh chấp. Là sự
thống nhất ý chí giữa các chủ thể trên cơ sở tự nguyện và tự định đoạt.
Sự thỏa thuận của các đương sự trong vụ án dân sự là sự thoả thuận của
các “cơ quan, tổ chức, cá nhân”8. Đương sự là nhóm chủ thể quan trọng trong
tố tụng dân sự. Đương sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan. Trong đó, nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi
kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do BLTTDS quy định khởi
kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích
hợp pháp của người đó bị xâm phạm. Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự
để u cầu Tịa án bảo vệ lợi ích cơng cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh
vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn. Bị đơn trong vụ án dân sự là người
bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khởi kiện để
yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp
pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện
nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của
họ nên được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án
chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan9. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người tham gia
tố tụng vào vụ án dân sự đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi tham gia tố tụng dân sự, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể tham gia tố tụng với yêu cầu độc lập hoặc

đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn.
Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm như sau: Công nhận
sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự là hoạt động do Tòa án
tiến hành nhằm thừa nhận việc thống nhất ý chí của các đương sự về việc giải
quyết vụ án dân sự. Việc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự phải
được thể hiện bằng một văn bản pháp lý có giá trị bắt buộc, theo thủ tục do
luật định, được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.
8
9

Khoản 1 Điều 68 BLTTDS 2015.
Khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 56 BLTTDS 2004 và Khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 68 BLTTDS 2015.


11

1.1.2. Đặc điểm của công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong
tố tụng dân sự
Thứ nhất, là hoạt động do Tịa án nhân dân tiến hành, mang tính quyền
lực Nhà nước.
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân là chủ
thể thực hiện quyền lực Nhà nước để giải quyết vụ việc dân sự. Trong đó, Tịa
án nhân dân có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để
các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy
định của pháp luật10. Việc Tòa án nhân dân tiến hành hòa giải hoặc các đương
sự tự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án có thể được thực hiện ở bất cứ
giai đoạn của quá trình tố tụng dân sự. Và cho dù là Tòa án nhân dân tiến
hành hòa giải thành hay các đương sự tự thỏa thuận được với nhau thì sự thỏa
thuận này cũng được cơng nhận.
Tịa án nhân dân là chủ thể không thể thiếu trong hoạt động công nhận

sự thỏa thuận của các đương sự. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
được pháp luật tố tụng dân sự quy định thuộc trách nhiệm của Tòa án, thực
hiện trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Sự thỏa thuận của các đương sự
được Tịa án cơng nhận dưới hình thức là một văn bản pháp lý (quyết định,
bản án) theo trình tự do luật định.
Thứ hai, dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện của các đương sự.
Mặc dù công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là hoạt động do Tòa
án nhân dân tiến hành nhưng bản chất của vấn đề là vụ án dân sự đã được giải
quyết bằng chính sự thỏa thuận tự nguyện của các đương sự chứ không phải
bằng một phán quyết của Tịa án thơng qua hoạt động xét xử. Đương sự được
tự do đưa ra quyết định về những vấn đề, sự việc theo ý chí, nhận thức của
mình mà không bị ai ngăn cản, hạn chế hoặc ràng buộc nào từ bên ngồi. Và
ý chí thoả thuận đó hoàn toàn tự nguyện. Đương sự được quyền tự định đoạt
về việc thoả thuận nhưng chỉ có thể định đoạt đối với những gì thuộc quyền
hạn tuyệt đối của mình, chứ không được quyền định đoạt thay người khác.
10

Điều 10 BLTTDS 2004 và Điều 10 BLTTDS 2015.


12

Khơng ai có quyền lừa dối, đe dọa, uy hiếp sự tự nguyện thoả thuận của người
khác, bởi lẽ đấy cũng là một hình thức xâm hại đến tự do. Chính vì vậy, Tịa
án nhân dân phải tơn trọng và ghi nhận những quan điểm của các đương sự đã
thống nhất ý chí bằng một văn bản pháp lý, trên cơ sở những thỏa thuận hoàn
toàn tự nguyện của các đương sự về việc giải quyết tất cả các tranh chấp, mâu
thuẫn mà hai bên đang gặp phải.
Tòa án nhân dân không can thiệp vào nội dung sự thỏa thuận của các
đương sự, mà Tòa án nhân dân chỉ can thiệp về mặt hình thức của sự thỏa

