Tải bản đầy đủ (.pdf) (86 trang)

Địa vị pháp lý của đại biểu quốc hội lý luận và thực tiễn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 86 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT T.P HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH

HỒNG THỊ HƢƠNG SEN
MSSV: 3050105

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
LÝ LUẬN VÀ TH C TIỄN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA: 2005 – 2009

GVHD: ThS. NGUYỄN THANH MINH

T.P HỒ CHÍ MINH – NĂM 2009


Lời cảm ơn
Cuốn luận văn tốt nghiệp này là kết quả quá trình học tập, nghiên cứu của tác
giả sau bốn năm học tại trường Đại học luật Tp. Hồ Chí Minh – kết quả của sự cố
gắng, nỗ lực không ngừng của bản thân tác giả và sự giúp đỡ, hỗ trợ của rất nhiều
người.
Trước tiên, con xin kính gửi lời cảm ơn cha mẹ đã sinh thành và dưỡng dục
con khôn lớn, trưởng thành như ngày hôm nay. Tiếp đến, tác giả xin chân thành cảm
ơn Ban giám hiệu nhà trường, hệ thống Thư viện trường, Ban Chủ nhiệm khoa Luật
Hành Chính, cùng tồn thể các thầy cơ giáo và các bạn sinh viên khoa Hành Chính
khóa 30 trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh. Sự nhiệt tình dạy bảo của thầy cơ và
sự quan tâm, giúp đỡ chia sẻ của bạn bè là động lực để tác giả cố gắng phấn đấu học
tập và rèn luyện trong thời gian học tập tại trường. Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn
chân thành sâu sắc tới cơ Nguyễn Thanh Minh, giảng viên khoa Luật Hành Chính


trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. Cơ đã rất tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, cung
cấp kiến thức và phương pháp luận giúp tác giả hoàn thành bài luận văn. Bên cạnh đó,
tác giả cịn muốn gửi lời cảm ơn đến chú Hồng Minh Hùng và cơ Vũ Thị Hồng Vân,
những người đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt cho tác giả học tập, sinh sống trong
suốt những năm tháng học xa nhà, đặc biệt là khoảng thời gian tác giả thực hiện bài
khóa luận tốt nghiệp này.




LỜI NĨI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân,
không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà cịn đại diện cho
nhân dân cả nước; thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc
hội. Vị trí đặc biệt quan trọng này của đại biểu Quốc hội được ghi nhận trong bản
Hiến pháp năm 1946 (Điều thứ 25), Hiến pháp năm 1992 và Nghị quyết số
51/2001/QH 10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992 (Điều 97).
Hay nói cách khác, đại biểu Quốc hội là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực
nhà nước trong Quốc hội, đóng vai trị là cầu nối quan trọng giữa chính quyền Nhà
nước với nhân dân. Chỉ khi đại biểu Quốc hội hoạt động có hiệu quả thì Quốc hội mới
vững mạnh, tạo được niềm tin yêu và sự tín nhiệm của nhân dân vào Đảng và Nhà
nước. Với tính chất pháp lý và vai trị quan trọng như vậy, song trên thực tế mặc dù đã
có những cố gắng nhưng nhìn chung, nhiều đại biểu Quốc hội vẫn chưa hồn thành
được vai trị, trách nhiệm của mình, chưa thể hiện rõ được vị trí của người đại biểu
nhân dân tại cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Vì vậy, chúng tơi xét thấy việc
nghiên cứu về địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội là cần thiết, có ý nghĩa về mặt lý
luận cũng như thực tiễn trong việc nâng cao tính thực quyền của Quốc hội, đảm bảo
dân chủ xã hội chủ nghĩa, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Do
đó, với mong muốn đóng góp chút công sức vào việc giải quyết vấn đề trên, chúng tơi

chọn đề tài khóa luận: “Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội – Lý luận và thực
tiễn”.
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:
Mục đích của đề tài: Thơng qua việc tìm hiểu những vấn đề lý luận, pháp luật
thực định về khái niệm địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội, thể hiện qua nhiệm vụ,
quyền hạn cũng như các phương thức hoạt động của đại biểu, chúng tôi nêu lên những
mặt được và chưa được của vấn đề, đồng thời phân tích những hạn chế, thiếu sót trong
1


một số hoạt động của đại biểu Quốc hội, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm góp
phần nâng cao hiệu quả các hoạt động đó, khắc họa rõ nét hơn nữa địa vị pháp lý
người đại biểu nhân dân tại cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
Từ mục đích đặt ra như trên, đề tài có các nhiệm vụ sau đây:
1 – Tìm hiểu, phân tích, nghiên cứu về khái niệm địa vị pháp lý của đại biểu
Quốc hội trên cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý (thông qua các bản Hiến pháp và các văn
bản pháp luật liên quan); phân tích tính chất pháp lý và trách nhiệm pháp lý của đại
biểu Quốc hội, góp phần nâng cao nhận thức của người dân về vị trí, vai trị người đại
diện của mình tại cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
2 – Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực tiễn một số hoạt động của đại biểu
Quốc hội một cách tổng quan nhất.
3 – Trên cơ sở các nghiên cứu trên, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế đó
và đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại cũng như tăng
cường hiệu quả trong các hoạt động đó của đại biểu Quốc hội. Từ đó, làm rõ hơn khái
niệm về địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội, nâng cao hiệu quả hoạt động của đại
biểu cũng như của Quốc hội, khiến cho Quốc hội ngày càng trở nên có thực quyền
hơn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu: Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội – những vấn đề
lý luận và thực tiễn.

- Phạm vi nghiên cứu: Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã nghiên cứu các bản
Hiến pháp của Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Nghị quyết số 51/2001/QH
10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992; các văn bản pháp luật;
các bài viết, sách báo, tạp chí liên quan đến Quốc hội và đại biểu Quốc hội nhằm làm
sáng tỏ địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội.
4. Tính mới của đề tài:
Đề tài khơng phải là một vấn đề hồn tồn mới mẻ vì vấn đề này đã được rất
nhiều tác giả nghiên cứu và viết trong các báo cáo cũng như tạp chí chuyên ngành
luật. Nhưng mỗi bài viết lại có những cách nhìn nhận dưới các giác độ khác nhau.
2


Trong đề tài này, tác giả nghiên cứu dưới một giác độ chung, nhìn nhận vấn đề một
cách tổng thể, có nghiên cứu đến sự phát triển địa vị pháp lý qua các bản Hiến pháp
của Việt Nam và việc vận dụng thực hiện địa vị đó trong các hoạt động của đại biểu
Quốc hội, từ đó có những đánh giá nhằm góp phần làm rõ khái niệm địa vị pháp lý
của đại biểu Quốc hội, nâng cao nhận thức của người dân về vị trí của đại biểu dân cử
và trên cơ sở những kiến nghị đưa ra mong muốn nâng cao hiệu quả hoạt động của đại
biểu Quốc hội, của Quốc hội cũng như củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo
của Đảng và Nhà nước.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Để hoàn thành được đề tài, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên
cứu mang tính truyền thống như: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy
vật lịch sử. Ngồi ra, chúng tơi cịn sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng
hợp, thống kê, tham khảo ý kiến của các chuyên gia và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn
để nghiên cứu đề tài.
6. Cơ cấu của luận văn:
Trên cơ sở những điều kiện đã trình bày ở trên, luận văn được hồn thành với
cơ cấu:
- Lời nói đầu

