Tải bản đầy đủ (.docx) (23 trang)

Báo cáo thực tế CÔNG TÁC TC CÁN BỘ UBND HUYEN KIM BANG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (213.42 KB, 23 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

BÁO CÁO THỰC TẾ
Đơn vị khảo sát: UBND huyện Kim Bảng

Họ và tên học viên:
Mã học viên:

Lớp: QLKT

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Hà Nam, Tháng 04 năm 2017
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT


Thứ tự
1
2

Chữ viết tắt
UBND
HĐND

Giải nghĩa
Ủy ban nhân dân
Hội đồng nhân dân


Chương 1


GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG

1.1. Lịch sử hình thành Ủy ban Nhân dân huyện Kim Bảng
Kim Bảng là huyện nằm ở phía tây bắc của tỉnh Hà Nam, cách Hà Nội khoảng
60 km, phía bắc giáp các huyện Ứng Hồ, Mỹ Đức, Hà Nội, phía tây giáp huyện Lạc
Thủy, tỉnh Hịa Bình, phía đông giáp huyện Duy Tiên và thành phố Phủ Lý, phía
nam giáp huyện Thanh Liêm; gần trục quốc lộ 1A, 21A, 21B, 38B. Tồn huyện có
17 xã và 1 thị trấn.
Kim Bảng nằm trong vùng tiếp xúc giữa vùng trũng đồng bằng sơng Hồng và
dải đá trầm tích ở phía tây nên có địa hình đa dạng. Phía bắc sơng Đáy là đồng bằng
thấp với các dạng địa hình ơ trũng, phía nam sơng Đáy là vùng đồi núi có địa hình
cao, tập trung nhiều đá vơi, sét. Ở đây khí hậu mang những đặc điểm của khí hậu
đồng bằng sơng Hồng: nhiệt đới gió mùa, mùa đơng lạnh và mùa hạ nóng ẩm, mưa
nhiều.Vùng đồng bằng thích hợp trồng lúa nước,vùng núi ba sao có các cây ăn quả
như na .Ngồi ra cịn có tài ngun khống sản :núi đá vơi thích hợp sản xuất xi
măng và vật liệu xây dựng( nhà máy xi măng Bút Sơn).Trên dịa bản huyện cịn có
nhiều danh lam thắng cảnh : Ngũ động Thi Sơn.Ao rong, hồ sinh thái Ba sao,.....Về
dân só tồn huyện có 201,2 nghìn người
Cùng với sự thuận lợi về vị trí địa lí của huyện,UBND huyện Kim Bảng được
đặt ở vị trí trung tâm của huyện , ngay mặt đường ,nơi mọi người dễ tìm thấy ,thuận
tiện cho giao thông đi lại.
- Tên đơn vị : UBND huyện Kim Bảng
- Thủ trưởng cơ quan:
Chủ tịch UBND huyện Kim Bảng: Phạm Hồng Sơn
- Điện thoại: 02263.820.033
- Địa chỉ cơ quan :Số 67, Đường Trần Hưng Đạo ,Thị trấn Quế ,huyện Kim
Bảng, Hà Nam.


1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn, chức năng của UBND huyện Kim Bảng

1.2.1. Vị trí và chức năng của UBND huyện Kim Bảng
Uỷ ban nhân dân huyện Kim Bảng do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp
hành của Hội đồng nhân dân , cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương,chịu trách
nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên.
UBND huyện có trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo thi hành Hiến pháp, Luật, các
văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND cùng cấp. UBND
cấp trên chỉ đạo hoạt động của UBND cấp dưới trực tiếp. Trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn do pháp luật quy định, UBND ra Quyết định, Chỉ thị và tổ chức thực
hiện, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó, nhằm đảm bảo thực hiện chủ trương
,biện pháp phát triển kinh tế - xã hội ,củng cố an ninh ,quốc phịng và thực hiện các
chính sách khác trên địa bàn huyện .
UBND huyện Kim Bảng thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương
,góp phần bảo đảm sự chỉ đạo quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước
từ trung ương tới cơ sở.
1.2.2. Nhiệm vụ và quyền hạn chính của UBND huyện Kim Bảng
UBND huyện Kim Bảng thảo luận tập thể và quyết định theo đa số các vấn đề
được quy định tại Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân -Uỷ ban nhân dân và những vấn
đề quan trọng khác mà pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của UBND huyện
quyết định.
- Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội hàng năm trình HĐND cùng cấp
thông qua ,tổ chức kiểm tra việc thực hiện kế hoạch
- Quản lý nhà nước ở địa phương trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp,
ngư nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ, văn hóa, giáo
dục, y tế, khoa học, cơng nghệ và môi trường, thể dục - thể thao, phát thanh - truyền
hình và các lĩnh vực xã hội khác; quản lý nhà nước về đất đai và các nguồn tài
nguyên thiên nhiên khác, quản lý việc thực hiện tiêu chuẩn đo lường chất lượng sản


