Tải bản đầy đủ (.pdf) (85 trang)

Biện pháp trả đũa thương mại trong wto vấn đề pháp lý và thực tiễn áp dụng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.25 MB, 85 trang )

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ


BIỆN PHÁP TRẢ ĐŨA THƢƠNG MẠI
TRONG WTO –VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Niên khóa : 2008 - 2012

SVTH: LÊ THỊ THÚY HUỲNH
KHĨA 33 - MSSV :0855050069
GVHD: TS. LÊ THỊ ÁNH NGUYỆT

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2012

1


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Lê Thị Ánh
Nguyệt. Mọi ý kiến, quan điểm, số liệu, nội dung tham khảo
được trích dẫn đầy đủ, trung thực và chính xác trong Khóa
luận. Tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của
mình.

Tác giả Khóa luận

Lê Thị Thúy Huỳnh



2


BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ Viết Tắt

Tên đầy đủ Tiếng Anh

DSB

Dispute Settlement Body

Tên đầy đủ tiếng Việt
Cơ quan giải quyết tranh chấp

Dispute Settlement Understanding
(The Uruguay Round
DSU

Understanding on Rules and
Procedures Governing the

Thỏa thuận ghi nhận các quy tắc
và thủ tục giải quyết tranh chấp

Settlement of Disputes)
EC

GATS


GATT
MFN

European Community
General Agreement on Trade in

Hiệp định chung về thương mại

Services

trong lĩnh vực dịch vụ6

General Agreement on Tariffs

Hiệp định chung về thuế quan

and Trade

và thương mại

Most Favoured Nation

Tối huệ quốc

Agreement on Trade-Related
TRIPs

Aspects of Intellectual Property
Rights


WTO

Cộng đồng Châu Âu

Word Trade Organization

3

Hiệp định về quyền sở hữu trí
tuệ liên quan đến thương mại
Tổ chức thương mại thế giới


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1.

Lý do chọn đề tài ..................................................................................................... 1

2.

Mục tiêu và đối tƣợng nghiên cứu......................................................................... 2

3.

Tình hình nghiên cứu của đề tài ............................................................................ 2

4.


Phạm vi nghiên cứu ................................................................................................ 3

5.

Phƣơng pháp nghiên cứu ....................................................................................... 3

6.

Ý nghĩa khoa học và phạm vi ứng dụng của đề tài .............................................. 4

7.

Cấu trúc của đề tài .................................................................................................. 4

CHƢƠNG I. KHÁI QUÁT VỀ TRẢ ĐŨA THƢƠNG MẠI TRONG WTO ........... 6
1. Khái quát chung về trả đũa thƣơng mại ............................................................................. 6
1.1 Sơ lƣợc về ―trả đũa thƣơng mại‖ ..................................................................................... 6
1.2 Trả đũa thƣơng mại theo pháp luật của Hoa Kỳ ........................................................... 7
1.3 Trả đũa thƣơng mại trong WTO ................................................................................... 10
1.3.1

Cơ sở pháp lý ......................................................................................................... 10

1.3.2

Khái quát cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO ............................................ 13

1.3.3

1.3.2.1


Tổng quan về cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO ............................... 13

1.3.2.2

Những đánh giá chung về cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO .......... 19

Trả đũa thƣơng mại là một biện pháp thực thi báo cáo giải quyết tranh chấp của

Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO một cách ―tạm thời‖ và không thay thế cho việc
thực thi đầy đủ phán quyết hoặc kiến nghị của DSB ........................................................... 20
2. Nguyên tắc áp dụng biện pháp trả đũa thƣơng mại trong WTO ................................... 23
2.1 Nguyên tắc không áp dụng biện pháp trả đũa một cách đơn phƣơng ....................... 23
2.2 Nguyên tắc thứ tự ƣu tiên của các biện pháp trả đũa theo Điều 22.3 DSU................ 24
4


2.3 Chủ thể yêu cầu áp dụng biện pháp trả đũa thƣơng mại ............................................ 26
2.3.1

Các bên liên quan của yêu cầu trả đũa.................................................................. 26

2.3.2 Quyền của bên thứ ba được quy định như thế nào khi có một Thành viên muốn được
tham gia vào thủ tục yêu cầu tạm hoãn thi hành nhượng bộ hoặc nghĩa vụ khác?..... 27
2.3.3 Các điều kiện đối với thành viên đề xuất yêu cầu ủy quyền trả đũa ....................... 28
2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính tƣơng đƣơng giữa mức độ trả đũa và mức độ thiệt hại ... 30
Kết luận chương một ............................................................................................................... 33

CHƢƠNG II. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TRẢ ĐŨA THƢƠNG MẠI
TRONG VỤ KIỆN VỀ CHUỐI VÀ VỤ KIỆN VỀ THỊT BỊ ................................. 35

1. Khái qt về tình hình áp dụng yêu cầu trả đũa qua các vụ tranh chấp thực tế .......... 35
2. Vụ tranh chấp DS27 ―EC – Cơ chế nhập khẩu, kinh doanh và phân phối sản phẩm chuối‖
............................................................................................................................................... 40
2.1 Tóm tắt tình tiết vụ kiện DS27 ―EC – Cơ chế nhập khẩu, kinh doanh và phân phối sản
phẩm chuối‖ ..................................................................................................................... 40
2.2 Thủ tục tố tụng theo Điều 22 của DSU – WT/DS27/ARB ............................................ 43
2.2.1

Việc thành lập trọng tài theo Điều 22.6 và 22.7 của DSU .................................. 43

2.2.2

Mức độ tƣơng đƣơng theo Điều 22.4 DSU .......................................................... 44

2.2.3

Thứ tự ƣu tiên của biện pháp trả đũa thƣơng mại theo Điều 22.3 DSU .......... 44

2.2.2 Về thẩm quyền của trọng tài ........................................................................................ 47
2.3 Một số bình luận .............................................................................................................. 47
2.3.1

Nguyên tắc ƣu tiên của Điều 22.3 DSU có đƣợc các bên tn thủ hay khơng?47

2.3.2

Liệu có thể tồn tại việc cho phép đồng thời áp dụng các Điều 22.3 (a) và Điều 22.3

(c) hay khơng? .......................................................................................................................... 49
2.3.3


Về tính tƣơng đƣơng của mức độ trả đũa với mức độ thiệt hại đƣợc Trọng tài

viên xác định nhƣ thế nào? ..................................................................................................... 50
2.3.4

Sự tham gia của bên thứ ba có đƣợc ghi nhận? ................................................. 51

3. Vụ tranh chấp DS48 ―Cộng đồng châu Âu — Các biện pháp liên quan đến thịt và các sản
phẩm từ thịt (Hc-mơn)‖ .................................................................................................. 52
5


3.1 Tóm tắt tình tiết vụ kiện ban đầu DS48 ―Cộng đồng châu Âu — Các biện pháp liên
quan đến thịt và các sản phẩm từ thịt (Hc-mơn)‖ .................................................... 52
3.2 Thủ tục tố tụng theo Điều 22 của DSU – WT/DS48/ARB ............................................ 54
3.2.1

Việc thành lập trọng tài theo Điều 22.6 và 22.7 của DSU .................................. 54

3.2.2

Mức độ tƣơng đƣơng theo Điều 22.4 DSU .......................................................... 54

3.3 Bình luận .......................................................................................................................... 56
3.3.1

Về tính tƣơng đƣơng của mức độ trả đũa với mức độ thiệt hại đƣợc Trọng tài

viên xác định nhƣ thế nào? ..................................................................................................... 56

3.3.2

Bên nào sẽ có nghĩa vụ chứng minh cho ―một thách thức đối với sự phù hợp của

mức độ tƣơng đƣơng đề xuất của bên yêu cầu đình chỉ‖? .................................................. 57
3.3.3

Sự tham gia của bên thứ ba có đƣợc ghi nhận? ................................................. 58

3.3.4

Tình hình các bên tranh chấp sau khi áp dụng biện pháp trả đũa .................. 59

Kết luận chƣơng hai .............................................................................................................. 61

KẾT LUẬN ................................................................................................................... 64

