BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
------------
PHẠM ÁNH DƯƠNG
VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN THỰC
HIỆN NGHĨA VỤ THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980
KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật Thương mại
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN THỰC
HIỆN NGHĨA VỤ THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980
KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
SINH VIÊN THỰC HIỆN: PHẠM ÁNH DƯƠNG
KHÓA: 35 – MSSV: 1055010052
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS. NGUYỄN THỊ THANH LÊ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả nội dung trong Khóa luận này được hình thành và phát
triển từ những quan điểm cá nhân của tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS.
Nguyễn Thị Thanh Lê, giảng viên khoa Luật Thương mại, trường Đại học Luật TP.
Hồ Chí Minh.
Trong Khóa luận có trích dẫn, sử dụng một số ý kiến, quan điểm khoa học của
một số tác giả. Sự trích dẫn này được thể hiện cụ thể trong Danh mục tài liệu tham
khảo và tuân thủ các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Các kết quả có được
trong Khóa luận này là hồn tồn trung thực.
Sinh viên thực hiện
Phạm Ánh Dương
LỜI CẢM ƠN
-----Để hồn thành khóa luận tốt nghiệp của mình, ngồi sự cố gắng nỗ lực của bản
thân, tác giã đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, ủng hộ từ quý Thầy Cô và các bạn.
Đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Giảng viên – ThS. Nguyễn
Thị Thanh Lê, Cô đã dành nhiều thời gian, cơng sức và hết lịng tận tụy giúp đỡ tác
giả trong suốt q trình làm khóa luận.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy Cô trường Đại học Luật
TP. Hồ Chí Minh đã dạy dỗ, truyền đạt kiến thức cho tác giả cũng như các bạn sinh
viên. Đồng thời, tác giả xin cảm ơn sự giúp đỡ, ủng hộ của gia đình, bạn bè trong
thời gian làm khóa luận.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất,
song khơng thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được,
tác giả mong được sự góp ý từ Thầy Cơ và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh
hơn.
Trân trọng.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS 2005
Bộ luật Dân sự (Luật số 33/2005/QH11)
ngày 14/6/2005
CISG
Công ước của Liên hiệp quốc năm 1980 về
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
LTM 1997
Luật Thương mại ngày 10/5/1997
LTM 2005
Luật Thương mại (Luật số 36/2005/QH11)
ngày 14/06/2005
PECL
Nguyên tắc luật hợp đồng chung châu Âu
PICC
Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng
thương mại quốc tế
UCC
Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ...............................................................................................1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu .....................................................................2
3. Mục tiêu nghiên cứu .........................................................................................3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................4
5. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................4
6. Khả năng ứng dụng và ý nghĩa của đề tài ......................................................5
7. Bố cục của đề tài................................................................................................5
CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI
HẠN THỰC HIỆN NGHĨA VỤ ..............................................................................6
1.1. Khái niệm........................................................................................................6
1.1.1. Vi phạm hợp đồng theo quan điểm truyền thống .....................................6
1.1.2. Vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ..............................7
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống quy định về “Vi phạm hợp
đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ” .........................................................10
1.2.1. Học thuyết về vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong
pháp luật một số quốc gia .................................................................................11
1.2.1.1. Nguồn gốc của học thuyết ở Anh ....................................................11
1.2.1.2. Pháp luật thương mại Hoa Kỳ .........................................................12
1.2.1.3. Các quốc gia theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa ...................14
1.2.2. Học thuyết về vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong
pháp luật thương mại quốc tế ...........................................................................14
1.2.2.1. Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế ........14
1.2.2.2. Nguyên tắc luật hợp đồng chung châu Âu ......................................15
1.2.3. Học thuyết về vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong
Công ước Viên 1980 .........................................................................................16
1.3. Những lý do dẫn đến quy định vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực
hiện nghĩa vụ .......................................................................................................17
1.3.1. Bảo vệ mối quan hệ kinh doanh của các bên .........................................17
1.3.2. Đảm bảo sự công bằng trong quan hệ hợp đồng ....................................18
1.3.3. Biểu hiện cụ thể của nguyên tắc thiện chí và trung thực ........................18
CHƯƠNG II. VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN THỰC HIỆN
NGHĨA VỤ THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980.......................................................20
2.1. Điều kiện áp dụng ........................................................................................20
2.1.1. Thỏa thuận về giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần..........................20
2.1.2. Tính chất của vi phạm ............................................................................20
2.2. Hậu quả pháp lý ...........................................................................................22
2.2.1. Vi phạm không cơ bản............................................................................22
2.2.2. Vi phạm cơ bản .......................................................................................25
2.2.2.1. Hợp đồng khơng có thỏa thuận giao hàng, cung ứng dịch vụ từng
phần ..............................................................................................................25
2.2.2.2. Hợp đồng có thỏa thuận giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần ..28
2.3. Cách thức áp dụng .......................................................................................32
2.3.1. Nghĩa vụ thơng báo ................................................................................32
2.3.1.1. Hỗn thực hiện nghĩa vụ .................................................................33
2.3.1.2. Hủy bỏ hợp đồng .............................................................................34
2.3.2. Yêu cầu bảo đảm thực hiện nghĩa vụ .....................................................35
CHƯƠNG III. VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN THỰC HIỆN
NGHĨA VỤ THEO PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ........................36
3.1. Vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ theo pháp luật
thương mại Việt Nam .........................................................................................36
3.1.1. Điều kiện áp dụng ...................................................................................36
3.1.2. Hậu quả pháp lý ......................................................................................37
3.2.2.1. Các chế tài trong thương mại ..........................................................37
3.2.2.2. Chế tài áp dụng đối với vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện
nghĩa vụ ........................................................................................................40
3.2. Bài học kinh nghiệm và khuyến nghị .........................................................44
3.2.1. Ghi nhận hoàn thiện chế định vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực
hiện nghĩa vụ ....................................................................................................44
3.2.2. Về thỏa thuận giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần trong hợp đồng 45
3.2.3. Về các chế tài có thể được áp dụng ........................................................46
3.2.4. Về mức độ chắc chắn của dự đốn vi phạm trong tương lai ..................47
3.2.5. Về tính chất của vi phạm ........................................................................48
3.2.6. Về nghĩa vụ thông báo yêu cầu đảm bảo thực hiện nghĩa vụ .................49
3.2.7. Việc vận dụng, áp dụng và phát triển án lệ ở Việt Nam ........................49
KẾT LUẬN ..............................................................................................................51
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC BẢN ÁN CỦA TÒA ÁN VÀ PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, các quan hệ hợp đồng phát sinh ngày
càng phong phú đa dạng, đòi hỏi phải được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật hoàn
chỉnh, đặc biệt là pháp luật thương mại. Tuy nhiên, vi phạm hợp đồng trước thời
hạn thực hiện nghĩa vụ - một chế định đã ra đời và tồn tại khá lâu trong hầu hết các
hệ thống pháp luật trên thế giới, lại là một vấn đề còn khá mới mẻ đối với hệ thống
pháp luật nước ta. So với pháp luật các nước và văn bản pháp lý quốc tế, pháp luật
thương mại Việt Nam chỉ mới thừa nhận phần nào chế định vi phạm hợp đồng trước
thời hạn thực hiện nghĩa vụ nhưng vẫn còn giới hạn trong một số trường hợp khá
hẹp, những quy định này không đủ để giải quyết các tranh chấp phát sinh theo
hướng đảm bảo cân bằng lợi ích cho các bên.