- Nội dung: bao gồm hai chương:
+ Chương I: Những vấn đề cơ bản về địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội.
+ Chương II: Một số hoạt động thể hiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội Thực trạng và kiến nghị.
- Kết luận
- Phụ lục
- Danh mục tài liệu tham khảo.
Mặc dù có nhiều cố gắng nghiên cứu về cơ sở pháp lý và thực tiễn, tuy nhiên
do luận văn được thực hiện thời gian ngắn nên khó tránh khỏi những sai sót, hạn chế.
Vì vậy, chúng tơi rất mong nhận được sự chỉ bảo của q thầy cơ, sự đóng góp nhiệt
tình của các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn.
3


CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ
CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
1.1 Khái niệm về địa vị pháp lý đại biểu Quốc hội.
Theo Từ điển Luật học, khái niệm “Địa vị pháp lý” có nghĩa là “vị trí chủ thể
pháp luật trong mối quan hệ với chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của
pháp luật. Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành một tổng thể các
quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn các khả
năng của chủ thể trong các hoạt động của mình” [tr.244 – 22]
Như vậy, thơng qua địa vị pháp lý của chủ thể có thể phân biệt chủ thể pháp
luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan
trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật.
Từ đây, có thể suy ra địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội là tổng hợp các
chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ và phương thức hoạt động mà pháp luật quy định
cho cá nhân có tư cách chủ thể là đại biểu Quốc hội và tham gia các quan hệ pháp
luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Hay nói cách khác,
địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội là địa vị pháp lý của đại biểu ở cơ quan đại diện
quyền lực Nhà nước cao nhất, được xác định bởi tổng thể các quy phạm pháp luật

điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến tính chất chính trị - pháp lý của đại biểu,
liên quan đến việc hình thành, chấm dứt và thời hạn của mối liên hệ trên, liên quan
đến việc xác định thẩm quyền (nhiệm vụ, quyền hạn), các biện pháp bảo đảm pháp lý
cho hoạt động của đại biểu cũng như liên quan đến trách nhiệm kiểm tra, giám sát,
báo cáo của đại biểu trước cử tri.
So sánh với địa vị pháp lý của cá nhân thông thường trong quan hệ pháp luật
nói chung (tổng hợp quyền và nghĩa vụ luật định cho cá nhân đó tham gia các quan hệ
pháp luật một cách độc lập) thì địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội có những điểm
đặc thù riêng biệt, và phải khẳng định đó là một địa vị pháp lý rất đặc biệt – sự đặc
biệt thể hiện ở “vai trò kép” của đại biểu Quốc hội: một mặt, đại biểu Quốc hội là
người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, khơng chỉ đại diện cho nhân
4


dân ở đơn vị bầu cử ra mình, mà cịn đại diện cho nhân dân cả nước, tức là chịu trách
nhiệm trước nhân dân, đóng vai trị là “cơng bộc” của nhân dân; đồng thời, đại biểu
Quốc hội là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước trong Quốc
hội, là hạt nhân cấu thành cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ở nước ta, chịu trách
nhiệm trước Quốc hội.
 Đại biểu Quốc hội là ngƣời đại diện cho ý chí và nguyện vọng của
nhân dân, khơng chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình, mà cịn đại
diện cho nhân dân cả nƣớc, và chịu trách nhiệm trƣớc nhân dân.
Đại biểu Quốc hội trước hết là người đại diện của nhân dân. Tính đại diện và
chịu trách nhiệm trước nhân dân của đại biểu Quốc hội xuất phát từ cách thức bầu cử
đại biểu Quốc hội: đại biểu Quốc hội là những người được nhân dân bầu ra bởi tổng
tuyển cử tự do với một nhiệm kỳ hữu hạn nhất định. Hay nói cách khác, người đại
biểu của dân là từ nhân dân mà ra, được nhân dân giao phó quyền thực hiện quyền lực
nhà nước thông qua lá phiếu bầu cử. Khi cầm lá phiếu bầu cử trên tay, việc giữ người
nào và gạch bỏ người nào là việc người dân lựa chọn ra người đại diện cho mình,
đồng thời chuyển giao việc thực hiện quyền lực nhà nước – quyền thiêng liêng của

mình tới người đại diện cho ý chí, tâm tư, nguyện vọng của mình. Đại biểu Quốc hội
khơng chỉ đại diện đơn thuần thay mặt cho một số người, cũng không chỉ là người đại
diện cho nhân dân ở riêng một địa phương cụ thể nào như đại biểu Hội đồng nhân
dân, mà họ còn là người đại diện có thẩm quyền cho nhân dân cả nước. Thẩm quyền ở
đây là thẩm quyền của nhân dân trao cho người đại diện của mình theo hình thức dân
chủ đại diện – nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thơng qua đại biểu, trao
cho đại biểu quyền thể hiện ý chí nguyện vọng của họ trong việc quyết định ở cơ quan
quyền lực Nhà nước cao nhất. Vì đại biểu sẽ là người thể hiện ý chí của nhân dân cả
nước, cho nên đại biểu Quốc hội phải xuất phát từ lợi ích chung của cả nước, đồng
thời cũng phải quan tâm thích đáng đến lợi ích của địa phương đã bầu ra mình – đây
cũng chính là căn cứ xác định nội dung hoạt động của đại biểu Quốc hội: đại biểu cần
phải quan tâm đến mọi nguồn thông tin đại chúng để hiểu rõ điều mà cử tri đang địi
hỏi, từ đó vạch ra chương trình hoạt động của mình. Do đó, đại biểu Quốc hội phải là
5


những đại biểu tài năng, có đủ khả năng thực sự thay mặt cho cử tri quyết định những
chủ trương chính sách đúng đắn cho sự thịnh vượng và giàu có của quốc gia. Song,
người đại biểu cũng sẽ bị bãi nhiệm bởi cử tri nếu họ khơng cịn xứng đáng với sự tín
nhiệm. Vì vậy, người đại biểu phải tâm niệm vị trí của mình là một trách nhiệm, đóng
vai trị là “cơng bộc” của dân, chứ khơng phải là một chức danh, phải hoạt động vì lợi
ích của nhân dân – chủ thể đã tạo ra họ, phải là người “lo trước nỗi lo của nhân dân,
buồn trước nỗi buồn của nhân dân” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy. Đại biểu
Quốc hội phải cố gắng hoàn thành những nhiệm vụ mà nhân dân đã giao phó được thể
chế hóa, quy định trong pháp luật với tinh thần trách nhiệm cao, xuất phát từ nghĩa vụ
và phải cả từ cái tâm, cái đức của người đại biểu. Biểu hiện của vai trò đại diện cho
nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân của đại biểu Quốc hội được quy định rõ
trong Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội 2002:
“Đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm trước cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn đại biểu của mình, gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, sống

lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt cơng cộng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của cơng dân, góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đại biểu Quốc
hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, tiếp xúc cử tri, tìm
hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri, thu thập và phản ánh đúng ý kiến của cử tri với
Quốc hội và cơ quan nhà nước hữu quan; định kỳ báo cáo với cử tri về hoạt động đại
biểu của mình…” [12 – Điều 3].
Ở đây có sự khác biệt so với quy định của pháp luật về vị trí pháp lý của đại
biểu Quốc hội các nước tư sản. Quan điểm ngự trị trong pháp luật Cộng hòa Liên
bang Đức cũng như các nước tư bản cho rằng: Nghị sĩ là người đại biểu cho cả dân
tộc chứ không đại biểu cho cử tri đơn vị bầu cử đã bầu ra nghị sĩ. Điều 38, Hiến pháp
Cộng hòa Liên bang Đức quy định: “Đại biểu Hạ Nghị viện (Bundexrat) là người đại
diện cho cả nhân dân Đức, chỉ hoạt động theo lương tâm của mình, khơng theo sự ủy
nhiệm của cử tri” [23 – tr.202].