6


7


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kể từ khi thành lập đến nay, Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã trở trành cầu
nối quan trọng và hiệu quả cho các hoạt động thương mại đa phương giữa các Thành viên.
Các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại giữa các Thành viên là điều khơng
tránh khỏi. Chính vì vậy mà Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, mà cụ thể là Thỏa thuận
ghi nhận về các Quy tắc và Thủ tục giải quyết tranh chấp (DSU), đã có ý nghĩa rất lớn trong

việc giải quyết các tranh chấp nhằm bảo đảm có một giải pháp tích cực cho các thành viên
trong vụ tranh chấp. Các bên tranh chấp được khuyến khích ưu tiên thực thi các phán quyết
và kiến nghị của Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) trong thời gian hợp lý. Tuy nhiên trên
thực tế, tồn tại khơng ít trường hợp các bên có nghĩa vụ thi hành đã không thi hành (hoặc
không thi hành đúng) theo các báo cáo được DSB thông qua, và khi đã hết thời gian hợp lý
để thi hành mà các bên tranh chấp vẫn khơng nhất trí được về thỏa thuận bồi thường thỏa
đáng (các bên chấp nhận được), thì bên có quyền được phép u cầu DSB ủy quyền ―trả đũa
thương mại‖ đối với bên không thực thi đúng nghĩa vụ. Biện pháp này được DSU quy định
như là biện pháp sau cùng của thủ tục giải quyết tranh chấp, và nó chỉ mang tính tạm thời và
không được áp dụng ưu tiên hay thay thế cho việc thực thi đầy đủ các phán quyết và kiến
nghị của DSB.
Đối với việc áp dụng biện pháp ―trả đũa thương mại‖ (hay tạm hoãn thi hành các
nhượng bộ và nghĩa vụ khác) trong các vụ tranh chấp thực tế vẫn còn là vấn đề mới mẽ đối
với nhiều thành viên của WTO, trong đó có Việt Nam. Xét về mục đích, biện pháp này nhằm
đảm bảo lợi ích cho bên có quyền trong vụ tranh chấp, khi mà bên có nghĩa vụ đã khơng chấp
hành các phán quyết, kiến nghị của DSB. Các quy định về nguyên tắc và thủ tục của biện
pháp này tuy được quy định rõ trong DSU (cụ thể là Điều 22), nhưng trong quá trình áp dụng
vào các vụ tranh chấp cụ thể địi hỏi các bên tranh chấp không những hiểu biết rõ về các quy
định này mà còn phải vận dụng chúng vào thực tiễn một cách phù hợp. Và, có thể nói rằng,
mặc dù WTO khơng khuyến khích áp dụng biện pháp này (không được xem là ưu tiên),
nhưng trong chừng mực nào đó, đây là một biện pháp hiệu quả để các thành viên có quyền
lợi bị xâm phạm yêu cầu DSB cho phép bảo vệ lợi ích chính đáng cho mình. Hơn nữa, tác giả
1


có quan tâm đặc biệt đến biện pháp trả đũa thương mại này về các quy định pháp lý cũng như
việc áp dụng chúng trong các vụ tranh chấp cụ thể, nhằm để tìm hiểu rõ hơn về bản chất pháp
lý của các quy định cũng như kinh nghiệm của các thành viên trong các vụ tranh chấp cụ thể.
Chính vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài ―Trả đũa thương mại trong WTO –vấn
đề pháp lý và thực tiễn áp dụng‖ làm đề tài Khóa luận tốt nghiệp cử nhân của mình.

2. Mục tiêu và đối tƣợng nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Thứ nhất là, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ
bản và bản chất của biện pháp ―trả đũa thương mại‖ trong WTO thơng qua việc phân tích các
quy định ngun tắc, thủ tục và điều kiện áp dụng biện pháp trả đũa thương mại trong cơ chế
giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các thành viên WTO. Thứ hai là, tìm hiểu và phân tích
một số nội dung của các vụ tranh chấp cụ thể có liên quan đến biện pháp này; cách thức lập
luận của các bên trong việc bảo vệ quan điểm của mình; cách thức phân tích, lập luận của
Trọng tài viên để đưa ra quyết định giải quyết vụ tranh chấp.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Tập trung nghiên cứu về ―biện pháp trả đũa
thương mại‖ trong WTO, mà cụ thể là quy định tại Điều 22 DSU. Ngoài ra, tác giả cũng tiếp
cận các văn bản đăng tải trên Trang thông tin điện tử (website) của WTO về các vấn đề có
liên quan của những tranh chấp cụ thể như quyết định của Trọng tài viên, lập luận của các
bên Tranh chấp.
3. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Kể từ trước khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới đến nay, đã có rất
nhiều cơng trình nghiên cứu, cũng như những tài liệu báo cáo hội thảo liên quan của các tác
giả trong nước về ―cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO‖. Đây đều là những đóng góp đáng
kể cho việc tìm hiểu về WTO cũng như về cơ chế giải quyết tranh chấp của nó. Chẳng hạn
như tác phẩm tiêu biểu mà tác giả vinh dự được biết đến là: Sách tham khảo ―Luật Tổ chức
Thương mại thế giới, Tóm tắt và bình luận án‖, của PGS.TS Mai Hồng Quỳ và TS Lê Thị
Ánh Nguyệt, NXB Hồng Đức, Hội Luật gia Việt Nam (2012). Nguyễn Vĩnh Thanh – Lê Thị
Hà – Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO – NXB Lao động
Xã hội năm 2006. Luật thương mại quốc tế - Mai Hồng Quỳ - Trần Việt Dũng – NXB Đại
học Quốc gia TP.HCM năm 2005. Hoàng Ngọc Thiết – Giải quyết tranh chấp giữa các nước
2


thành viên của WTO – NXB Chính trị quốc gia năm 2004. Viện Thông tin Khoa học xã hội –
WTO những nguyên tắc cơ bản – NXB Khoa học xã hội năm 2003. Sách ―Hệ thống thương
mại thế giới – Luật và chính sách về các quan hệ kinh tế quốc tế‖ của John H. Jackson, Bản

dịch của Phạm Viêm Phương, Huỳnh Văn Thanh, Nhà xuất bản Thanh niên (2001); Sách ―Tổ
chức thương mại thế giới (WTO)‖, của Bộ Ngoại giao, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
(2000); ―Tăng cường thủ tục của GATT để giải quyết tranh chấp thương mại‖ của Ernst –
Ulchich Petersmann, Tạp chí Kinh tế thế giới;....
Ngồi ra, cịn có một số luận văn, luận án cũng nghiên cứu về Cơ chế giải quyết
tranh chấp của WTO, điển hình là: Mai Thế Đức Anh Luận văn thạc sỹ luật học ―Giải quyết
tranh chấp trong Thương mại quốc tế với việc thực hiện hiệp định thương mại Việt – Mỹ và
gia nhập WTO‖ 2004. Trần Thị Diễm Huyền – Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO – Cơ
chế nhằm đưa ra giải pháp tích cực – Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật năm 2007.
Tuy nhiên, các cơng trình trên chỉ đề cập một cách sơ lược đến đến ―biện pháp trả
đũa thương mại‖ như là một biện pháp thực thi quyết định giải quyết tranh chấp mà thực tế
chưa có đề tài chuyên biệt nào tìm hiểu sâu về các quy định của biện pháp này theo Điều 22
DSU, đặc biệt là tiếp cận theo phương pháp ―case –study‖.
4. Phạm vi nghiên cứu
Như tên gọi của đề tài, Khóa luận sẽ giới hạn phạm vi nghiên cứu về ―biện pháp trả
đũa thương mại trong WTO‖, cụ thể là ―một số vấn đề pháp lý‖ và ―thực tiễn áp dụng‖ nhằm
thực hiện hai mục tiêu chính của đề tài. Theo đó, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu Thỏa thuận
DSU mà đặc biệt là các quy định tại Điều 22, cũng như các Quyết định của Trọng tài viên
theo thủ tục liên quan đến biện pháp này trong một số vụ tranh chấp cụ thể. Vì thời gian và
năng lực nghiên cứu còn hạn chế nên trong Khóa luận này tác giả khơng nghiên cứu việc ứng
dụng kinh nghiệm của các nước đối với Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong Khóa luận này, tác giả khơng áp dụng phương pháp nghiên cứu đặc biệt nào. Tác
giả vận dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến như: lý luận chung về Nhà nước và Pháp
luật phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách đối ngoại
3


và quan điểm hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế; quá trình nghiên cứu chủ yếu sử dụng các
phương pháp hệ thống hóa, phân tích, so sánh, tổng hợp và qui nạp.