Trong những năm qua, trên con đường hội nhập một cách chủ động và tích
cực vào nền kinh tế thế giới, cùng với việc khơng ngừng hồn thiện pháp luật
thương mại quốc gia, tạo hành lang pháp lý vững chắc, Việt Nam đã nỗ lực tham
gia các điều ước quốc tế song phương và đa phương trong lĩnh vực thương mại,
trong đó có Công ước Viên 1980 của Liên hiệp quốc về Hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế (CISG), một trong những thành cơng điển hình của xu thế nhất thể hóa
pháp luật thương mại.
Ngày 28/12/2012, sau khi hoàn thành nghiên cứu về khả năng Việt Nam gia
nhập Công ước Viên 1980, Bộ Cơng Thương đã có cơng văn số 12694/TTr-BCT
gửi Thủ tướng Chính phủ đề xuất việc Việt Nam gia nhập Cơng ước này. Ngày
14/01/2013, Văn phịng Chính phủ đã gửi Công văn số 413/VPCP-QHQT đồng ý
với đề xuất trên của Bộ Cơng Thương, trong đó Thủ tướng Chính phủ đã đống ý với
chủ trương Việt Nam gia nhập Công ước Viên 1980 và giao các bộ ngành liên quan
thực hiện các thủ tục gia nhập Cơng ước này. Do đó, việc nghiên cứu, so sánh các
quy định của Công ước Viên 1980 và pháp luật thương mại Việt Nam trở thành một
nhu cầu bức thiết, việc nắm bắt những điểm tương đồng và khác biệt sẽ giúp chúng
ta hòa nhập vào nền pháp luật thương mại quốc tế một cách tự tin, chủ động, phù
hợp với điều kiện đặc thù của Việt Nam, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp trong nước có cơ hội cạnh tranh cơng bằng trên thị trường quốc tế.
Tại Việt Nam, liên quan đến vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa
vụ số lượng các cơng trình nghiên cứu chun sâu về chế định này trong Cơng ước
Viên 1980 cịn rất hạn chế, đặc biệt là trong tương quan so sánh với pháp luật
thương mại Việt Nam hiện hành. Thông qua việc nghiên cứu, câu hỏi đặt ra là có
1
nên tiếp thu những quy định này trong Công ước Viên 1980 để hoàn thiện chế định
vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong Luật Thương mại 2005,
những quy định này liệu có phù hợp với nền kinh tế Việt Nam hay không.
Để trả lời những câu hỏi vừa nêu, cần sự nghiên cứu toàn diện, từ việc phân
tích các quy định của pháp luật đến việc bình luận, xem xét việc áp dụng trong thực
tiễn, từ đó đưa ra cái nhìn tổng quan về chế định vi phạm hợp đồng trước thời hạn
thực hiện nghĩa vụ. Đó là những lý do mà tác giả chọn đề tài “Vi phạm hợp đồng
trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ theo Công ước Viên 1980. Kinh nghiệm cho Việt
Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Sau đây là một số đề tài, cơng trình nghiên cứu trong và ngồi nước mà tác giả
tìm hiểu (được tính đến ngày 19/07/2014) có nội dung liên quan hoặc bổ trợ cho đề
tài cần nghiên cứu:
2.1. Trong nước
Mặc dù Công ước Viên 1980 nhận được sự quan tâm lớn của cộng đồng học
thuật trong và ngoài nước thể hiện qua số lượng khá lớn các cơng trình nghiên cứu
nhưng tại Việt Nam, hầu hết chỉ dừng ở mức giới thiệu hoặc khái quát. Chế định vi
phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã được các tác giả nhắc đến
trong các bài viết khoa học, luận văn, luận án của mình như:
Tác giả Đỗ Văn Đại với các bài viết “Vấn đề hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng do bị
vi phạm trong BLDS Việt Nam” (tạp chí Khoa học pháp lý số 03/2004), Bình luận
bản án số 81 trong sách chuyên khảo “Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình
luận bản án” (2011); tác giả Dương Anh Sơn với bài viết “Cơ sở lý luận và thực tiễn
của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với vi phạm hợp đồng khi chưa đến thời hạn
hạn thực hiện nghĩa vụ” (Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 04/2006). Trong nghiên
cứu của mình, các tác giả có đề cập tới những quy định cho thấy pháp luật Việt
Nam cũng đã điều chỉnh về vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ
nhưng khơng đi sâu phân tích mà chỉ dừng lại ở góc độ giới thiệu khái quát, đồng
thời đề xuất hoàn thiện trên cơ sở tiếp thu pháp luật nước ngoài và các văn bản pháp
lý quốc tế phổ biến.
Tác giả Phạm Thị Trong với đề tài “Vi phạm hợp đồng khi chưa đến thời hạn
thực hiện nghĩa vụ sự cần thiết phải điều chỉnh trong pháp luật hợp đồng của Việt
Nam”(Luận văn Thạc sỹ Luật học năm 2006, trường ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh),
tuy nhiên tác giả lại cho rằng pháp luật Việt Nam chưa có quy định nào được nhìn
2
nhận dưới góc độ vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ.
Mới đây nhất là đề tài “Vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ
theo Công Ước Viên 1980. Kinh nghiệm cho Việt Nam” của nhóm tác giả Nguyễn
Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Cúc Vi, Trần Thúy Văn (2014), trường ĐH Luật TP.
Hồ Chí Minh được thực hiện dưới khuôn khổ một đề tài nghiên cứu khoa học sinh
viên.
2.2. Nước ngoài
Vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong Công ước Viên
1980 đã được sự quan tâm của cộng đồng học thuật nước ngồi, tuy nhiên chưa có
tác giả nào phân tích chế định này trong Cơng ước Viên 1980 trong mối tương quan
với pháp luật thương mại Việt Nam. Điển hình nhất là các bài nghiên cứu
“Suspension or avoidance due to anticipatory breach: Perspectives from Arts.
71/72 CISG, the UNIDROIT Principles, PECL and Case Law” (2005) và
“Avoidance in The Case of An Installment Contract” (2005) của tác giả Chengwei
Liu và tuyển tập các án lệ Công ước Viên 1980 “Digest of Case Law on the United
Nations Convention on Contracts for the International Sale of Good” của Ủy bản
Liên hiệp quốc về Luật thương mại quốc tế, tái bản năm 2012.