6


 Đại biểu Quốc hội là ngƣời thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà
nƣớc trong Quốc hội, là hạt nhân cấu thành cơ quan quyền lực nhà nƣớc cao
nhất ở nƣớc ta, và chịu trách nhiệm trƣớc Quốc hội.
Trước tiên, đại biểu Quốc hội là người đại diện có thẩm quyền của nhân
dân và thay mặt cho nhân dân cả nước. Đại biểu Quốc hội có quyền thay mặt nhân
dân tham gia đầy đủ các kỳ họp của Quốc hội trong kỳ họp Quốc hội; thay mặt nhân
dân khi liên hệ với các cơ quan, tổ chức khi giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của nhân
dân trong thời gian giữa hai kỳ họp. Như vậy, từ khi được nhân dân tín nhiệm giao
phó trọng trách, những hoạt động trong quá trình thực hiện chức năng đại biểu khơng
cịn là hoạt động riêng lẻ của cá nhân người đại biểu, mà là ý kiến tổng hợp của nhân
dân được đúc kết lại và người đại biểu chỉ thực hiện cơng đoạn cuối cùng là thay mặt
nhân dân trình bày ý kiến đó tại cơ quan quyền lực Nhà nước hoặc kiến nghị với các
cơ quan, tổ chức có liên quan.

Bên cạnh đó, đại biểu Quốc hội cịn là người thay mặt nhân dân thực hiện
quyền lực nhà nước trong Quốc hội, là thành viên chính thức – hạt nhân cấu thành
nên cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ở nước ta, tức là hoạt động đại biểu mang
tính quyền lực Nhà nước. Điều đó được thể hiện qua các khía cạnh sau:
Vị trí, vai trị của Quốc hội được tổng hợp từ nhiều yếu tố như nhiệm vụ,
quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Quốc hội, và yếu tố quan trọng bậc nhất có tính chất
quyết định căn bản tới địa vị pháp lý của Quốc hội là ở cách thức thành lập Quốc hội.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Nhà nước
ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực thuộc về
nhân dân…” [4 – Điều 2] và “Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc
hội…” [4 – Điều 6]. Theo đó, Quốc hội nước ta được quy định là cơ quan quyền lực
Nhà nước cao nhất, thực hiện chủ quyền duy nhất thuộc về nhân dân. Quốc hội chỉ có
thể thực hiện được nhiệm vụ, quyền hạn dựa trên cơ sở sự tham gia tích cực và sáng
tạo của các đại biểu Quốc hội, vì đại biểu Quốc hội lúc này là hạt nhân của Quốc hội,
bộ phận cấu thành nên Quốc hội, thay mặt nhân dân trực tiếp thực hiện quyền lực Nhà
nước trong việc “tham gia quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của
7


Quốc hội: lập hiến, lập pháp, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối
ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc
chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt
động của công dân; tham gia thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt
động của nhà nước” [12 – Điều 2].
Là hạt nhân cấu thành cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, đại biểu Quốc
hội còn là người đại diện quyền lực Nhà nước trong quan hệ với các cơ quan Nhà
nước và viên chức Nhà nước khác, với các tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức chính trị xã hội và nhân dân tồn quốc. Khi đó, người đại biểu với tư cách thành viên của cơ
quan quyền lực Nhà nước cao nhất sẽ có những quyền hạn do pháp luật quy định để
bắt buộc các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ thi hành.
Sở dĩ người đại biểu Quốc hội có địa vị pháp lý đặc biệt như vậy vì bản chất

nhà nước ta là nhà nước do nhân dân làm chủ, sở hữu quyền lực nhà nước, song người
dân khơng thể tự mình thực hiện tất cả các nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn của nhà
nước mà phải thơng qua những đại diện của mình, trao cho đại biểu quyền lực của
mình để thực hiện các nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn của nhà nước. Vì đại biểu
Quốc hội khơng chỉ là người đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình, mà còn
đại diện cho nhân dân cả nước, là cầu nối quan trọng giữa chính quyền Nhà nước với
nhân dân, nên đại biểu Quốc hội vừa chịu trách nhiệm trước nhân dân, vừa chịu trách
nhiệm trước cơ quan quyền lực Nhà nước. Do đó, trong khi làm nhiệm vụ, đại biểu
Quốc hội phải xuất phát từ lợi ích chung của cả nước, đồng thời cũng phải quan tâm
thích đáng đến lợi ích của địa phương đã bầu ra mình, phải căn cứ vào pháp luật của
Nhà nước và những quy định của chính quyền Nhà nước ở địa phương.
1.2 Địa vị pháp lý đại biểu Quốc hội qua các giai đoạn Pháp luật Việt
Nam.
Khi phân chia các giai đoạn pháp luật Việt Nam, thông thường người ta dựa
theo các bản Hiến pháp. Cách phân chia này có ưu điểm là dựa trên văn bản pháp lý
mang tính chủ đạo, thể hiện sự hoàn thiện của mỗi giai đoạn pháp luật. Theo đó, địa
vị pháp lý của đại biểu Quốc hội có thể chia thành các giai đoạn sau:
8


1 – Giai đoạn từ năm 1946 đền năm 1959;
2 – Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980;
3 – Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992;
4 – Giai đoạn từ 1992 đến nay.
1.2.1 Giai đoạn từ 1946 – 1959:
Cơ sở pháp lý của địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội trong giai đoạn này
gắn liền với bản Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Lúc này,
đại biểu Quốc hội được gọi là “nghị viên”, vì Quốc hội khi đó có tên gọi là “Nghị
viện”.
- Về tính đại diện, nghị viên là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân

dân, “thay mặt cho địa phương mình và thay mặt cho tồn thể nhân dân cả nước” [1 –
Điều thứ 25]. Một nghị viên đại diện trung bình cho năm vạn (50.000) dân tham gia
thực hiện quyền lực nhà nước trong Nghị viện [1– Điều thứ 24]. Cuộc tổng tuyển cử
lịch sử ngày 6/1/1946 đã lựa chọn ra 333 đại biểu đại diện cho các thành phần và
Đảng phái khác nhau trong cả nước. Thành phần của của Nghị viện không những chỉ
có các đại biểu đại diện cho giai cấp nơng dân, cơng nhân, trí thức mà cịn có đại diện
của các tầng lớp khác đang tồn tại trong xã hội ta lúc bấy giờ. Trong số này có 57% số
đại biểu của các Đảng phái, 43% không đảng phái, 87% đại biểu là công nhân, nông
dân, chiến sĩ cách mạng, 10 đại biểu là phụ nữ và 43 đại biểu dân tộc thiểu số [47– tr.
52]. Sau này, tại phiên họp đầu tiên của kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I, để tập hợp
các lực lượng Đảng phái, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị và được tồn thể Quốc hội
chấp nhận mở rộng thành phần Quốc hội thêm 70 vị không qua bầu cử, nâng tổng số
đại biểu Quốc hội khóa I lên thành 403 vị.
- Về nhiệm vụ, quyền hạn: để thực hiện vai trò thay mặt nhân dân thực hiện
quyền lực nhà nước tại Nghị viện trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, đại biểu Quốc hội
được trao những quyền rất quan trọng, quyết định những vấn đề có ý nghĩa sống cịn
đối với một Nhà nước mới được thành lập và với nền chính quyền cịn rất tron trẻ:
Chỉ khi “có q nửa tổng số Nghị viên tới họp, Hội nghị mới được biểu quyết. Nghị
viện quyết nghị theo quá nửa nghị viên có mặt. Nhưng muốn tun chiến thì phải có
9


