BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ TUYẾT NGA
GIỚI HẠN QUYỀN TÁC GIẢ THEO HIỆP ðỊNH TRIPS
VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế Mã số: 60.38.50
Người hướng dẫn khoa học:TS. Nguyễn Thị Bích Ngọc
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012
LỜI CAM ðOAN
Tơi xin cam đoan luận văn thạc sỹ luật học “GIỚI HẠN QUYỀN TÁC
GIẢ THEO HIỆP ðỊNH TRIPS VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM” là cơng trình
nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của Ts. Nguyễn Thị Bích
Ngọc. Các nội dung được trình bày trong luận văn là hồn tồn trung thực.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng
Ký tên
năm 2012
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Cơng ước Bern
EC
Hiệp định TRIPS
BLDS 1995
BLDS 2005
Luật SHTT 2005
Luật sửa ñổi bổ
sung năm 2009
Nghị ñịnh 76/CP
Nghị ñịnh
100/2006/Nð-CP
WPPT
WTO
WCT
EUCD
Công ước Bern về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ
thuật
Cộng đồng châu Âu
Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở
hữu trí tuệ
Luật dân sự 1995/QH 9 ngày 28 tháng 10 năm 1995
Luật dân sự số 33/2005/QH 11 ngày 14 tháng 6 năm
2005
Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH 11 ngày 29 tháng 11
năm 2005 của Quốc hội
Luật sửa ñổi bổ sung một số ñiều của Luật sở hữu trí
tuệ số 36/2009/QH 12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của
Quốc hội
Nghị ñịnh 76/CP ngày 29 tháng 11 năm 1996 hướng
dẫn thi hành một số quy ñịnh về quyền tác giả trong bộ
luật dân sự 1995
Nghị ñịnh quy ñịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số ñiều của bộ luật dân sự, luật sở hữu trí tuệ về quyền
tác giả và quyền liên quan
Hiệp ước của WIPO về biểu diễn và bản ghi âm
Tổ chức thương mại thế giới
Hiệp ước của WIPO về quyền tác giả
Chỉ thị của Liên minh Châu Âu về bản quyền
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ðẦU ........................................................................................................1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIỚI HẠN QUYỀN TÁC GIẢ .................9
1.1.
Quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả .........................................................9
1.1.1. Khái niệm quyền tác giả...................................................................................9
1.1.2. Khái niệm bảo hộ quyền tác giả....................................................................13
1.1.3. ðặc ñiểm, bản chất của quyền tác giả ..........................................................18
1.2.
Giới hạn quyền tác giả .................................................................................20
1.2.1. Khái niệm giới hạn quyền tác giả ..................................................................20
1.2.2. Lợi ích của tác giả, chủ sở hữu , người sử dụng và xã hội ............................21
1.2.3. Sự cần thiết giới hạn quyền tác giả ................................................................24
CHƯƠNG 2. QUY ðỊNH CỦA HIỆP ðỊNH TRIPS VÀ PHÁP LUẬT VIỆT
NAM VỀ GIỚI HẠN QUYỀN TÁC GIẢ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG ...........29
2.1.
Giới hạn quyền tác giả theo Hiệp ñịnh TRIPS ..........................................29
2.1.1. "Phép thử ba bước” ñối với giới hạn quyền tác giả theo Hiệp ñịnh TRIPS .................. 29
2.1.2. Thực trạng áp dụng giới hạn quyền tác giả theo quy ñịnh của Hiệp ñịnh
TRIPS ........................................................................................................................34
2.1.3. Kinh nghiệm cho Việt Nam ............................................................................47
2.2.
Quy ñịnh của pháp luật Việt Nam về giới hạn quyền tác giả: .................48
2.2.1. Quy ñịnh pháp luật về sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải
trả tiền nhuận bút thù lao .........................................................................................49
2.2.2. Quy ñịnh của pháp luật về sử dụng tác phẩm không phải xin phép nhưng
phải trả tiền nhuận bút thù lao ..................................................................................67
KẾT LUẬN ..............................................................................................................73
1
PHẦN MỞ ðẦU
1. Lý do chọn ñề tài
Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và
quyền tác giả nói riêng là mối quan tâm của nhiều nước cả các nước phát triển và
ñang phát triển. Nói đến pháp luật sở hữu trí tuệ là nói đến việc bảo hộ thành quả
sáng tạo của chủ thể quyền bằng các quy ñịnh về ñộc quyền khai thác tài sản trí tuệ
của mình. Tuy nhiên, một trong các nguyên tắc mà pháp luật quốc gia và quốc tế
ñều ghi nhận trong các quy ñịnh liên quan ñến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là ñảm
bảo sự cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu và công chúng. Nguyên tắc này nhằm hạn
chế sự lạm quyền của tác giả và sự cản trở khả năng tiếp cận tác phẩm của các chủ
thể khác. Làm thế nào ñể giải quyết mối quan hệ này một cách công bằng và phù
hợp là câu hỏi mà pháp luật các quốc gia và cả ðiều ước quốc tế ñều quan tâm và
cố gắng tìm ra phương án thích hợp như một trong các giải pháp nâng cao hiệu quả
ñiều chỉnh của pháp luật bảo hộ quyền tác giả. Lịch sử hình thành ngun tắc cân
bằng lợi ích gắn liền với việc lần đầu tiên, tại hội nghị Stockholm - Cơng ước Bern
ñã ñề cập ñến “Three step test” tạm dịch “ phép thử ba bước”1 – với nội dung bao
gồm các ñiều kiện ñể quy ñịnh giới hạn và ngoại lệ của quyền tác giả. Ngun tắc
này sau đó được ghi nhận trong các văn bản khác như Hiệp ñịnh TRIPS, Hiệp ước
WCT, hiệp ước WPPT. Mặc dù đã có những quy ñịnh chung về các ñiều kiện cho
việc quy ñịnh giới hạn trong văn bản pháp luật quốc tế nói trên nhưng các quốc gia
khác nhau với những lợi ích kinh tế, chính trị khác nhau vẫn có các cách hiểu và
giải thích khác nhau dẫn đến việc quy ñịnh giới hạn quyền tác giả lại có những sự
khác biệt nhất ñịnh. Vấn ñề này ñã ñược làm rõ hơn vào năm 2000 khi Panel (tạm
dịch Ban hội thẩm) của WTO đã giải thích về việc áp dụng “phép thử ba bước”
trong ðiều 13- Hiệp định TRIPS thơng qua vụ xét xử tranh chấp giữa cộng ñồng
châu Âu và Hoa Kỳ.
ðể trở thành thành viên của WTO, Việt Nam ñã tham gia các ðiều ước quốc
tế ña phương về bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan, đó là Công ước Bern bảo
hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (có hiệu lực tại Việt Nam vào ngày
26/4/2004); Công ước Geneva bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm, chống việc sao chép
bất hợp pháp (có hiệu lực tại Việt Nam vào ngày 6/7/2005); Công ước Brussels về
1
Trong luận văn tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ tạm dịch là “phép thử ba bước”
2
các tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh ñược mã hóa (có hiệu lực tại Việt
Nam vào ngày 12/1/2006); Hiệp định TRIPS về các khía cạnh thương mại của
quyền sở hữu trí tuệ (có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 1/11/2007); Công ước Rome
bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng (có hiệu lực tại
Việt Nam vào ngày 1/3/2007). Việt Nam cũng đã ban hành Luật sở hữu trí tuệ 2005
ñược sửa ñổi bổ sung một số ñiều theo Luật số 36/2009 và các văn bản hướng dẫn
thi hành liên quan ñến các quy ñịnh về quyền tác giả và quyền liên quan. Hầu hết
các quy phạm pháp luật ñiều chỉnh về quyền tác giả của pháp luật Việt Nam đều
tương thích với các điều ước quốc tế2. Có thể nói đối với việc bảo hộ quyền tác giả,
Việt Nam cũng ñã tạo ra một khung pháp lý khá vững chắc. Tuy nhiên, ñối với các
quy ñịnh về giới hạn quyền tác giả thì các văn bản quy phạm pháp luật mới chỉ
dừng ở mức ñưa ra các quy ñịnh có tính khái qt, thiếu cụ thể và chi tiết. ðiều này
dẫn ñến nhiều cách hiểu khác nhau khi vận dụng pháp luật, làm xuất hiện các tranh
chấp và ảnh hưởng khơng nhỏ đến việc thực thi quyền tác giả. Mặt khác với ñiều
kiện kinh tế xã hội của một nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay thì việc
làm thế nào để đảm bảo lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả phù hợp với
các quy ñịnh của pháp luật quốc tế ñồng thời ñảm bảo được quyền tiếp cận tác
phẩm của cơng chúng là ñiều rất cần thiết.