thuận, đó là sự ghi nhận thỏa thuận của các đương sự bằng một văn bản có giá
trị pháp lý. Để đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân
sự, Thẩm phán và Hội đồng xét xử chỉ được ra Quyết định, Bản án công nhận
sự thỏa thuận trên cơ sở những nội dung, những vấn đề mà các đương sự đã
tự nguyện đồng ý sau khi thương lượng, cân nhắc và thảo luận.
Thứ ba, là phương thức giải quyết tranh chấp không thông qua thủ tục
xét xử.
Trong xã hội, khi mà các mối quan hệ kinh tế - xã hội vận động không
ngừng không thể tránh khỏi những va chạm, mâu thuẫn, xung đột về các giá
trị, lợi ích giữa các chủ thể tham gia quan hệ. Sự va chạm, mâu thuẫn này có
thể dẫn đến những tranh chấp giữa các chủ thể. Để tránh những hậu quả tiêu
cực mà các tranh chấp có thể gây ra cho đời sống xã hội, việc hình thành
những cơ chế giải quyết tranh chấp này là nhu cầu khách quan. Lịch sử đã cho
thấy các phương thức được sử dụng để giải quyết tranh chấp trong các lĩnh
vực đời sống xã hội rất phong phú và đa dạng, như trung gian, hồ giải,
thương lượng, trọng tài hoặc thơng qua hoạt động xét xử của Toà án nhân
dân. Các đương sự được lựa chọn và quyết định sử dụng phương thức giải
quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ mà họ tham gia. Công nhận sự thoả
thuận của các đương sự là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp
không thơng qua thủ tục xét xử. Đó là việc Tịa án tiến hành các thủ tục tố
tụng để công nhận sự thoả thuận của các đương sự trong giai đoạn chuẩn bị
xét xử hoặc trong phiên toà xét xử. Và kết quả đạt được đó là tranh chấp giữa
các đương sự đã được giải quyết, hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự do ý chí và


13

quyền tự định đoạt của các đương sự mà không cần Toà án phải tiến hành các
thủ tục xét xử.
1.2. Ý nghĩa của việc quy định công nhận sự thỏa thuận của các đƣơng sự

trong tố tụng dân sự
Thứ nhất, bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự.
Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự
được thể hiện theo quy định tại Điều 5 BLTTDS 2015: “Đương sự có quyền
quyết định việc khởi kiện, u cầu Tịa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc
dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn
yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu
cầu đó. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm
dứt, thay đổi u cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện,
không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội”.
Khi có tranh chấp xảy ra, việc giải quyết tranh chấp xuất phát từ ý chí
định đoạt của đương sự. Các đương sự tự thỏa thuận với nhau hay yêu cầu cơ
quan có thẩm quyền giải quyết là phụ thuộc vào quyết định của họ. Đây là cơ
chế nhằm tăng cường hơn nữa quyền lựa chọn các phương thức giải quyết
tranh chấp cho các đương sự. Và việc quy định công nhận sự thoả thuận của
các đương sự sẽ là một phương thức giải quyết tranh chấp tối ưu nhất để bảo
đảm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự.
Từ quy định này, khi sự thỏa thuận của các đương sự được Tịa án cơng
nhận và được thể hiện bằng một Quyết định hay Bản án thì sự thỏa thuận đó
có ý nghĩa về mặt pháp lý, có giá trị bắt buộc thi hành và bảo đảm thực hiện
bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Điều này đã tạo ra sự an tâm cho
đương sự, khuyến khích các đương sự thực hiện quyền quyết định và tự định
đoạt của mình, vì cuối cùng quyền và lợi ích hợp pháp của họ cũng được Nhà
nước bảo vệ theo đúng ý chí, nguyện vọng của họ.
Thứ hai, giúp cho việc thi hành án được thuận lợi hơn so với hình thức
xét xử vụ án dân sự. Việc giải quyết tranh chấp được xuất phát từ sự tự nguyện
thỏa thuận của các đương sự, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của họ,