hai phần ba số nghị viên có mặt bỏ phiếu thuận” [1 – Điều thứ 29]. Tuy nhiên, riêng
đối với vấn đề sửa đổi Hiến pháp thì phải do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu
[1– Điều thứ 70]. Đối với những vấn đề quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ được đưa
ra để nhân dân phúc quyết nếu được hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý [1 – Điều
thứ 32].
Để đảm bảo thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn đó, Hiến pháp 1946 quy
định nghị viên có những đặc quyền đáng kể, bao gồm: Quyền bất khả xâm phạm về
thân thể: “Nếu chưa được Nghị viện đồng ý và trong lúc Nghị viện không họp mà

chưa được Ban thường vụ đồng ý thì Chính phủ không được bắt giam và xét xử nghị
viên”; Quyền tự do phát biểu chính kiến: “Nghị viên khơng bị truy tố vì lời nói hay
biểu quyết trong Nghị viện”. Trong trường hợp phạm tội bắt quả tang, nghị viên có
thể bị bắt giam, nhưng Chính phủ phải thơng tri cho Ban thường vụ khơng q 24
giờ, sau đó, Ban thường vụ hoặc Nghị Viện sẽ định đoạt [1 – Điều thứ 40].
- Về tính đại diện cho nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân, Hiến pháp
1946 đã quy định về vấn đề bãi miễn nghị viên tại điều thứ 41: “Nghị viện phải xem
xét vấn đề bãi miễn một nghị viên khi nhận được đề nghị của một phần tư tổng số cử
tri tỉnh hay thành phố đã bầu ra nghị viên đó. Nếu hai phần ba tổng số nghị viên ưng
thuận đề nghị bãi miễn thì nghị viên đó phải từ chức”. Như vậy, theo quy định của
Hiến pháp 1946 thì chỉ có cử tri là người đã bầu ra đại biểu Quốc hội mới là chủ thể
có quyền đề xuất việc bãi miễn đại biểu, cịn quyền quyết định việc bãi miễn lại thuộc
về Nghị viện khi có hai phần ba (2/3) tổng số đại biểu đồng ý về việc bãi miễn đó.
Nhìn chung, tuy trong những ngày đầu sơ khai nhưng vị trí pháp lý của đại
biểu Quốc hội cũng đã được thể hiện khá rõ nét qua các quy định về nhiệm vụ,
quyền hạn và các hoạt động của các đại biểu Quốc hội trong giai đoạn này. Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đánh giá: “Quốc hội ta đã hết lịng vì dân, vì nước, đã làm trọn một
cách vẻ vang nhiệm vụ của những người đại biểu của nhân dân” [46 – tr.124].

10


1.2.2 Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980:
Chính thể Cộng hịa theo Hiến pháp 1959 mặc dù khơng thay đổi so với chính
thể trong Hiến pháp 1946, song vị trí pháp lý của cơ quan đại diện quyền lực Nhà
nước do nhân dân tồn quốc bầu ra có thay đổi rất đáng kể. Bắt đầu từ bản Hiến pháp
này, Nghị viện của Hiến pháp năm 1946 được đổi tên gọi thành Quốc hội. Lần đầu
tiên cơ quan đại diện do nhân dân trực tiếp bầu ra được Hiến pháp quy định là cơ
quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa [2 – Điều
43]. Địa vị pháp lý của người đại biểu Quốc hội cũng vì thế mà được thể hiện rõ nét

hơn. So với Hiến pháp năm 1946 thì Hiến pháp năm 1959 đã quy định cụ thể hơn về
nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội. Bản Hiến pháp 1959 không quy định cụ
thể một đại biểu Quốc hội phải đại diện cho bao nhiêu người dân như trước đó bản
Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận. Đồng thời, bản Hiến pháp cũng không quy định cụ
thể phạm vi đại diện của người đại biểu Quốc hội, mà thể lệ tuyển cử và số đại biểu
Quốc hội lúc này do luật định (tức Luật bầu cử Quốc hội năm 1959) [2 – Điều 45].
- Về nhiệm vụ, quyền hạn: Có một số quy định thay đổi so với Hiến pháp năm
1946, nâng cao quyền hạn của đại biểu Quốc hội, khắc họa rõ nét hơn địa vị pháp lý
của đại biểu Quốc hội. Ví dụ quy định về việc Ủy ban thường vụ phải triệu tập cuộc
họp bất thường khi có hơn một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu [2 –Điều
46]; Các luật, nghị quyết của Quốc hội được thơng qua khi có trên một nửa tổng số
đại biểu Quốc hội tán thành [2– Điều 48], ngoại trừ việc sửa đổi Hiến pháp thì phải
được hai phần ba tổng số đại biểu quốc hội tán thành [2 – Điều 112]; Và cũng từ bản
Hiến pháp này quy định Ủy ban thẩm tra tư cách đại biểu Quốc hội được thành lập [2
– Điều 46].
Một quy định quan trọng khẳng định sự tiến bộ vượt bậc về địa vị của người
đại biểu Quốc hội ở bản Hiến pháp này là quyền chất vấn lần đầu tiên đã được ghi
nhận tại điều 59. Theo đó, đối tượng chất vấn bao gồm Hội đồng Chính phủ và cơ
quan thuộc Hội đồng Chính phủ. Cơ quan bị chất vấn phải trả lời chất vấn trong thời
hạn năm ngày, trường hợp cần điều tra thì thời hạn trả lời có thể là hơn một tháng.

11


Đại biểu Quốc hội có quyền tham dự Hội nghị Hội đồng nhân dân các cấp nơi
mình được bầu. Đây là điểm bổ sung quan trọng nhằm tăng cường mối quan hệ giữa
đại biểu Quốc hội với các cơ quan dân cử địa phương, thể hiện vai trò đại diện cho
nhân dân.
- Về tính chịu trách nhiệm trước nhân dân, Luật tổ chức Quốc hội năm 1960 đã
cụ thể hóa những quy định của Hiến pháp 1959 về chế độ trách nhiệm của đại biểu

Quốc hội đối với nhân dân qua việc nhân dân có quyền bãi miễn đối với đại biểu
Quốc hội. Theo quy định của luật, đại biểu Quốc hội phải thôi giữ chức vụ trong ba
trường hợp như sau:
1. Bị cử tri bãi miễn: nếu người đại biểu Quốc hội nếu tỏ ra không xứng đáng
với sự tín nhiệm của nhân dân thì có thể bị cử tri bãi miễn trước khi hết nhiệm kỳ.
Việc bãi miễn một đại biểu Quốc hội phải được quá nửa tổng số cử tri trong đơn vị
bầu cử bỏ phiếu tán thành. Như vậy, trong trường hợp này, cử tri có quyền trực tiếp
bãi miễn mà không cần sự đồng ý của từ hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội như
Hiến pháp năm 1946 đã quy định.
2. Đại biểu Quốc hội phạm pháp và bị Tòa án phạt tù [8 – Điều 46].
3. Bị cử tri bãi miễn, theo đó, Quốc hội có thể xét định về những trường hợp
đại biểu Quốc hội không xứng đáng là đại biểu Quốc hội [8 –Điều 47].
Tuy vậy, trong điều kiện nào và ai có thể nêu vấn đề tổ chức cho cử tri bỏ
phiếu tín nhiệm hoặc “xét định” sự tín nhiệm đối với đại biểu Quốc hội thì chưa được
pháp luật quy định.
- Về các đặc quyền của đại biểu Quốc hội: giai đoạn này tiếp tục kế thừa giai
đoạn trước. Tại điều 60, Hiến pháp năm 1959 quy định: “nếu khơng có sự đồng ý của
Quốc hội và trong thời gian khơng họp khơng có sự đồng ý của Ủy ban thường vụ
Quốc hội thì khơng được bắt giam và truy tố đại biểu Quốc hội”.
Như vậy, trong giai đoạn này, nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội đã
được quy định cụ thể hơn, cùng với nhiều quy định mới đã khắc họa rõ nét hơn vị trí
pháp lý của đại biểu Quốc hội.