Với những lý do vừa nói trên, tác giả chọn ñề tài : GIỚI HẠN QUYỀN TÁC
GIẢ THEO HIỆP ðỊNH TRIPS VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM làm ñề tài luận văn
cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Bảo hộ quyền tác giả nói chung và vấn đề cân bằng lợi ích trong bảo hộ
quyền tác giả nói riêng được nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngồi nước quan tâm
nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau
2
Trong q trình ban hành Luật sở hữu trí tuệ 2005 về các nội dung liên quan ñến quyền tác giả và quyền
liên quan, Ban soạn thảo ñã tổ chức nghiên cứu tham khảo luật mẫu của Wipo, các ñiều ước Quốc tế về
quyền tác giả, quyền liên quan, các hiệp ñịnh song phương giữa Việt Nam- Hoa Kỳ, Việt Nam – Thụy Sỹ
đồng thời trong q trình nghiên cứu, xây dựng, thơng qua được thực hiện với sự tư vấn của chuyên gia quốc
tế nên Luật sở hữu trí tuệ với các quy định về quyền tác giả và quyền liên quan ñã phù hợp với các chuẩn
mực quốc tế. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện bộc lộ một số nội dung chưa tương thích với pháp luật quốc
tế như: quy ñịnh về giới hạn quyền tác giả tại ðiều 26, giới hạn quyền liên quan tại ðiều 33, chưa phù hợp
với Cơng ước Bern. Có một số điều khoản có lỗi về kỹ thuật dẫn đến chưa tương thích với Cơng ước Bern tại
các ðiều 42, khoản 1, ñiểm a về tác phẩm “khuyết danh’; về loại hình tác phẩm tại ðiều 14 khoản 1, điểm k
thiếu tác phẩm “kiến trúc”, về thời hạn bảo hộ quyền tác giả tại ðiều 27. Các nội dung này ñã ñược sửa ñổi
bổ sung trong Luật số 39/2009 Luật sửa ñổi bổ sung một số ñiều của Luật sở hữu trí tuệ.
3
2.1. Ở nước ngồi
Có nhiều cơng trình nghiên cứu về vấn ñề quyền tác giả, ñặc biệt về vấn ñề
giới hạn quyền tác giả. Có thể kể đến các sách như:
-
“Copyright, limitation and the three step test” (Quyền tác giả, giới hạn và
phép thử ba bước) của tác giả MartinSenftleben(2004), NXB Kluwen law
International. Trong tác phẩm này tác giả phân tích chủ yếu về điều kiện quy
định giới hạn và ngoại lệ quyền tác giả thơng qua việc phân tích nguyên tắc
“phép thử ba bước” trong pháp luật quyền tác giả quốc tế và châu Âu.
-
“ The three step test, Deemed quantities, libraries and close exception”
(2002) của NXB Centre for copyright studies.ltd. Nội dung sách là sự nghiên
cứu về phép thử ba bước theo quy định tại ðiều 9- Cơng ước Bern, ðiều 13Hiệp ñịnh TRIPS và ðiều 10 hiệp ước WCT với việc áp dụng cụ thể nội
dung của phép thử trong ðiều 40 (ðạo luật quyền tác giả của Úc) về quy
định giải quyết cơng bằng việc sao chép trong thư viện và cho giáo dục ñồng
thời kiến nghị quy định một ngoại lệ xử lý cơng bằng.
-
“Limitations, Exceptions and public interest consideration for developing
countries”(2006) (Giới hạn, ngoại lệ và cân nhắc lợi ích cơng cộng của các
nước ñang phát triển) của tác giả Ruth L.Okediji – professor of law
university of Minnesota law school xuất bản theo Dự án sở hữu trí tuệ và
phát triển bền vững (UNCTAD – ICTSD) trong cơng trình này, tác giả đã hệ
thống ñược tầm quan trọng về cách thức tiếp cận và cách quy ñịnh vấn ñề
giới hạn và ngoại lệ quyền tác giả trong hệ thống quyền tác giả quốc tế; phân
tích mối quan hệ giữa sự khuyến khích, sáng tạo và tiếp cận các tác phẩm
ñược bảo hộ quyền tác giả, phân tích quy định về giới hạn và ngoại lệ trong
Cơng ước Bern và hiệp định TRIPS, tổng quan về giới hạn và ngoại lệ trong
môi trường kỹ thuật số, khuyến nghị một số phương thức cho các nước ñang
phát triển xem xét các chính sách ñể hệ thống quyền tác giả có hiệu quả hơn
trong việc phục vụ lợi ích cơng cộng.
2.2. Ở trong nước
Cho đến nay, Việt Nam đã có rất nhiều cơng trình nghiên cứu về quyền tác
giả và thực thi quyền tác giả ñặc biệt là nhiều khóa luận thạc sỹ lựa chọn đề tài này
như: “Quyền tác giả đối với loại hình tác phẩm nghe nhìn theo pháp luật Việt Nam
4
và cộng hòa Pháp” của tác giả Trần Lan Hương (2004), ðại học Luật Hà Nội;
“Quyền tác giả ñối với tác phẩm sân khấu- một số vấn ñề lý luận và thực tiễn” của
tác giả Phạm Thị Thương (2007); “Quyền tác giả ñối với tác phẩm kiến trúc – lý
luận và thực tiễn” của tác giả ðoàn Trần Diễm My (2008), ðại học Luật thành phố
Hồ Chí Minh… Tuy nhiên các đề tài này chỉ tập trung phân tích các nội dung như
đặc điểm của loại hình được bảo hộ quyền tác giả, các quyền và nghĩa vụ, phạm vi
và thời hạn bảo hộ … trong các ñề tài này cũng có đề cập đến giới hạn quyền tác giả
nhưng chỉ là sự đề cập đến rất nhỏ mà khơng có sự phân tích sâu sắc.
-
ðối với luận văn cử nhân thì có một số đề tài có liên quan ñến giới hạn
quyền tác giả như luận văn “Nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa
tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” của tác giả Dương Thị Hải
Lê; luận văn tốt nghiệp “cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu và người sử dụng
tác phẩm trong quan hệ quyền tác giả” của tác giả Võ Hoàng Yến.
ðây là hai tài liệu rất quý giá ñối với tác giả nhưng trong tài liệu này các tác giả chủ
yếu phân tích về các quy định của pháp luật Việt Nam về giới hạn quyền tác giả và
phân tích thực tiễn xâm phạm quyền tác giả chưa làm rõ về mặt lý luận.