6.

Ý nghĩa khoa học và phạm vi ứng dụng của đề tài
Với khả năng hạn chế của mình, tác giả khơng xem mình là người tiên phong trong
việc nghiên cứu chuyên sâu đề tài này. Bằng niềm đam mê nghiên cứu khoa học cùng với sự
quan tâm đặc biệt đối với đề tài, tác giả hy vọng Khóa luận sẽ có những ý nghĩa tham khảo
nhất định cho quá trình học tập và nghiên cứu của các bạn sinh viên chuyên ngành pháp lý.
Các nghiên cứu của tác giả trong Khóa luận, sẽ giúp ích cho những người có quan tâm đến đề
tài này tìm hiểu sâu hơn về biện pháp ―trả đũa thương mại‖ theo quy định của WTO cả về
mặt lý luận và thực tiễn áp dụng một cách hệ thống hơn.
Các quy định về biện pháp ―trả đũa thương mại‖ và việc ứng dụng chúng vào quá trình
giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế giữa các thành viên WTO còn khá mới mẻ đối với
Việt Nam; nhưng tác giả cũng nhận thấy rằng viêc áp dụng các biện pháp này đối với các vụ
tranh chấp mà Việt Nam tham gia là chưa có tính cấp thiết, do đó, trong phần mục tiêu và
phạm vi nghiên cứu của Khóa luận (đã trình bày ở trên), tác giả không đưa nội dung ―bài học
kinh nghiệm đối với Việt Nam‖ vào nghiên cứu. Tuy nhiên, chúng ta không thể khẳng định
rằng ―trong tương lai, Việt Nam sẽ không rơi vào trường hợp chọn lựa áp dụng biện pháp trả
đũa thương mại‖ trong giải quyết tranh chấp của mình, vì thế Đề tài này và các cơng trình
nghiên cứu cụ thể của nó (Khóa luận của tác giả và kể cả các cơng trình khác sau này) khơng
những chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà trong một chừng mực nhất định sẽ cịn có ý nghĩa
về mặt thực tiễn.
Do tài liệu tham khảo chủ yếu bằng Tiếng Anh, nên chắc chắc không thể tránh khỏi
những thiếu sót về văn phong và cách dùng từ ngữ. Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng
góp của quý Thầy Cơ và các bạn.
7. Cấu trúc của đề tài
Ngồi phần lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Khóa
luận được chia làm hai (02) chương:
Chương 1: Khái quát về trả đũa thương mại trong WTO.
4



Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về trả đũa thương mại trong vụ kiện Chuối
(DS27) và Thịt bò (DS48).

5


CHƢƠNG I. KHÁI QUÁT VỀ TRẢ ĐŨA THƢƠNG MẠI TRONG WTO
Theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO thì ―trả đũa‖ được quy định như là
―biện pháp cuối cùng‖ mà DSU quy định cho Thành viên đã khởi kiện theo các thủ tục giải
quyết tranh chấp DSU khả năng để đình chỉ áp dụng các nhượng bộ hay nghĩa vụ khác theo
các Hiệp định có liên quan trên cơ sở có sự phân biệt đối xử với Thành viên khác với điều
kiện được DSB cho phép thực hiện những biện pháp như vậy.1 Tuy nhiên pháp luật của một
(một số) quốc gia trên thế giới cũng có những quy định về biện pháp trả đũa thương mại, điển
hình là quy định tại Điều 301 của Đạo luật Thương mại Hoa Kỳ.
Chính vì vậy, cần có sự hiểu biết rõ ràng hơn các quy định về biện pháp trả đũa
thương mại này để phân tích việc áp dụng chúng vào các vụ kiện trong thực tế. Và để trả lời
cho các câu hỏi cần được làm rõ : Biện pháp trả đũa thương mại trong WTO có những đặc
điểm gì khác với quy định về trả đũa của pháp luật một quốc gia? Trả đũa thương mại trong
WTO xuất hiện trong giai đoạn nào của quá trình giải quyết tranh chấp? Chủ thể nào được
phép yêu cầu trả đũa và phải đáp ứng các điều kiện gì? Có phải các bên tranh chấp đều có thể
áp dụng trả đũa lẫn nhau nếu như lợi ích của mình bị bên kia xâm phạm hay không? Nếu
được áp dụng biện pháp trả đũa thì phải tuân theo những nguyên tắc nào? Và việc áp dụng
biện pháp trả đũa sẽ thay thế cho việc thực thi phán quyết và kiến nghị của WTO? Một yêu
cầu trả đũa có thể có sự tham gia của bên thứ ba hay không?
1.

Khái quát chung về trả đũa thƣơng mại

1.1 Sơ lƣợc về ―trả đũa thƣơng mại‖2

“Trả đũa”: Việc áp dụng biện pháp ―trả đũa‖ mang tính ―đáp trả‖, ―đối lại‖, mang
lại những gì mà bên kia đã mang đến cho mình (theo nghĩa tiêu cực) hay nói cách khác là gây
1
2

Điều 3.7 DSU
Tác giả khơng sử dụng từ ―Thuật ngữ‖ trả đũa thương mại vì trong khn khổ Khóa luận này chưa trình bày được các

định nghĩa của các học giả lớn trong và ngoài nước về ―thuật ngữ‖ này. Tác giả chỉ khái quát sơ lược về cách hiểu thông
thường của cụm từ ―trả đũa thương mại‖ (vì thuật ngữ trong WTO gọi là ―tạm hoãn thi hành các nhượng bộ hoặc nghĩa vụ
khác‖). Trong luận văn cịn dùng các thuật ngữ mang tính thay thế cho hai thuật ngữ này như: tạm hỗn, đình chỉ, trả đũa...
Tác giả xin phép không đi sâu vào phân tích từ ngữ Tiếng Việt mà chủ yếu bám sát các quy định nguyên văn của WTO và
DSU.

6


cho bên kia những mất mát, tổn thương, thiệt hại mà mình đã phải gánh chịu từ bên đó. Và
ngun nhân của việc trả đũa này là từ sự không hài lịng, khơng thống nhất giữa các bên để
có thể đưa ra một giải pháp hài hòa, một thỏa thuận thích hợp cho cả hai bên. Như vậy, trả
đũa thường là áp dụng khi đã có một bên gây ra tổn thất cho một bên, và các bên khơng có
giải pháp nào thích hợp hơn, nên bên bị thiệt hại tìm cách bảo vệ lợi ích của mình bằng cách
gây ra thiệt hại (trả lại thiệt hại) cho bên kia. Việc trả đũa này cũng có thể ở mức thấp, mức
cân bằng hoặc cũng có thể là cao hơn so với thiệt hại mà bên muốn trả đũa đã phải chịu
(nghĩa là tùy thuộc vào ý chí chủ quan của bên muốn trả đũa), tuy nhiên quan điểm của tác
giả cho rằng việc trả đũa cân bằng vẫn nên được xem là hợp lý hơn. Bởi lẽ, nếu bên này ―trả
đũa‖, mang lại thiệt hại cao hơn so với những gì nó đã chịu đựng thì rất có thể gây ra phản
ứng ngược lại từ bên kia và kéo theo một sự đáp trả trở lại, và như vậy mâu thuẫn trở nên rất
phức tạp làm cho các bên khó mà giải quyết tốt được.
“Thương mại”: Theo Ủy ban của Liên Hiệp Quốc về Luật thương mại quốc tế

