1
CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
ADA
(American Diabete Association) Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ
Apo
Apolipoprotein
B/M
Tỷ lệ vịng bụng/vịng mơng
BMI
Chỉ số khối cơ thể (Body mass index)
BC
Bạch cầu
CT
Cholesterol Toàn phần
ĐTĐ
Đái tháo đường
HC
Hồng cầu
HDL
Lipoprotein có tỷ trọng cao (High Density Lipoprotein)
HDL-C
Cholesterol của Lipoprotein có tỷ trọng cao
(High Density Lipoprotein - Cholesterol)
IDL
Lipoprotein có tỷ trọng trung bình
(Intermediade Density Lipoprotein)
LDL
Lipoprotein có tỷ trọng thấp (Low Density Lipoprotein)
LDL-C
Cholesterol của Lipoprotein có tỷ trọng thấp
(Low Density Lipoprotein Cholesterol)
RLCG
Rối loạn cảm giác
TH
Tiêu hoá
TĐT
Trước điều trị
TG
Triglycerid
TGMB
Thời gian mắc bệnh
TW
Trung ương
VLDL
Lipoprotein có tỷ trọng rất thấp
(Very Low Density Lipoprotein)
WHO
Tổ chức y tế thế giới (World Health Oganization)
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
Đặt vấn đề:.........................................................................................1
Chương 1: Tổng quan..........................................................................................3
1.1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh đái tháo đường........................................3
1.2. Các thành phần Lipid máu..................................................................6
1.3. Rối loạn chuyển hoá Lipid ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2...........9
1.4. Biến chứng và cơ chế bệnh sinh của biến chứng mạch
máu ở bệnh nhân đái tháo đường
11
1.5. Điều trị đái tháo đường.....................................................................18
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu........................................22
2.1. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................22
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu.....................................................22
2.3. Phương pháp nghiên cứu..................................................................22
2.4. Thiết kế nghiên cứu.......................................................................... 22
2.5. Kỹ thuật thu thập số liệu...................................................................25
2.6. Vật liệu nghiên cứu...........................................................................26
2.7. Phương pháp xử lý số liệu................................................................27
Chương 3: Kết quả nghiên cứu........................................................................28
3.1. Đặc điểm chung tuổi giới thời gian mắc bệnh..................................28
3.2. Kết quả điều trị................................................................................. 38
Chương 4: Bàn luận............................................................................................ 42
Kết luận............................................................................................50
Kiến nghị......................................................................................... 51
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
Bảng 1.1.
Bảng 1.2.
Bảng 1.3.
Bảng 1.4.
Bảng 2.1.
Bảng 3.1.
Bảng 3.2.
Bảng 3.3.
Bảng 3.4.
Bảng 3.5.
Bảng 3.6.
Bảng 3.7.
Bảng 3.8.
Bảng 3.9.
Bảng 3.10.
Bảng 3.11.
Bảng 3.12.
Bảng 3.13.
Bảng 3.14.
Bảng 3.15.
Bảng 3.16.
Bảng 3.17.
Bảng 3.18.
Bảng 3.19.
Bảng 3.20.
Trang
Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới
Các thành phần của Lipoprotein trong máu
Sự biến đổi chuyển hóa Lipoprotein ở bệnh nhân đái tháo
đường
Giới hạn bệnh lý các thành phần lipid máu
Phân loại thể trạng (BMI) áp dụng cho người châu Á
Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi
Phân loại thể trạng đối tượng nghiên cứu theo giới
Thời gian mắc bệnh của đối tượng nghiên cứu
Triệu chứng thường gặp trước dùng thuốc
Đặc điểm sinh hoá máu ở đối tượng nghiên cứu trước
điều trị
Tỷ lệ rối loạn lipid máu
Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi
Thời gian mắc bệnh ở đối tượng nghiên cứu
Phân loại thể trạng giữa 2 nhóm
Triệu chứng thường gặp ở 2 nhóm
Tỷ lệ các thông lipid máu ở giới hạn bệnh lý ở 2 nhóm
Hàm lượng một số thành phần lipid máu ở 2 nhóm
Các triệu chứng lâm sàng trước và sau điều trị
Kết quả kiểm soát đường huyết
Kết quả thay đổi hàm lượng lipid máu sau điều trị nhóm uống
Mediator
Kết quả thay đổi hàm lượng lipid máu sau điều trị nhóm
khơng uống Mediator
So sánh hàm lượng lipid máu sau điều trị ở 2 nhóm
Thay đổi hàm lượng lipid máu sau điều trị 2 nhóm
Chức năng gan thận trước sau điều trị nhóm uống Mediator
Tương quan giữa một số thông số lipid với BMI, SGOT,
SGPT, Glucose, Creatinin.
5
9
10
11
23
27
28
29
30
31
32
33
33
34
35
35
36
37
38
38
39
39
39
40
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ
Trang
3.1.
Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi
27
3.2.
Phân loại thể trạng đối tượng nghiên cứu theo giới
28
3.3.
Thời gian mắc bệnh của đối tượng nghiên cứu
29
3.4.
Triệu chứng thường gặp
30
3.5.
Tỷ lệ rối loạn lipid máu
32
3.6.
Phân loại thể trạng ở 2 nhóm
34
3.7.
Tỷ lệ các thơng số lipid ở giới hạn bệnh lý
36
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường là một bệnh rối loạn chuyển hóa mạn tính mang tính
chất xã hội, mà rối loạn chuyển hóa lipid máu rất thường gặp, các rối loạn
này kéo dài sẽ dẫn đến các biến chứng mạn tính, đặc biệt là biến chứng mạch
máu [19].
Phát triển kinh tế kéo theo sự thay đổi lối sống công nghiệp, giảm các
hoạt động thể lực, mức sống cao sự dồi dào về thực phẩm gắn liền với tình
trạng béo phì, cùng với sự già đi của dân số thế giới, tốc độ đơ thị hóa nhanh
tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh đái tháo đường phát triển nhanh chóng trên
phạm vi toàn thế giới.