phẩm hàng hóa
- Tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiểm tra việc chấp hành hiến pháp, luật, các

văn bản của cơ quan cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp trong cơ quan nhà
nước, tổ chức kinh tế,tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân ở địa
phương.
- Bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện nhiệm vụ xây
dựng lực lượng vũ trang và xây dựng quốc phịng tồn dân, thực hiện chế độ nghĩa
vụ quân sự, nhiệm vụ hậu cần tại chỗ, nhiệm vụ động viên, chính sách hậu phương
quân đội và chính sách đối với các lực lượng vũ trang nhân dân ở địa phương, quản
lý hộ tịch, hộ khẩu ở địa phương, quản lý việc cư trú đi lại của người nước ngồi ở
địa phương.
- Phịng chống thiên tai, bảo vệ tài sản của nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội, bảo vệ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích
hợp pháp khác của cơng dân; chống tham nhũng, chống buôn lậu, làm hàng giả và
các tệ nạn xã hội khác.
- Quản lý công tác tổ chức, biên chế, lao động tiền lương, đào tạo đội ngũ công
chức viên chức Nhà nước và cán bộ cấp xã, công tác bảo hiểm xã hội theo sự phân
cấp của Chính phủ.
- Tổ chức và chỉ đạo cơng tác thi hành án dân sự ở địa phương theo quy định
của pháp luật.
- Quyết định việc dự toán thu chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện ,dự
toán thu chi ngân sách và phân bổ ngân sách để phát triển kinh tế địa phương ,thực
hiện quyền về ngân sách của địa phương theo quy định của pháp luật.


-Xây dựng quy hoạch kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội như phát triển công
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ,du lịch thương mại trên địa bàn huyện .Quản lý nhà
nước trong tất cả các lĩnh vực: kinh tế;nông nghiệp;giao thông,vận tải; thương mại
dịch vụ; y tế; văn hóa.
1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy của UBND huyện Kim Bảng
Sơ đồ 1: Tổ chức bộ máy của UBND huyện Kim Bảng


Căn cứ vào tình hình đặc điểm của địa phương và tổ chức của cấp trên,Văn
phòng HĐND-UBND huyện Kim Bảng có cơ cấu tổ chức như sau :


- Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực của địa phương do nhân dân bầu ra
theo nhiệm kỳ 5 năm , đại diện cho ý chí , nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân
dân,chịu trách nhiệm trước nhân dân và cơ quan cấp trên
- Uỷ ban nhân dân là cơ quan do HĐND huyện bầu ra đây là cơ quan hành
chính nhà nước cấp địa phương , cơ quan chấp hành của HĐND huyện Kim Bảng và
UBND cấp trên .
Cơ cấu tổ chức của UBND huyện:
1.Ông Phạm Hồng Sơn- Chủ tịch
Là người đứng đầu cơ quan khối Uỷ ban có nhiệm vụ quản lý và điều hành
tồn bộ các cơng việc của UBND.
2. Ơng Lưu Trần Sơn- Phó chủ tịch phụ trách khối Văn hóa –Xã hội
3 Bà Phạm Thị Hiệp- Phó chủ tịch phụ trách khối kinh tế
4.Các phịng ban chun mơn thuộc UBND huyện
Là cơ quan tham mưu giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý Nhà
nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của
chủ tịch UBND huyện
* Gồm 12 phịng ban chun mơn:
- Văn phòng HĐND - UBND huyện
- Phòng Nội vụ
- Phòng Kinh tế và hạ tầng
- Thanh tra huyện
- Phòng Tư pháp
- Phịng Tài ngun - Mơi trường
- Phịng Tài chính - Kế hoạch
- Phòng Lao động Thương binh và xã hội
- Phịng Văn hóa -Thơng tin