12


1.2.3 Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992:
Vị trí pháp lý của đại biểu Quốc hội trong giai đoạn này gắn với bản Hiến pháp
năm 1980 và về cơ bản phát huy những quy định về vị trí của đại biểu Quốc hội trong
giai đoạn trước, đồng thời tiếp tục được bổ sung nhiều quy định khác, góp phần làm

rõ hơn nữa địa vị của người đại biểu nhân dân tại cơ quan quyền lực Nhà nước cao
nhất do nhân dân trực tiếp bầu ra. Bản Hiến pháp năm 1980 đã quy định: “Nhân dân
sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do
nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân..” [3 – Điều 6], tức là khẳng
định người đại biểu Quốc hội (trong Quốc hội) và đại biểu Hội đồng nhân dân (tại Hội
đồng nhân dân các cấp) với tư cách là người đại diện cho nhân dân sẽ thực hiện quyền
lực nhà nước thay cho nhân dân, và phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về việc thực
hiện quyền lực nhà nước đó.
- Về phạm vi đại diện của đại biểu Quốc hội, bản Hiến pháp quy định thông
qua cơ chế bầu cử ra đại biểu Quốc hội: “Công dân không phân biệt dân tộc, nam nữ,
thành phần xã hội, tín ngưỡng tơn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư
trú, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và từ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có thể
được bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, trừ những người mất trí và
những người bị pháp luật hoặc Tịa án nhân dân tước các quyền đó” [3 – Điều 57].
Thể lệ bầu cử và số đại biểu do luật Số 250-LCT về bầu cử đại biểu Quốc hội do
Quốc hội ban hành ngày 18/12/1980 quy định.
- Về nhiệm vụ, quyền hạn thể hiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội trong
bản Hiến pháp này được thể chế hóa trong Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà
nước năm 1981. Có thể nói, văn bản pháp luật này quy định cụ thể hơn về các nghĩa
vụ của đại biểu Quốc hội so với luật Tổ chức Quốc hội năm 1960. Ví dụ quy định đại
biểu Quốc hội có nhiệm vụ tham gia các kỳ họp và phiên họp của Quốc hội. Đại biểu
nào không thể tham gia các kỳ họp và phiên họp phải có lý do và phải báo cáo trước
cho Chủ tịch Quốc hội biết.
Có một quyền quan trọng lần đầu tiên được ghi nhận, góp phần khẳng định
thêm địa vị pháp lý của người đại biểu Quốc hội, đó là quyền trình dự án luật của đại
13


biểu Quốc hội ra trước Quốc hội [3 – Điều 86]. Mặc dù trên thực tế, quyền này không
được các đại biểu phát huy nhưng cũng đã góp phần khẳng định sự chuyển biến về vai

trò của người đại biểu Quốc hội trong công tác lập pháp. Các luật và nghị quyết của
Quốc hội phải được quá nửa (trừ trường hợp sửa đổi Hiến pháp phải được ít nhất hai
phần ba) tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành [3 – Điều 87].
Quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội tiếp tục được ghi nhận và những chức
danh thuộc đối tượng bị chất vấn bao gồm: Hội đồng Bộ trưởng, các thành viên của
Hội đồng Bộ trưởng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao [3 – Điều 95]. Chất vấn được tiến hành theo trình tự đại biểu Quốc
hội gửi chất vấn đến Chủ tịch Quốc hội để Chủ tịch Quốc hội chuyển cho các cơ quan
hoặc người bị chất vấn trả lời. Khi đại biểu chất vấn Hội đồng Bộ trưởng thì Chủ tịch
Hội đồng Bộ trưởng hoặc một thành viên được ủy nhiệm của Hội đồng Bộ trưởng trả
lời. Khi đại biểu chất vấn một thành viên Hội đồng Bộ trưởng thì thành viên đó phải
trả lời.
- Về quyền miễn trừ của đại biểu Quốc hội: việc bắt giam và truy tố đại biểu
Quốc hội về cơ bản giống quy định của Hiến pháp 1959 và Luật Tổ chức Quốc hội
1960. Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981 còn quy định rõ hơn
chủ thể có quyền đề nghị, bắt giam và truy tố đại biểu Quốc hội là Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao [9 – Điều 65]. Nếu bị phạm pháp quả tang mà đại biểu
Quốc hội bị tạm giữ thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội và Hội
đồng Nhà nước xem xét và quyết định [3 – Điều 96].
- Về tính chịu trách nhiệm trước cử tri: Hiến pháp 1980 quy định đại biểu
Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ
tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Quốc hội, đồng thời phải
tiến hành trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri, xem xét và giúp giải quyết
những khiếu nại và tố cáo của nhân dân. Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà
nước đã quy định cụ thể vai trò của đại biểu Quốc hội trong việc giải quyết khiếu nại,
khơng chỉ có trách nhiệm nghiên cứu và chuyển đến cơ quan nhà nước hữu quan mà
còn có nhiệm vụ “theo dõi việc giải quyết và báo cáo cho đương sự biết kết quả. Các
14



cơ quan Nhà nước phải báo cho đại diện Quốc hội biết kết quả giải quyết những
khiếu nại và tố cáo của nhân dân do đại biểu chuyển đến”.
Để tăng cường mối quan hệ giữa các đại biểu Quốc hội của địa phương, lần
đầu tiên Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981 quy định về việc
thành lập các Đồn đại biểu, theo đó đại biểu Quốc hội ở tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương và đơn vị hành chính tương đương họp thành Đồn đại biểu Quốc hội địa
phương và cử ra trưởng Đoàn. Việc hình thành các Đồn đại biểu có ý nghĩa thiết
thực trong việc giúp các đại biểu Quốc hội trao đổi, thảo luận ý kiến về các dự án luật
trước khi trình Quốc hội xem xét, quyết định; cho ý kiến về các vấn đề tổ chức kỳ
họp, nhân sự,… Về phía đại biểu Quốc hội, thiết chế Đồn đại biểu đóng vai trị như
một cầu nối để trao đổi thơng tin với các cơ quan thường trực của Quốc hội được
thuận tiện hơn trong thời gian giữa hai kỳ họp của Quốc hội, làm tốt hơn vai trò đại
biểu của mình.
Rõ ràng, vị trí pháp lý của đại biểu Quốc hội những giai đoạn này ngày càng
được thể hiện rõ là người đại diện cho nhân dân ở cơ quan quyền lực Nhà nước cao
nhất và thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước trong Quốc hội với nhiều
thực quyền quan trọng được ghi nhận trong bản Hiến pháp hơn.
1.2.4 Giai đoạn từ năm 1992 đến nay:
Có thể khẳng định rằng từ năm 1992 cho đến nay đã hình thành tương đối đồng
bộ hệ thống các văn bản pháp luật về đại biểu Quốc hội, trong đó có các quy định của
Hiến pháp 1992, Nghị quyết số 51/NQ/QH 10 năm 2001 (sửa đổi bổ sung một số điều
của Hiến pháp 1992), Luật Tổ chức Quốc hội 2001, Quy chế hoạt động của đại biểu
Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội năm 2002.
So với giai đoạn trước, vị trí pháp lý của đại biểu Quốc hội trong giai đoạn này
về cơ bản khơng có gì thay đổi. Các quy định về đại biểu Quốc hội, bao gồm quyền
miễn trừ, quyền chất vấn, quyền tham gia giải quyết khiếu nại, quyền yêu cầu chấm
dứt hành vi vi phạm pháp luật; và các nghĩa vụ tham gia các kỳ họp, bị bãi miễn khi