Điều đáng lo ngại là đái tháo đường tăng nhanh ở các nước đang phát
triển. Trong số này đa số là đái tháo đường týp 2, thường thì cứ 10 người mắc
bệnh thì 9 người là týp 2, sự bùng nổ đái tháo đường týp 2 là những biến
chứng của bệnh đang là thách thức lớn với cộng đồng. Theo thống kê của tổ
chức Y tế thế giới (WHO), bệnh đái tháo đường týp 2 chiếm vào khoảng 85 95% tổng số người mắc bệnh đái tháo đường.
Theo thông báo của hiệp hội đái tháo đường quốc tế (IDF): năm 1994
cả thế giới có 110 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, năm 1995 là 135 triệu
người mắc bệnh đái tháo đường chiếm tỷ lệ 4% dân số tồn cầu, năm 2000 có
151 triệu người mắc bệnh đái tháo đường. Dự báo năm 2010 sẽ có 221 triệu
người mắc bệnh đái tháo đường.
Theo WHO, năm 2025 sẽ có 300 - 330 triệu người mắc bệnh đái
tháo đường chiếm tỷ lệ 5,4% dân số tồn cầu [2].
Thơng báo của hiệp hội đái tháo đường công bố tại hội nghị đái tháo đường
tháng 12/1997 tại Singapo năm 1995 châu Á có khoảng 62 triệu người bị đái
tháo đường và ước lượng vào năm 2010 khoảng 130 triệu người đái tháo
đường
tổ chức Y tế thế giới đã cảnh báo có thể xuất hiện đại dịch đái tháo đường ở
châu Á vào thế kỷ XXI [27].
Tại Việt Nam qua thống kê ở một số thành phố lớn của các tác giả Lê
Huy Liệu, Mai Thế Trạch, Trần Hữu Dàng cho thấy tỷ lệ đái tháo đường ở lứa
tuổi trên 15 phân bố như sau Hà Nội 1,1% 1991, Thành phố Hồ Chí Minh là
2,5
± 0,4% (1993), Huế là 0,96 ± 0,4 %, đến năm 2002 - 2003 điều tra quốc gia
về tình hình bệnh đái tháo đường và yếu tố nguy cơ trên phạm vi cả nước,
tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường phân bố theo các vùng miền là: vùng núi cao
tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường là 2,1%, vùng trung du tỷ lệ mắc bệnh đái
tháo đường là 2,2%, vùng đồng bằng ven biển tỷ lệ mắc bệnh đái tháo
đường là 2,7%, vùng đô thị khu công nghiệp tỷ lệ mắc bệnh đái tháo
đường là 4,4% [5].
T ỷ lệ đỏi tháo đường tăng gấp đôi tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường thành
phố cách đây 10 năm [2], [8].
Bệnh đái tháo đường tăng đường huyết thường đi kèm với rối loạn
chuyển hóa lipid, điều trị bệnh đái tháo đường phải đồng thời khống chế được
các chỉ số lipid thì mới cải thiện được sức khỏe cho người bệnh. Để cùng một
lúc điều trị được cả đái tháo đường và rối loạn chuyển hóa lipid là mục đích
của các thầy thuốc lâm sàng. Hiện nay hãng dược phẩm Sevier đưa ra sản
phẩm Benfluorex (Mediator) được khuyến cáo có giá trị điều trị đạt được cả 2
mục tiêu trên, Mediator đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới và ở Việt Nam.
Tại Thái Nguyên những năm gần đây số người mắc bệnh đái tháo
đường có xu hướng tăng lên rõ rệt, đã có nhiều cơng trình nghiên cứu để đáp
ứng nhu cầu điều trị, nhưng chưa có báo cáo nào đề cập đến điều trị rối loạn
chuyển hóa lipid ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 bằng Mediator. Vì vậy
chúng tơi tiến hành đề tài "Đánh giá hiệu quả điều trị rối loạn chuyển hóa
lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 bằng Mediator’’ nhằm mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có rối loạn
chuyển hóa lipid máu.
2. Đánh giá kết quả điều trị rối loạn chuyển hóa lipid máu ở bệnh nhân đái
tháo đường týp 2 điều trị bằng Mediator và không điều trị bằng Mediator.
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh đái tháo đường
1.1.1. Lịch sử bệnh
Đái tháo đường được biết đến từ xa xưa, năm 200 trước Công nguyên
Tchang Chau King - một thầy thuốc người Trung Quốc đã mô tả bệnh đái
tháo đường là “bệnh của sự khát” khi quan sát một bệnh nhân ĐTĐ có thể
uống mỗi ngày tới 10 lít nước và đái ra một lượng tương đương [20],
Avicenna (980 - 1037) nói đến hoại thư do ĐTĐ, Paracelcius (14931544) nhận xét, sau khi nước tiểu bay hơi đi có thể để lại “muối”.
Helmont (1578 - 1644) nói đến tăng lipid máu do ĐTĐ, Morton (1637
- 1698) xác lập được đặc tính di truyền của bệnh.
Canley (1783) lần đầu mơ tả bệnh nhân ĐTĐ tử vong có những biến
đổi khơng bình thường ở tụy, nhiều sỏi và tổ chức tụy bị huỷ hoại nặng.
Francis Home phân lập được glucose từ nước tiểu của người bệnh ĐTĐ
Vonstosh từ 1828 phát hiện ở những bệnh nhân ĐTĐ các tai biến hôn mê,
nhưng cho đến 1874 Kussmall mới mô tả hôn mê ĐTĐ một cách tỷ mỉ về lâm
sàng. Cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ ngày càng được làm sáng tỏ, yếu tố gen, các
kháng thể kháng tiểu đảo gần đây nhất người ta đã chứng minh được mối liên
quan giữa ĐTĐ với HLA - DR3 và HLA - DR4, với các kháng thể kháng tiểu
đảo.
Năm 1921, Best và Banting cùng cộng sự đã có cơng trình nghiên cứu
phân lập insulin từ tụy, từ đó mở ra một kỷ nguyên mới cho điều trị bệnh nhân
ĐTĐ [17], [25].