Ngồi ra, có thể kể ñến một số sách chuyên khảo, bài viết có liên quan như:
-
Sách “Hài hịa lợi ích bản quyền- pháp luật và thực thi” của TS. Vũ Mạnh
Chu (Nhà xuất bản Thế Giới, 2009), cuốn sách này không phải là công trình
nghiên cứu chun sâu về nội dung “hài hịa lợi ích bản quyền” mà chỉ là sự
tập hợp các bài viết của TS. Chu từ những năm 2005 trở lại ñây trong ñó chỉ
có bài “thu tiền ñền bù từ thiết bị và vật ghi- vấn ñề mới và phức tạp về bản
quyền” là có liên quan đến “nội dung giới hạn quyền tác giả”, còn các bài
viết khác như “ Cơng ước Bern hài hịa lợi ích bản quyền tồn cầu” hay bài
“hài hịa lợi ích bản quyền – pháp luật và thực thi” chỉ ñề cập ñến nguyên tắc
“cân bằng quyền và lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và người
sử dụng” ñồng thời nêu các quy định của Cơng ước Bern và pháp luật Việt
Nam về giới hạn quyền tác giả.
-
Sách chuyên khảo: Bình luận về quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam của
luật gia Nguyễn Bình, luật gia Nguyễn Thị Chính, luật gia Nguyễn Huy Ngát
và luật gia Nguyễn Bích Ngọc (NXB Tư pháp năm 2005), trong cuốn sách
này các tác giả có nhắc đến Giới hạn quyền tác giả nhưng chỉ liệt kê chung
5
chung các quy ñịnh của Bộ luật dân sự về giới hạn quyền tác giả mà chưa có
nêu được giải pháp hay kiến nghị có liên quan.
-
Bài viết “Bàn về quy định của Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam liên quan ñến
giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan” của TS. Vũ Thị Hải Yến (tạp chí
Luật học, số 7/2010). Trong bài viết này tác giả ñã tập trung phân tích các
quy định của pháp luật Việt Nam về các trường hợp giới hạn quyền tác giả,
quyền liên quan tại ðiều 25, ðiều 32 của Luật sở hữu trí tuệ, nêu các tình
huống thực tiễn và đề xuất kiến nghị. Tuy nhiên trong giới hạn của một bài
viết nên tác giả chỉ phân tích quy định của Luật và bình luận ý kiến cá nhân
chứ chưa phân tích sâu sắc tính lý luận của giới hạn và quyền tác giả, các
kiến nghị cũng chỉ mang tính gợi mở chung chung.
- Bài viết trong mục bản án và bình luận bản án “về vấn đề trích dẫn tác phẩm
của người khác” của TS. ðỗ Văn ðại và Ths. Lê Thị Nam Giang (ðăng trên
tạp chí khoa học pháp lý số 02/2009). Các tác giả đã bình luận bản án số
127/2007DSST của tòa phúc thẩm tòa án tối cao tại Hà Nội về vụ việc có
liên quan đến việc trích dẫn tác phẩm của người khác. Các tác giả ñã ñưa ra
quan điểm cá nhân về phán quyết của Tịa án trên cơ sở phân tích các quy
định của pháp luật Việt Nam liên quan ñến giới hạn quyền tác giả. Tuy nhiên
bài viết này cũng chỉ dừng lại ở việc bình luận một vụ án có liên quan đến
vấn đề giới hạn quyền tác giả.
Như vậy, dưới góc độ nghiên cứu khoa học, vấn ñề giới hạn quyền tác giả chưa
ñược khai thác một cách sâu sắc. ðặc biệt là việc tìm hiểu các quy định của pháp
luật quốc tế nói chung và Hiệp định TRIPS nói riêng về giới hạn quyền tác giả ñể
vận dụng vào pháp luật Việt Nam thì chưa có cơng trình nào nghiên cứu.
3.
Mục đích, ñối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục ñích nghiên cứu
Khi lựa chọn ñề tài này, tác giả hướng tới mục đích đưa ra được các kiến
nghị bổ sung hồn thiện pháp luật Việt Nam ñể phù hợp yêu cầu chung của các cam
kết quốc tế và điều kiện hồn cảnh kinh tế, chính trị- xã hội của Việt Nam góp phần
nâng cao hiệu quả thực thi quyền tác giả .
6
Kết quả hoạt ñộng nghiên cứu ñề tài này sẽ làm sáng tỏ ñược các vấn ñề lý
luận liên quan tới giới hạn quyền tác giả. Nhận thức sâu sắc hơn về các quy ñịnh
của ðiều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết và ñề xuất ñược giải pháp hoàn
thiện pháp luật về quyền tác giả ở Việt Nam.
3.2. ðối tượng nghiên cứu
-
Các vấn ñề lý luận về giới hạn quyền tác giả
-
Quy ñịnh của Hiệp ñịnh TRIPS và pháp luật Việt Nam về giới hạn quyền tác
giả và thực tiễn thực thi các quy ñịnh này.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
ðể ñạt ñược mục tiêu và làm rõ ñược ñối tượng nghiên cứu ñã ñặt ra luận văn
sẽ có giới hạn về phạm vi nghiên cứu như sau:
Về nội dung, quyền tác giả là một khía cạnh rất quan trọng của pháp luật về
quyền sở hữu trí tuệ, nội dung của nó được thể hiện trong rất nhiều ðiều ước quốc
tế, hiệp ñịnh ña và song phương cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên trong phạm vi của khóa luận, tác giả xác ñịnh trong tâm nghiên cứu chỉ
tập trung vào phân tích giới hạn quyền tác giả.
Vấn đề giới hạn quyền tác giả cũng ñược tiếp cận ở các phạm vi khác nhau.
Có quan điểm cho rằng giới hạn quyền tác giả bao gồm cả việc giới hạn về thời hạn,
về ñiều kiện bảo hộ và các trường hợp ñược sử dụng tác phẩm không phải xin phép
tác giả. Trong phạm vi luận văn này vấn ñề giới hạn quyền tác giả cũng được phân
tích chủ yếu ở các trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép tác giả.
Về phạm vi lãnh thổ, vấn ñề giới hạn quyền tác giả quyền tác giả ñược
nghiên cứu dựa trên sự phân tích các quy định của Hiệp định TRIPS, pháp luật của
một số quốc gia và pháp luật Việt Nam.
ðể có cơ sở thực tiễn cho việc đánh giá tính phù hợp của các quy ñịnh về
giới hạn quyền tác giả của Hiệp ñịnh TRIPS và pháp luật Việt Nam với thực tiễn áp
dụng, luận văn sẽ sử dụng các vụ tranh chấp có tính quốc tế và trong nước liên quan
tới ñối tượng nghiên cứu.
7
4.
Phương pháp nghiên cứu
ðể giải quyết nhiệm vụ ñặt ra, ñề tài sử dụng các phương pháp chính sau
ñây:
-
Phương pháp so sánh pháp luật: ðược sử dụng ñể so sánh pháp luật của các
quốc gia trong việc quy ñịnh về các trường hợp giới hạn quyền tác giả. So
sánh các quy ñịnh của pháp luật Việt Nam về vấn ñề giới hạn quyền tác giả ở
các thời kỳ khác nhau: trước và sau khi Luật sở hữu trí tuệ (2005) ñược ban
hành.
-
Phương pháp phân tích và tổng hợp: ðây là hai phương pháp chủ yếu ñược
sử dụng trong luận văn. Phương pháp phân tích dùng để nghiên cứu xác
định bản chất, ñặc ñiểm của các vấn ñề như lý luận về giới hạn quyền tác giả,
như thực trạng các quy ñịnh của Hiệp ñịnh Trips của pháp luật Việt Nam.
Phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái qt hóa các vấn đề đã được
-
phân tích.
Phương pháp so sánh lịch sử: ðược sử dụng để tìm hiểu nguồn gốc của
“phép thử ba bước”; quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về việc quy
-
định giới hạn quyền tác giả.
Ngồi ra, trong luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như
phương pháp quy nạp, diễn dịch, phương pháp logic…
Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của ñề tài
5.
-
-
-
ðối với hoạt ñộng nghiên cứu, giảng dạy và học tập: Các kết quả nghiên cứu
của luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo hữu ích ñối với những người
nghiên cứu, học tập về vấn ñề bảo hộ quyền tác giả nói chung và vấn đề giới
hạn quyền tác giả nói riêng.