Qua tổng qua về tình hình nghiên cứu, có thể thấy việc nghiên cứu chế định vi
phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ theo Công ước Viên 1980 trong
sự so sánh, liên hệ với pháp luật thương mại Việt Nam hiện hành đến nay vẫn chưa
có cơng trình nào đề cập thật đầy đủ và chi tiết. Trên cơ sở nghiên cứu của các tác
giả khác về chế định vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ, tác giả
tiếp tục tìm hiểu và phát triển tồn diện hơn về lý luận, thực tiễn của việc quy định
và áp dụng chế định này trong Công ước Viên 1980 và pháp luật thương mại Việt
Nam, từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật
thương mại Việt Nam về vấn đề được nghiên cứu.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu mà tác giả muốn đạt được bao gồm:
(i) Tìm hiểu khái niệm vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ và
đưa ra những lý do cần thiết phải có sự điều chỉnh vi phạm hợp đồng trước thời hạn
thực hiện nghĩa vụ bằng pháp luật;
(ii) Tìm hiểu và làm sáng tỏ hệ thống quy định của Công ước Viên 1980 về vi
phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ. Qua đó, đúc kết lý luận và kinh
nghiệm trong việc quy định, áp dụng và thi hành Công ước Viên 1980 liên quan đến
3
chế định này;
(iii) Tìm hiểu các quy định của pháp luật thương mại Việt Nam liên quan đến
vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ. Đồng thời xác định những bất
cập, thiếu sót của pháp luật thương mại Việt Nam về vi phạm hợp đồng trước thời
hạn thực hiện nghĩa vụ;
(iv) Đưa ra một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật thương mại Việt
Nam về chế định vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ trên cơ sở
học hỏi kinh nghiệm từ Công ước Viên 1980, tạo điều kiện cho chế định này được
thực thi có hiệu quả trên thực tiễn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của một đề tài khóa luận tốt nghiệp, tác giả sẽ sẽ so sánh hệ
thống quy định về vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong Công
ước Viên 1980 và pháp luật thương mại Việt Nam, để làm rõ những vấn đề cơ bản
sau: (i) khái niệm vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ, (ii) điều
kiện áp dụng, hậu quả pháp lý và cách thức áp dụng chế tài khi có hành vi vi phạm
hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ, (iii) thực tiễn của việc điều chỉnh và áp
dụng vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ và (iv) một số khuyến
nghị và hướng hoàn thiện pháp luật thương mại Việt Nam trong vấn đề được nghiên
cứu. Điều đó có nghĩa là đề tài này khơng tập trung nghiên cứu tất cả các chế tài
trong thương mại và đề tài cũng khơng đi sâu phân tích các quy định của Bộ luật
dân sự 2005 mà chỉ khảo sát để thấy được tổng quan hệ thống pháp luật Việt Nam
về chế định này. Ngoài ra, việc dẫn chiếu quy định của pháp luật nước ngoài và các
điều ước quốc tế, tập quán quốc tế khác chỉ mang tính chất tham khảo, bổ trợ và
cũng chỉ đặt ra trong trường hợp thật cần thiết nhằm làm sáng tỏ một vài nội dung
cụ thể nhất định mà đề tài cần nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh những phương pháp cơ bản như phương pháp duy vật biện chứng,
phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Marx – Lenin, tác giả tích cực ứng dụng
các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp logic – hệ thống, phương pháp lịch
sử, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp. Đặc biệt,
phương pháp bình luận án được vận dụng để phân tích các khía cạnh pháp lý thơng
qua việc bình luận một số bản án, quyết định, phán quyết tiêu biểu của Toà án và
trọng tài cũng như những vụ việc mang tính thời sự khi liên hệ thực tế áp dụng pháp
luật.
4
Nhờ việc phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, đặc biệt bổ sung
những xu hướng và phương pháp nghiên cứu mới nhằm đưa ra góc nhìn đa chiều,
đề tài bảo đảm được tính kế thừa, tính tồn diện và tính ứng dụng cao.
6. Khả năng ứng dụng và ý nghĩa của đề tài
Khóa luận có ý nghĩa như một nghiên cứu có hệ thống các quy định về chế
định vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong Công ước Viên
1980 và pháp luật thương mại Việt Nam hiện hành, giúp người đọc có cái nhìn đúng
đắn, tổng quan về chế định này.
Đề tài cũng được sử dụng như một tài liệu tham khảo trong chương trình đào
tạo cử nhân luật tại các trường đại học, là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho đội
ngũ chuyên gia, cán bộ pháp luật cũng như cộng đồng doanh nghiệp trong việc nắm
bắt và vận dụng các quy định của pháp luật trong lĩnh vực mua bán hàng hóa.
Trên cơ sở phân tích, so sánh với quy định của Công ước Viên 1980 về vi
phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ, cùng với việc nghiên cứu thực
tiễn áp dụng, tác giả mong muốn nêu một số đề xuất để các nhà làm luật tham khảo
trong cơng tác xây dựng và hồn thiện những quy định về vi phạm hợp đồng trước
thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong Luật Thương mại 2005 nói riêng và hệ thống
pháp luật Việt Nam nói chung.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bản án, quyết
định của Tòa án và phán quyết của trọng tài, đề tài được kết cấu thành ba chương,
bao gồm:
Chương I: Lý luận chung về vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa
vụ
Chương II: Vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ theo Công
ước Viên 1980
Chương III: Vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ theo pháp
luật thương mại Việt Nam.
5
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VI PHẠM HỢP ĐỒNG
TRƯỚC THỜI HẠN THỰC HIỆN NGHĨA VỤ
Trong Chương I, tác giả sẽ khái quát những vấn đề lý luận về vi phạm hợp
đồng theo quan điểm truyền thống và vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện
nghĩa vụ. Cụ thể, tác giả sẽ phân tích khái niệm và các căn cứ xác định vi phạm hợp
đồng theo hai quan điểm vừa nêu, qua đó thấy được dấu hiệu cơ bản để phân định vi
phạm hợp đồng theo quan điểm truyền thống và vi phạm hợp đồng trước thời hạn
thực hiện nghĩa vụ. Tiếp đến, tác giả sẽ khái quát lịch sử hình thành và phát triển hệ
thống quy định về vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ ở pháp luật
một số quốc gia tiêu biểu và pháp luật thương mại quốc tế để thấy được xu hướng
hài hịa hóa của các hệ thống pháp luật trên thế giới. Từ đó, tác giả cũng nêu ra
những lý do cho thấy sự cần thiết điều chỉnh chế định vi phạm hợp đồng trước thời
hạn thực hiện nghĩa vụ bằng pháp luật.
1.1. Khái niệm
1.1.1. Vi phạm hợp đồng theo quan điểm truyền thống
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền và nghĩa vụ. Hợp đồng là cơ sở pháp lý đảm bảo sự ràng buộc về quyền và
nghĩa vụ của các bên và ngày càng đóng vai trị quan trọng trong nền kinh tế. Khi
giao kết hợp đồng, các bên đều mong muốn đạt được lợi ích nhất định. Tuy nhiên,
với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự đa dạng, phức tạp trong giao lưu
kinh tế, người kinh doanh phải đối diện với rất nhiều rủi ro trong kinh doanh,
thương mại. Rủi ro này xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan,
trong đó bao gồm cả những hành vi phá vỡ cam kết thỏa thuận trong quan hệ hợp
đồng bởi một bên, và do đó, vi phạm hợp đồng là khơng thể tránh khỏi.
Tuy có nhiều cách gọi khác nhau, lý thuyết về “vi phạm hợp đồng” đã ra đời
và tồn tại từ rất lâu trong các hệ thống pháp luật trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Theo quan điểm truyền thống, vi phạm hợp đồng là vi phạm các nghĩa vụ đã
được cam kết trong hợp đồng. Sự vi phạm nghĩa vụ này chỉ được xác định khi hết
thời hạn ấn định trong hợp đồng mà một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình.