(UNCITRAL), thuật ngữ ―thương mại‖ được hiểu theo nghĩa rộng: tất cả các vấn đề phát
sinh từ các quan hệ mang tính chất thương mại, dù có hay khơng có hợp đồng; các giao dịch
xuyên biên giới. Như vậy, thương mại mang tính chất giao thương, trao đổi, bn bán giữa
các bên. Một cách cơ bản nhất ta có thể hiểu rằng trả đũa thương mại là một cách thức, một
biện pháp thương mại, liên quan đến thương mại mà một bên dùng để áp dụng lại cho một
bên khác, nhằm mang lại (trả lại) cho bên đã gây ra thiệt hại, tổn thất cho mình với một mức
độ nào đó. Trong thương mại quốc tế, thì trả đũa thương mại có thể được xem là việc mà ở
đó các bên đã chịu tổn thất tìm cách tạm hỗn hay đình chỉ việc thi hành các nhượng bộ
thương mại hay nghĩa vụ thương mại mà các bên đã thỏa thuận với nhau trước đó.
1.2 Trả đũa thƣơng mại theo pháp luật của Hoa Kỳ
Tác giả mong muốn được tìm hiểu và phân tích các qui định về biện pháp trả đũa
thương mại của một số Thành viên WTO, tuy nhiên trong khuôn khổ của Khóa luận này, tác
giả xin chọn giới thiệu sơ nét về quy định tại Điều 301 của Đạo Luật Thương mại Hoa Kỳ

7


năm 19743, và từ đó làm nổi bật lên những đặc trưng của các quy định về trả đũa thương mại
trong Luật WTO.
Giữa những năm 1970 và 1980, để đối phó với sự tăng lên của thâm hụt thương mại,
những thực tiễn thương mại khơng cơng bằng bên ngồi, và sự thất vọng trước hệ thống giải
quyết tranh chấp yếu kém của GATT, Hoa Kỳ có xu hướng ngày càng quay sang áp dụng
luật quốc gia để xử lý các tranh chấp thương mại. Đặc biệt, quan điểm ―đơn phương‖ để giải
quyết các tranh chấp thương mại đã được Quốc hội Hoa Kỳ ban hành dưới hình thức Điều
khoản 301 của Đạo Luật Thương mại năm 1974. Điều 301 cho phép (và trong một số trường
hợp, đòi hỏi) Tổng thống áp đặt sự trừng phạt ―trả đũa thương mại‖ đối với những nước có
hành vi ―khơng biện minh được, có tính phân biệt đối xử, hoặc khơng cơng bằng‖ theo sự xác
định của Đại diện Thương mại Hoa Kỳ. Như vậy, khi một chính phủ nước ngồi ngăn chặn
quy trình giải quyết tranh chấp của GATT, chính phủ Hoa Kỳ thường ở vào vị trí đe dọa trả
đũa thương mại ―đơn phương‖ chống lại chính phủ đó, trừ khi chính phủ đó đồng ý thay đổi

hành vi thương mại của mình phù hợp với các yêu cầu của Hoa Kỳ4. Lưu ý là Luật pháp của
Hoa Kỳ ghi nhận rằng Pháp luật quốc gia được xem là tối thượng và có giá trị pháp lý cao
hơn cả Các thỏa thuận quốc tế. Và do đó, quan điểm giải quyết tranh chấp này của Hoa Kỳ đã
không được tất cả các nước ủng hộ. Vì vậy, ngăn chặn chủ nghĩa đơn phương của Hoa Kỳ là
một trong những nhân tố nổi bật nhất đối với lợi ích của Nhật Bản và EC (hai thành viên có
nhiều khả năng nhất bị Hoa Kỳ đơn phương áp dụng trả đũa trong các tranh chấp thương
mại) tại vòng đàm phán bàn về cải cách cơ chế giải quyết tranh chấp.
Kết quả của vòng đàm phán là có một DSU vận hành gần như giống với Điều luật
3015 của Hoa Kỳ để tạo ra sự khuyến khích các nước tuân thủ nghĩa vụ WTO của mình,
3
4

Nguồn : Trang Web ĐSQ Hoa Kỳ tại Hà Nội />John H. Barton, Judith L.Gooldstein, Timothy E. Josling và Richard H. Steinberg, tlđd, trang 158 và 159.
5
Ðiều 301 của Đạo Luật Thương mại 1974 là luật quan trọng nhất của Mỹ để thực hiện quyền của các công ty Mỹ
trong khuôn khổ của các hiệp định thương mại hiện hành, để thúc đẩy việc tiếp cận thị trường nước ngoài cho hàng hoá
và dịch vụ của Mỹ, và để ngăn chặn những hành vi nhất định của nước ngoài như xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Luật này thiết lập một quy trình để Văn phịng Ðại diện thương mại Mỹ điều tra những hành vi của nước ngoài
và thảo luận với chính phủ nước ngồi để tìm kiếm một cách giải quyết những tranh chấp, mà có thể là thoả thuận cấp
chính phủ để ngăn chặn những hành động xâm phạm, hoặc để bồi thường lợi ích cho Mỹ. Nếu khơng có một thoả thuận
vừa ý, luật này u cầu Ðại diện Thương mại Mỹ sử dụng thủ tục giải quyết tranh chấp đã có theo hiệp định thương mại
được áp dụng. Ví dụ, năm 1996 có 9 vụ vi phạm điều 301 đã chuyển sang thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO. Nếu
bước này vẫn chưa đưa ra được một giải pháp vừa ý đối với tranh chấp, Ðại diện Thương mại Mỹ có thể tiến hành một

8


nhưng cũng có ý nghĩa khác là để kiềm chế chủ nghĩa đơn phương của Hoa Kỳ (khi mà các
nước đã tuân thủ). Theo đó, Đại diện thương mại Hoa Kỳ có thể khơng đơn phương trả đũa
nếu cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (DSB) kết luận rằng chính phủ nước ngồi đó

hành động khơng phù hợp với Luật WTO. Nhưng nếu kết luận của DSB cho rằng hành động
đó khơng phù hợp với WTO (mà chính phủ đó lại khơng tn thủ kết luận của DSB) thì Đại
diện thương mại Hoa Kỳ sẽ tiến hành đơn phương trả đũa. Bởi lẽ, lịch trình giải quyết của
DSU đã được soạn thảo gần như tương đồng với kế hoạch điều tra và trả đũa được quy định
trong Điều 301 này (vì tồn tại những đề xuất và ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong tiến trình đàm
phán cải cách)6. Qui định trong Điều khoản 301(a)(3) của Đạo luật Thương mại 1974
(19.U.S.C.2411 (a)(3)7), theo đó cho phép Đại diện thương mại Hoa Kỳ áp dụng trả đũa
―tương đương theo giá trị đối với cản trở hay hạn chế áp dụng đặt lên thương mại của Hoa
Kỳ‖8 có điểm gần với qui định của WTO.
Cách thức đe dọa trả đũa sẽ áp dụng ở một chừng mực nào đó thường làm cho bên bị
đe doạ bị áp lực và cho thấy tốt hơn là nên chấp hành, tuân thủ các quy định của WTO.
Chẳng hạn, theo các quy định kèm theo Điều 301, Hoa Kỳ sẽ công bố một danh sách các
trường hợp dự kiến sẽ bị trả đũa trong Công bố Liên bang 30 ngày trước ngày trả đũa có hiệu
lực. Thông thường, bản danh sách các trường hợp dự kiến sẽ bị trả đũa sẽ làm cho các nhà
sản xuất có thế lực chính trị trong nước vi phạm rơi vào thế chống lại các nhà sản xuất, ngành

số bước khác, có thể bao gồm việc tạm hỗn những thoả thuận của hiệp định thương mại, ấn định thuế hoặc hạn chế
nhập khẩu, và thu phí hoặc đưa ra hạn chế đối với các dịch vụ.
Việc xúc tiến các vụ kiện theo điều 301 có thể trên cơ sở đơn kiện trong nước hoặc do Ðại diện Thương mại
Mỹ độc lập tiến hành. Quốc hội quy định rằng Ðại diện Thương mại Mỹ sẽ tiến hành đánh giá hàng năm các hàng rào
của nước ngồi, kết quả này được cơng bố hàng năm dưới dạng "Báo cáo Ðánh giá Thương mại Quốc gia về các Hàng
rào Ngoại thương" (National Trade Estimate Report on Foreign Trade), còn được gọi là báo cáo NTE.
Ðại diện Thương mại Mỹ phải quyết định nước nào cần xem xét trong vòng 30 ngày sau khi công bố Báo cáo
NTE. Nếu một đối tác thương mại rơi vào danh sách "các nước ưu tiên", trong vòng 30 ngày Ðại diện Thương mại Mỹ
sẽ phải quyết định có cần tiến hành một cuộc điều tra về các luật, chính sách, thơng lệ được coi là cơ sở để xét đó là một
nước ưu tiên. Các nước đã được xác định sẽ có thể là đối tượng của điều 301.
6
John H. Barton, Judith L.Gooldstein, Timothy E. Josling và Richard H. Steinberg, tlđd, trang 168.
7
(a) Mandatory action

(3) ―Any action taken under paragraph (1) to eliminate an act, policy, or practice shall be devised so as to affect goods
or services of the foreign country in an amount that is equivalent in value to the burden or restriction being imposed
by that country on United States commerce.‖
8
Rajbhala – Luật thương mại quốc tế: Những vấn đề lý luận và thực tiễn – NXB Tư pháp, tr.202.