ðối với hoạt động lập pháp: Các kiến nghị của đề tài có thể là những đóng
góp hữu ích cho việc sửa Luật sở hữu trí tuệ và việc ban hành Nghị định
hướng dẫn bổ sung Luật sở hữu trí tuệ.
ðối với hoạt động thực tiễn: Luận văn này là tài liệu hữu ích đối với các tác
giả, chủ sở hữu quyền tác giả cũng như người sử dụng các tác phẩm văn học
nghệ thuật, khoa học khi tìm hiểu, áp dụng về các trường hợp sử dụng tác
phẩm không phải xin phép tác giả, không phải trả tiền nhuận bút thù lao hoặc
8
trường hợp sử dụng tác phẩm không xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút
thù lao.
6.
Bố cục luận văn
Luận văn gồm có 2 chương:
-
Chương 1: Cơ sở lý luận về giới hạn quyền tác giả
-
Chương 2: Quy ñịnh của Hiệp ñịnh TRIPS và pháp luật Việt Nam về giới
hạn quyền tác giả và thực tiễn áp dụng.
9
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIỚI HẠN QUYỀN TÁC GIẢ
1.1. Quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả
1.1.1. Khái niệm quyền tác giả
Khái niệm quyền tác giả ñược tiếp cận dưới nhiều góc ñộ khác nhau.
Thứ nhất, tiếp cận theo khái niệm trong các từ ñiển:
Theo từ ñiển Black’s law3: Quyền tác giả là: “The right of literary property
as recognized and sanctioned by positive law. An intangible, incorporeal right
granted by statue to the author or originator of certain literary or artistic
productions, whereby he is invested, for a specified period, with the sole and
exclusive privilege of multiplying copies of the same and publishing and selling
them.(Tạm dịch: Quyền tác giả là quyền tài sản văn học được cơng nhận và điều
chỉnh bởi luật hiện hành. Một quyền vơ hình ñược ban hành bởi Nhà Nước cho tác
giả hoặc người tạo lập ra một sản phẩm văn học, nghệ thuật hoặc người ñầu tư một
ñộc quyền trong việc nhân bản ñể xuất bản hoặc bán chúng trong một thời gian nhất
định).
Theo từ điển Oxford4 thì quyền tác giả là: “the exclusive right given by law
for a certain term of years to an author, composer, designer, etc. (or his assignee) to
print, publish and sell copies of his original work”. (Tạm dịch: Quyển tác giả là ñộc
quyền ñược ban hành bởi luật cho tác giả, nhà soạn nhạc, nhà thiết kế v.vv (hoặc
người ñược chuyển giao) ñể in, xuất bản và bán các tác phẩm của anh ta trong một
thời gian nhất ñịnh)
Theo từ ñiển Luật học5 thì “quyền tác giả là các quyền nhân thân và quyền tài
sản mà tác giả ñược hưởng ñối với tác phẩm ñược nhà nước bảo hộ.”
Như vậy, theo nguồn từ các từ điển thì có một vài ñiểm khác nhau về cách
ñịnh nghĩa về quyền tác giả nhưng tựu chung trong định nghĩa đều có những ñiểm
chung: quyền tác giả là ñộc quyền do luật ban hành, chủ sở hữu quyền tác giả là tác
giả, người tạo ra tác phẩm, và quyền này ñược bảo hộ trong một thời gian nhất ñịnh.
Thứ hai, tiếp cận theo khái niệm trong các văn bản pháp luật:
3
HC Black (1990), Black law dictionary, 7th Edition, West pubishing, pp.337
The Oxford English Dictionary, 2th Edition, Oxford University Press, pp.223
5
Viện khoa học pháp lý- Bộ tư pháp (2006), Từ ñiển Luật học, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, tr. 412
4
10
Trong các văn bản pháp luật về quyền tác giả của các nước thì hầu hết khơng
đưa ra định nghĩa chính thức về quyền tác giả. Một số quốc gia có đề cập đến nhưng
lại dẫn chiếu đến các điều khoản khác hoặc nêu nội dung bảo hộ quyền tác giả.
Chẳng hạn như trong Luật quyền tác giả của Canada6, khi ñịnh nghĩa về quyền tác
giả lại dẫn chiếu ñến các mục khác trong văn bản Luật:
“Copyright” means the right described in:
(a) Secsion 3, in the case of works
(b) Secsion 15, 26 in the case of a performer’s performance
(c) Secsion 18, in the case of sound recording, or
(d) Secsion 21, in the case of a comunication signal
(Tạm dịch: Quyền tác giả là quyền được mơ tả tại:
(a) ðiều 2 phần các tác phẩm
(b) ðiều 15, 26 phần biểu diễn của nghệ sỹ
(c) ðiều 18 phần bản ghi âm, hoặc
(d) ðiều 21 phần tín hiệu truyền thơng)
Hoặc trong Luật quyền tác giả tác phẩm văn học và nghệ thuật của Thụy ðiển7 có
đưa ra nội dung quyền:
Với những giới hạn được nêu dưới ñây, quyền tác giả bao gồm quyền ñộc
quyền kiểm soát việc sao chép và cung cấp bản gốc hoặc bản sửa đổi của tác
phẩm tới cơng chúng, việc dịch và cải biên chuyển thể tác phẩm sang loại
hình văn học hoặc nghệ thuật khác, hoặc bằng các phương tiện kỹ thuật khác.
Cũng ñược coi là một bản sao khi những bản ghi tác phẩm ñược làm bằng
các vật liệu có thể sao chép được.
Tác phẩm được cung cấp tới cơng chúng bằng hình thức biểu diễn cơng
cộng, bán, cho thuê, cho mượn bản sao tác phẩm hoặc phân phối dưới các
hình thức khác hoặc trưng bày cơng cộng. Buổi biểu diễn ñược thực hiện
6
Tham khảo tại: />Tham khảo tại: />
7
11
trong khn khổ của các hoạt động thương mại phục vụ cho một nhóm người
tương đối rộng có quan hệ thân thiết cũng được coi là biểu diễn cơng cộng8.
Tại Việt Nam, quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác
phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”9.
Thứ ba, dưới góc độ thuật ngữ khoa học pháp lý thì có hai thuật ngữ khác
nhau về quyền tác giả là “Author’s right” và “Copyright”. Lịch sử hình thành hai
thuật ngữ này cũng chính là lịch sử hình thành của quyền tác giả.
“Copyright” được sử dụng trong hệ thống pháp luật Anh - Mỹ. Thuật ngữ này có
nguồn gốc từ việc hình thành Luật bản quyền của Anh.
Vào thời Trung cổ, việc nhân bản một tác phẩm rất khó khăn, các bản viết tay chỉ có
thể viết lại bằng tay với số lượng rất hạn chế. ðến thế kỷ 15, khi Gutenberg phát
minh ra máy in ñã mở ra bước ngoặt cho việc sản xuất sách. Một bản viết tay lúc
bấy giờ đã có thể in ra với số lượng lớn và phân phát cho công chúng. Nó trở thành
vật để bn bán và có thể đem lại tiền cho tác giả. Các nhà in ñược ñặc quyền in lại
những bản viết tay cổ sau đó là in các tác phẩm của các tác giả còn sống. Vào năm
1557, nhà vua Anh sắp xếp lại phường hội in và xuất bản, ñặt tên là “Stationers’
Company” và trao cho họ sự ñộc quyền thực sự về in ấn và phát hành ở London và
trên toàn Vương quốc. Năm 1662, để bảo vệ các nhà in, chính quyền Anh ñã ban
hành ñạo Luật Licensing trong ñó có quy ñịnh khơng một nhà in nào được quyền
xuất bản sách nếu khơng được cấp phép. Ngồi ra đạo luật cịn khẳng ñịnh sự ñộc
quyền của các nhà in khi ñược cấp phép theo đặc quyền của Hồng gia”.