Trong CISG, vi phạm hợp đồng được hiểu là việc không thực hiện nghĩa vụ,
bao gồm tất cả các hành vi không tuân thủ quy định của hợp đồng như không thực
hiện nghĩa vụ, chậm thực hiện nghĩa vụ, thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ hoặc
không phù hợp mà khơng phân biệt đó là nghĩa vụ chính hay phụ, kể cả những
6
trường hợp được miễn trách nhiệm.1 Nghĩa vụ mà các bên phải thực hiện có thể
được quy định rõ ràng trong hợp đồng, hoặc cũng có thể là nghĩa vụ của các bên
phát sinh từ quy định trong Công ước, từ các tập quán mà các bên đã thỏa thuận
hoặc từ thực tiễn mà họ thiết lập trong mối quan hệ tương hỗ. Như vậy, CISG điển
hình cho sự dung hòa các hệ thống pháp luật khác nhau, đã tiếp cận khái niệm “vi
phạm hợp đồng” theo nghĩa rộng nhất.
Tương tự, PICC và PECL sử dụng thuật ngữ “không thực hiện nghĩa vụ” thay
cho thuật ngữ “vi phạm hợp đồng”. Trong PICC, thuật ngữ này được quy định tại
Điều 7.1.1. Theo đó, “việc khơng thực hiện nghĩa vụ là trường hợp một bên không
thực hiện bất kỳ nghĩa vụ nào được quy định trong hợp đồng, bao gồm việc thực
hiện nghĩa vụ không đúng quy cách hay chậm thực hiện nghĩa vụ”.
Theo khoản 12 Điều 3 LTM 2005, vi phạm hợp đồng là việc một bên không
thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa
thuận giữa các bên hoặc theo quy định của LTM 2005.
Như vậy, vi phạm hợp đồng theo quan điểm truyền thống được đặc trưng bởi
các dấu hiệu cơ bản sau:
(i) Chỉ được xác định khi hết thời hạn thực hiện nghĩa vụ ghi trong hợp đồng;
(ii) Có thể là hành vi dưới dạng hành động (thực hiện không đúng hoặc khơng
đầy đủ nghĩ vụ của mình) hoặc khơng hành động (không thực hiện nghĩa vụ);
(iii) Cơ sở pháp lý để đánh giá tính trái pháp luật của hành vi vi phạm hợp
đồng bao gồm: các nội dung thỏa thuận trong hợp đồng và những quy định của pháp
luật có liên quan.
Trong đó, dấu hiệu (i) là dấu hiệu đặc trưng nhất, giúp phân biệt vi phạm hợp
đồng theo quan điểm truyền thống và vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện
nghĩa vụ được đề cập sau đây.
1.1.2. Vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ
Trong thực tiễn lưu thông dân sự và hoạt động thương mại, ngoài vi phạm hợp
đồng theo quan điểm truyền thống nói trên cịn tồn tại luồng quan điểm khác, đó là
vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ (thuật ngữ tiếng Anh là
anticipatory breach). Theo luồng quan điểm này thì vi phạm hợp đồng trước thời
hạn thực hiện nghĩa vụ là trường hợp sau khi giao kết hợp đồng và trước thời hạn
1
Chengwei Liu (2003), “Remedies for Non-performance – Perspectives from CISG, UNIDROIT Principles
and PECL”, Tham khảo trực tuyến tại: ‹ Truy cập
lần cuối vào 18h00 ngày 19/07/2014.
7
thực hiện nghĩa vụ được thỏa thuận trong hợp đồng, nếu một bên có căn cứ cho rằng
bên kia sẽ khơng thực hiện nghĩa vụ hoặc khơng có khả năng thực hiện nghĩa vụ thì
có thể thực hiện các quyền hoặc một số quyền mà thông thường chỉ được áp dụng
trong trường hợp nghĩa vụ không được thực hiện trên thực tế. Bản chất của học
thuyết này là, trong những trường hợp như vậy, một bên không phải chờ đến hết
thời hạn thực hiện nghĩa vụ để áp dụng các biện pháp khắc phục mà có thể áp dụng
các biện pháp nhất định khi có căn cứ cho rằng việc thực hiện nghĩa vụ của bên kia
sẽ không diễn ra.
Từ khái niệm nêu trên, có thể xác định vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực
hiện nghĩa vụ qua một số căn cứ sau:
(i) Về thời điểm dự đoán xảy ra vi phạm hợp đồng
Vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ được xác định trước thời
điểm nghĩa vụ đến hạn. Câu hỏi đặt ra là thời điểm trước khi nghĩa vụ đến hạn sẽ
được tính từ khi nào? Pháp luật thương mại quốc tế thường lấy điểm đầu của mốc
thời gian là sau khi giao kết hợp đồng. Một ví dụ điển hình là quy định tại Điều 71
CISG: “Một bên có thể hỗn thực hiện nghĩa vụ của mình nếu có dấu hiệu cho thấy
rằng sau khi hợp đồng được giao kết, bên kia sẽ không thực hiện một phần chủ yếu
những nghĩa vụ của họ”. Như vậy, nếu một bên dựa trên những dấu hiệu được biết
đến tại thời điểm giao kết hợp đồng, bên đó khơng có quyền hỗn thực hiện nghĩa
vụ. Tuy nhiên, điều này khơng có nghĩa là những dấu hiệu cho phép một bên có thể
hỗn thực hiện nghĩa vụ chỉ xuất hiện sau khi hợp đồng được giao kết, mà nó trở
nên rõ ràng chỉ sau khi giao kết hợp đồng.2 Quy tắc này là kết quả của các cuộc thảo
luận tại vòng đàm phán CISG.
Theo Điều 62 Dự thảo công ước 1978 (tiền thân của Điều 71 CISG) thì điểm
đầu của mốc thời gian được nới rộng hơn, cho phép một bên có thể hỗn thực hiện
nghĩa vụ căn cứ vào các sự kiện đang tồn tại ngay cả vào thời điểm giao kết. Sau đó,
ngơn từ của điều luật này được sửa đổi thành “một bên có thể hoãn thực hiện nghĩa
vụ căn cứ vào các sự kiện đã có từ trước và trở nên rõ ràng chỉ sau giao kết”. Tuy
nhiên, quy định tại Điều 71 CISG có thể dẫn tới mặt trái là các bên khơng cân nhắc
kỹ khi giao kết hợp đồng. Vì vậy, mặc dù căn cứ vào các sự kiện đang tồn tại vào
thời điểm giao kết hợp đồng nhưng các bên vẫn phải có nghĩa vụ kiểm tra tình trạng
thanh tốn nợ của bên kia.3
2
Bennett (1987), “Article 71”, Bianca-Bonell Commentary on the International Sales Law”, Giuffrè: Milan,
p. 516.
3
Fritz Enderlein & Dietrich Maskow (1992), “International Sales Law: United Nations Convention on
Contracts for the International Sale of Goods”, Oceana Publications, p. 285.
8
Tóm lại, thời điểm dự đốn xảy ra vi phạm hợp đồng là thời điểm sau khi giao
kết hợp đồng nhưng trước khi nghĩa vụ đến hạn. Có thể khẳng định thời điểm dự
đoán xảy ra vi phạm hợp đồng là căn cứ quan trọng nhất để phân biệt vi phạm hợp
đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ và vi phạm hợp đồng theo quan điểm truyền
thống. Bởi lẽ, nếu vượt qua mốc thời điểm “trước khi nghĩa vụ đến hạn” thì tính
chất của vi phạm hợp đồng sẽ thay đổi: từ vi phạm được dự đoán trước sẽ chuyển
thành vi phạm hợp đồng xảy ra trên thực tế. Cùng với đó, bên có quyền, từ việc dự
đốn vi phạm có xảy ra hay khơng sẽ chuyển sang việc chứng minh vi phạm đã xảy
ra.