9


công nghiệp đã ủng hộ biện pháp của nước vi phạm9. Và bằng cách này, rất có thể sẽ huy
động sức mạnh chính trị đủ lớn trong nội bộ nước vi phạm hiệp định để gây ảnh hưởng đến
việc xây dựng những cải cách phù hợp với WTO. Tuy nhiên, việc đơn phương áp dụng biện
pháp trả đũa của Hoa Kỳ sẽ khó có thể mang tính khách quan và cơng bằng cho các nước
khác, và rất có thể gây ra hiện tượng ―lạm dụng‖, đi ngược lại các nguyên tắc chung của
WTO và gây tổn hại đến nền thương mại của các nước bị đe dọa.
1.3 Trả đũa thƣơng mại trong WTO
1.3.1 Cơ sở pháp lý10
Trong các qui định về giải quyết tranh chấp trước đây của GATT, biện pháp ―trả
đũa‖ theo Điều XXIII.211 là có thể thực hiện được nếu Hội đồng GATT thông qua. Thực tế,
sau gần 50 năm tồn tại của GATT 1947, Hội đồng GATT mới chỉ duy nhất một lần cho phép
Hà Lan áp dụng biện pháp trả đũa đối với Hoa Kỳ trong vụ kiện về những biện pháp hạn chế
nhập khẩu sản phẩm sữa năm 1952 của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, sau đó Hà Lan đã khơng áp dụng
biện pháp trả đũa.
Tại Điều 22 của DSU quy định về ―Bồi thường‖ và ―Tạm hỗn thi hành các nhượng
bộ‖ (hay cịn gọi là trả đũa thương mại). Điều này khẳng định rằng việc bồi thường và tạm
hoãn thi hành các nhượng bộ hoặc nghĩa vụ khác là những biện pháp tạm thời được đưa ra
trong trường hợp các kiến nghị và phán quyết không được thực hiện trong khoảng thời gian
hợp lý xác định tại Điều 21.3 DSU12.
9


John H. Barton, Judith L.Gooldstein, Timothy E. Josling và Richard H. Steinberg, Sự tiến hóa của Định chế thương mại,
người dịch Vũ Tiến Phúc – Huỳnh Hoa, Nhà xuất bản Trẻ, Thời Báo Kinh tế Sài Gòn- Sài Gòn Foundation (2007), trang
169.
10

Xem thêm Phụ lục 4 trích dẫn tồn bộ Điều 22 DSU và ngun văn Tiếng Anh.
Trích Điều XXIII.2 GATT 1947 ―If no satisfactory adjustment is effected between the contracting parties concerned
within a reasonable time, or if the difficulty is of the type described in paragraph 1 (c) of this Article, the matter may be
referred to the CONTRACTING PARTIES.[...]. If the CONTRACTING PARTIES consider that the circumstances are
serious enough to justify such action, they may authorize a contracting party or parties to suspend the application to any
other contracting party or parties of such concessions or other obligations under this Agreement as they determine to be
appropriate in the circumstances. If the application to any contracting party of any concession or other obligation is in
fact suspended, that contracting party shall then be free, not later than sixty days after such action is taken, to give written
notice to the Executive Secretary to the Contracting Parties of its intention to withdraw from this Agreement and such
withdrawal shall take effect upon the sixtieth day following the day on which such notice is received by him.‖
12 Điều 21.3 DSU 3. Tại cuộc họp của DSB được tổ chức trong vòng 30 ngày sau ngày thông qua báo cáo của ban hội

thẩm hoặc Cơ quan Phúc thẩm, Thành viên liên quan phải thơng báo cho DSB về các dự định của mình đối với việc
thực hiện các khuyến nghị và phán quyết của DSB. Nếu không thể thực hiện được việc tuân theo ngay lập tức các
11

10


Điều này cũng nhấn mạnh rằng, biện pháp trả đũa thương mại này không được xem
là biện pháp ưu tiên hơn việc thực hiện đầy đủ khuyến nghị của DSB để làm cho một biện
pháp phù hợp với các Hiệp định liên quan13. Mức độ tạm hoãn thi hành những nhượng bộ
hoặc những nghĩa vụ khác được DSB cho phép phải tương ứng với mức độ triệt tiêu hoặc gây
phương hại. Trong khi đó, DSB khơng được cho phép tạm hoãn thi hành các nhượng bộ hoặc
những nghĩa vụ khác nếu hiệp định có liên quan cấm việc tạm hỗn thi hành như vậy. Khi

tình huống tại Điều 22.2 DSU xảy ra (bên có nghĩa vụ khơng tn thủ khi hết thời gian hợp
lý), theo yêu cầu, DSB phải cho phép tạm hoãn thi hành các nhượng bộ hoặc những nghĩa vụ
khác trong vòng 30 ngày kể từ ngày thời hạn hợp lý kết thúc, trừ khi DSB có quyết định trên
cơ sở đồng thuận từ chối yêu cầu đó.
Các thành viên cần phải tuân thủ thứ tự ưu tiên về việc chọn lựa một trong ba loại
biện pháp trả đũa thương mại theo Điều 22.3 DSU14. Tuy nhiên, nếu Thành viên có liên quan
phản đối mức độ tạm hỗn được đề xuất, hoặc khiếu nại rằng những nguyên tắc và thủ tục
nêu tại Điều 22.3 DSU chưa được tuân thủ khi bên nguyên đơn yêu cầu cho phép tạm hỗn

khuyến nghị và phán quyết thì Thành viên liên quan phải có một khoảng thời gian hợp lý để thực hiện. Khoảng thời
gian hợp lý phải là:
(a)
khoảng thời gian do Thành viên có liên quan đề xuất, với điều kiện là thời hạn đó được DSB thơng qua; hoặc,
nếu khơng được thơng qua như vậy, thì là
(b)
khoảng thời gian được các bên tranh chấp thỏa thuận trong vòng 45 ngày sau ngày thông qua các khuyến nghị và
phán quyết; hoặc, nếu không đạt được thỏa thuận như vậy giữa các bên, thì là
(c)
khoảng thời gian được xác định thơng qua quyết định trọng tài có giá trị ràng buộc trong vịng 90 ngày sau ngày
thơng qua các khuyến nghị và phán quyết. Trong tố tụng trọng tài như vậy thì một hướng dẫn đối với trọng tài viên là
khoảng thời gian hợp lý để thực hiện các khuyến nghị và phán quyết của ban hội thẩm hay Cơ quan Phúc thẩm, không
được vượt quá 15 tháng kể từ ngày thông qua báo cáo của ban hội thẩm hoặc của Cơ quan Phúc thẩm. Tuy nhiên, thời
gian đó có thể dài hoặc ngắn hơn, tùy thuộc vào các trường hợp cụ thể.‖
13
Nguyên văn Điều 22.1 và 22.2 DSU : ―Article 22: Compensation and the Suspension of Concessions
1. Compensation and the suspension of concessions or other obligations are temporary measures available in the
event that the recommendations and rulings are not implemented within a reasonable period of time. However, neither
compensation nor the suspension of concessions or other obligations is preferred to full implementation of a
recommendation to bring a measure into conformity with the covered agreements. Compensation is voluntary and, if
granted, shall be consistent with the covered agreements.