10
Như
vậy, trong giai đoạn này chính quyền chỉ mới quan tâm đến lợi ích của các nhà in
mà khơng chú trọng đến tác giả - người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm ñể các nhà
in có thể xuất bản. Năm 1710, nữ hồng Anh ñã ban hành ñạo luật Anne (Statue of
Anne) – ñây ñược xem là luật bản quyền ñầu tiên trên thế giới : lần ñầu tiên một ñạo
luật khẳng ñịnh tác giả ñược ñộc quyền sao chép và ñộc quyền ñó ñược bảo hộ
trong một thời gian nhất ñịnh.
8
ðiều 2 Luật Quyền tác giả tác phẩm văn học và nghệ thuật Thụy ðiển(Luật số 729 ngày 30/12/1960, sửa
ñổi, bổ sung ngày 1/4/2000)
9
Khoản 2, ðiều 4, Luật sở hữu trí tuệ 2005
10
/>
12
Như vậy, xuất phát từ ñiều kiện kinh tế xã hội của của Anh lúc bấy giờ thì
mối quan tâm lớn nhất chính quyền trong việc quản lý việc xuất bản, phát hành sách
là việc sao chép, nhân bản. Sao chép tác phẩm ñược xem là nội dung cơ bản nhất,
quan trọng nhất trong việc khai thác lợi ích kinh tế của tác phẩm. Chính vì vậy, luật
về quyền tác giả còn gọi là luật về sao chép (copyright)
Author’s right ñược sử dụng trong hệ thống pháp luật châu Âu lục ñịa11.
Thuật ngữ này ñược dịch trực tiếp từ thuật ngữ “droit d’auteur” của Pháp. Cụ thể
“vào năm 1791 và 1793, Nhà nước Pháp đã chính thức quy định về luật quyền tác
giả trong đó khơng chỉ bảo hộ lợi ích kinh tế của chủ nhà in, mà còn dành cho tác
phẩm văn học nghệ thuật một sự ñộc quyền trong sao chép và trình diễn đối với tác
phẩm của họ”12. Thuật ngữ “author’s right” chú trọng ñến người trực tiếp sáng tạo
ra tác phẩm nghệ thuật “qua đó nhấn mạnh sự việc là tác giả có những quyền cụ thể
nhất định đối với sáng tạo của mình, chẳng hạn như quyền ngăn cản việc làm bản
sao bị bóp méo mà người thực hiện chỉ có thể là tác giả, trong khi những quyền
khác chẳng hạn như quyền làm bản sao có thể do người khác thực hiện, ví dụ như
một nhà xuất bản ñược cấp li-xăng ñể ñược làm việc đó”13.
Như vậy, sự khác nhau cơ bản giữa thuật ngữ “copyright” và “author’s
rights” là sự thừa nhận nội dung quyền ñược bảo hộ. Nếu như “author right” bảo hộ
quyền tài sản và quyền nhân thân của tác giả thì “copyright” gắn liền với bảo hộ
quyền tài sản.
Tại Việt Nam, thuật ngữ quyền tác giả ñược hiểu như thuật ngữ “author’s
right” của hệ thống pháp luật châu Âu lục ñịa.
Thứ tư, dưới góc độ là một quan hệ pháp luật thì quyền tác giả là tổng
hợp các quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác
giả, chủ sở hữu quyền tác giả ñối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học.
Trong quan hệ pháp luật quyền tác giả thì chủ thể của quan hệ pháp luật là tác
giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người sử dụng và các cơ quan quản lý Nhà nước
về quyền tác giả; khách thể của quan hệ pháp luật là các tác phẩm văn học, khoa
học và nghệ thuật và nội dung của quan hệ pháp luật là các quyền nhân thân và
quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.
11
/> />ial%202010/Module%201/Summaries/Copyright%20Seminar/Getaneh_1.pdf
13
Shahid Alikhan (2007), lợi ích kinh tế xã hội của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ ở các nước đang phát triển,
NXB Bản ñồ, Hà Nội,Tr. 11.
12
13
Tóm lại, một cách chung nhất quyền tác giả được hiểu là các quy ñịnh của
pháp luật dành cho các tác giả (người sáng tạo hoặc đầu tư) có độc quyền khai thác
của các tác phẩm văn học, nghệ thuật của mình.
1.1.2. Khái niệm bảo hộ quyền tác giả
Trong các văn bản pháp lý về quyền tác giả khơng có một định nghĩa chính
thức nào về bảo hộ quyền tác giả.
Trong Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005, có ñề cập ñến thuật ngữ “bảo hộ”
nhưng gắn với những nội dung cụ thể như “Luật này quy ñịnh về quyền tác giả,
quyền liên quan ñến quyền tác giả, quyền sở hữu cơng nghiệp, quyền đối với giống
cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó”14 hoặc là “Cơng nhận và bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hồ lợi ích của chủ thể
quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích cơng cộng; khơng bảo hộ các đối tượng sở hữu trí
tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự cơng cộng, có hại cho quốc phịng, an ninh”15
hoặc là “Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo hộ quyền sở hữu
trí tuệ” hoặc là “Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm
người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả”16. Ngoài ra, Luật
sở hữu trí tuệ 2005 cịn đề cập đến thuật ngữ “bảo vệ” trong các trường hợp như
“Tổ chức, cá nhân có quyền áp dụng các biện pháp mà pháp luật cho phép để tự bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình và có trách nhiệm tơn trọng quyền sở hữu trí tuệ
của tổ chức, cá nhân khác theo quy định của Luật này và các quy ñịnh khác của
pháp luật có liên quan”17 hoặc là “Bảo vệ sự tồn vẹn của tác phẩm, không cho
người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào
gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả ”18 hoặc là “Chủ thể quyền sở hữu
trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp sau đây để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của
mình”19
Từ cách sử dụng hai thuật ngữ “bảo hộ” và bảo vệ” như trên có thể thấy chủ
thể thực hiện việc “bảo hộ” chỉ có thể là Nhà nước, Nhà nước dùng quyền lực của
mình ban hành các quy định mang tính bắt buộc chung để đảm bảo các quyền và lợi
ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và các chủ thể khác có liên quan;
14
ðiều 1, Luật SHTT 2005
Khoán, ðiều 8, Luật SHTT 2005
16
ðiều 13, Luật SHTT 2005
17
ðiều 9, Luật SHTT 2005
18
Khoản 1, ðiều 19 Luật SHTT 2005
19
Khoản 1, ðiều 198, Luật SHTT 2005
15
14
việc bảo hộ quyền tác giả chỉ ñược thực hiện khi Nhà nước ban hành các quy phạm
pháp luật ñiều chỉnh vấn đề về quyền tác giả; cịn “ bảo vệ” là sự giữ gìn, đảm bảo
việc thực hiện quyền và lợi ích của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả và các chủ
thể khác. Việc “bảo vệ” cịn có thể được tiến hành bởi chính tác giả và chủ sở hữu
quyền tác giả.
Như vậy, một cách tương ñối có thể hiểu bảo hộ quyền tác giả là việc pháp
luật ñảm bảo các ñiều kiện ñể tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có thể thực
thi các quyền của mình đồng thời ngăn chặn xử lý mọi hành vi xâm phạm
của người thứ ba ñối với thành quả lao ñộng sáng tạo hoặc ñầu tư của
những chủ thể nói trên.