(ii) Dự đoán khả năng xảy ra vi phạm hợp đồng
Việc xác định vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ phải dựa
trên những căn cứ cụ thể, đây là căn cứ có thể cho rằng bên kia sẽ khơng thực hiện
nghĩa vụ hoặc khơng có khả năng thực hiện nghĩa vụ. Các căn cứ này có thể bao
gồm: khiếm khuyết nghiêm trọng trong khả năng thực hiện hay trong khi thực hiện
hợp đồng, cung cách sử dụng trong việc thực hiện hay trong khi thực hiện hợp
đồng,… Không giống như việc chứng minh vi phạm đã xảy ra ở vi phạm hợp đồng
theo quan điểm truyền thống, việc dự đoán khả năng xảy ra vi phạm hợp đồng đối
với vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ khá phức tạp. Bởi lẽ, vi
phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ chỉ là một vi phạm giả định trong
tương lai, phụ thuộc khơng nhỏ vào nhìn nhận chủ quan của một bên. Do đó, việc
đảm bảo rằng căn cứ để thực hiện quyền càng khách quan là điều kiện hàng đầu
được quy định trong các hệ thống pháp luật ghi nhận học thuyết này.
Các văn bản pháp lý quy định về vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện
nghĩa vụ đều trao quyền xử lý vi phạm cho bên bị thiệt hại tiềm tàng dựa vào mức
độ chắc chắn khác nhau của việc dự đoán khả năng xảy ra vi phạm hợp đồng. Ví dụ,
bên bị thiệt hại tiềm tàng muốn hoãn thực hiện nghĩa vụ theo Điều 71 CISG, thì chỉ
cần “có dấu hiệu cho thấy” bên kia sẽ không thực hiện nghĩa vụ. Nhưng nếu bên
này muốn hủy bỏ hợp đồng theo Điều 72 CISG thì yêu cầu của sự chắc chắn phải ở
mức cao hơn, là “rõ ràng” bên kia sẽ gây ra một vi phạm cơ bản hợp đồng. Tương
tự, nếu muốn chấm dứt hợp đồng theo Điều 7.3.3 PICC thì mức độ chắc chắc ở đây
địi hỏi phải là “có chứng cứ rõ ràng” là bên kia sẽ vi phạm hợp đồng; và nếu chỉ
dừng lại ở mức độ “có cơ sở để tin rằng” thì quyền của bên bị thiệt hại tiềm tàng
chỉ dừng lại ở việc yêu cầu bên kia cung cấp đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ,
đồng thời tạm dừng nghĩa vụ theo Điều 7.3.4 PICC. Tuy có những khác biệt trong
cách sử dụng từ ngữ diễn đạt tương ứng với mức độ yêu cầu sự chắc chắn nguy cơ
không thực hiện hợp đồng, hầu hết các văn bản pháp lý đều có quy định chặt chẽ về
9
vấn đề này.
Tiêu chuẩn để đánh giá sự chắc chắn vi phạm sẽ xảy ra có ở mức hợp lý hay
không sẽ căn cứ vào các điều kiện kinh doanh, thương mại thơng thường, điển hình
như hành động hoặc tun bố của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng, bản
chất của hợp đồng cũng như nghĩa vụ trung thực, thiện chí.
(iii) Về tính chất của vi phạm
Bên cạnh việc xem xét mức độ chắc chắn của dự đoán vi phạm sẽ xảy ra,
quyền cho bên bị thiệt hại tiềm tàng đối với việc xử lý vi phạm còn đòi hỏi việc
xem xét mức độ nghiêm trọng của vi phạm trong tương lai. Vi phạm hợp đồng trước
thời hạn thực hiện nghĩa vụ địi hỏi phải có tính chất là ảnh hưởng nghiêm trọng đến
khả năng thực hiện nghĩa vụ. Tính chất nghiêm trọng của vi phạm trong tương lai có
thể được mơ tả thơng qua hai tính từ được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp
lý là “chính yếu” (substantial) và “cơ bản” (fundamental). Trong đó, khái niệm vi
phạm cơ bản được xem là khái niệm đóng vai trị trung tâm và có ý nghĩa quan
trọng trong các quy định liên quan đến vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện
nghĩa vụ. Khái niệm này không chỉ được nhắc đến ở Điều 72 CISG mà còn được đề
cập tại Điều 7.3.3 và 7.3.4 PICC, Điều 9:304 và Điều 8:105 PECL với ý nghĩa là sự
nghiêm trọng ở cấp độ cao ảnh hưởng đến khả năng thực hiện nghĩa vụ.
Qua thực tiễn tài phán, một bên có thể tuyên bố bên kia vi phạm hợp đồng
trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ khi rơi vào các trường hợp điển hình sau: bên mua
khơng thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng trước đó,4 bên mua từ chối lập
thư tín dụng,5 bên mua chậm trễ nghiêm trọng trong việc thực hiện thanh toán, 6 bên
bán cố tình ngừng cung cấp hàng hóa cho bên mua,7 bên bán giao hàng mẫu bị lỗi,8
một bên mất khả năng thanh tốn khi rơi vào tình trạng phá sản9…
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống quy định về “Vi phạm hợp đồng
trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ”
4
Germany 28 April 1993 District Court Krefeld (Shoes case), Tham khảo trực tuyến tại:
‹ Truy cập lần cuối vào 18h00 ngày 19/07/2014.
5
Australia 17 November 2000 Supreme Court of Queensland (Downs Investments v. Perwaja Steel), Tham
khảo trực tuyến tại: ‹ Truy cập lần cuối vào 18h00 ngày
19/07/2014.
6
Belgium 1 March 1995 District Court Hasselt (J.P.S. v. Kabri Mode), Tham khảo trực tuyến tại:
‹ Truy cập lần cuối vào 18h00 ngày 19/07/2014.
7
Switzerland 31 May 1996 Zürich Arbitration proceeding (Soinco v. NKAP), Tham khảo trực tuyến tại:
‹ Truy cập lần cuối vào 18h00 ngày 19/07/2014.
8
ICC Arbitration Case No. 8786 of January 1997 (Clothing case), Tham khảo trực tuyến tại:
‹ Truy cập lần cuối vào 18h00 ngày 19/07/2014.
9
Austria 12 February 1998 Supreme Court (Umbrella case), Tham khảo trực tuyến tại:
‹ Truy cập lần cuối vào 18h00 ngày 19/07/2014.
10
1.2.1. Học thuyết về vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong
pháp luật một số quốc gia
1.2.1.1. Nguồn gốc của học thuyết ở Anh
Học thuyết về vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ không phải
là một học thuyết mới. Học thuyết này đã có một lịch sử phát triển lâu dài và được
thảo luận trong khoa học pháp lý và thực tiễn ở các hệ thống pháp luật khác nhau.
Đây là học thuyết có nguồn gốc từ Common law và dần được tích hợp vào các văn
bản pháp lý quốc tế khác nhau.