14


làm hài lịng đơi bên nên các đương sự sẽ dễ dàng tự nguyện thi hành các thoả
thuận mà Toà án đã cơng nhận. Vì vậy, cơng nhận sự thỏa thuận của các đương
sự cũng góp phần giảm thiểu số lượng án dân sự phải thi hành.
Thứ ba, rút ngắn thời hạn tố tụng.
Trong trường hợp các đương sự tự thỏa thuận với nhau, hoặc hòa giải
thành, sẽ làm cho vụ án được giải quyết nhanh chóng hơn để tiết kiệm chi phí
tố tụng, giảm thiểu cơng việc cho Tịa án. Đồng thời việc hòa giải thành trong
thời gian chuẩn bị xét xử Tịa án sẽ khơng phải mở phiên tịa sơ thẩm và
khơng phải tiến hành các thủ tục xét xử tiếp theo như xét xử phúc thẩm, giám
đốc thẩm, tái thẩm. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự làm rút ngắn
quá trình tố tụng, hạn chế mâu thuẫn của đương sự cũng như không phải áp
dụng các biện pháp tố tụng theo trình tự thơng thường.
Thứ tư, tăng cường tình đồn kết, hiểu biết lẫn nhau giữa các đương sự.
Thông qua hoạt động công nhận sự thoả thuận của các đương sự, Tòa
án thể hiện đúng vai trò trung gian trọng tài, giải quyết các tranh chấp dân sự
trên nền tảng sự chủ động thoả thuận của các đương sự, từ đó đem lại sự hài
lịng và lợi ích cho các bên, sự thoả thuận này có giá trị pháp lý và được đảm
bảo thực hiện, người dân tin tưởng vào hoạt động tố tụng này của Toà án như
là một hoạt động hữu hiệu nhất để giải quyết tranh chấp của mình.
Cơng nhận sự thỏa thuận của các đương sự giải quyết được mâu thuẫn
giữa các bên tranh chấp, khơi dậy và phát huy truyền thống đoàn kết, ngăn
chặn các vi phạm và tội phạm phát sinh từ những tranh chấp trong quần chúng
nhân dân, góp phần vào việc giữ gìn an ninh, trật tự, công bằng xã hội, làm
cho mối quan hệ xã hội phát triển không phải bằng mệnh lệnh mà bằng giáo
dục thuyết phục và sự cảm thông của các thành viên trong xã hội. Mặt khác,
công nhận sự thỏa thuận của các đương sự góp phần nâng cao nhận thức và
hiểu biết pháp luật của người dân, giúp các đương sự hiểu biết lẫn nhau, tránh
các tranh chấp, mâu thuẫn xuất phát từ việc các bên không hiểu biết pháp luật
hoặc hiểu biết không đúng.



15

1.3. Nguyên tắc công nhận sự thỏa thuận của các đƣơng sự trong tố tụng
dân sự
1.3.1. Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì việc cơng nhận sự thoả
thuận của các đương sự phải bảo đảm “tôn trọng sự tự nguyện của các đương
sự, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải
thoả thuận khơng phù hợp với ý chí của mình”11.
Đây là ngun tắc cơ bản để Tồ án nhân dân công nhận sự thỏa thuận
của các đương sự. Nguyên tắc này xuất phát từ quyền quyết định và tự định
đoạt của đương sự, được quy định cụ thể tại Điều 5 BLTTDS 2015. Theo đó
“Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, u cầu Tồ án có thẩm quyền
giải quyết vụ việc dân sự, Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có
đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn
khởi kiện, đơn yêu cầu đó. Trong q trình giải quyết vụ việc dân sự, đương
sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau
một cách tự nguyện, khơng vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức
xã hội”.
Xét về lợi ích, chính các đương sự trong tố tụng dân sự là chủ thể có
quyền, lợi ích hợp pháp trong vụ việc dân sự cần giải quyết, nên họ có quyền
tự do quyết định việc bảo vệ quyền của mình trước Tồ án. Việc khởi kiện
hay khơng khởi kiện là do đương sự tự quyết định. Sau khi đã khởi kiện, việc
thay đổi nội dung khởi kiện, thoả thuận việc giải quyết tranh chấp phụ thuộc
vào ý chí của đương sự. Họ chủ động trong việc giải quyết các mâu thuẫn, các
tranh chấp hoặc các vấn đề có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ.
Toà án nhân dân là cơ quan xét xử, chỉ thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự khi
đương sự có đơn yêu cầu, nhằm bảo đảm cho đương sự bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật.
Xuất phát từ bản chất các quan hệ dân sự, hơn nhân và gia đình, kinh
doanh thương mại và lao động được xác lập trên cơ sở bình đẳng, tự do, tự
nguyện cam kết, thoả thuận nên các bên ln tự nguyện và bình đẳng. Khi các
11

Điểm a, Khoản 1, Điều 180 BLTTDS 2004 và Điểm a, Khoản 2, Điều 205 BLTTDS 2015.