Vấn đề đặt ra là tại sao cần phải thiết lập cơ chế pháp lý ñể bảo hộ quyền tác
giả? ðể giải quyết câu hỏi này có rất nhiều quan ñiểm lập luận khác nhau. Dựa vào
các quan ñiểm triết học, kinh tế về sở hữu trí tuệ, về cơ bản có thể nhóm thành 4
nhóm quan điểm chính sau20:
Thứ nhất, theo quan điểm pháp luật tự nhiên (The natural law): “Quan ñiểm
này cho rằng người phát minh sáng tạo có quyền tài sản tự nhiên đối với phát minh
sáng tạo của mình. Quyền tài sản này về mặt ñạo ñức ñược xã hội và người sử dụng
thừa nhận, bảo vệ”. Lập luận này dựa trên lý thuyết của Hegel về tài sản trí tuệ với
sự nhấn mạnh tự do chiếm hữu tài sản trí tuệ thì chủ thể sáng tạo đương nhiên có
các quyền đối với tài sản trí tuệ do họ bỏ ra và xã hội phải thừa nhận cũng như bảo
vệ những quyền này.
Thứ hai, theo quan ñiểm về bù ñắp sức lao ñộng (reward)21. Quan ñiểm này
xuất phát từ học thuyết của Locke về lao động và trí tuệ. 22Khi tác giả sáng tạo ra
tác phẩm thì tác phẩm đó mang lại cho xã hội một giá trị nhất ñịnh. ðể làm ñược
ñiều này tác giả phải đầu tư nhiều thời gian cơng sức do đó xã hội phải bù đắp
20
Xem William W. Fisher, Theories of Intellectual Property, in S. Munzer (ed), New Essays in the Legal
and Political Theory of Property, Cambridge University Press (2000); Lê Nết (2006), Quyền sở hữu trí tuệ,
NXB ðại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, Tr.15; Nguyễn Thanh Tú, (2010), Pháp luật
cạnh tranh chuyển giao cơng nghệ và Hiệp định TRIPS kinh nghiệm cho Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội, tr.47; Lê ðình Nghị, Vũ Thị Hải Yến (2009), giáo trình Luật sở hữu trí tuệ, NXB Giáo dục, Hà
Nội,Tr. 8.
21
Quan điểm này cịn được gọi là quan điểm khen thưởng (reward)
15
những chi phí cho sự nỗ lực của tác giả. Cách thức hữu hiệu ñể ñảm bảo sự bù ñắp
xứng ñáng là dành cho người ñó ñộc quyền pháp lý trong một thời gian nhất ñịnh ñể
cấm người khác khai thác.
Thứ ba, theo quan điểm khuyến khích (incentive): Quan điểm này dựa trên
giả định rằng để khuyến khích và tạo ñộng lực cho người phát minh sáng tạo ñầu tư
công sức thời gian và tiền bạc vào việc phát minh sáng tạo, xã hội phải can thiệp ñể
gia tăng kỳ vọng về lợi ích của người phát minh sáng tạo. Việc bảo hộ quyền sở hữu
trí tuệ sẽ khuyến khích tác giả sáng tạo ra tác phẩm mới.
Thứ tư, theo quan điểm mở thơng tin sáng tạo (disclosure): Quan điểm này
cho rằng khi chủ thể sáng tạo chấp nhận mở những thơng tin về sở hữu trí tuệ thì xã
hội ñược hưởng lợi từ việc sử dụng những ñối tượng này. Do đó xã hội phải thừa
nhận và bảo vệ quyền cho chủ thể sáng tạo.
Từ các quan ñiểm trên về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác
giả nói riêng, có thể thấy được việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả là
rất cần thiết, là việc làm tất yếu của mỗi Nhà nước. Thông qua việc bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng mà Nhà nước khuyến khích được sự
sáng tạo, tạo điều kiện cho các chủ thể ñược hưởng các thành quả lao động của
mình. ðiều này góp phần vào sự phát triển ña dạng phong phú của nền văn học
nghệ thuật, khoa học của mỗi quốc gia. Mặc dù nhận thức ñược tầm quan trọng của
việc bảo hộ quyền tác giả, tuy nhiên tùy thuộc vào từng thời kỳ, vào từng ñiều kiện
kinh tế xã hội của mỗi quốc gia mà mức độ bảo hộ có sự khác nhau. ðối với các
nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ thì việc bảo hộ quyền tác giả ñược thực hiện từ
rất sớm.
Ở Anh việc bảo hộ quyền tác giả ñược thực hiện từ thế kỷ XVI với việc ban
hành ñạo luật “Licensing of the Press 1662” trong đó quy định việc cấp giấy phép
của hoàng gia Anh cho các chủ xưởng in; năm 1710, nữ hồng Anh đã ban hành
đạo luật Anne (Statue of Anne) trong đó ghi nhận sự độc quyền sao chép của tác giả.
ðạo luật này ñược xem là ñạo luật ñầu tiên trên thế giới về quyền tác giả.
Ở Hoa Kỳ, việc bảo hộ quyền tác giả ñược ghi nhận ngay trong Hiến pháp
Hoa Kỳ (1787) tại ðiều I, mục 8, Khoản 8: “Nghị viện có quyền nhằm thúc ñẩy tiến
bộ khoa học và kỹ thuật bằng cách ñảm bảo quyền tối cao của tác giả và nhà phát
minh trong khoản thời gian nhất ñịnh ñối với những tác phẩm và phát minh của họ”.
16
ðiều khoản này tạo cơ sở pháp lý cho việc ban hành Luật bản quyền và Luật sáng
chế của Hoa Kỳ bao gồm cả các quy ñịnh về giới hạn cũng như ñối tượng bảo hộ
Luật bản quyền ñầu tiên của Hoa Kỳ ñược ban hành vào năm 1790 trong ñó quy
ñịnh các tác giả ñược quyền ñộc quyền xuất bản các bản ñồ, biểu ñồ và sách trong
thời hạn 14 năm và ñược gia hạn thêm 14 năm nữa nếu tác giả cịn sống. Trong đạo
luật này khơng quy ñịnh các loại hình tác phẩm khác như tác phẩm âm nhạc, báo
chí. Qua q trình phát triển của nền kinh tế xã hội ñặc biệt là sự thay ñổi của cơng
nghệ, Luật bản quyền Hoa Kỳ có nhiều sửa ñổi bổ sung về ñối tượng bảo hộ, về thời
gian bảo hộ qua các văn bản như Luật bản quyền 1831, Luật bản quyền 1909 và văn
bản Luật hiện hành ñược áp dụng là Luật bản quyền 1976 ñược sửa ñổi bổ sung bởi
luật bản quyền 199223.
Ở Pháp, vào năm 1791, lần đầu tiên Quốc hội Pháp đã thơng qua văn bản
24
Luật về quyền tác giả (droit d’auteur ) sau ñó ñược ghi nhận lại trong văn bản Luật
năm 1793 (Chénier Act). Với hai văn bản này, Nhà nước ñã chính thức thiết lập luật
về quyền tác giả, trong đó khơng chỉ bảo hộ lợi ích kinh tế của chủ nhà in, mà còn
dành cho tác giả tác phẩm văn học, nghệ thuật một sự ñộc quyền trong sự cho phép
nhân bản và trình diễn đối với tác phẩm của họ25.
Có thể nói những quốc gia có bề dày lịch sử về việc bảo hộ quyền tác giả lâu
ñời nhất là những quốc gia có nền văn hóa, khoa học kỹ thuật phong phú nhất. ðối
với những nước này thì “ hệ thống quyền tác giả là một bộ phận không thể thiếu của
cơ sở hạ tầng xã hội hiện đại, phục vụ tồn bộ cộng đồng… sự đóng góp của ngành
công nghiệp quyền tác giả vào GDP của các nước là rất ñáng kể”26
ðối với các nước ñang phát triển thì việc bảo hộ quyền tác giả xuất hiện
muộn hơn. Ở Việt Nam, việc bảo hộ quyền tác giả lần đầu tiên được chính thức ghi
nhận tại một văn bản pháp lý riêng biệt đó Nghị định 142/HðBT về quyền tác giả
ban hành vào ngày ngày 14-11-1986. Sau đó, tháng 10 năm 1994, ủy ban thường
vụ Quốc hội ñã thông qua pháp lệnh về bảo hộ quyền tác giả. Vào các năm 1995,
2005 Quốc hội ban hành Bộ luật dân sự trong đó có các quy định về quyền tác giả
và quyền liên quan và đến năm 2005 thì Quốc hội khóa XI đã thơng qua Luật sở
23
/>Tác giả Kiều Thị Thanh trong bài viết “bảo hộ pháp lý quyền tác giả” , Tạp chí nghiên cứu lập pháp (số
02), tr.19 dùng từ “Nghị ñịnh 1791 và 1793”.