Điểm khởi đầu cho học thuyết này là án lệ của Anh trong vụ kiện nổi tiếng
Hochster v. De la Tour10 năm 1853. Ngày 12/4/1852, De la Tour đã ký kết hợp
đồng thuê Hochster làm việc trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày 01/6/1852. Đến ngày
11/5/1952, De la Tour nói rằng ơng ta đã thay đổi ý định và không thuê Hochster
như đã cam kết, đồng thời cũng không thuê Hochster làm một công việc khác hay
bồi thường cho Hochster. Sau đó, Hochster đã tìm cho mình một cơng việc tương tự
khác nhưng đến ngày 04/7/1852 mới bắt đầu. Ngày 22/5/1852, Hochster đã kiện De
la Tour về việc vi phạm hợp đồng, mặc dù việc De la Tour từ chối nhận Hochster
làm việc xảy ra trước ngày De la Tour phải thực hiện hợp đồng. De la Tour phản
đối và cho rằng sẽ khơng có vi phạm nào xảy ra trước ngày 01/6/1852.
Hội đồng xét xử nhận định: Nếu B cam kết thuê A thực hiện một công việc có
thời hạn trong tương lai, A có khả năng nhận lương hàng tháng trong suốt thời gian
thực hiện công việc đó, nhưng B lại phá vỡ thỏa thuận trước khi đến ngày thực hiện
nghĩa vụ thì A được quyền địi B bồi thường thiệt hại vì A đã sẵn sàng thực hiện
cơng việc đó cho tới khi nó bị B phá vỡ và từ bỏ.
Tòa án đã bác bỏ lập luận của bị đơn và cho rằng khơng có lí do nào buộc
nguyên đơn phải sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trong vài tuần tới trong khi
ông ấy sẽ phải gánh chịu thiệt hại. Do đó, thay vì giữ ngun tình trạng khơng làm
gì cả, tốn kém vơ ích cho công việc chuẩn bị, nguyên đơn được phép xin làm việc ở
chỗ khác, điều này giúp làm giảm nhẹ thiệt hại và cũng là quyền xử lý của nguyên
đơn đối với vi phạm hợp đồng. Nguyên đơn được tuyên thắng kiện trong vụ này.
Hochster v. De la Tour không phải là trường hợp Anglo – American đầu tiên
đầu tiên được báo cáo về việc cho phép một bên hành động ngay lập tức vì vi phạm
hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ của bên kia. Tuy nhiên, Hochster v. De
la Tour được xem là nguồn xuất thân của học thuyết và quyết định của Tòa án trong
10
Keith A. Rowley (2001), “A Brief History of Anticipatory Repudiation in American Contract Law”,
University of Cincinnati Law Review, p. 573.
11
vụ kiện này được xem là “luật mẫu” về vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện
nghĩa vụ để xem xét các vụ kiện sau đó.11 Dần dần, học thuyết này không chỉ giới
hạn trong hệ thống pháp luật của Anh mà còn mở rộng sang Hoa Kỳ và hầu hết các
nước theo hệ thống Common law.
1.2.1.2. Pháp luật thương mại Hoa Kỳ
Tại Hoa Kỳ, vào thế kỷ thứ XIX, học thuyết về vi phạm hợp đồng trước thời
hạn thực hiện nghĩa vụ vẫn chưa được công nhận và áp dụng rộng rãi cho đến khi
Tối cao pháp viện Hoa Kỳ cho ra đời hai quyết định quan trọng cho thấy học thuyết
này sẽ được áp dụng rộng rãi trong tồn đất nước. Thơng qua hai vụ kiện Dingley v.
Oler12 và Roehm v. Horst,13 Tòa án đã xác định hai vấn đề: (i) có hay khơng hành vi
của một bên rõ ràng bày tỏ ý định không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng và việc
bên kia khởi kiện trước khi kết thúc mùa giao hàng là có quá vội vàng hay không,
và (ii) nếu một bên đã rõ ràng bày tỏ thái độ không chịu chi phối bởi hợp đồng thì
bên kia có quyền u cầu bồi thường thiệt hại trước khi hết thời hạn thực hiện nghĩa
vụ.
Qua ba thập kỷ sau vụ kiện Roehm v. Horst, số lượng phán quyết của Tòa án
Hoa Kỳ chấp nhận học thuyết vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ
đã tăng lên gấp đôi, bao gồm cả hai trong số bốn khu vực pháp lý lúc đầu phản đối
học thuyết. Học thuyết du nhập từ Anh đã được các Tòa án Hoa Kỳ chấp nhận phổ
biến mặc dù khơng có sự hướng dẫn chi tiết học thuyết bởi các Tịa án này.14 Cùng
với đó, nhiều cuộc tranh luận học thuật về bản chất của học thuyết diễn ra. Năm
1932, Viện luật Hoa Kỳ đã công bố The Restatement (first), lần đầu tiên vi phạm
hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ được đề cập một cách chính thức và
được quy định trong một chương lớn hơn so với vi phạm hợp đồng theo quan điểm
truyền thống. The Restatement (first) đã tán thành với quan điểm: Nếu một bên vi
phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ, bên kia được quyền khởi kiện,
thậm chí là trước ngày đến hạn thực hiện nghĩa vụ của bên vi phạm.
Vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ cũng đã được pháp điển
hóa tại Điều 2 UCC. Bên bị vi phạm có thể (i) chờ đợi bên thoái thác thực hiện theo
hợp đồng trong một thời gian hợp lý, hoặc (ii) sử dụng cách thức xử lý khác đối với
vi phạm, thậm chí khi đã thơng báo với bên thối thác rằng có thể chờ đợi việc thực
hiện và đã kêu gọi rút lại sự thoái thác, và (iii) hỗn thực hiện nghĩa vụ của chính
11
Keith A. Rowley (2001), Tlđd., pp. 582-583.
Dingley v. Oler - 117 U.S. 490 (1886).
13
Roehm v. Horst, 178 U.S. 1, 7 (1900).
14
Keith A. Rowley (2001), Tlđd., p. 596.
12
12
bên đó hoặc tiếp tục thực hiện theo Điều 2-610 UCC, bất kể vi phạm là chưa hoàn
thành.15
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 2-609 UCC, nếu người mua có cơ sở nghi
ngờ bên bán sẽ không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng của mình thì bên mua có
quyền yêu cầu bên bán bằng văn bản đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ khi chưa
nhận được sự trả lời của bên bán về sự bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình. Nếu
trong thời hạn 30 ngày sau khi nhận được yêu cầu có cơ sở của bên mua mà bên bán
không đưa ra bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, bên mua có quyền hủy hợp
đồng trước thời hạn và yêu cầu bồi thường thiệt hại.16 Như vậy, ngồi lựa chọn lờ đi
ý định rõ ràng khơng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng và chờ bên kia thực hiện theo
đúng trình tự quy định, hoặc khởi kiện ngay lập tức (có thể chịu rủi ro nếu chưa xác
định được rõ ràng bên kia sẽ không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng) thì bên bị
thiệt hại tiềm tàng có thể lựa chọn cách khác an tồn hơn: yêu cầu sự đảm bảo cần
thiết cho việc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ. Quyền này được ghi nhận được xem là
một bổ sung lớn có ý nghĩa đối với học thuyết. Điều 2-609, 2-610, 2-611 UCC chỉ
áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa, tuy nhiên, một số Tòa án Hoa Kỳ đã áp
dụng quy định về vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ (đặc biệt là
quy định về yêu cầu đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ) tương tự cho các hợp đồng
khơng liên quan đến mua bán hàng hóa17 như: hợp đồng mua bán điện,18 hợp đồng
mua bán bất động sản,19 hợp đồng phá vỡ và thiết lập lại cơ sở khai khoáng,20…
Các quy định về vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã được
trình bày lại tại The Restatement (second) dựa trên cơ sở quy định tại Điều 2 UCC
và The Restatement (first), cũng như số lượng lớn án lệ hỗ trợ cho học thuyết được
phát triển ở Hoa Kỳ vào những năm 1980.21 The Restatement (second) quy định vi
phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ được áp dụng khi: (i) bên thoái
thác tun bố cho thấy bên đó sẽ khơng thực hiện hiện nghĩa vụ và do đó bên kia có
thể địi bồi thường thiệt hại như đối với vi phạm thực sự, (ii) bên thoái thác thực
hiện một hành vi cho thấy bên đó sẽ khơng có khả năng thực hiện nghĩa vụ, hoặc
(iii) bên thối thác đã khơng cung cấp một sự đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ khi
được bên kia có yêu cầu hợp lý.