15



khơng hồn thành nhiệm vụ là được giữ ngun như trong Hiến pháp năm 1980 và
Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước 1981.
Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất vì Quốc hội là cơ quan duy
nhất được nhân dân cả nước trực tiếp bầu ra. Trong hệ thống các cơ quan Nhà nước,
nhân dân còn trực tiếp bầu ra đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nhưng Hội đồng
nhân dân chỉ là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, do nhân dân từng địa
phương bầu ra. Chính việc đại biểu Quốc hội do khối đại cử tri toàn quốc bầu ra từ
mọi thành phần trong xã hội, từ mọi địa phương trên đất nước đã tạo ra cho đại biểu
Quốc hội một vị trí pháp lý đặc biệt, hơn hẳn các cán bộ khác trong các cơ quan Nhà
nước khác trong bộ máy nhà nước: đại diện cho toàn thể dân tộc Việt Nam. Giống
như Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1992 quy định phạm vi đại diện của đại biểu Quốc
hội: “Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân,
khơng chỉ cho nhân dân ở đơn vị bẩu cử ra mình mà cịn đại diện cho nhân dân cả
nước” [4 – Điều 97].
Điểm thay đổi lớn nhất theo Hiến pháp 1992 sửa đổi và được thể hiện trong
Quy chế hoạt động về vị trí pháp lý của đại biểu Quốc hội là điều khoản về mối quan
hệ giữa đại biểu với cử tri. Hiến pháp 1992 sửa đổi quy định: “Đại biểu Quốc hội phải
liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát củai cử tri, thu thập và phản ánh trung
thực ý kiến và nguyện vọng của cử tri với Quốc hội và các cơ quan hữu quan; thực
hiện chế độ báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Quốc hội; trả lời những
yêu cầu của cử tri; xem xét, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân và hướng dẫn, giúp đỡ cơng dân thực hiện các quyền đó” [4 – Điều 97].
Đồng thời, tại Điều 12, Quy chế hoạt động cũng ghi rõ: “Đại biểu Quốc hội có trách
nhiệm tiếp xúc cử tri theo chương trình tiếp xúc cử tri của Đồn đại biểu Quốc hội.
Trong trường hợp khơng thể tham gia tiếp xúc cử tri thì đại biểu Quốc hội báo cáo
với trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội”. Việc tiếp xúc cử tri có nhiều ý nghĩa quan trọng
nhằm duy trì mối quan hệ qua lại giữa đại biểu Quốc hội và nhân dân. Quy chế hoạt
động đã xác định các hình thức định kỳ tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, thể hiện
vai trò về tính đại diện của người đại biểu.

16


- Về nhiệm vụ, quyền hạn thể hiện vị trí pháp lý của đại biểu Quốc hội: Quyền
chất vấn của đại biểu Quốc hội được mở rộng đối tượng hơn, bao gồm các chức danh
Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên
khác của Chính phủ, Chánh án Tóa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao [4 – Điều 98]. Quy định này thể hiện chức năng giám sát, thực hiện
vai trò là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội của
đại biểu Quốc hội. Lần đầu tiên, pháp luật quy định đại biểu Quốc hội phải dành thời
gian để làm nhiệm vụ, và kinh phí hoạt động của đại biểu Quốc hội sẽ do Nhà nước
đảm bảo. Điều này một mặt khuyến khích các đại biểu Quốc hội tham gia hoạt động
tích cực hơn, mặt khác nâng cao trách nhiệm của người đại biểu trong thời gian làm
nhiệm vụ của mình. Các quy định khác về quyền hạn, nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội
tương tự như quy định trong bản Hiến pháp 1980.
Ngoài việc tăng thêm số lượng, chất lượng của các đại biểu Quốc hội cũng đã
được cải thiện đáng kể, góp phần khẳng định vai trị, địa vị pháp lý của đại biểu, khiến
cho người dân tin tưởng hơn vào người đại diện của mình ở cơ quan quyền lực Nhà
nước cao nhất. Trong lần bầu cử Quốc hội khóa XI và khóa XII gần đây, có điểm mới
là ngồi các tiêu chuẩn truyền thống và được chú trọng như phẩm chất chính trị trung
thành với Nhà nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, phẩm chất về đạo đức như trước
đây, Luật bầu cử năm 1997 quy định: để trúng cử vào Quốc hội, các ứng cử viên phải
là những người có trình độ hiểu biết, có năng lực tham gia quyết định các vấn đề
trọng đại của đất nước.
Nhằm tạo điều kiện cho các đại biểu hoạt động, điểm mới nữa trong Quy chế
hoạt động là quy định chi tiết điều kiện bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội và
Đoàn đại biểu Quốc hội về tài liệu và các dịch vụ thông tin, nghiên cứu, thư viện, và
Internet khi có yêu cầu. Đại biểu Quốc hội là thành viên Hội đồng dân tộc hoặc Ủy
ban của Quốc hội cịn được cung cấp thơng tin về hoạt động của Hội đồng dân tộc
hoặc của Ủy ban mà mình là thành viên. Những đảm bảo này sẽ góp phần nâng cao

chất lượng hoạt động của đại biểu Quốc hội, giúp người đại biểu hoàn thành trọng
trách thực hiện quyền lực Nhà nước mà nhân dân đã giao phó.
17


Theo tinh thần của Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001, Quốc hội
Việt Nam sẽ tập trung hơn nữa vào chức năng làm luật để khắc phục tình trạng vừa
thiếu pháp luật, vừa có nhiều mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thực hiện
tốt chức năng lập pháp của Quốc hội. Để đảm đương được những nhiệm vụ này, khác
với các thời kỳ trước đây, trong thành phần đại biểu Quốc hội có một số lượng thành
viên hoạt động theo chế độ chuyên trách, chuyên làm việc đại biểu Quốc hội, mà
không phải đảm nhiệm một công việc thường xuyên nào khác: “Trong số các đại biểu
quốc hội, có những đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách. Số lượng đại biểu
Quốc hội hoạt động chun trách có ít nhất là hai mươi lăm phần trăm (25%) tổng số
đại biểu Quốc hội” [10 – Điều 45]. Đại biểu Quốc hội làm việc theo chế độ chuyên
trách phải dành hết thời gian cho hoạt động của Quốc hội, hưởng lương do Ủy ban
thường vụ Quốc hội quyết định. Ở mỗi Đoàn đại biểu Quốc hội sẽ có khoảng một đến
hai đại biểu chuyên trách, được bố trí cơng việc ở các Hội đồng, Ủy ban của Quốc hội
và được bố trí nơi làm việc ở trụ sở Quốc hội. Đại biểu khơng chun trách phải dành
ít nhất một phần ba (1/3) thời gian làm việc để làm nhiệm vụ đại biểu. Quốc hội khóa
XI có 119 đại biểu hoạt động chuyên trách, chiếm 23,89 % tổng số đại biểu Quốc
hội. Đến Quốc hội khóa XII đã có 145 đại biểu hoạt động chuyên trách, chiếm
29,41% tổng số đại biểu Quốc hội, nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, khiến
cho Quốc hội ngày càng trở nên có thực quyền hơn và thực sự trở thành cơ quan
quyền lực Nhà nước cao nhất, cũng là làm rõ hơn vai trò của đại biểu Quốc hội trong
vị trí là người đại diện của nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước
trong Quốc hội. So sánh với pháp luật các nước tư sản, nghị sĩ ở các nước tư sản được
coi như một “nghề”, và họ không kiêm nhiệm bất cứ một chức sắc nào khác trong
suốt quá trình làm đại biểu (trừ ở Anh, Nhật và một số nước khác). Ở Pháp, nhằm hạn
chế ảnh hưởng của cơ quan hành pháp đối với đại biểu và hạn chế ảnh hưởng của đại