1.1.2. Chẩn đoán và phân loại
* Tiêu chuẩn chẩn đoán: theo WHO năm 1997 thì ĐTĐ được chẩn đốn
xác định khi bệnh nhân có bất kỳ một trong ba tiêu chuẩn sau:
- Đường huyết >11,1mmol/l (200mg/dl) ở bất kỳ thời điểm nào kèm theo
các triệu chứng: uống nhiều, đái nhiều, giảm cân, đường niệu và có thể có
ceton niệu.
- Đường huyết lúc đói >7mmol/l (126 mg/dl) khi bệnh nhân nhịn đói sau 6 8 giờ [24].
- Đường huyết sau làm nghiệm pháp tăng đường huyết 2 giờ >11,1mmol/l
(200mmg/dl) [31], [42].
* Phân loại: có nhiều cách xếp loại ĐTĐ khác nhau tuỳ từng thời gian,
do bệnh sinh của ĐTĐ ngày càng được hiểu rõ và đa dạng nên xếp loại có
nhiều thay đổi, ngày nay WHO thống nhất xếp loại ĐTĐ như sau.
- ĐTĐ nguyên phát gồm:
+ Đái tháo đường týp 1
+ Đái tháo đường týp 2
- Đái tháo đường thứ phát gồm:
+ Do bệnh lý tuyến tuỵ: viêm tuỵ mạn, viêm tuỵ cấp, nhiễm sắt tụy.
+ Do bệnh lý nội tiết khác: hội chứng Cushing, Basedow, to đầu chi.
+ Do thuốc hoặc hoá chất: hormon, lợi tiểu, hội chứng di
truyền(Turner, Klinefelter).
+ Các bệnh của “insulin”: khuyết tật trong quá trình chuyển từ
pro insulin sang insulin, bất thường cấu trúc insulin.
+ Đái tháo đường liên quan đến dinh dưỡng kém: do xơ, sỏi tuỵ,
do thiếu protein.
+ ĐTĐ thai nghén: liên quan đến vai trò kháng thể kháng insulin
và sự biến đổi của hormon trong thời kỳ thai nghén.
1.1.3. Tình hình nghiên cứu về bệnh dịch tễ đái tháo đường hiện nay
Đầu thế kỷ XX, đái tháo đường là bệnh hiếm gặp nhưng đến nay đái tháo
đường đã trở thành nguyên nhân thứ tư gây tử vong ở các nước đã phát triển, ở
các nước đang phát triển thì sự tiến triển của bệnh đã thực sự là một bệnh dịch
bộc phát, các nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tăng theo tuổi, song song
với việc từ bỏ lối sống cổ truyền, ĐTĐ ngày nay đã trở thành một bệnh mang
tính xã hội và WHO đã lên tiếng cảnh báo về đại dịch này [29],[38].
Bảng 1.1. Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới [27],[29]
Tên vùng
Bắc và nam Mỹ
Tên nước
Tây Ban Nha
1
Vương quốc Anh
1,2
Đan Mạch
1,6
Pháp
2
Miền nam nước Ý
Argentina
5,7
Tiểu bang Chero Kee
Indians
Trung đông
Châu Phi
6,7
5
Guadeloupe
Mỹ
%
29
Tiểu bang Pima Indians
35
Saudi – Arbia
6,6
Israel
6,7
Tunisia
Mali
Thành phố
3,8
Nông thôn
1,3
0,9
Châu Đại Dương
Melanerians
34
Tại Việt Nam, qua một số cơng trình nghiên cứu các tác giả cho thấy ở
Hà Nội, tỷ lệ mắc ĐTĐ ở người trên 15 tuổi là 1,1%, nội thành 1,44%, ngoại
thành là 0,63% tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose là 1,6% [24], ở Huế. Tỷ lệ mắc
ĐTĐ là 0,96 ± 0,14%, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose là 1,45 ± 0,17% [7], ở
thành Phố Hồ Chí Minh: tỷ lệ mắc là 2,25 ± 0,4%, tỷ lệ rối loạn dung nạp
glucose là 0,96 ± 0,2% [27].
Nghiên cứu tình hình bệnh ĐTĐ tại các bệnh viện lớn ở Hà Nội từ
1984 đến 1994, các tác giả cho biết tỷ lệ ĐTĐ tăng lên theo năm, từ 14,45 %
(1990) đến 28,28% (1994) tỷ lệ ĐTĐ týp 2 nhiều hơn týp 1, biến chứng tim
mạch tăng từ 6,98% lên đến 8,42% [27].
Nguyễn Văn Quýnh và cộng sự qua nghiên cứu và theo dõi 96 bệnh
nhân ĐTĐ tại Viện Quân Y 108 thấy sau 15 năm mắc bệnh tỷ lệ biến chứng
tim mạch là 100% [30].
Năm 1989, Thái Hồng Quang nghiên cứu trên 120 bệnh nhân ĐTĐ
thấy đa số bệnh nhân có triệu chứng cổ điển của bệnh: ăn nhiều, uống nhiều,
tiểu nhiều, gầy sút (93,3%), tỷ lệ biến chứng tăng theo tuổi và theo thời gian
mắc bệnh [26].
1.2. Các thành phần lipid máu
Lipid là sự kết hợp giữa một alcol và một axit béo nhờ liên kết este,
lipid không hồ tan trong nước, chỉ tan trong các dung mơi hữu cơ.
Về phân loại lipid gồm:
- Lipid đơn giản: là este của các axit béo với các alcol khác nhau, thường
thấy trong cơ thể là glycerid (thể hiện ở dạng mono, diglycerid hoặc
triglycerid) và cholesterid mà alcol là cholesterol [33],[56].
- Lipid phức tạp (các hợp chất lipid): trong thành phần cấu tạo ngồi alcol
và axit béo có các chất khác chứa nitơ, phospho, lưu huỳnh là những lipid
có vai trò trong thành phần cấu trúc tế bào.