15
Điều 2-610 UCC.
Nguyễn Văn Luyện – Lê Thị Bích Thọ - Dương Anh Sơn (2007), “Giáo trình luật hợp đồng thương mại
quốc tế”, NXB Đại học Quốc gia, TP.HCM, tr. 64.
17
Keith A. Rowley (2001), Tlđd., p. 625.
18
Norcon Power Partners, L.P. v. Niagara Mohawk Power Corp., 705 N.E.2d 656, 659-60 (N.Y. 1998).
19
Romig v. deVallance, 637 P.2d 1147, 1152-53 (Haw. Ct. App. 1981).
20
C.L. Maddox, Inc. v. Coalfield Servs., Inc., 51 F.3d 76, 80-81 (7th Cir. 1995).
21
Keith A. Rowley (2001), Tlđd., p. 625.
16
13
Nhìn chung, mỗi giai đoạn phát triển của pháp luật Hoa Kỳ đều đã góp phần
hồn thiện học thuyết vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ tại nước
này.
1.2.1.3. Các quốc gia theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa
Vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ không được quy định
trực tiếp trong Civil law mà chỉ được hỗ trợ một cách gián tiếp. Ví dụ, dựa trên
nghiên cứu của các học giả, luật của Pháp cho phép khả năng xem xét hợp đồng bị
hủy bỏ bởi người chủ nợ mà không áp dụng theo thủ tục thông thường, nếu con nợ
tuyên bố rõ ràng từ chối việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng. Như vậy, ở Pháp,
Tòa án cũng cho phép một bên hủy hợp đồng trước thời hạn khi bên phải thực hiện
cho biết sẽ không thực hiện hợp đồng.22 Một cách tiếp cận tương tự cũng được tìm
thấy trong Điều 325 và Điều 326 Bộ luật Dân sự Đức.23
Ở Trung Quốc,24 vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ chỉ được
đề cập trong Luật về hợp đồng kinh tế với nước ngồi. Theo đó, một bên có thể tạm
ngừng hợp đồng khi thấy bên kia có khả năng không thực hiện hợp đồng. Tuy
nhiên, với nỗ lực để gia nhập WTO, Luật hợp đồng duy nhất Trung Quốc ra đời
năm 1999 đã thừa nhận quyền hủy bỏ hợp đồng của một bên khi biết chắc bên kia
sẽ không thực hiện hợp đồng.25
1.2.2. Học thuyết về vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong
pháp luật thương mại quốc tế
Điển hình cho việc ghi nhận học thuyết trong pháp luật thương mại quốc tế là
các quy định về vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong hai bộ
nguyên tắc mang tính quốc tế phổ biến là Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng
thương mại quốc tế (PICC) và Nguyên tắc Luật hợp đồng chung châu Âu (PECL).
1.2.2.1. Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế
Vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ cũng được đề cập tại
Điều 7.3.3 và Điều 7.3.4 PICC. Theo đó, nếu trước ngày thực hiện nghĩa vụ của một
bên mà có chứng cứ rõ ràng là bên kia sẽ vi phạm cơ bản hợp đồng thì bên có chứng
22
Đỗ Văn Đại (2004), “Vấn đề hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng do bị vi phạm trong BLDS Việt Nam”, Khoa học
pháp lý, (03), tr. 63.
23
Konrad Zweigert & Hein Kötz (1998), “Introduction to Comparative Law”, Oxford University Press, New
York, p. 494.
24
Luật Trung Hoa hiện nay theo truyền thống học thuật, thì được xếp vào hệ thống pháp luật xã hội chủ
nghĩa, nhưng trên thực tế nhiều qui định về dân sự, về tố tụng, về hệ thống Toà án lại mang nhiều đặc điểm
của Civil Law.
25
Khoản 2 Điều 94 Luật hợp đồng duy nhất Trung Quốc.
14
cứ có thể chấm dứt hợp đồng.26 Điều này có thể cho thấy, việc một bên có khả năng
vi phạm hợp đồng cũng được xem là không thực hiện một nghĩa vụ đến hạn, với
điều kiện là bên muốn chấm dứt hợp đồng phải chứng minh về (i) khả năng vi phạm
hợp đồng một cách rõ ràng, (ii) việc vi phạm hợp đồng là cơ bản và phải thông báo
chấm dứt hợp đồng kịp thời.
Một ví dụ điển hình về vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ
theo PICC27 là trường hợp một bên tuyên bố từ chối thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên,
trong một số trường hợp khác, việc xem xét vi phạm cơ bản hợp đồng cần phải
được căn cứ vào những tình tiết xung quanh.28
Bên cạnh đó, Điều 7.3.4 PICC cịn cho phép một bên, nếu có cơ sở tin rằng
bên kia sẽ vi phạm cơ bản hợp đồng, có quyền yêu cầu bên sắp vi phạm đưa ra một
bảo đảm cần thiết cho việc thực hiện nghĩa vụ, và có thể đồng thời tạm dừng nghĩa
vụ của mình. Quy định này là hợp lý, bởi lẽ, nếu một bên có cơ sở để tin rằng bên
kia không thể hay không muốn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng mà chấm dứt hợp đồng
ngay cũng sẽ không loại trừ khả năng bên kia sẽ và có thể thực hiện nghĩa vụ hợp
đồng, do đó bên đề nghị chấm dứt hợp đồng theo Điều 7.3.3 có thể phải bồi thường
thiệt hại. Mặt khác, nếu phải chờ đợi hợp đồng đến hạn, và bên kia không thực hiện
hợp đồng thì bên có chứng cứ sẽ chịu nhiều thiệt hại. Việc xem xét biện pháp bảo
đảm có thích hợp hay khơng là tùy thuộc vào từng hồn cảnh cụ thể.29
1.2.2.2. Nguyên tắc luật hợp đồng chung châu Âu
Theo PECL, cả Điều 9:304 và Điều 8:105 đều quy định về vi phạm cơ bản
hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ. Tương tự Điều 7.3.3 PICC, Điều 9:304
PECL cũng cho phép một bên được chấm dứt hợp đồng trong trường hợp có việc vi
phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, cũng cần phải nhấn
mạnh là Điều 9:304 PECL chỉ được áp dụng nếu có chứng cứ rõ ràng cho rằng bên
kia sẽ khơng thực hiện hoặc khơng có khả năng thực hiện nghĩa vụ khi đến hạn. Nếu
hành vi đó chỉ đơn thuần là sự nghi ngờ hợp lý ở mức độ chắc chắn thấp hơn thì bên
nghi ngờ chỉ có thể u cầu bên sắp vi phạm đưa ra một bảo đảm cần thiết cho việc
thực hiện nghĩa vụ theo Điều 8:105 PECL,30 tương tự Điều 7.3.4 PICC. Rõ ràng,
26
Điều 7.3.3 PICC.