16

đương sự tự nguyện thỏa thuận tức là họ đã tự lựa chọn, quyết định về việc
giải quyết các vấn đề của họ trong vụ án. Tòa án và các chủ thể khác có nghĩa
vụ tơn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự.
Pháp luật nghiêm cấm các hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực
buộc đương sự phải thoả thuận không phù hợp với ý chí của họ, làm cho họ
khơng thể hiện được ý chí của mình trong giải quyết tranh chấp tại tòa án
nhân dân.
1.3.2. Nội dung sự thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều
cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì việc cơng nhận sự thoả
thuận của các đương sự còn phải đảm bảo “nội dung thoả thuận giữa các
đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”12.
Đồng thời, theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 BLDS 2015: “Cá nhân,
pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên
cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi
phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối
với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”.
Quyền tự định đoạt trong tố tụng dân sự xuất phát và gắn liền với với
quyền tự định đoạt của các chủ thể trong pháp luật nội dung. Quyền tự thoả

thuận của đương sự là quyền tự định đoạt về phương diện tố tụng trước Toà
án, trong việc giải quyết tranh chấp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình bị xâm phạm hoặc có tranh chấp. Tuy nhiên, việc định đoạt của
đương sự không được tuỳ tiện mà chỉ được thực hiện trong khuôn khổ pháp
luật, sự thoả thuận của đương sự phải gắn với các quyền và lợi ích được pháp
luật nội dung ghi nhận và bảo hộ. Nhà nước chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự khi sự định đoạt của đương sự không vi phạm điều cấm
của luật, không trái đạo đức xã hội. Các nội dung thỏa thuận giữa các đương
sự mà vi phạm những nội dung trên thì khơng được Tồ án công nhận.

12

Điểm b, Khoản 2, Điều 205 BLTTDS 2015.


17

1.3.3. Sự thỏa thuận của các đương sự không được ảnh hưởng đến
quyền lợi hợp pháp của người khác
Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là: “Mọi cá
nhân, pháp nhân đều bình đẳng, khơng được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt
đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài
sản”13. Pháp luật tố tụng dân sự quy định: “Trong tố tụng dân sự mọi người
đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín
ngưỡng, tơn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, địa vị xã
hội. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền
và nghĩa vụ tố tụng trước Toà án”14. Khoản 4 Điều 3 BLDS 2015 quy định:
“Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm
phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích cơng cộng, quyền và lợi ích hợp
pháp của người khác”.

Từ quy định trên, cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng và được
pháp luật bảo hộ như nhau trong việc thực hiện các quyền của mình, trong có
quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi bị xâm phạm. Nhưng đồng thời
việc thực hiền quyền của mình khơng được làm ảnh hưởng tới quyền và lợi
ích hợp pháp của người khác.
Việc tự thoả thuận giải quyết tranh chấp là quyền tự định đoạt của
đương sự. Tuy nhiên, quyền tự định đoạt phải nằm trong giới hạn. Định đoạt
không có nghĩa là được phép có quyền làm tất cả những gì mình muốn mà bất
chấp đến những người khác trong xã hội. Tự do ý chí thật sự nghĩa là tự do ý
chí đối với bản thân mình và đối với những gì thuộc về mình và khơng được
làm ảnh hưởng, xâm hại đến người khác trong xã hội. Việc hành động, xử sự,
thoả thuận một cách tùy ý và chỉ nhằm phục vụ cho lợi ích của chính mình là
sự bất cơng, khơng được chấp nhận. Vì vậy, Tồ án chỉ cơng nhận sự thoả
thuận của các đương sự khi sự thoả thuận này nhằm mục đích giải quyết tranh
chấp giữa họ và sự thoả thuận này phải được đảm bảo tuân thủ các quy định

13
14

Điều 3 BLDS 2015.
Điều 8 BLTTDS 2015.


×