Trong cơ thể lipid ở ba dạng chính: lipid dự trữ, lipid là thành phần cấu
trúc tế bào và lipid huyết tương [32].
Lipid ở huyết tương thường kết hợp với protid (phần apoprotein)
dưới dạng các lipoprotein, mỗi lipoprotein đều có phần lõi là triglycerid
và cholesterol este phần vỏ có phospholipid, cholesterol tự do và
apoprotein.
Bằng phương pháp điện ly và siêu ly tâm người ta phân biệt được các
loại lipoprotein:
- Chymomicron là loại lipoprotein có kích thước lớn nhất là những phân tử
có tỷ trọng nhẹ nhất, chymomicron được tạo ra trong quá trình tiêu hố ở
ruột nhờ các enzym lipase, có tác dụng vận chuyển triglycerid,
chymomicron mất dần triglycerid gọi là chymomicron dư được thanh thải rất
nhanh ở gan.
- VLDL (Ver ry Low Density Lipoprotein) là lipoprotein có tỷ trọng thấp
nhất là tiền chất của LDL sinh vữa xơ động mạch, VLDL là dạng vận
chuyển chủ yếu của triglycerid của gan từ axit béo tự do và glycerol từ
chuyển hoá glucid ở máu các phân tử VLDL được phân huỷ bởi enzym lipase
giải phóng ra các triglycerid làm cho VLDL chuyển thành LDL, phần còn lại
được thanh thải trực tiếp tại gan.
- IDL (Intermidiade Density Lipoprotein) là lipoprotein có tỷ trọng trung
bình, có hàm lượng rất phức tạp trong huyết tương, IDL được tạo thành từ
VLDL rồi chịu hai khả năng, một số được giữ lại ở gan, số còn lại chịu sự
phân huỷ tiếp tục các triglycerid để chuyển thành LDL, khi IDL chuyển thành
LDL quá nhanh sẽ dẫn tới tình trạng tăng quá mức LDL làm tăng nguy cơ gây
xơ vữa động mạch.
- LDL (Low Density Lipoprotein) là lipoprotein có tỷ trọng thấp là chất chủ
yếu vận chuyển cholesterol và là chất sinh vữa xơ động mạch, LDL
chuyên trở 70% cholesterol trong huyết tương tới các tế bào nội biên, chính tỷ
lệ cholesterol tự do ở LDL là chất vận chuyển và phân phối cholesterol cho
các tế bào và các tổ chức, số phận LDL sẽ được thoái hoá ở gan là chủ
yếu, tuy nhiên các mơ khác cũng có khả năng này, q trình thối hố
của LDL được thực hiện qua nhiều bước, song cuối cùng là sự giải
phóng ra cholesterol tự do, sự tăng ứ đọng quá mức cholesterol tự do - là
một alcol sẽ gây độc cho tế bào nội mạc, cùng với các yếu tố khác (các
yếu tố đông máu, kết tập tiểu cầu, thay đổi tốc độ chảy của tuần hồn)
dẫn đến tình trạng vữa xơ động mạch mà hậu quả của nó là thiếu máu cơ
tim, nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch máu não.
- HDL (High Density Lipoprotein) là lipoprotein có tỷ trọng cao là yếu tố
bảo vệ chống bệnh tim mạch. Trong thành phần cấu trúc, tỷ lệ lipid
đã giảm đi nhiều, thay vào đó là tăng tỷ lệ các protein, HDL gồm
(HDL 2, HDL 3) và (HDL 1), HDL được tổng hợp từ gan một phần ở
ruột và một phần còn do chuyển hoá của VLDL trong máu ngoại vi.
HDL vận chuyển cholesterol dư thừa từ tế bào tới gan hoặc tới những tế
bào cần cholesterol, hậu quả làm giảm lượng cholesterol trong máu cũng
như giảm lượng triglycerid huyết tương, ở người HDL tăng dần theo tuổi
sau tuổi dậy thì lượng HDL ở nữ cao hơn nam, hàm lượng HDL tỷ lệ
nghịch với trọng lượng cơ thể, với hàm lượng triglycerid máu, với mức
độ hút thuốc lá, khoảng 50% HDL được thanh thải tại gan theo con
đường VLDL dư.
Bảng 1.2. Các thành phần của Lipoprotein trong máu [19]
Lipoprotein
CT tự do
CT este
TG
Phospholipid Apoprotein
(%)
(%)
(%)
(%)
(%)
Chylomicron
0,5 - 1
1-3
86 - 94
3-8
1-2
VLDL
6-8
12 - 14
55 - 65
12 - 18
5 - 10
LDL
5 -10
35 - 40
8 - 12
20 - 25
20 - 24
HDL
3-5
14 - 18
3-6
20 - 30
45 - 50
IDL
7-9
27 - 33
15 - 27
19 - 23
15 - 19
Ở người bình thường q trình tổng hợp và thối hóa lipid diễn ra cân
bằng và phụ thuộc vào nhu cầu cơ thể, vì thế duy trì được mức ổn định về
hàm lượng của lipid và lipoprotein trong máu, khi có sự bất thường sẽ gây ra
các kiểu rối loạn chuyển hóa lipid.
1.3. Rối loạn chuyển hoá Lipid ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2
Theo Nikkila (1981) và Pyorala (1987) thành phần lipid máu ở bệnh
nhân đái tháo đường tuỳ thuộc phần lớn vào cân bằng chuyển hoá và chức
năng thận, bệnh nhân đái tháo đường týp 1 nồng độ HDL - C thường tăng do
gia tăng phân nhánh HDL2, ngược lại đái tháo đường týp 2 nồng độ HDL - C
giảm do giảm phân nhánh HDL2, ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 nồng độ
triglyceride vẫn tăng mặc dù được kiểm soát đường máu tốt, sự gia tăng vữa
xơ động mạch có thể do giảm HDL - C và tăng triglyceride, bệnh nhân ĐTĐ
týp 2 thường có hàm lượng HDL thấp đặc biệt là HDL2, tăng thoái hoá HDL
là một yếu tố liên quan nghịch với hàm lượng HDL - C và ApoA1 trong huyết
tương. Hoạt động của enzym lipoproteinlipase giảm trong ĐTĐ týp 2 do hậu
quả của thiếu hoặc kháng insulin gây giảm thối hố VLDL có thể làm cho
HDL - C thấp bởi HDL3 được tổng hợp từ thành phần bề mặt của VLDL tăng
thối hố HDL có thể xảy ra trong tình trạng tăng triglyceride do tăng vận
chuyển triglyceride tới HDL2 hình thành HDL2 giàu triglyceride rất nhạy
cảm với sự thoái hoá do enzym lipase của gan, giảm HDL - C là một chỉ điểm
chuyển hố khơng hiệu quả của lipoprotein giàu triglyceride do chậm hình
thành và tăng thoái hoá của HDL2 [18].