25
/>26
Shahid Alikhan (2007), lợi ích kinh tế xã hội của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ ở các nước đang phát triển,
NXB Bản ñồ, Hà Nội,Tr. 58.
24
17
hữu trí tuệ (ðã được sửa đổi bổ sung một số ñiều theo Luật số 39/2009 sửa ñổi bổ
sung một số ñiều của Luật SHTT 2005). Với văn bản này ñã chính thức xác ñịnh
luật sở hữu trí tuệ là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Như vậy, cho dù xuất hiện sớm hay muộn thì bảo hộ quyền tác giả vẫn là
một trong những lĩnh vực nhận ñược sự quan tâm rất lớn của Nhà nước. Bảo hộ
quyền tác giả mang tính quốc gia, các điều kiện bảo hộ, ñối tượng, phạm vi bảo hộ
do pháp luật của mỗi quốc gia quy ñịnh. Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học,
công nghệ, với nhu cầu giao thương giữa các quốc gia ñã làm cho quyền tác giả trở
thành vấn ñề chung. Nhiều vấn ñề ñã nảy sinh như làm thế nào ñể bảo vệ quyền lợi
của tác giả nước ngoài trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, làm thế nào ñể
ngăn chặn việc sao chép sách nước ngoài trong lãnh thổ của quốc gia đó. ðể giải
quyết vấn đề này địi hỏi phải có sự hợp tác thống nhất trên phạm vi quốc tế.
Vào cuối thế kỷ XVIII, mặc dù các tác phẩm văn học nghệ thuật của các
nước châu Âu ñã ñược bảo hộ ở trong nước, nhưng họ ngày càng nhận ra rằng
những tác phẩm ở nước họ lại thường xuyên bị sao chép và sử dụng không phép ở
nước khác và các tác giả khơng được hưỏng bất cứ quyền lợi nào. ðiều đó đã khiến
một số nước tiến hành ký kết các thỏa thuận quốc tế song phương ñể bảo hộ quyền
tác giả cho nhau. Tuy vậy trên thực tế, giải pháp này vẫn chưa tỏ ra thích hợp và
toàn diện. Ý tưởng về một thỏa thuận quốc tế ña phương nhằm bảo hộ quyền tác giả
trong phạm vi châu Âu đã được hình thành từ đó. Sau một thời gian thương lượng,
ñàm phán, ngày 9/9/1886 tại Berne, Thụy Sĩ, 10 nước châu Âu đã thơng qua thỏa
thuận quốc tế ñầu tiên về bảo hộ quyền tác giả : Công ước về bảo hộ các tác phẩm
văn học và nghệ thuật, được gọi tắt là Cơng ước Berne. Sau Công ước Bern nhiều
công ước quốc tế khác về quyền tác giả cũng ra đời như Cơng ước Rome bảo hộ
người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng (1961); Cơng ước
Geneva bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép khơng được phép bản
ghi âm của họ(1971); Công ước Brussels liên quan đến việc phân phối tín hiệu
mang chương trình vệ tinh(1974); Hiệp định Trips về những khía cạnh liên quan
đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (1994); Hiệp ước của Wipo về quyền tác
giả (1996); Hiệp ước của Wipo về biểu diễn và bản ghi âm (1996).
Tóm lại, với các quy ñịnh của pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế thì lợi
ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả ñã ñược bảo hộ một cách chính thức. Việc
bảo hộ này khơng chỉ trong phạm vi quốc gia mà cả phạm vi quốc tế.
18
1.1.3. ðặc ñiểm, bản chất của quyền tác giả
1.1.3.1. ðặc ñiểm quyền tác giả
Một là, quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức sáng tạo, khơng bảo hộ nội
dung sáng tạo
Quyền tác giả bảo hộ tác phẩm là bảo hộ hình thức thể hiện của ý tưởng
khơng phải bảo hộ nội dung ý tưởng nghĩa là chỉ cần tác phẩm ñược sáng tạo và
ñược ghi nhận dưới một hình thức vật chất nhất định như trên giấy, băng, đĩa thì
xem như tác phẩm đã hình thành và lúc đó quyền tác giả cũng được bảo hộ. Chẳng
hạn một người có ý tưởng về việc sử dụng ñiệu dân ca Bắc Bộ làm chất liệu đưa vào
ca khúc mới của mình thì ý tưởng này khơng được bảo hộ. Chỉ khi nào ý tưởng này
ñược thể hiện bằng những ký tự âm nhạc cụ thể trên khuôn nhạc, trên lời nhạc thì
tác phẩm đó mới được bảo hộ.
Thứ hai, quyền tác giả bảo hộ tác phẩm có tính ngun gốc
Tính ngun gốc của tác phẩm biểu hiện ở việc tác phẩm phải là thành quả
sáng tạo của chính người đó mà khơng có sự sao chép, bắt chước tác phẩm khác. Sự
sáng tạo của tác giả trong một tác phẩm thể hiện tính độc đáo của tác giả đó. Tính
độc đáo ở đây khơng đồng nghĩa với việc tác phẩm đó phải hoàn toàn mới, hoàn
toàn khác với những tác phẩm ñã tồn tại trước ñó. Chỉ ñơn giản là tác phẩm phải
mang dấu ấn của tác giả, nó thể hiện sự can thiệp chủ quan của tác giả về hình thức
thể hiện của một chủ ñề. Chẳng hạn như cũng là ý tưởng sử dụng làn dân ca Bắc bộ
vào giai điệu của bài hát nhưng mỗi nhạc sỹ có cách thể hiện khác nhau ở mỗi ca
khúc thì các tác phẩm đều được xem là có tính ngun gốc và đều được bảo hộ.
Ngồi ra tính ngun gốc của tác phẩm cịn được xác định bởi mức độ sáng tạo của
tác giả trong tác phẩm đó. Thơng thường một tác phẩm được bảo hộ khơng phụ
thuộc vào thể loại, sự biểu hiện, giá trị hay mục đích của tác phẩm. Tuy nhiên nếu
tác phẩm chỉ ñơn thuần là câu nói bình thường phổ biến mà tất cả mọi người đều sử
dụng thì khơng được bảo hộ.
1.1.3.2. Bản chất của quyền tác giả
Quyền tác giả là ñối tượng của quyền sở hữu trí tuệ nên quyền tác giả có
cùng bản chất của quyền sở hữu trí tuệ. Xét trong mối tương quan với các tài sản
khác thì quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả có các bản chất cơ bản sau:
Thứ nhất, quyền tác giả mang bản chất của quyền tài sản
19
Theo quy định của BLDS 2005 thì “quyền tài sản là quyền trị giá được bằng
tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”.