2. If the Member concerned fails to bring the measure found to be inconsistent with a covered agreement into
compliance therewith or otherwise comply with the recommendations and rulings within the reasonable period of time
determined pursuant to paragraph 3 of Article 21, such Member shall, if so requested, and no later than the expiry of the
reasonable period of time, enter into negotiations with any party having invoked the dispute settlement procedures, with
a view to developing mutually acceptable compensation. If no satisfactory compensation has been agreed within 20
days after the date of expiry of the reasonable period of time, any party having invoked the dispute settlement
procedures may request authorization from the DSB to suspend the application to the Member concerned of
concessions or other obligations under the covered agreements.‖
14
Xem thêm phân tích của tác giả tại trang 33, 34, 35 trong Khóa luận này.

11


nhượng bộ hoặc những nghĩa vụ khác theo khoản 3(b) hoặc (c), thì vấn đề này phải được đưa
ra trọng tài. Việc phân xử bằng trọng tài như vậy phải do Ban hội thẩm ban đầu tiến hành,
nếu các thành viên chấp nhận, hoặc do một Trọng tài viên 15 được Tổng Giám đốc chỉ định và
việc xét xử của trọng tài phải được hồn tất trong vịng 60 ngày sau ngày thời hạn hợp lý kết
thúc. Các ―nhượng bộ hoặc những nghĩa vụ khác‖ giữa các bên phải không bị tạm hỗn trong
q trình phân xử của trọng tài.
Trọng tài viên xem xét bản chất của những nhượng bộ hoặc những nghĩa vụ khác bị
tạm hoãn nhưng phải quyết định liệu mức tạm hỗn có tương ứng với mức triệt tiêu hay gây
phương hại hay không. Trọng tài viên cũng có thể quyết định liệu đề xuất tạm hỗn những
nhượng bộ hoặc các nghĩa vụ khác có được phép hay khơng theo hiệp định có liên quan. Tuy
nhiên, nếu vấn đề được đưa ra trọng tài bao gồm cả khiếu nại rằng những nguyên tắc và thủ
tục được nêu ra tại khoản 3 của Điều 22 DSU chưa được tuân thủ, Thì trọng tài viên phải
xem xét khiếu nại đó. Trong trường hợp trọng tài viên xác định rằng những nguyên tắc và thủ
tục đó chưa được tuân thủ thì bên nguyên đơn phải áp dụng chúng phù hợp với khoản 3 này.
Các bên phải chấp nhận quyết định của trọng tài là quyết định chung thẩm và các bên liên
quan phải không được yêu cầu giải quyết bằng trọng tài lần thứ hai (cho cùng một yêu cầu).

DSB phải được thơng báo nhanh chóng về quyết định của trọng tài và cho phép theo yêu cầu
tạm hoãn nhượng bộ hoặc các nghĩa vụ khác, khi có yêu cầu, phù hợp quyết định của trọng
tài, trừ khi DSB quyết định trên cơ sở đồng thuận bác bỏ yêu cầu này.
Quy định của DSU chỉ rõ việc tạm hoãn thi hành các nhượng bộ và các nghĩa vụ
khác chỉ là tạm thời và chỉ được áp dụng cho tới khi biện pháp được coi là không phù hợp
với hiệp định có liên quan được loại bỏ, hoặc Thành viên phải thực hiện những khuyến nghị
hoặc phán quyết đưa ra giải pháp đối với việc triệt tiêu hoặc làm phương hại đến lợi ích, hoặc
đã đạt được một giải pháp thoả đáng cho cả hai bên. DSB phải tiếp tục duy trì giám sát việc
thực hiện những khuyến nghị hoặc phán quyết đã được thông qua (theo như quy định tại
Điều 21.6 DSU), kể cả những trường hợp trong đó đã thực hiện bồi thường hoặc các trường
hợp trong đó các nhượng bộ hoặc các nghĩa vụ khác đã bị tạm hoãn nhưng những khuyến
15

Thuật ngữ ―Trọng tài viên‖ cần được hiểu là nói tới một cá nhân hoặc một nhóm hoặc các Thành viên của Ban hội thẩm
ban đầu khi làm việc với tư cách Trọng tài viên.

12


nghị yêu cầu điều chỉnh một biện pháp cho phù hợp với những hiệp định có liên quan vẫn
chưa được thực hiện.
Như vậy, biện pháp trả đũa trong WTO được dùng thuật ngữ ―tạm hoãn thi hành
những nhượng bộ hay những nghĩa vụ khác‖ đối với thành viên không tuân thủ nghĩa vụ.
Biện pháp này cũng được quy định các quy tắc, thủ tục riêng khi áp dụng, tác giả sẽ tiếp tục
phân tích ngay trong phần tiếp theo, sau khi giới thiệu tổng quan về cơ chế giải quyết tranh
chấp của WTO để thấy rõ được vị trí của trả đũa trong quá trình giải quyết tranh chấp được
quy định như thế nào.
1.3.2 Khái quát cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
1.3.2.1 Tổng quan về cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
DSU đã khẳng định rằng, Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO là một nhân tố

trung tâm trong việc tạo ra an toàn và khả năng dự đoán trước cho hệ thống thương mại đa
phương. Trong đó, các Thành viên thừa nhận rằng hệ thống này ra đời nhằm bảo toàn các
quyền và nghĩa vụ của các Thành viên theo các hiệp định có liên quan và nhằm làm rõ những
điều khoản hiện hành của những Hiệp định đó trên cơ sở phù hợp với các quy tắc tập qn
giải thích cơng pháp quốc tế (trích Điều 3.2 DSU). Chính vì vậy, mục đích của cơ chế giải
quyết tranh chấp là để đảm bảo có một ―giải pháp tích cực‖ đối với vụ tranh chấp, và ưu tiên
cho những giải pháp mà các bên ―chấp nhận được‖ và phù hợp với những Hiệp định có liên
quan. Tuy nhiên, một khi không đạt được giải pháp mà các bên cùng nhất trí (cùng chấp nhận
được) thì mục tiêu số một của cơ chế giải quyết tranh chấp sẽ thường là đảm bảo việc thu hồi
những biện pháp thương mại không phù hợp với các quy định của những Hiệp định liên quan
(Điều 3.7 DSU) mà được DSB thông qua trong phán quyết hoặc kiến nghị của mình. Vậy,
DSU đã quy định như thế nào để có thể đạt được mục đích trên? Và các quy định của thời kỳ
trước WTO có quy định như thế nào về biện pháp này hay không?
Hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT 1947 từng được coi là một trong những
nền tảng của trật tự thương mại đa phương. Theo đó, khi một khiếu nại được đưa ra, Ban thư
ký sẽ giúp thành lập một hội đồng xét xử, nếu hội đồng xét xử phát hiện khiếu nại là đúng và
bên khiếu nại không ngăn chặn sự đồng thuận để thơng qua báo cáo của hội đồng xét xử, thì
bên vi phạm sẽ bị buộc phải thay đổi hành vi của mình. ―Trong trường hợp khơng có sự thay
13


đổi trong thực tế, thì chẳng thể có thể làm gì hơn là biện pháp trả đũa – mặc dù hành động
này cũng đòi hỏi sự đồng thuận‖16. Đến những năm 1980, các thủ tục giải quyết tranh chấp
mới được chính thức hóa trong một loạt bản ghi nhớ giữa các bên tham gia, nêu rất cụ thể cơ
cấu, thời gian và quy tắc giải quyết tranh chấp. Tuy có những thay đổi này, nhưng các nội
dung cơ bản của việc giải quyết tranh chấp vẫn không thay đổi nhiều. Các bên tham gia phải
đồng ý bằng nguyên tắc đồng thuận (consensus) – đồng ý tuyệt đối để thiết lập một hội đồng
xét xử và thông qua báo cáo của Hội đồng xét xử, và để ủy quyền mọi biện pháp trả đũa nếu
có bên nào vẫn duy trì biện pháp được cho là khơng phù hợp. Do đó, đơi khi bên bị kiện đã
cố ý ngăn cản sự đồng thuận để ngăn cản sự chuyển các bước của quy trình giải quyết tranh