Theo Bertredge (1989) bệnh nhân ĐTĐ khơng phụ thuộc insulin có sự
tăng vừa phải triglyceride và VLDL từ 50 - 100% so với người bình thường.
Bảng 1.3. Sự biến đổi chuyển hoá Lipoprotein ở bệnh nhân đái
tháo đường [43]
Thay đổi
Ảnh hưởng tới lipoprotein
↓ Lipoprotein lipase (LPL)
↑ Triglyceride, ↓ HDL, ↑
Chylomicrom
↓ Hepatic lipase (HL)
↑ Chất dư, ↓ HDL
↑ Tổng hợp VLDL
↑ Triglyceride
↑LCAT
Thay đổi thành phần
↓ Hoạt động của thụ thể LDL sự
↑ LDL
đường hố và ơxy hố LDL
↑ Hình thành tế bào bọt
Phạm Thị Hồng Hoa cho biết rối loạn chuyển hố lipid có liên quan
đến tổn thương võng mạc, đặc biệt rõ nhất là giảm HDL - C [16], Nguyễn
Kim Lương (2001) nghiên cứu ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 có và khơng tăng
huyết áp cho kết quả: có rối loạn chuyển hố lipid đặc biệt là tăng
triglyceride, giảm HDL - C, đó cũng là những yếu tố nguy cơ đối với biến
chứng mạch máu ở bệnh nhân ĐTĐ [18]. Rối loạn chuyển hóa lipid đã được
nhiều tác giả quan tâm, và nghiên cứu làm sáng tỏ, cơ chế của những rối loạn
lipid đặc biệt là rối loạn chuyển hóa lipid trước và sau điều trị sẽ thay đổi như
thế nào, chỉ số thay đổi đó ảnh hưởng đến kết quả điều trị ra sao, chúng có
mối liên quan như thế nào với biến chứng của bệnh ĐTĐ (hiện được coi là
mối nguy hại lớn nhất đối với người bệnh và sức khỏe cộng đồng).
Bảng 1.4. Giới hạn bệnh lý các thành phần lipid máu
Thông số
Đơn vị
Giới hạn bệnh lý
Cholesterol TP
mmol/l
≥ 5,2
Triglycerid
mmol/l
≥ 2,3
HDL – C
mmol/l
≤ 0,9
LDL – C
mmol/l
≥ 3,4
Cholesterol TP / HDL - C
≥5
1.4. Biến chứng và cơ chế bệnh sinh của biến chứng mạch máu ở bệnh
nhân ĐTĐ
1.4.1. Biến chứng của bệnh ĐTĐ
Người ta xếp biến chứng ĐTĐ thành 2 loại: biến chứng cấp tính và
biến chứng mạn tính.
- Biến chứng cấp tính gồm: nhiễm toan ceton, hôn mê tăng áp lực thẩm thấu,
nhiễm toan acid lactic, hạ đường huyết.
- Biến chứng mạn tính gồm: biến chứng mắt, thận, thần kinh xếp vào biến
chứng mạch máu nhỏ. Đột quỵ, nhồi máu cơ tim, hoại thư xếp vào nhóm biến
chứng mạch máu lớn.
1.4.2. Cơ chế bệnh sinh biến chứng mạch máu nhỏ
Có ba cơ chế có thể xảy ra làm thay đổi tế bào gây nên biến chứng
mạch máu nhỏ.
* Tăng gắn đường của Protein:
Khi hàm lượng glucose máu cao xảy ra hiện tượng gắn đường không
enzym của protein tạo ra sản phẩm cuối cùng của quá trình gắn đường bậc cao
AGEs (Advantage Glycation End Products), AGEs là nguyên nhân làm hỏng
tế bào vì những tác động trở lại của nó và liên kết chéo protein, một số sản
phẩm của glucose và fructose gắn với protein) và pentotidin (AGEs thu được
từ phản ứng của pentose gắn với protein) là dấu hiệu của sự thúc đẩy thoái
hoá tổ chức, những thụ thể của protein gắn đường có ở tế bào nội mơ
ngun sợi bào, tế bào gian mạch cầu thận, đại thực bào, tế bào nội mô
đã tiếp nhận AGEs gây nên rối loạn ở những tổ chức này.
* Con đường polyol:
Tại tế bào tiêu thụ glucose, con đường polyol là con đường chuyển
glucose (số glucose khơng được chuyển hố thành glucose 6 phosphat và
fructose 6 - phosphat) thành sorbitol bởi enzym aldose reductase, sau đó
sorbitol sẽ chuyển thành D - frucrtore bởi sorbitol deshydrogenase, trong
quá trình chuyển glucose thành sorbitol, aldose reductase đã sản xuất ra
NADP từ NADPH và sự chuyển sorbitol thành D - fructose bởi sorbitol,
dehydrogenase đã tạo ra NADH từ NAD+ [53].