PICC sử dụng thuật ngữ “anticipatory non-performance” tức là không thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn,
tuy nhiên như đã đề cập, thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” được PICC và PECL gọi là việc “khơng thực hiện
nghĩa vụ”.
28
Bình luận Điều 7.3.3 PICC.
29
Bình luận (2) Điều 7.3.4 PICC.
30
Chengwei Liu (2005), “Suspension or avoidance due to anticipatory breach: Perspectives from Arts. 71/72
CISG, the UNIDROIT Principles, PECL and Case Law”, Tham khảo trực tuyến tại:
‹ Truy cập lần cuối vào 18h00 ngày 19/07/2014.
27
15
giống như sự tương tác giữa Điều 7.3.3 và Điều 7.3.4 PICC, cũng có một liên kết
khá chặt chẽ giữa các quy định của Điều 9:304 và Điều 8:105 PECL.31
1.2.3. Học thuyết về vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong
Công ước Viên 1980
Vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong CISG có lịch sử
hình thành và phát triển khá lâu dài. Từ năm 1953, vi phạm hợp đồng trước thời hạn
thực hiện nghĩa vụ được tích hợp vào các văn kiện quốc tế khác nhau:32
CISG
Dự thảo New
Dự thảo
Dự thảo
ULIS
Dự thảo
(1980)
York (1978)
Vienna
Geneva
(1964)
UNIDROIT
(1977)
(1976)
(1956-1963)
Điều 71
Điều 62
Điều 48
Điều 47
Điều 73
Điều 82,83
Điều 72
Điều 63
Điều 49
Điều 49
Điều 76
Điều 87
Điều 73
Điều 64
Điều 48
Điều 48
Điều 75
Phiên bản cuối cùng của CISG được hình thành là kết quả của nhiều thỏa hiệp
dựa trên các xung đột lợi ích:
(i) Xung đột giữa Civil law và Common law;
(ii) Xung đột giữa hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa và châu Âu lục địa;
(iii) Xung đột giữa các nước công nghiệp và các nước đang phát triển.
Sự cần thiết ghi nhận quy định về vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện
nghĩa vụ đã được chấp nhận trong ULIS 1964 (Công ước liên quan đến Luật Thống
nhất trong Mua bán Hàng hoá quốc tế) và trong các cuộc thảo luận dẫn đến việc áp
dụng các quy định này. Trong CISG, vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện
nghĩa vụ được ghi nhận tại Điều 71, Điều 72 và Điều 73 là đấu trường cho cuộc
tranh luận dài giữa đại diện từ các quốc gia theo các hệ thống pháp luật khác nhau
(đặc biệt là quy định về quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ). Một số đại diện từ các
31
Sieg Eiselen (2002), "Remarks on the manner in which the UNIDROIT Principles of International
Commercial Contracts may be used to interpret or supplement Articles 71 and 72 of the CISG", Tham khảo
trực tuyến tại: < Truy cập lần cuối vào
18h00 ngày 19/07/2014.
32
Tatsiana Seliazniova (2004), "Prospective Non-Performance or Anticipatory Breach of Contract
(Comparison of the Belarusian Approach to CISG Application and Foreign Experience)", Journal of Law and
Commerce,
pp.
111-140,
Tham
khảo
trực
tuyến
tại:
< Truy cập lần cuối vào 18h00 ngày 19/07/2014.
16
nước đang phát triển e ngại việc lạm dụng thực hiện quyền. Trong các cuộc thảo
luận, đã có sự quan tâm để đảm bảo rằng căn cứ để thực hiện quyền càng khách
quan có thể. Các căn cứ này sẽ được tác giả trình bày cụ thể ở chương tiếp theo.
1.3. Những lý do dẫn đến quy định vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện
nghĩa vụ
Một số quan điểm phản đối học thuyết cho rằng, về mặt logic không thể tồn tại
vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ. Các học giả theo quan điểm
này cho rằng vi phạm hợp đồng chỉ được xác định khi hết thời hạn thực hiện nghĩa
vụ ghi trong hợp đồng. Hay nói cách khác, một bên phải thực hiện một nghĩa vụ
theo hợp đồng trong một thời hạn xác định thì trong mọi trường hợp khơng thể coi
là vi phạm hợp đồng khi thời hạn ấn định chưa đến. Nếu công nhận học thuyết vi
phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ sẽ không công bằng đối với bên
được cho rằng sẽ có hành vi vi phạm hợp đồng. Chẳng hạn đối với trường hợp giao
hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, khi chưa đến hạn ấn định cho việc thực hiện
nghĩa vụ, nếu bên bán chưa giao hàng thì khơng có cơ sở xác định hàng hóa sẽ
khơng phù hợp với hợp đồng.33
Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, cũng như các quan điểm khác ủng hộ
học thuyết, vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ không đi trái lại với
sự phát triển của xã hội mà cần thiết phải được điều chỉnh bằng pháp luật bởi những
lý do sau:
1.3.1. Bảo vệ mối quan hệ kinh doanh của các bên
Vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ được nhận định là quy
định cần thiết để bảo vệ mối quan hệ kinh doanh thuận lợi của bên có quyền. 34 Việc
một bên có khả năng vi phạm hợp đồng sẽ ảnh hưởng đến giá trị và khả năng thanh
toán của bên kia. Theo đó, giá trị kinh doanh thuận lợi hiện tại từ các mối quan hệ
hợp đồng sẽ nhanh chóng bị suy yếu hoặc bị phá vỡ nghiêm trọng bởi vi phạm hợp
đồng trước thời hạn. Hơn nữa, đối với một hợp đồng có thể bị vi phạm trước thời
hạn thực hiện nghĩa vụ, việc cho phép một bên có thể hỗn thực hiện nghĩa vụ sẽ
giúp cho bên này có thể sắp xếp lại việc kinh doanh của mình. Ví dụ, khi biết chắc
là bên mua sẽ khơng nhận hàng và khơng thanh tốn, việc cho phép bên bán bán
hủy bỏ hợp đồng sẽ giúp họ sớm tìm được nguồn tiêu thụ mới hoặc quyết định
khơng sản xuất nữa để tránh hàng hóa bị tồn đọng. Hoặc nếu cho phép bên mua hủy
33
Nguyễn Thế Đức Tâm, Phạm Ánh Dương, Ngô Nguyễn Thảo Vy (2013), “Vi phạm cơ bản do giao hàng
hóa khơng phù hợp với hợp đồng theo Công ước Viên 1980 và pháp luật thương mại Việt Nam”, Đề tài
NCKH Sinh viên, trường Đại học Luật TP.HCM, tr. 38.
34
Bình luận D Điều 8:105 PECL.
17