chấp17. Và khi số lượng các Thành viên của GATT tăng lên thì số lượng các vụ tranh chấp
cũng tăng theo đó, và các hạn chế của thủ tục giải quyết tranh chấp của GATT càng bộc lộ
rõ. Chính vì những lý do này mà tại Vịng đàm phán Uruguay, các Thành viên đã nhất trí
thơng qua việc xây dựng Hệ thống Giải quyết tranh chấp của WTO.
Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO mang đến sự tự động cao hơn trong các
quyết định về việc thành lập, điều khoản tham chiếu và thành phần của Ban hội thẩm, như
vậy những quyết định thông qua này khơng cịn phụ thuộc vào sự đồng ý của các bên tranh
chấp. So với GATT, thì các qui định của WTO về giải quyết tranh chấp đã có bước phát triển
rất lớn. Mặc dù căn cứ khởi kiện là như nhau (Điều XXII, Điều XXIII của GATT) về giải
quyết tranh chấp. Tuy nhiên, WTO cịn có cả Bản ghi nhớ của Vòng đàm phán Uruguay về
Thỏa thuận về các Quy tắc và Thủ tục điều chỉnh việc giải quyết các tranh chấp (DSU)18 gồm
27 điều và 4 phụ lục, điều chỉnh toàn bộ các thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp. Hệ thống
giải quyết tranh chấp của WTO đã khắc phục những khiếm khuyết của hệ thống giải quyết
tranh chấp của GATT 1947: thứ nhất là tính thống nhất trong q trình giải quyết tranh
chấp; thứ hai là tính đề cao vai trị pháp luật trong q trình giải quyết tranh chấp; thứ ba là
đảm bảo tính nhanh chóng, hiệu quả của quá trình giải quyết tranh chấp.

16

John H. Barton, Judith L.Gooldstein, Timothy E. Josling và Richard H. Steinberg, tlđd, trang 156.
John H. Barton, Judith L.Gooldstein, Timothy E. Josling và Richard H. Steinberg, tlđd, tr 157.
18
Dispute Settlement Understanding là phụ lục II của Hiệp định WTO được các thành viên ký kết tại vòng đàm phán
Uruguay và bắt đầu có hiệu lực từ năm 1995.
17

14


Các quy định của DSU tập trung vào việc đưa ra các thủ tục để giải quyết tranh chấp

liên quan đến việc thực thi các cam kết của các Hiệp định. Trọng tâm của DSU đặt vào việc
thi hành các nghĩa vụ của các Thành viên liên quan. DSU đã tiếp tục tăng cường một cách
đáng kể cho các quy định giải quyết tranh chấp theo GATT trước đây, đồng thời mở rộng sự
tự động hóa cao trong việc áp dụng thủ tục Ban hội thẩm và thủ tục của Cơ quan Phúc thẩm
thường trực.
Thực chất thì DSB cũng là Đại hội đồng của WTO bao gồm các thành viên của cơ
quan này nhưng hoạt động theo một thủ tục độc lập và có Chủ tịch riêng. DSB có các thẩm
quyền cụ thể sau: thành lập Ban hội thẩm để giải quyết từng tranh chấp cụ thể khi có yêu cầu
của nguyên đơn; thành lập và giám sát hoạt động của cơ quan phúc thẩm; thông qua báo cáo
của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm; bảo đảm và giám sát việc thực thi các phán quyết
và kiến nghị của các cơ quan nói trên bằng cách cho phép áp dụng các biện pháp trả đũa hay
đình chỉ thi hành những nhượng bộ và các nghĩa vụ khác theo các Hiệp định liên quan. DSB
có nghĩa vụ thơng báo với các Hội đồng và ủy ban có liên quan về những diễn biến của tranh
chấp liên quan tới các Hiệp định thuộc phạm vi điều chỉnh của WTO.
DSU quy định một hệ thống xét xử hai cấp: Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm.
DSB sẽ thành lập ra Ban hội thẩm để giải quyết mọi tranh chấp phát sinh, đồng thời DSB sẽ
giám sát các hoạt động và thông qua báo cáo cuối cùng về giải quyết vụ việc của Ban hội
thẩm. Nếu có kháng cáo thì vụ việc sẽ được chuyển cho Cơ quan phúc thẩm. Thủ tục giải
quyết tranh chấp theo WTO thường trải qua các giai đoạn sau: tham vấn và hòa giải, Ban hội
thẩm, Cơ quan phúc thẩm (nếu có kháng cáo), thi hành các phán quyết và kiến nghị. Nhưng
không phải bất kỳ tranh chấp nào cũng trải qua tất cả các giai đoạn trên mà tùy thuộc vào nội
dung, tính chất phức tạp của tranh chấp và thiện chí của các bên.
DSU nhấn mạnh tầm quan trọng của thủ tục tham vấn bắt buộc trong việc đảm bảo
hiệu quả giải quyết tranh chấp, yêu cầu một Thành viên tham gia vào tham vấn một cách
thiện chí trong vịng 30 ngày kể từ ngày có yêu cầu tham vấn từ một Thành viên khác để cố
gắng đạt được giải pháp thỏa đáng cho các bên (Điều 4.3 DSU). Nếu sau 60 ngày, kể từ ngày
yêu cầu tham vấn mà không giải quyết được tranh chấp, bên nguyên đơn có thể yêu cầu
thành lập Ban Hội thẩm. Trường hợp tham vấn bị từ chối, bên khiếu nại có thể chuyển trực
15



tiếp sang yêu cầu một Ban Hội thẩm. Bên nguyên đơn cũng có thể yêu cầu thành lập Ban hội
thẩm trong thời hạn 60 ngày nói trên nếu các bên tham vấn cùng cho rằng việc tham vấn đã
không giải quyết được tranh chấp (Điều 4.7 DSU). Nếu tranh chấp liên quan đến hàng hóa dễ
hỏng, hoặc các trường hợp khẩn cấp thì thời hạn tiến hành tham vấn là 10 ngày sau khi nhận
được yêu cầu; và nếu sau 20 ngày từ ngày nhận được yêu cầu mà tranh chấp vẫn chưa được
giải quyết thì bên ngun đơn có thể yêu cầu thành lập Ban hội thẩm (Điều 4.8 DSU).
Trường hợp tranh chấp không được giải quyết thông qua tham vấn, nếu bên nguyên
đơn có yêu cầu, một Ban hội thẩm19 phải được thành lập chậm nhất là tại cuộc họp của DSB
tiếp theo cuộc họp mà tại đó yêu cầu này lần đầu tiên được đưa ra như một mục của chương
trình nghị sự DSB, trừ khi tại cuộc họp đó DSB quyết định trên cơ sở đồng thuận không
thành lập Ban hội thẩm (Điều 6.1 DSU). DSU cũng đặt ra những quy tắc và thời hạn cụ thể
để quyết định các điều khoản tham chiếu và thành phần của Ban Hội thẩm. Về tiêu chuẩn
tham chiếu sẽ được áp dụng trừ khi các bên tranh chấp có thỏa thuận khác trong vòng 20
ngày kể từ ngày thành lập Ban hội thẩm (Điều 7.1 DSU). Thủ tục của Ban hội thẩm được
thiết lập chi tiết trong DSU tại phụ lục 3 trừ khi Ban hội thẩm quyết định khác sau khi tham
vấn các bên tranh chấp, đồng thời đảm bảo phải có sự linh hoạt đầy đủ để khơng làm chậm
q trình tố tụng một cách khơng cần thiết (Điều 12.1 và 12.2 DSU). Một Ban hội thẩm
thông thường dự kiến sẽ hồn thành cơng việc của mình trong vòng sáu tháng hoặc, trong
trường hợp khẩn cấp, trong vịng ba tháng. Báo cáo Ban hội thẩm có thể được xem xét thông
qua bởi Cơ quan Giải quyết tranh chấp 20 ngày sau khi được ban hành tới các Thành viên.
Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày ban hành, báo cáo này sẽ được thông qua tại phiên họp

19

Ban Hội thẩm thường bao gồm: ba người có kinh nghiệm thỏa các tiêu chuẩn từ các nước không tham gia tranh chấp
trừ khi các bên tranh chấp có thỏa thuận khác (Điều 8.3 DSU) hoặc nếu là tranh chấp giữa một Thành viên phát triển và
một Thành viên đang phát triển, nếu có yêu cầu của Thành viên đang phát triển, thì Ban hội thẩm phải có ít nhất một hội
thẩm viên từ Thành viên đang phát triển (Điều 8.9 DSU). Ban Thư ký sẽ duy trì một danh sách các chuyên gia đáp ứng
các tiêu chí đề ra.