Trong trường hợp nồng độ glucose tăng lên, sự chuyển hoá glucose
theo hướng glucose 6 - photphat và fructose 6 - phosphat bị giới hạn
phần lớn glucose sẽ được chuyển thành sorbitol dưới tác động của aldose
reductase mà hậu quả là làm gia tăng đáng kể nống độ NADP+, đồng
thời sự chuyển sorbitol thành D - fructose sẽ tăng nồng độ NADH, do đó
hậu quả của sự tăng đường huyết trên con đường Polyol sẽ là sự gia tăng
tỷ lệ NADP+ / NADPH và tỷ lệ NADP / NADPH, sự gia tăng các tỷ lệ
này đưa đến việc sản xuất gốc tự do và kích thích các tiền chất của
dicacyl glycerol, mặt khác sự tích tụ sorbitol và fructose trong tế bào sẽ
làm tăng áp lực thẩm thấu nội bào, tăng cường chuyển hố của
myoinositol đưa đến giảm myoinositol do đó làm giảm hoạt tính bơm
Na+/K+/ ATPase ở màng tế bào, tồn bộ các thay đổi này góp phần vào
sự phát triển của đục thuỷ tinh thể, bệnh thần kinh, bệnh võng mạc và
bệnh thận của bệnh nhân ĐTĐ [18], [24], [12].
* Thay đổi huyết động:
Áp lực thuỷ tĩnh tăng trong mạch máu do tăng lọc của protein, do
tổn thương tiềm tàng và do các phần tử lớn khác bao gồm các phức hợp
miễn dịch trong thành phần của màng nền và gian mạch, dẫn đến tình
trạng lỗ rị mao mạch gây nên biến chứng vi mạch, cơ chế này gặp nhiều
trong bệnh thận do ĐTĐ [18],
*Biến chứng võng mạc:
Bệnh nhân ĐTĐ có nguy cơ bị mù do bệnh lý vi mạch gấp 25 lần
so với người không ĐTĐ, đây là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới mù lòa,
là mối lo ngại thường xuyên của bệnh nhân ĐTĐ [46]. Nghiên cứu của
Phạm Thị Hồng Hoa (1999) cho thấy, trong 100 bệnh nhân ĐTĐ có tới
79% giảm thị lực, 43% bị bệnh võng mạc và tổn thương võng mạc do
ĐTĐ gặp ở mọi lứa tuổi [16].
Nghiên cứu trên 120 bệnh nhân ĐTĐ tại Viện Quân Y 103, Thái
Hồng Quang thấy có 34,16% có biến chứng mắt, trong đó tổn thương
võng mạc là 20% [26].
Bệnh lý võng mạc (Retinopathy) do đái tháo đường có ba giai đoạn
là:
- Bệnh võng mạc chưa tăng sinh (nonproliferative
diabetic
retinopathy) bao gồm các giãn tĩnh mạch nhỏ nhất là xung quanh hồng
điểm, xuất huyết các vi phình mạch, phù hoàng điểm.
- Bệnh võng mạc tiền tăng sinh (Pre Proliferative Diabetic Retinopathy)
giai đoạn tiền tăng sinh báo trước nguy cơ bệnh võng mạc tiền tăng
sinh được hình thành bởi các bất thường giãn tĩnh mạch, xuất tiết bông,
biến đổi vi mạch võng mạc, xuất huyết rộng trong võng mạc.
- Bệnh võng mạc tăng sinh (Proliferative Diabetic Retinopathy) biểu
hiện rõ nhất là sự xuất hiện các tăng sinh và tân mạch [16], [42], [46].
* Biến chứng thận:
Người bình thường bài tiết albumin niệu từ 1,5 đến 20mg/ phút, khi
albumin bài tiết từ 20 - 200mg/phút được gọi microalbumin niệu (+), nếu
albumin niệu trên 500 mg/ngày báo hiệu sự xuất hiện macroalbumin niệu, khi
macroalbumin niệu >550mg/ngày chứng tỏ đã có bệnh ở màng nền cuộn
mạch, mức lọc cầu thận giảm chậm khoảng 11mmol/phút/năm, sự xuất hiện
tăng huyết áp thúc đẩy quá trình suy thận [18], [12], [42]. Theo số liệu của
Roger H quan sát ở 134 bệnh nhân đái tháo đường trên 40 tuổi (khơng phân
týp) có 28% bệnh nhân sống sót sau 10 năm có Protein niệu liên tục [16].
Cơ chế tổn thương thận do ĐTĐ là:
- Dày màng nền mạch máu tiểu cầu thận.
- Tăng phát triển màng nâng cao cuộn mạch (mesangial).
- Phì đại cầu thận dần dần đưa đến.
- Giảm diện tích lọc của cầu thận.
- Suy thận [12].
+ Xơ tiểu cầu thận do ĐTĐ được chia thành 3 loại:
+ Xơ tiểu cầu thận khu trú.
+ Xơ tiểu cầu thận lan toả.
+ Xơ tiểu cầu thận xuất tiết [25].
* Biến chứng thần kinh:
Bệnh lý thần kinh ĐTĐ là hậu quả trực tiếp hay gián tiếp của tình trạng
tăng đường huyết và hiện tượng thiếu máu liên quan đến sự tắc nghẽn các vi
mạch cung cấp máu cho hệ thần kinh, khởi đầu là một tổn thương chức năng
do phù nề bên trong các neuron sẽ hồi phục nếu cân bằng chuyển hoá tốt, sau
đó tổn thương sợi trục do thiếu máu tại chỗ hoặc chuyển hoá tổn thương trục
thần kinh và bao Schwanm [5].
Nhiều cơ chế giải thích cho tình trạng nhiễm độc thần kinh do tăng
đường huyết mạn tính như: Glycocyl hố protein, con đường Polyol gây
tích tụ sorbitol và thiếu myoinositol, thay đổi Na+/K+/ATPase. Bệnh lý
thần kinh do ĐTĐ có thể gặp các thể: bệnh một dây thần kinh, đa dây thần
kinh ngoại vi [45].
Tần suất bệnh lý thần kinh tăng tỷ lệ thuận với thời gian mắc bệnh và
tình trạng kiểm sốt đường huyết khơng tốt, theo Thái Hồng Quang biến
chứng thần kinh khơng những xuất hiện sớm mà cịn là biến chứng hay gặp
trong tất cả các tổ hợp biến chứng, tỷ lệ biến chứng thần kinh là 41,16% trong
đó biến chứng thần kinh ngoại vi là 81,4% [27].