Như vậy, quyền tác giả cũng là một loại tài sản27 nhưng cũng giống như các
loại quyền tài sản khác, quyền tác giả là tài sản vơ hình có hai đặc tính cơ bản là trị
giá được bằng tiền và chuyển giao ñược trong giao lưu dân sự. Rõ ràng, con người
khơng thể nhìn thấy, khơng thể chạm vào loại tài sản này nhưng giá trị của nó lại có
thể được tính thành tiền. Giá trị này khơng phải nhờ vào các “thuộc tính vật chất”
mà nhờ vào “nội dung trí tuệ”. Chính vì đặc tính vơ hình của quyền sở hữu trí tuệ
mà nội dung quyền của nó cũng khác với các loại tài sản khác. Trong khi chủ sở
hữu của các tài sản khác ln có ba quyền năng: là quyền chiếm hữu, quyền sử
dụng và quyền định đoạt thì chủ sở hữu của quyền tác giả khơng có được quyền
chiếm hữu. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của một tác phẩm không thể nắm giữ,
quản lý những sáng tạo của mình trong việc thể hiện hình thức của tác phẩm. Mặt
khác, khi tác phẩm đã được cơng bố thì việc sử dụng tác phẩm “khơng làm hao
mịn” giá trị như các tài sản hữu hình khác mà ngược lại cịn có tính phái sinh. Tính
phái sinh này được một học giả miêu tả rất hình tượng “Một người có thể độc quyền
sở hữu một thơng tin (ý kiến) miễn là người đó giữ nó chỉ cho riêng mình biết;
nhưng khi thơng tin đó ñã ñược tiết lộ, nó thuộc quyền sở hữu của nhiều người,
người thứ ba nhận thông tin không làm bớt thơng tin mà người cung cấp thơng tin
có, điều này tương tự như việc một người thắp một ngọn nến từ ngọn nến ban đầu
và người đó nhận được ánh sáng của mình mà khơng làm giảm ánh sáng của ngọn
nến đó”28
Như vậy, với bản chất của loại tài sản ñặc biệt như trên thì quyền tác giả rất
dễ bị xâm phạm; tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả rất khó kiểm sốt quản lý tài sản
trí tuệ đồng thời khó ngăn chặn chủ thể khác sử dụng, khai thác tài sản này.
Thứ hai, quyền tác giả mang bản chất ñộc quyền
ðộc quyền là yếu tố cốt lõi trong việc bảo hộ quyền tác giả. Nếu khơng có
chế định ñộc quyền thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả khơng thể bảo vệ các
quyền và lợi ích của mình từ việc sáng tạo, đầu tư ra tác phẩm. Mục đích chính của
27
Theo quy định tại ðiều 163, BLDS 2005 thì “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”
Graham v.Joln Deere, 383. U.S.1, 8-9 (1966) ( trích lại từ Nguyễn Thanh Tú (2010), Pháp luật cạnh tranh
chuyển giao cơng nghệ và Hiệp định TRIPS kinh nghiệm cho Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,
tr.46)
28
20
việc bảo hộ độc quyền là ngăn chặn khơng cho người khác sử dụng thành quả sáng
tạo của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả một cách rộng rãi khi các chủ thể quyền
này chưa thu ñược những lợi ích nhất định từ việc sáng tạo của mình. Theo quy
định của pháp luật thì các độc quyền này do chính chủ thể quyền thực hiện hoặc cho
phép cá nhân, tổ chức khác thực hiện. Bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khai thác các
quyền đó đều phải thỏa thuận với các chủ thể quyền. Như vậy với quy ñịnh về ñộc
quyền sử dụng, ñộc quyền khai thác tác phẩm đã bảo vệ được lợi ích của tác giả,
chủ sở hữu quyền tác giả, thúc ñẩy sự sáng tạo, khuyến khích lao động. Tuy nhiên,
việc bảo hộ độc quyền có thể dẫn đến tiêu cực là làm hạn chế cạnh tranh, tạo điều
kiện cho chủ thể quyền có cơ hội lạm dụng quyền ảnh hưởng ñến sự tiếp cận tác
phẩm của cơng chúng. Do đó tính độc quyền trong việc bảo hộ quyền tác giả chỉ
mang tính tương đối. Thơng qua cơ chế bảo hộ của pháp luật thì sự ñộc quyền của
tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả chỉ ñược thực hiện trong một thời gian, một phạm
vi nhất ñịnh.
1.2.
Giới hạn quyền tác giả
1.2.1. Khái niệm giới hạn quyền tác giả
Theo từ ñiển tiếng Việt29, giới hạn có nghĩa là khoản hạn định, là hạn chế
trong một phạm vi nhất ñịnh.
Như vậy giới hạn quyền tác giả là việc hạn chế một số quyền và lợi ích nhất
ñịnh của tác giả ñối với các tác phẩm trong một số trường hợp nhất định. Về ngun
tắc chung thì tác giả là chủ thể ñược ñộc quyền sử dụng và định đoạt tác phẩm của
mình. “Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài
sản”30. Theo đó, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả sử dụng tác phẩm bằng việc thực
hiện các nội dung như: “làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công
chúng; sao chép tác phẩm; phân phối nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
truyền ñạt tác phẩm đến cơng chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vơ tuyến mạng
thơng tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác31” cịn “quyền định
đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu tài sản32”,
theo đó chủ sở hữu quyền tác giả có quyền chuyển nhượng các quyền tài sản ñược
29
Viện ngôn ngữ - Khoa học, xã hội và nhân văn (2007), Từ ñiển Tiếng Việt, Nhà xuất bản từ ñiển Bách
Khoa, Hà Nội, tr. 305.
30
ðiều 192, BLDS 2005
31
ðiều 20, Luật SHTT 2005
32
ðiều 195 BLDS 2005
21
quy ñịnh trong luật cho các tổ chức, cá nhân khác theo hợp ñồng hoặc theo quy ñịnh
của pháp luật có liên quan33. Tuy nhiên như đã phân tích ở phần bản chất của quyền
tác giả thì sự độc quyền của tác giả khơng mang tính tuyệt đối mà sự ñộc quyền của
tác giả bị giới hạn trong một số trường hợp nhất ñịnh nhằm tạo ra sự cân bằng
quyền và lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và lợi ích của người sử dụng,
lợi ích của xã hội. “Giới hạn ñộc quyền của tác giả có thể được áp đặt để việc đóng
góp tác phẩm làm giàu cho nền văn hóa trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên việc giới
hạn cũng không nên làm nản lòng sự sáng tạo và phổ biến một tác phẩm mới”34
Tóm lại, giới hạn quyền tác giả là các phương thức điều chỉnh của pháp
luật nhằm cân bằng lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và người sử
dụng tác phẩm.
1.2.2. Lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả , người sử dụng và xã hội
Aristole từng nói “Luật pháp được lập ra là ñể cân bằng lợi ích ñối kháng
nhau”. Rõ ràng, trong quan hệ quyền tác giả có hai chủ thể có lợi ích trái ngược
nhau là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và người sử dụng.
1.2.2.1.
Lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả
Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm như nhà văn tạo ra truyện
ngắn, nhạc sỹ tạo bài hát, kỹ sư thiết kế phần mềm.
Chủ sở hữu quyền tác giả là người có quyền sở hữu đối với quyền tác giả.
Chủ sở hữu quyền tác giả có thể là tổ chức ñã giao nhiệm vụ cho tác giả sáng tạo ra
tác phẩm như công ty phần mềm giao nhiệm vụ cho một kỹ sư thiết kế phần mềm
theo Hợp ñồng lao ñộng, hoặc chủ sở hữu quyền tác giả có thể là cá nhân nhận
chuyển giao quyền tài sản từ tác giả của tác phẩm đó chẳng hạn như một ca sỹ nhận
chuyển giao quyền tài sản ñối với một ca khúc do nhạc sỹ sáng tác.
Theo từ ñiển Tiếng Việt35 thì lợi ích là điều có lợi, điều cần thiết. Như vậy,
lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm do mình sáng tạo là
khả năng hưởng những điều có lợi, những điều cần thiết từ tác phẩm.
33
ðiều 45 Luật SHTT 2005
Barasits (2005), Copyright in the Digital Age – exception and limitation to copyright and their impact on
free Access to Information, Law Falcuty -Johnnes Kepler University Liz, pp. 7.
34
35
Viện ngôn ngữ - Khoa học, xã hội và nhân văn (2007), Từ ñiển Tiếng Việt, Nhà xuất bản từ ñiển Bách
Khoa, Hà Nội, tr.435.