- Phịng Giáo dục và đào tạo


- Phịng Nơng nghiệp và PTNT
- Phịng Y tế

Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CÁN BỘ TẠI UBND HUYỆN KIM BẢNG
2.1 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại UBND huyện Kim
Bảng
2.1.1 Thực trạng đặc điểm cơ cấu tổ chức.
Tổ chức bộ máy đội ngũ cán bộ công chức biên chế của UBND huyện Kim
Bảng bao gồm:
- Lãnh đạo UBND huyện : 01 Chủ tịch UBND; 02 Phó Chủ tịch UBND
- Văn phòng HĐND - UBND huyện: 11 đồng chí
- Phịng Nội vụ: 4 đồng chí
- Phịng Kinh tế và hạ tầng: 4 đồng chí
- Thanh tra huyện: 4 đồng chí
- Phịng Tư pháp: 3 đồng chí
- Phịng Tài ngun - Mơi trường: 5 đồng chí
- Phịng Tài chính - Kế hoạch: 9 đồng chí
- Phịng Lao động Thương binh và xã hội: 6 đồng chí
- Phịng Văn hóa -Thơng tin: 3 đồng chí
- Phịng Giáo dục và đào tạo: 3 đồng chí
- Phịng Nơng nghiệp và PTNT: 5 đồng chí
- Phịng Y tế: 2 đồng chí
Tổng số cán bộ cơng chức là 62 đồng chí. Nhìn chung tổ chức bộ máy của
UBND huyện Kim Bảngnhư thế là khá hợp lí. Tuy nhiên, qua đánh giá hiệu quả



cơng việc có thể thấy thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức qua các nội
dung sau:
2.1.2.Về chất lượng nhân sự:
 Về phẩm chất đạo đức
Tuy còn nhiều khó khăn trong cuộc sống, nhưng nhìn chung, đa số cán bộ,
công chức vẫn giữ được phẩm chất đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh, có tinh
thần rèn luyện, học tập vươn lên, khơng tham ơ lãng phí, nêu cao ý thức kỉ luật và
thể hiện tinh thần trách nhiệm đối với các lĩnh vực công tác được giao, có ý thức
giáo dục gia đình, người thân chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước. Trong sinh hoạt đa số cán bộ, công chức đều giữ được mối quan hệ gần
gũi với quần chúng nơi công tác cũng như nơi cư trú đồng thời tạo được sự tín
nhiệm của nhân dân. Bên cạnh đó cịn một số ít cán bộ, cơng chức do hiểu sai về chủ
trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và một vài cán bộ do thiếu tinh
thần trách nhiệm, khơng hồn thành nhiệm vụ được giao nên đã được cơ quan nhắc
nhở, giáo dục và kỉ luật với hình thức khiển trách.
 Về trình độ năng lực
Trình độ năng lực biểu hiện ở các yếu tố sau:
 Về trình độ học vấn
+ Trung học cơ sở: 0
+ Trung học phổ thơng: 62/62
 Về trình độ chun mơn
+ Chưa qua đào tạo: 0
+ Sơ cấp: 0
+ Trung cấp: 12
+ Cao đẳng: 25
+ Đại học: 25
 Về trình độ lý luận chính trị


+ Lí luận phổ thơng: 12

+ Sơ cấp: 15
+ Trung cấp: 25
+ Cao cấp: 10
Trình độ năng lực của cán bộ cơng chức khơng ngừng được nâng lên, điều đó
thể hiện qua bản số liệu sau:
 Về trình độ ngoại ngữ, tin học
- Trình độ ngoại ngữ :
+ Chứng chỉ A: 8
+ Chứng chỉ B: 25
- Trình độ tin học :
+ Chứng chỉ A&B: 10
+ Trung cấp: 6
+ Cao đẳng: 2
+ Đại học: 0
Có thể thấy rằng năng lực của cán bộ, cơng chức ở UBND huyện Kim Bảng
đã có sự tăng lên một cách đáng kể. Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan thì
trình độ năng lực như vậy cịn chưa thực sự cao. Số cán bộ, cơng chức có trình độ
đại học trở lên cịn ít; trình độ sơ cấp lí luận chính trị trở xuống cịn nhiều. Đặc biệt
là trình độ tin học, ngoại ngữ của cán bộ, cơng chức cịn q thấp. Vì thế , cần gấp
rút tổ chức cho cán bộ, công chức tiếp tục học tập nâng cao trình độ năng lực.
 Về khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao
Hầu hết cán bộ, cơng chức trong UBND huyện Kim Bảng đều tích cực phấn
đấu, vượt qua những khó khăn để hồn thành nhiệm vụ được giao. Tích cực làm tốt
cơng tác tham mưu cho lãnh đạo đề các chủ trương chính sách đúng đắn và triển
khai có hiệu quả để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị tại địa
phương. Tuy nhiên tính nhạy bén, chủ động cịn hạn chế. Một số cán bộ, công chức


còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn, một số mặt chưa đáp ứng được yêu cầu và nhiệm
vụ mới, trình độ chuyên môn - nghiệp vụ của một số cán bộ, cơng chức cịn hạn chế,