1.4.3. Cơ chế biến chứng mạch máu lớn
Nguyên nhân của biến chứng mạch máu lớn ở bệnh nhân ĐTĐ là do sự
phát triển của quá trình vữa xơ, cơ chế hình thành mảng vữa xơ động mạch ở
người bị ĐTĐ và không bị ĐTĐ như nhau, chỉ khác là ở bệnh nhân ĐTĐ vữa
xơ động mạch xuất hiện sớm hơn, trước hết là nội mạc động mạch bị tổ
thương đưa đến sự kết dính tiểu cầu, tiểu cầu tiết ra yếu tố phát triển (Platelet
Derived Growth Factor - PDGF) tế bào nội mạc mạch máu cũng tiết ra yếu tố
phát triển từ nội mạc (Endothelium Derived Growth Factor -EDGF) các đại
thực bào cũng tiết ra yếu tố tương tự (Macrophage Derived Growth Factor EDGF). Những yếu tố này kích thích tế bào cơ trơn di chuyển từ trung mạc
vào nội mạc, đại thực bào ở nội mạc và các tế bào cơ trơn mạch máu tiếp
nhận các LDL đã bị biến đổi, mất khả năng điều chỉnh nồng độ Cholesterol
trở thành những tế bào bọt (Foam cell) chứa đầy cholesterol este, khi đã quá
tải, các tế bào vỡ ra đổ các thành phần lipid vào máu, tại đây, cơ thể phản ứng
bằng phát triển tổ chức liên kết để hình thành mảng vữa xơ [54].
Những yếu tố tham gia vào cơ chế bệnh sinh vữa xơ động mạch ở bệnh
nhân ĐTĐ:
- Rối loạn chuyển hố lipid
- Tăng sự kết dính tiểu cầu do tổng hợp thromboxan A2, giảm tổng hợp
prostagcylin (PGI2)
- Tăng tiết endothelin, giảm tổng hợp nitric oxide.
- Tăng yếu tố VIII và Von Wiblerand.
- Giảm phân huỷ fibrin ở thành mạch máu, có sự tham gia của PAI1
[29].
Những yếu tố nguy cơ:
- Tăng huyết áp, rối loạn chuyển hoá lipid, béo bệu, hút thuốc lá, di truyền
gia đình, tuổi tác...sẽ làm cho bệnh xơ vữa động mạch xuất hiện sớm hơn ở
bệnh nhân ĐTĐ.
- Tăng đường huyết, tăng insulin huyết, tăng đông máu có tác dụng tương
tác làm cho bệnh vữa xơ động mạch ở bệnh nhân ĐTĐ tiến triển ngày càng
nặng [29],
* Biến chứng tim mạch:
- Bệnh mạch vành: bệnh lý tim do ĐTĐ là sự kết hợp đặc thù của hiện tượng
vữa xơ động mạch vành và bệnh lý vi mạch ở cơ tim bên cạnh đó là những
rối loạn tiên phát ngay tại cơ tim do thiếu insulin. Bệnh nhân ĐTĐ thường
có triệu chứng đau vùng trước tim, hay bị nhồi máu cơ tim, các bệnh về
mạch vành có thể diễn biến nặng, có thể bị vỡ tim do nhồi máu cơ tim
xuyên vách, tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim ở bệnh nhân ĐTĐ rất cao [10].
Cũng có khi suy vành biểu hiện điển hình hoặc khơng điển hình (người bệnh
khơng có triệu chứng đau ngực vì tổn thương thần kinh). Bệnh mạch vành là
nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở bệnh nhân ĐTĐ gấp 3 lần so với người
không ĐTĐ, chiếm 60% trong số tử vong do ĐTĐ [42], bệnh nhân càng lớn
tuổi càng hay gặp biến đổi điện tim, hầu hết các tác giả đều nhận xét: những
biến đổi điện tim ở bệnh nhân ĐTĐ chủ yếu là hình ảnh thiếu máu cơ tim,
nặng hơn là nhồi máu cơ tim [26], [32], [42]. Có hai mức biến đổi điện tâm
đồ:
+ Mức độ nhẹ:
Sóng T dẹt ở các chuyển đạo DI, DII
ST chênh xuống ở DII, DIII
0
Trục QRS di chuyển ít nhất 30
Xuất hiện ngoại tâm thu trên thất
Có dấu hiệu dày thất trái nhẹ
Nhịp chậm xoang.
+ Mức độ nặng hay điển hình:
Block nhánh phải hồn tồn
Sóng T âm và đối xứng
Block nhánh trái, rung nhĩ, ST chênh
T dẹt ở tất cả các chuyển đạo
Dày thất trái rõ
- Nhồi máu cơ tim mới hoặc cũ.
- Tăng huyết áp: cơn tăng huyết áp rất thường gặp (30% bệnh nhân đái tháo
đường thường bị cơn tăng huyết áp) có thể liên quan tới kháng insulin hoặc
béo phì [19]. Theo nghiên cứu của Thái Hồng Quang (1989) thì tỷ lệ tăng
huyết áp là 10% [12].
* Tai biến mạch máu não:
Là những thiếu sót thần kinh xảy ra đột ngột với những triệu chứng khu
trú hơn là lan tỏa, các triệu chứng tồn tại quá 24 giờ, trừ nguyên nhân sang
chấn, tai biến mạch não gồm hai loại chính:
- Nhồi máu não: xảy ra khi có một mạch máu bị tắc nghẽn, khu vực tưới
máu đó bị thiếu máu và hoại tử.
- Xuất huyết não: xảy ra khi máu thốt mạch chảy vào nhu mơ não.
Bệnh mạch não tăng ở bệnh nhân đái tháo đường, kiểm soát đường
máu tốt trong bệnh não cấp rất quan trọng cho sự phục hồi [19]. Bệnh mạch
máu não tăng ở bệnh nhân đái tháo đường, đó là hậu quả của vữa xơ mạch
máu hoặc tắc mạch xuất phát từ một điểm của động mạch cảnh [19], [45].