Và trường hợp các bên không đồng ý về thành phần của Ban hội thẩm trong vòng 20 ngày sau ngày thành lập
Ban hội thẩm thì vấn đề này có thể được quyết định bởi Tổng Giám đốc. Theo yêu cầu của bất cứ bên nào, Tổng giám đốc
sau khi tham vấn với chủ tịch DSB và Chủ tịch của Hội đồng hay ủy ban liên quan phải quyết định thành phần Ban hội
thẩm từ những người mà Tổng Giám đốc coi là thích hợp nhất theo đúng bất kỳ qui tắc hay thủ tục đặc biệt hay bổ sung
có liên quan nào của những hiệp định có liên quan đang được áp dụng cho tranh chấp đó, sau khi tham vấn với các bên
tranh chấp (Điều 8.7 DSU).

16


DSB, trừ khi DSB quyết định bởi sự đồng thuận không thông qua (đồng thuận phủ quyết)20
báo cáo hoặc một trong các bên tranh chấp chính thức thơng báo cho DSB về ý định kháng
cáo của mình (Điều 16 DSU).
Khái niệm ―xét xử phúc thẩm‖ là một tính năng quan trọng mới của DSU được qui
định chi tiết tại Điều 17 DSU: một Cơ quan Phúc thẩm thường trực sẽ được thành lập, bao
gồm bảy Thành viên, mỗi ba người sẽ làm việc trên một trường hợp bất kỳ và có tính ln
phiên. Kháng cáo sẽ được giới hạn về các vấn đề pháp lý được đề cập đến trong báo cáo của
Ban hội thẩm và liên quan đến giải thích pháp luật được thực hiện bởi Ban Hội thẩm. Thủ tục
phúc thẩm không quá 60 ngày, kể từ ngày một bên chính thức thơng báo quyết định kháng
cáo của mình. Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm sẽ được thông qua bởi Cơ quan Giải quyết
tranh chấp và chấp nhận vơ điều kiện của các bên trong vịng 30 ngày sau khi chuyển tới các
Thành viên, trừ khi DSB quyết định bởi sự đồng thuận không thông qua (đồng thuận phú
quyết) báo cáo đó. Báo cáo này có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc quyết định ngược lại các ý
kiến và kết luận của Ban hội thẩm.
Sau khi báo cáo của Ban hội thẩm hoặc báo cáo của Cơ quan phúc thẩm được DSB
thông qua, các bên liên quan sẽ phải thơng báo ý định của mình liên quan đến việc thực hiện
các phán quyết và khuyến nghị nhằm đưa các biện pháp được cho là không phù hợp trở nên
phù hợp với các hiệp định có liên quan. Nếu không thể thực hiện được việc tuân thủ ngay lập
tức các khuyến nghị và các phán quyết thì Thành viên liên quan sẽ được đưa ra một khoảng


20

Nguyên tắc “đồng thuận nghịch” (negative consensus - đồng thuận phủ quyết- phủ quyết tuyệt đối)
Nguyên tắc này được xem là một bước ngoặc và là một sự tiến bộ của cơ chế giải quyết tranh chấp WTO. Việc
tự động trong thủ tục thông qua thành lập Ban hội thẩm, thông qua các báo cáo mang ưu điểm nổi bật và được xem là
giải pháp tích cực trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.
Theo các Điều 6.1, Điều 16.4 và Điều 17.14 thì việc ra quyết định thành lập Ban hội thẩm đều thông qua
nguyên tắc ―đồng thuận nghịch‖, nghĩa là một Ban hội thẩm sẽ được thành lập trừ khi tại cuộc họp đó DSB quyết định
trên cơ sở đồng thuận không thành lập ban hội thẩm. Tương tự, đối với thủ tục thông qua báo cáo của Ban hội thẩm hay
Cơ quan phúc thẩm cũng sẽ được tuân thủ theo nguyên tắc này. Điều này dẫn tới việc hầu như Ban hội thẩm được thành
lập một cách tự động khi có yêu cầu bằng văn bản của nguyên đơn và các báo cáo cũng được thông qua tự động trừ khi
DSB nhất trí chung khơng thơng qua việc thành lập hoặc không thông qua báo cáo này, đây là một trường hợp rất ít khi
xảy ra. Như vậy, khơng một nước thành viên nào có thể cố ý ngăn cản việc thành lập một Ban hội thẩm hoặc thông qua
các báo cáo, bởi nếu muốn DSB không thông qua các vấn đề trên thì địi hỏi tất cả các Thành viên phải cùng nhất trí
khơng thơng qua. Chính nhờ sự tiến bộ này mà thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO trở nên linh hoạt hơn, ít phụ
thuộc vào áp lực chính trị của bất kỳ thành viên nào, đồng thời xây dựng tính hiệu quả, tin cậy vào tính cơng bằng của
hệ thống thương mại đa phương.

17


thời gian hợp lý để thực hiện21. Trong mọi trường hợp, Cơ quan Giải quyết tranh chấp sẽ phải
duy trì thực hiện một sự giám sát thường xuyên việc thực hiện các khuyến nghị và phán
quyết cho đến khi vấn đề được giải quyết (Điều 21.6 DSU).
Quy định của DSU tiếp tục đặt ra các quy tắc về ―bồi thường‖ và ―tạm hoãn thi
hành các nhượng bộ hoặc nghĩa vụ khác‖(hay còn gọi là biện pháp trả đũa thương mại, đình
chỉ nhượng bộ) trong trường hợp các khuyến nghị và phán quyết không thực hiện được trong
khoảng thời gian hợp lý như là một biện pháp tạm thời. Trong vòng một khung thời gian quy
định trước ngày hết hạn của khoảng thời gian hợp lý, các bên có thể tham gia vào các cuộc
đàm phán thoả thuận về bồi thường thỏa đáng mà hai bên chấp nhận.

Trong trường hợp không thỏa thuận được biện pháp bồi thường thỏa đáng nào trong
vòng 20 ngày hết thời gian hợp lý (Điều 22.2 DSU), một bên tranh chấp bất kỳ đã viện dẫn
tới các thủ tục giải quyết tranh chấp đều có thể yêu cầu ủy quyền của DSB để tạm hoãn thi
hành các nhượng bộ hoặc các nghĩa vụ khác22 cho Thành viên có liên quan. DSB sẽ cấp
phép trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn của khoảng thời gian hợp lý để thực hiện
trừ khi DSB có quyết định trên cơ sở đồng thuận từ chối yêu cầu đó (Điều 22.6 DSU). Các
bất đồng về mức độ đình chỉ được đề xuất hoặc nếu Thành viên có liên quan khiếu nại rằng
những nguyên tắc và thủ tục tại khoản 3 Điều 22 DSU chưa được tuân thủ thì vấn đề phải
được đưa ra thủ tục trọng tài (Điều 22.6 DSU) để xem xét liệu mức tạm hoãn có tương
đương với mức triệt tiêu hay gây phương hại hay khơng và cũng có thể quyết định xem đề
xuất tạm hỗn có được phép hay khơng theo các hiệp định liên quan. Quyết định của trọng tài
là quyết định chung thẩm và các bên liên quan không được yêu cầu giải quyết bằng trọng tài
lần thứ hai (Điều 22.7 DSU). Những quy định trung tâm của DSU tái khẳng định rằng các
Thành viên sẽ không tự xác định hành vi vi phạm, đình chỉ nhượng bộ, nhưng phải sử dụng
các quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp của DSU, nội dung này sẽ được tìm hiểu kỹ hơn
trong phần ―Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp của WTO‖.

21

có thể là khoảng thời gian do Thành viên có liên quan đề xuất và phải được DSB thông qua, hoặc theo thỏa thuận của
các bên trong vòng 45 ngày kể từ ngày thông qua các khuyến nghị và phán quyết, hoặc thơng qua quyết định trọng tài có
giá trị ràng buộc trong vòng 90 ngày (Điều 21.3 DSU).
22
Xem thêm phụ lục 3 về lược đồ các giai đoạn giải quyết tranh chấp của WTO để giúp hình dung về sự xuất hiện của
giai đoạn yêu cầu trả đũa trong cả quá trình giải quyết tranh chấp.

18



×