từ đó đã ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ của UBND huyện nên hiệu quả công việc
đôi lúc chưa được như mong muốn. Qua đánh giá cán bộ, cơng chức hằng năm cho
thấy có trên 100% cán bộ, cơng chức được đánh giá hồn thành nhiệm vụ được
giao.
 Thực tiễn công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức:
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đã được lãnh đạo UBND
huyện Kim Bảng đặc biệt quan tâm nên đã đem lại những kết quả khả quan. Phần
lớn cán bộ, công chức được đào tạo, bồi dưỡng theo quy hoạch. Chất lượng cán bộ,
cơng chức mà nhất là trình độ học vấn được nâng lên rõ rệt, đến nay trong cơ quan
có 100% cán bộ, cơng chức đạt trình độ học vấn 12/12. Bên cạnh đó việc đào tạo,
bồi dưỡng chun mơn, nghiệp vụ, bồi dưỡng chính trị cũng rất được quan tâm. Một
số đồng chí đã được cử đi học các lớp trung cấp, cao học, đại học chuyên ngành theo
diện quy hoạch và đào tạo nguồn hoặc đi học theo nguyện vọng của bản thân. Cơng
tác nâng cao trình độ năng lực cho cán bộ, công chức rất được UBND huyện Kim
Bảngquan tâm đầu tư cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Đây chính là điều kiện thuận lợi
cho cơng tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Bên cạnh đó, một số
cán bộ, cơng chức lười học tập, thiếu ý thức phấn đấu hoặc do kinh tế gia đình eo
hẹp nên đã khơng quyết tâm học tập để nâng cao trình độ năng lực.
Nhìn chung số cán bộ, công chức sau khi được đào tạo, bồi dưỡng đã góp
phần tạo sự chuyển biến về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong cơ quan và
đã phát huy tốt khi thực hiện nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, có một số được đào
tạo khơng theo quy hoạch nên có ngành được đào tạo quá nhiều (ngành luật) trong
khi đó, có ngành rất thiếu cán bộ, cơng chức được cử đi học như hành chính, kĩ
thuật, ngoại ngữ…Ngồi ra, việc đào tạo không gắn với chức danh, yêu cầu công
việc của cơ quan nên một số cán bộ, công chức được đào tạo nhưng phải làm trái với


chuyên môn được đào tạo nên hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được giao chưa cao Một
số khác đi học nâng cao nhưng với mục tiêu “phổ cập về bằng cấp” nên năng lực
thực tế khơng có, từ đó khi giải quyết công việc cũng kém hiệu quả.

Đánh giá chung về đội ngũ cán bộ công chức UBND huyện Kim Bảng có thể
dễ dàng nhận thấy những ưu điểm đó là:
Đội ngũ cán bộ, công chức UBND huyện Kim Bảng đa số đã được rèn luyện,
thử thách và trưởng thành qua cơng tác. Số lượng, chất lượng, cơ cấu có sự chuyển
biến theo hướng tích cực. Hầu hết cán bộ, cơng chức trong UBND huyện đều có bản
lĩnh chính trị vững vàng, ln có ý thức rèn luyện, giữ vững phẩm chất chính trị, xây
dựng khối đồn kết thống nội bộ. Thường xuyên trau dồi, rèn luyện phẩm chất đạo
đức cách mạng, có lối sống giản dị, lành mạnh, gần gũi với quần chúng nhân dân.
Lãnh đạo gia đình thực hiện tốt chủ trương của đảng, chính sách pháp luật của Nhà
nước. Những đồng chí có biểu hiện thiếu sót, khuyết điểm đều được đấu tranh kiên
quyết trên tinh thần dân chủ và được xử lí kiên quyết, đúng mức, phù hợp. Đa số cán
bộ, công chức đều thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu trên các mặt, nêu cao
trách nhiệm, năng động, sáng tạo, nổ lực phấn đấu hồn thành nhiệm vụ được phân
cơng; cơng tác quản lí xây dựng đội ngũ đã được UBND huyện Kim Bảng quan tâm
và đã có những chuyển biến tích cực về nhận thức thể hiện qua việc tuyển dụng, bố
trí; đã chú ý nhiều hơn công tác giáo dục phẩm chất đạo đức cho cán bộ, cơng chức.
Từ đó đội ngũ đã từng bước đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ mới. Lãnh đạo
UBND huyện Kim Bảngtiếp tục quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức ngày
càng nhiều theo hướng trẻ hoá và theo quy hoạch nguồn, theo công việc. Nhờ vậy số
cán bộ sau khi học xong đã có kiến thức, trình độ chun mơn - nghiệp vụ và đã
phát huy tốt khả năng của mình trong cơng việc, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ chính trị của địa phương.
Có được kết quả nêu trên là nhờ lãnh đạo UBND huyện Kim Bảng đã chấp
hành nghiêm túc và sáng tạo các chủ trương, Nghị quyết của cấp trên. Có được đồn