biểu đối với hoạt động của cơ quan tư pháp và các cơ quan Nhà nước khác, đồng thời
tạo cho đại biểu tập trung thời gian cho việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu, pháp luật
Pháp quy định đại biểu không được kiêm nhiệm các chức danh: tổng thống, thủ
tướng, bộ trưởng, thành viên Hội đồng kinh tế xã hội, thành viên Hội đồng Chính phủ
18


về lãnh thổ hải ngoại, thẩm phán Tòa án. Tại mục 2, khoản 6, điều 1, Hiến pháp Hoa
Kỳ cũng quy định: “Không một Thượng nghị sĩ hay Dân biểu Hạ viện nào trong suốt
nhiệm kỳ của mình có quyền được bổ nhiệm một chức vụ hành chính nào của Hợp
chủng quốc và không một người nào đang giữ một chức vụ trong Chính phủ Hợp
chủng quốc lại có thể là thành viên của Quốc hội”. Quy định này nhằm đảm bảo
nguyên tắc phân chia quyền lực giữa lập pháp và hành pháp. Nói chung, các quy định
về địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội nước ta cơ bản có những điểm khác với nghị
sĩ tư sản vì những điều kiện cụ thể của Nhà nước ta khác với Nhà nước có thiết chế tư
sản được sinh ra từ thời kỳ Cách mạng tư sản, và trong thời kỳ phát triển của Chủ
nghĩa tư bản. Tuy nhiên, bên cạnh đó, ít nhiều chúng ta cũng đã tiếp thu những đặc
điểm địa vị pháp lý của Nghị viện tư sản phát triển, tạo nên những nét tương đồng, ví
dụ về quyền miễn trừ của các đại biểu Quốc hội, pháp luật nước ta và đa số các nước
tư sản trên thế gới đều quy định tương đối giống nhau. Hiến pháp Pháp ghi nhận: “Khi
đang thực hiện nhiệm vụ, đại biểu khơng thể bị bắt giam, truy tố vì những lời phát
biểu hay hành vi của mình”. Theo Khoản 3, điều 26 Hiến pháp Pháp (sửa đổi tháng 8
năm 1945), “cơ quan bảo vệ pháp luật có thể thực hiện việc điều tra đối với đại biểu
thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, nhưng quyết định bắt giam hay quyết định áp
dụng biện pháp phòng ngừa đối với đại biểu Quốc hội chỉ được thực hiện khi có sự
đồng ý của Ban thường vụ của Viện mà đại biểu là thành viên”.
Tóm lại, với những thay đổi như vậy, đại biểu Quốc hội ngày nay đã khẳng
định được địa vị pháp lý quan trọng, đặc biệt của mình, ngày càng đảm bảo hiệu quả
vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, và vai trị thay mặt nhân dân
thực hiện quyền lực Nhà nuớc trong Quốc hội.

1.3 Một số vấn đề liên quan đến địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội.
1.3.1 Tiêu chuẩn, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội.
 Tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội:
- Đại biểu Quốc hội trước hết trên cương vị là người đại diện của nhân dân. Để
hoàn thành cương vị này một cách xuất sắc và làm việc có hiệu quả, tiêu chuẩn chung
19


người đại biểu của dân phải là người tài đức vẹn tồn, bởi vì như Bác Hồ kính u của
chúng ta đã khẳng định: “Có tài mà khơng có đức là người vơ dụng, có đức mà khơng
có tài thì làm việc gì cũng khó…”. Những tiêu chuẩn đó của người đại biểu Quốc hội
đã được thể chế hóa trong pháp luật, cụ thể người đại biểu Quốc hội phải “Trung
thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu
thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [6 – Điểm 1,
Điều 3]. Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là đòi hỏi nhất thiết phải có đối với mỗi cơng dân, cán bộ Nhà nước, nên khơng
phải là vơ tình mà nhà làm luật sắp xếp đặt tiêu chuẩn này lên trước nhất trong điều
luật. Trong tình hình hiện nay, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp xã hội chủ nghĩa
Việt Nam không những chỉ thể hiện ở sự nhất trí chấp hành triệt để đường lối và
những quan điểm, chủ trương của Đảng về kinh tế, xã hội, bảo vệ vững chắc nền độc
lập, tự do của Tổ quốc mà nhân dân ta đã phải đấu tranh biết bao gian khổ mới giành
được, mà còn thể hiện ở sự sáng tạo, ở tinh thần cách mạng tiến công, quyết tâm và
dũng cảm đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực trong q trình xây dựng đất nước
thời cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh.
- Đại biểu Quốc hội phải là người “có phẩm chất đạo đức tốt, cần kiệm liêm
chính, chí cơng vơ tư, gương mẫu chấp hành pháp luật, kiên quyết đấu tranh chống
mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và các hành vi vi phạm
pháp luật” [6 – điểm 2, Điều 3]. Đây chính là cái đức, cái tâm của người đại biểu.

Người đại biểu nhân dân tức là “người đại diện tiêu biểu” trong nhân dân, thì nhất
thiết phải có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành pháp luật, bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, chí cơng vơ tư. Trong tình
hình khủng hoảng tài chính thế giới hiện nay, dẫn đến những khủng hoảng về kinh tế,
cũng như các mặt khác của đời sống xã hội, đã ít nhiều ảnh hưởng tới Việt Nam thì
tiêu chuẩn “cần, kiệm, liêm, chính” của người đại biểu càng được đề cao. Đại biểu
không chỉ gương mẫu trong công tác, sản xuất, trong chấp hành pháp luật mà còn phải
20