Năm 2001, khi nghiên cứu tại Viện Quân Y 108 và 103, Nguyễn Kim Lương
cho biết tỷ lệ biến chứng não tại thời điểm nhập viện là 6,7% ở bệnh nhân
ĐTĐ týp 2 và 29,6% ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có tăng huyết áp
[19].
* Bệnh mạch ngoại biên:
Thiếu máu chân thường xuyên xuất hiện như một đặc tính riêng của
bệnh ĐTĐ kết thúc bằng phẫu thuật cắt cụt chi, bệnh nhân ĐTĐ nguy cơ bị
cắt cụt chi tăng hơn so với người không ĐTĐ [29].
Bệnh mạch ngoại biên là hậu quả của quá trình vữa xơ động mạch kết
hợp với những rối loại vi tuần hồn, người ta quan sát thấy sự vơi hoá xảy ra
ở lớp giữa của các động mạch cẳng chân, đùi, và bàn chân, chân thiếu máu,
lạnh, mạch yếu hoặc mất, đau cách hồi hiếm gặp nhưng là triệu chứng đặc
trưng hiệu quả tắc mạch chi dưới, loét và hoại tử chi dưới do thiếu máu [19].
1.5. Điều trị đái tháo đường
1.5.1. Nguyên tắc
Để điều trị ĐTĐ có kết quả luôn là sự phối hợp của các nguyên tắc sau:
1. Chế độ ăn uống
2. Chế độ luyện tập
3. Tuyên truyền giáo dục cho người bệnh
4. Sử dụng thuốc
1.5.2. Các phương pháp điều trị
Từ trước đến nay có nhiều phác đồ điều trị đã được áp dụng đối với
bệnh nhân ĐTĐ như:
- Không dùng thuốc, áp dụng cho người ĐTĐ mới phát hiện lượng glucose
trong máu tăng nhẹ.
- Thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý, rèn luyện cơ thể, tuyên truyền giáo
dục.
- Đơn trị liệu bằng thuốc: đối với những bệnh nhân áp dụng phương pháp
không dùng thuốc không kết quả bằng một trong những thuốc sau:
Sulfonylurea, Biguanid, ức chế ỏ -glucosidaza, insulin.
- Trị liệu phối hợp: đối với bệnh nhân đơn trị liệu không kết quả bằng các
phương pháp sau:
+ Sulfonylurea + biguanid
+ Sulfonylurea + insulin
+ Sulfonylurea + ức chế ỏ –glucosidaza
+ Ức chế ỏ – glucosidaza + insulin
+ Sulfonylurea + biguanid + insulin
Có rất nhiều cách điều trị phối hợp áp dụng cho tuỳ từng cơ thể, hiệu
quả điều tri phụ thuộc vào sự đáp ứng của từng cá thể và kinh nghiệm điều trị
của thầy thuốc. Ngày nay ngoài những thuốc kinh điển như trên, thế giới còn
nghiên cứu được nhiều loại dược phẩm để điều trị cho bệnh nhân đái tháo
đường, cải thiện được hàm lượng glucose trong máu, đồng thời hạn chế các
rối loạn lipid và protid kèm theo, qua đó làm giảm các biến chứng mạch máu,
một trong những dược phẩm đó là Benfluorex (Mediator) của hãng Sevier.
1.5.3. Mediator trong điều trị đái tháo đường týp 2
Đái tháo đường týp 2 hiện trở thành vấn đề dịch tễ toàn cầu, điều trị đái
tháo đường týp 2 không chỉ nhằm mục tiêu kiểm sốt tình trạng tăng đường
huyết, mà còn phải nhằm đến các yếu tố nguy cơ khác (đề kháng insulin,
cường insulin) là những rối loạn liên quan đến một chuỗi các yếu tố nguy cơ
tim mạch quan trọng trong đái tháo đường týp 2 béo phì, bên cạnh Metformin
một điều trị đái tháo đường týp 2 kinh điển, Mediator trở thành một lựa chọn
có lợi cho bệnh nhân ĐTĐ týp 2.
- Mediator 150mg (benfluorex) là thuốc hạ đường huyết có tác dụng trên chuyển
hố lipid máu, làm giảm các yếu tố nguy cơ tim mạch.
* Cơ chế tác dụng: làm giảm hấp thu triglycerid ở ruột, giảm hoạt động của
men lipase ở tuỵ. Làm giảm tổng hợp cholesterol và triglycerid ở gan.
* Dược động học Mediator hấp thu nhanh hồn tồn qua đường tiêu hố,
đỉnh cao từ 1 - 2 giờ, thải trừ nhanh qua đường nước tiểu sau 8 giờ, hấp
thu 74% liều uống, thải trừ qua nước tiểu quá trình này diễn ra 2 pha: pha
1 (3 - 4 giờ) thải 60%, pha 2 (36 giờ) sau thải hết.
Mediator tác động lên sự đề kháng isulin trong đái tháo đường týp 2.
Tác dụng này của Mediator được đặc trưng bởi hiệu quả giảm đường huyết
tương đương với biguanides, thậm chí tốt hơn với đường huyết sau ăn và đặc
biệt trên giảm cường insulin máu, vì cơ chế này Mediator làm giảm
triglycerid máu và làm tăng HDL - C [40], [46].
Phối hợp Mediator cho phép cải thiện kiểm soát đường huyết trên
những bệnh nhân đái tháo đường týp 2 béo phì trước đó kiểm soát kém bằng
metfomin và tiết chế, những tác dụng này giúp Mediator làm giảm các yếu
tố nguy cơ chuyển hoá - tim mạch trong đái tháo đường týp 2. Do cơ chế tác
dụng riêng biệt của thuốc Mediator là:
+ Không gây tụt đường huyết.
+ Khơng có nguy cơ nhiễm toan acid lactic và khơng có bất kỳ
chống chỉ định nào của nhóm biguanides.
+ Khơng gây độc gan.