kết nhất trí trong tồn cơ quan. Bên cạnh đó đội ngũ cán bộ, công chức đã thể hiện
tinh thần trách nhiệm, ln trau dồi các phẩm chất chính trị, có ý thức tự giác trong
cơng tác, học tập, rèn luyện. Ngồi ra sự quản lí, giám sát giáo dục thường xuyên
của tổ chức đã góp phần rất lớn trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công

chức của UBND huyện Kim Bảng.
2.2.Các hoạt động về công tác cán bộ của UBND huyện Kim Bảng
2.2.1.Công tác đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hóa
Cơng tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức là “công việc gốc” của
Đảng. Phải kịp thời đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực,
vừa có đức, vừa có tài, mà cái đức là cái gốc. Chú trọng bồi dưỡng đào tạo cả về
chính trị lẫn chun mơn.
Vì vậy công tác đào tạo, bồi dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cán bộ,
cơng chức trong thời kì mới. Nếu làm tốt cơng tác này thì sẽ tạo ra một đội ngũ cán
bộ, cơng chức có thể thích ứng với yêu cầu và nhiệm vụ mới. Ngược lại nếu cơng
tác này khơng được quan tâm đầu tư thì trình độ năng lực của cán bộ, cơng chức sẽ
bị tụt hậu. Điều này đồng nghĩa với hiệu quả công việc không cao và sẽ ảnh hưởng
rất lớn đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đến các hoạt động của cơ quan trong thời kì
mới.
• Cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm
Việc tuyển dụng bổ nhiệm cán bộ, công chức phải căn cứ vào nhu cầu công
việc của cơ quan. Cán bộ, cơng chức phải có phẩm chất đạo đức tốt, đáp ứng được
tiêu chuẩn chuyên môn - nghiệp vụ.
Công tác tuyển dụng, bổ nhiệm ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả cơng tác của
cán bộ, cơng chức. Vì vậy, khi tuyển dụng phải đảm bảo tính dân chủ, cơng khai,
chú ý đến việc sắp xếp sao cho “đúng lúc, đúng người, đúng việc, đúng ngành nghề,
đúng sở trường” thì mới phát huy năng lực công tác của từng cán bộ, và đem lại hiệu
quả cao cho cơng việc, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.


Nếu công tác bổ nhiệm, tuyển dụng thực hiện không tốt sẽ làm cho những cá nhân
có trình độ năng lực sinh ra bất mãn, không muốn phấn đấu vươn lên. Mặt khác,
những cán bộ, cơng chức khơng có năng lực mà phải đảm nhiệm cơng việc q sức
mình thì hiệu quả cơng việc khơng cao.
• Chế độ chính sách

Chế độ chính sách bao gồm chế độ tiền lương và các chế độ chính sách đãi
ngộ đối với cán bộ, cơng chức. Trong cơ chế thị trường hiện nay thì chế độ, chính
sách ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Thực tế cho
thấy khi thu nhập của con người không tương xứng với công sức của họ bỏ ra hoặc
khơng có chế độ chính sách đãi ngộ thoả đáng ngoài tiền lương đối với cán bộ, cơng
chức hồn thành xuất sắc nhiệm vụ đựơc giao thì họ dễ sinh ra chán nản, thiếu trách
nhiệm với cơng việc, thậm chí có khi cịn là ngun nhân dẫn đến các tệ nạn như
tham nhũng, hối lộ. Vì vậy nếu chế độ tiền lương là hình thức đầu tư trực tiếp cho
con người, đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội thì chắc chắn sẽ góp phần nâng cao
chất lượng cán bộ, cơng chức.
• Cơng tác quản lý, kiểm tra, giám sát
Quản lí, kiểm tra, giám sát cán bộ, công chức về các mặt nhận thức tư tưởng,
năng lực công tác, các mối quan hệ xã hội, đạo đức, lối sống…là những nội dung vô
cùng khó khăn và phức tạp. Vì mỗi cán bộ, cơng chức có hồn cảnh cơng tác, mối
quan hệ xã hội khác nhau. Tuy nhiên nếu làm tốt công tác này thơng qua các hình
thức kiểm tra, giám sát như của cơ quan, của nhân dân, của chi bộ nơi cán bộ, cơng
chức đang cư trú thì sẽ góp phần rất lớn trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức.
2.2.2. Công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Pháp luật là một hệ thống
các chế tài nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Quản lý Nhà
nước bằng pháp luật và tăng cường pháp chế là nguyên tắc hiến định. Nguyên tắc