có nhân cách hồn thiện, gương mẫu trong đời thường, trong cuộc sống gia đình,…,
khơng những chỉ tn theo pháp luật mà còn phải tuân theo các chuẩn mực đạo đức
chung. Đối với những người xung quanh, đại biểu phải là người nhiệt tình, năng nổ,
hết lịng phục vụ nhân dân, thực hiện công việc với tinh thần trách nhiệm cao nhất
theo sự tín nhiệm của nhân dân, vì người đại biểu phải ý thức rằng mình được bầu ra
để thay mặt cho tồn thể nhân dân, chứ khơng phải là một chức danh. Trong công tác,
đại biểu Quốc hội phải là một cán bộ tận tụy, không tham ô, không nhận hối lộ, thẳng
thắn đấu tranh chống tiêu cực, giữ vững cuộc sống lành mạnh, trong sạch. Là thành
viên của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, sự gương mẫu của đại biểu trong chấp
hành pháp luật – vừa là nghĩa vụ công dân, vừa là trách nhiệm của cán bộ dân cử - sẽ
làm cho hoạt động của cơ quan, tổ chức cũng như người dân đi vào thể chế, tôn trọng
pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đồng thời động viên nhân dân thực hiện tốt
quyền và nghĩa vụ của họ.
- Như trên đã nói, người đại biểu của dân phải là người có đức, có tài. Cái tài
của người đại biểu Quốc hội được thể chế hóa tại khoản 3, Điều 3 Luật bầu cử đại
biểu Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung 2001: đại biểu Quốc hội phải là người “có trình độ
và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội, tham gia quyết định các vấn đề
quan trọng của đất nước”. Trong tình hình xã hội hiện nay, yêu cầu công tác ngày
càng cao, quy mô quản lý Nhà nước ngày càng lớn, thực tế đời sống có nhiều vấn đề
cấp bách cần được giải quyết nhanh chóng, chính xác, kịp thời. Điều này đòi hỏi

người đại biểu phải có trình độ hiểu biết sâu và rộng, cả về chủ nghĩa xã hội, đường
lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kiến thức quản lý Nhà nước, cũng
như kiến thức về kinh tế, xã hội, và cả kiến thức về khoa học, cơng nghệ thơng tin,…
Nói cách khác, để có thể làm tốt nhiệm vụ, đại biểu Quốc hội phải có tư duy, phong
cách làm việc mới, năng lực tổ chức và quản lý Nhà nước, tiếp thu và xử lý những
kênh thông tin cập nhật hàng ngày, thậm chí hàng giờ, nhất là trong thời kỳ đầu Việt
Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và trong bối cảnh cả thế giới đang
phải đối mặt với những thách thức về khủng hoảng tài chính, suy thối ơ nhiễm mơi
trường, dịch bệnh lây lan… có tính liên khu vực và tính tồn cầu. Từ đó, người đại
21


biểu mới có thể nắm bắt rõ tình hình một cách sâu sắc và toàn diện, hoạch định ra
những kế hoạch, giải pháp hữu hiệu có tính ứng dụng, và mới có đủ cơ sở hiểu biết, tự
tin để quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, thực hiện tốt nhiệm vụ của
mình.
- Đại biểu Quốc hội phải là người “được nhân dân tín nhiệm”. Vì đại biểu
được bầu cử ra để đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, thay nhân dân thực
hiện quyền lực Nhà nước, do đó, họ phải “liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý
kiến của nhân dân” [6 – điểm 4; Điều 3], bởi vì nếu người đại biểu không biết lắng
nghe, không thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của nhân dân thì khơng thể là người nói
thay dân. Đó phải là những người cùng sống, sản xuất, cơng tác hoặc chiến đấu với
nhân dân, có quan hệ gắn bó gần gũi và được nhân dân yêu mến tin cậy, là người “đi
dân mến, ở dân thương”. Có như vậy, nhân dân mới càng tín nhiệm, tiếp tục tin tưởng
ủy thác việc thực hiện quyền lực Nhà nước, giao phó quyền hiến định của mình cho
người đại biểu, cũng như thêm tin tưởng vào thể chế xã hội, tiếp tục ủng hộ sự lãnh
đạo của Đảng và Nhà nước. Sách Đại học, một trong Tứ thư do học trị xuất sắc nhất
của Khổng Tử viết, có đoạn: “Đời xưa muốn làm tỏ được đức sáng trong thiên hạ, thì
phải trị quốc, muốn trị quốc thì phải tề gia, muốn tề gia thì phải tu thân, muốn tu thân
thì phải chính tâm, muốn chính tâm thì phải tinh thành với ý mình, muốn tinh thành

với ý mình thì trước hết phải biết đến chỗ cùng cực. Biết tới chỗ cùng cực là suốt tới
chỗ uyên thâm của sự vật…” [49 – tr.26 – 27]. Ấy chính là nhấn mạnh sự rèn luyện
nhân phẩm, để “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Thiết nghĩ bài học này vẫn
cịn rất nhiều ý nghĩa đối với những cán bộ đã “trót nợ tang bồng” mang nghiệp chăm
dân, dựng nước.
- Trên đây là những điều kiện cần để người đại biểu hồn thành tốt nhiệm vụ
của mình, tuy nhiên để thực sự hồn thành xuất sắc vai trị là người “cơng bộc” của
nhân dân, người được coi là kẻ “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng” thì cịn một điều
kiện đủ khơng thể khơng nhắc đến, đó là người đại biểu phải là người “có điều kiện
tham gia các hoạt động của Quốc hội” [6 – điểm 5, Điều 3]. Trong kỳ họp Quốc hội,
đại biểu Quốc hội phải tham gia đầy đủ các kỳ họp, tiến hành thực hiện các công việc
22


thuộc chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội, và trong thời gian giữa hai kỳ họp, đại biểu
Quốc hội phải tiến hành các hoạt động như tiếp xúc cử tri, báo cáo kết quả kỳ họp
Quốc hội cho cử tri, tuyên truyền pháp luật, chuyển đơn thư khiếu nại, tố cáo,… Do
đó, “điều kiện” ở đây thiết nghĩ có thể hiểu bao gồm các điều kiện năng lực đại biểu,
điều kiện về sức khỏe, độ tuổi, về khả năng tài chính,… Có đảm bảo những điều kiện
đó, người đại biểu mới có thể tồn tâm tồn ý dốc lịng lo cho dân cho nước, hăng say
thực hiện vai trò là “công bộc” của nhân dân.
Chúng tôi nhận thấy các tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội theo quy định của
pháp luật tuy đã được chú trọng nhưng vẫn còn bất cập: các tiêu chuẩn này là những
tiêu chuẩn rất chung chung, đại khái, chủ yếu mang tính định tính mà chưa có tính
định lượng, vì thế dẫn đến khó khăn cho cử tri trong việc xác định tiêu chuẩn đại biểu
trong q tình bầu cử. Từ đó dẫn đến hậu quả là có những đại biểu Quốc hội được bầu
ra nhưng khơng hồn thành nhiệm vụ đại biểu, khơng thể hiện rõ được địa vị pháp lý
đặc biệt, quan trọng của mình.
 Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội:
“Những đại biểu mới vào nghề tưởng tượng họ sẽ ngồi cả ngày suy nghĩ về

những chuyện lớn lao và biến nó thành luật. Đâu có thể như vậy được. Một đại biểu
vỡ mộng nói: “Tơi cứ tưởng mình sẽ trở thành Daniel Webster (Nhà kinh tế và hùng
biện Mỹ 1782 – 1852) nhưng hóa ra phần lớn cơng việc của mình làm đều chỉ là
hiện thân của cử tri mà thôi.” [54 – tr.278 – 279].
Trong tất cả các yếu tố (các chế định pháp luật) tạo thành vị trí pháp lý của đại
biểu Quốc hội thì nhiệm vụ và quyền hạn của đại biểu Quốc hội đóng một vai trị rất
quan trọng. Là người đại diện có thẩm quyền của nhân dân địa phương nơi bầu ra và
đại diện cho nhân dân cả nước, đồng thời là hạt nhân cấu thành cơ quan quyền lực
Nhà nước tối cao – Quốc hội, do đó nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội gắn
liền với nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, cụ thể được quy định tại Chương VI –
Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001); Chương IV – Luật tổ chức
Quốc hội 2001; và Chương II – Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại
biểu Quốc hội 2002.
23


×