này đòi hỏi tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước phải dựa trên cơ sở pháp luật.
Điều đó có nghĩa là hệ thống hành chính nhà nước phải chấp hành luật và các quyết
định của Quốc hội trong chức năng thực hiện quyền hành pháp; khi ban hành quyết
định quản lý hành chính phải phù hợp với nội dung và mục đích của luật. Pháp luật
phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Nếu
các cơ quan, tổ chức, cá nhân có những sai phạm trong hoạt động quản lý gây thiệt

hại tới lợi ích hợp pháp của cơng dân thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và
phải bồi thường thiệt hại cho công dân.
Trong thực tế, một số cơ quan hành chính nhà nước chưa chủ động trong việc
xác lập cách thức, nguyên tắc quản lí, thiếu sáng tạo trong việc vận dụng quy định
pháp luật khi giải quyết các vấn đề của thực tiễn. Một số nơi lại theo đuổi những
cách làm riêng biệt, gắn với lợi ích của ngành, địa phương mà khơng tính tới lợi ích
của tồn xã hội, phá vỡ các chuẩn mực và trật tự được cơng nhận. Thước đo hiệu
quả của quản lý hành chính nhà nước chưa được chú trọng đúng mức, nghiêng về
định lượng hơn là định tính, khơng đánh giá thỏa đáng tác động của các yếu tố mơi
trường, văn hóa, đạo đức trong quản lý hành chính, đây cũng là những khía cạnh dễ
gây nên phản ứng từ phía xã hội và thường rất khó khắc phục hậu quả. Để xảy ra
hiện tượng này là do trình độ quản lý hành chính nhà nước của nhà quản lý cịn hạn
chế, khơng thường xuyên cập nhật kiến thức pháp luật, các chính sách, chủ trương
đường lối của Đảng....
Nói đến bộ máy quản lý hành chính thì khơng thể khơng nói đến nhân tố con
người - ở đây là cán bộ, công chức. Nếu cán bộ, cơng chức có năng lực, có phẩm
chất chính trị, chun mơn, đạo đức tốt thì mọi cơng việc của cơ quan, tổ chức được
thực hiện nhanh chóng, ngược lại cán bộ, công chức kém về năng lực, phẩm chất
đạo đức, tha hoá về lối sống, tham nhũng, cửa quyền… thì tất yếu bộ máy hoạt động
kém hiệu quả. Cán bộ, cơng chức phải đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cá nhân,
phải sống và làm việc theo tinh thần “cần, kiệm, liêm, chính, chí cơng vô tư".


Đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lương đội ngũ cán bộ, công chức là một
nội dung quan trọng trong công tác cán bộ; Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCH
Trung ương Đảng khóa X về Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý bộ máy nhà nước xác định: “Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
tính chuyên nghiệp của bộ máy hành chính, của cán bộ, cơng chức, đặc biệt kỹ năng
hành chính”; Luật cán bộ, cơng chức được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thơng
qua cũng đã nhấn mạnh “Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức có trách

nhiệm xây dựng và cơng khai quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn
và nâng cao năng lực, trình độ chun mơn, nghiệp vụ của công chức”.
Nhiều chủ trương, giải pháp lớn nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức được thể chế hóa, cụ thể hóa và từng bước đi vào cuộc sống. Công tác
nâng cao chất lượng cán bộ, công chức đã có những đổi mới về nội dung, phương
pháp và cách làm, mang lại một số kết quả tích cực: hệ thống các quy định, quy chế
về quản lý và phân cấp quản lý cán bộ được bổ sung, đổi mới; các khâu của công tác
nâng cao chất lượng cán bộ, công chức được thực hiện ngày càng đồng bộ; dân chủ,
công khai trong công tác cán bộ được mở rộng trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc Ðảng
thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đồng thời đề cao
trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu tổ chức trong hệ thống chính trị.
Chất lượng đội ngũ cán bộ, cơng chức nhìn chung được nâng lên cả về trình độ
chun mơn nghiệp vụ, lý luận chính trị và năng lực thực hiện nhiệm vụ. Cán bộ trẻ,
cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số được quan tâm hơn; đội ngũ cán bộ lãnh
đạo chủ chốt các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng; trình độ, kiến thức và năng lực
quản lý kinh tế, quản lý xã hội ngày càng được nâng cao. Phần lớn cán bộ, công
chức giữ gìn được phẩm chất chính trị và đạo đức, lối sống, trung thành với sự
nghiệp cách mạng của Ðảng, từng bước thích ứng với cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Sau khi triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 09/02/2007 khoá


X đến nay, bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước, MTTQ và các đoàn thể từng bước
được đổi mới, đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn cán bộ theo quy định. Đội ngũ cán bộ,
công chức được nâng lên cả về chất lượng và chun mơn, cơ bản có sự đồng bộ về
cơ cấu như: tỷ lệ nữ, trẻ, về độ tuổi tương đối hợp lý, thể hiện sự đổi mới và kế thừa
giữa các thế hệ; có số đơng là đảng viên.
Nhìn chung đội ngũ cán bộ, cơng chức ở các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt
trận Tổ Quốc và các đồn thể có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực hồn thành tốt
nhiệm vụ được giao. Ý thức tổ chức kỷ luật tốt, bản thân và gia đình chấp hành tốt

chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trình độ nhận thức, trình độ lý luận
được nâng lên, tiếp cận và xử lý nhanh những nhiệm vụ được giao kể cả nhiệm vụ
mới đòi hỏi độ tư duy cao. Phần lớn đội ngũ cán bộ, công chức được đào tạo cả
chun mơn và lý luận chính trị nên đã phát huy tốt chuyên môn, nghiệp vụ trên các
lĩnh vực cơng tác được giao, có trách nhiệm trước Đảng và nhân dân, hăng hái đi
đầu trong hoạt động thực tiễn, năng động sáng tạo trong lãnh đạo quản lý, nhìn nhận
và giải quyết tốt kịp thời các vấn đề đặt ra ở cơ sở. Luôn coi trọng chất lượng và
hiệu quả công việc.
Từ khi thực hiện chương trình tổng thể Cải cách hành chính đến nay, có thể
nói, cơng tác xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, cơng chức đã có bước
tiến bộ rõ rệt. Điều đó thể hiện ở chỗ, cơng tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức
tiếp tục được cải cách theo hướng phân công, phân cấp rơ hơn. Thẩm quyền và trách
nhiệm trong việc bổ nhiệm, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức được
xác định rõ cho người đứng đầu cơ quan hành chính và thủ trưởng đơn vị sự nghiệp,
dịch vụ công.
Chúng ta tiếp tục phân biệt rõ hơn đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ
thống chính trị nước ta: cán bộ qua bầu cử, cơng chức hành chính, viên chức sự
nghiệp, cán bộ giữ chức vụ lănh đạo trong doanh nghiệp nhà nước, cán bộ chuyên
trách và công chức cấp xã. Trên cơ sở đó, xác định những yêu cầu, tiêu chuẩn về


tŕnh độ, năng lực, phẩm chất, cơ chế quản lý và chế độ, chính sách đãi ngộ thích
hợp. Chúng ta cũng đã rà soát, đánh giá lại hệ thống các tiêu chuẩn chức danh cơng
chức hiện có để từ đó điều chỉnh cũng như ban hành mới một số chức danh, tiêu
chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức, viên chức. Cho đến nay, có hơn 200 chức
danh tiêu chuẩn cán bộ, cơng chức đang được sử dụng; góp phần quan trọng vào
công tác quản lý và sử dụng cán bộ, công chức. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức cũng có những bước tiến rõ rệt. Việc triển khai công tác này tập trung vào
thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2001-2005 đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Nhìn một cách tổng thể, phải thừa nhận rằng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức đã từng bước được nâng lên, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của công cuộc
đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế.
2.2.3. Công tác đào tạo và phát triển nhân lực
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có vai trị quan trọng trong công tác cán
bộ, nhất là việc xây dựng và nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
các cấp. Với quan điểm đó, trong những năm qua UBND tỉnh Hà Nam và Tỉnh ủy
Hà Nam đã ban hành nhiều Nghị quyết, Quyết định, đề án, và các cơ chế, chính
sách, các biện pháp để lãnh đạo, chỉ đạo và đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận.
Hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ từ tỉnh đến huyện được củng cố, phát
triển và đã thực hiện việc liên kết và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị,
trình độ chun mơn nhằm chuẩn hóa và nâng cao trình độ, chất lượng, năng lực
thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, góp phần tăng cường hiệu
lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở.
Tuy nhiên, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong thời gian qua vẫn còn có
những hạn chế cần được quan tâm như việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở một số nơi
chưa đồng bộ giữa số lượng, chất lượng và cơ cấu chưa sát với quy hoạch, chưa gắn


với nhu cầu sử dụng cán bộ của cơ quan, đơn vị; chương trình, tài liệu cịn chậm đổi
mới, thiếu cập nhật thông tin, kiến thức mới, trong đào tạo còn nặng nề về lý thuyết,
kiến thức thực tiễn chưa nhiều, nhất là kiến thức quản lý chuyên ngành, lĩnh vực,
các kỹ năng lãnh đạo, quản lý, kỹ năng hành chính, thái độ ứng xử, làm việc.
2.2.4 .Cơng tác hoạch định nhân lực
Hoạch định nhu cầu nhân lực một cách cụ thể bao gồm:
Xác định cần bao nhiêu người với trình độ thích ứng để thực hiện các nhiệm
vụ hay mục tiêu của UBND huyện Kim Bảng cũng như của UBND tỉnh Hà Nam
Xác định lực lượng lao động sẽ làm việc cho UBND huyện.
Lựa chọn các giải pháp để cân đối cung và cầu nhân lực của UBND huyện tại
thời điểm thích hợp trong tương lai.

2.2.5.Cơng tác sắp xếp và bố trí nhân lực cho các vị trí:
Cơng tác này được UBND huyện Kim Bảng đặc biệt chú trọng quan tâm sao
cho sắp xếp đúng người đúng việc không gây lãng phí và sai lầm trong tuyển chọn
và sắp xếp nhân lực.


Chương 3
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ TẠI UBDN
HUYỆN KIM BẢNG
3.1.Những mặt còn hạn chế
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên thì cơng tác nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ, cơng chức vẫn cịn một số hạn chế như sau:
Một bộ phận cán bộ, công chức khơng thường xun tu dưỡng, rèn luyện tư
tưởng chính trị đã giảm sút ý chí chiến đấu, có biểu hiện sa sút về phẩm chất chính
trị, dao động về mục tiêu, lí tưởng cách mạng; tác phong làm việc quan liêu, khơng
sát cơng việc, sát tình hình cơ sở; có biểu hiện lơ là, mất cảnh giác trước âm mưu
“diễn biến hồ bình” của các thế lực thù địch.
Một số khác thoái hoá, biến chất về đạo đức, lối sống, ngại đấu tranh, va
chạm; tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỉ luật cịn kém, khơng nghiêm túc tự


phê bình, phê bình, đấu tranh kém, thiếu dân chủ trong sinh hoạt, cấp dưới khơng
dám phê bình cấp trên, cấp trên chưa thật sự lắng nghe góp ý của cấp dưới.
Một số cán bộ, công chức lười học tập, ít rèn luyện, đã bộc lộ những yếu kém,
bất cập so với yêu cầu nhiệm vụ được giao, giải quyết cơng việc cịn lúng túng, thiếu
tính nhạy bén, thiếu chủ động, thường dựa vào những kinh nghiệm đã khơng cịn
phù hợp với giai đoạn hiện nay.
Một số cán bộ, công chức còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn, một số mặt chưa
đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ mới, trình độ chuyên môn - nghiệp vụ của một
số cán bộ, cơng chức cịn hạn chế chưa ngang tầm với u cầu và nhiệm vụ mới.

Phần lớn cán bộ, công chức chưa được đào tạo một cách bài bản, chính quy về
chun mơn nghiệp vụ, tỷ lệ đạt chuẩn cịn thấp so với yêu cầu. Nhận thức trong đội
ngũ cán bộ, công chức không đồng đều, thiếu chủ động sáng tạo; việc vận dụng các
chủ trương, chính sách của cấp trên vào điều kiện cụ thể của từng địa phương chưa
linh hoạt, nhiều nơi cịn sao chép một cách máy móc. Khơng ít cán bộ, cơng chức cơ
sở chưa nắm vững chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao, không nắm vững
các quy định của pháp luật, vì vậy quá trình chỉ đạo điều hành, giải quyết cơng việc
cịn mang tính chủ quan, tuỳ tiện theo cảm tính cá nhân, khơng căn cứ vào quy định
của pháp luật dẫn đến vi phạm.
Về năng lực thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cịn thấp, chưa có tính
chun nghiệp, phần lớn thiếu khả năng độc lập, quyết đốn trong giải quyết cơng
việc, thụ động trong thực thi các nhiệm vụ; thiếu khả năng bao qt tình hình, đồng
thời chậm thích ứng với nhiệm vụ mới. Đa số cán bộ, công chức cơ sở chưa có khả
năng tư duy, dự báo, xây dựng chương trình kế hoạch, thiếu khả năng nghiên cứu,
tổng hợp tình hình, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; tinh thần hợp tác, phối hợp cơng
việc cịn nhiều hạn chế, nên hiệu quả công tác không cao.
Bên cạnh sự thiếu hụt, bất cập về số lượng và yếu kém về chất lượng, thì việc
xây dựng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch và


công tác sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở chưa được các địa phương trong
vùng quan tâm chỉ đạo một cách thoả đáng.
Đội ngũ còn nhiều bất cập, cơ cấu không đồng bộ, tuyển dụng, đào tạo, bồi
dưỡng chưa gắn với yêu cầu công việc và sử dụng.
Cơ chế quản lí, sử dụng và chế độ chính sách cịn nhiều bất hợp lí nên chưa
tạo được động lực khuyến khích đội ngũ cán bộ, cơng chức nâng cao tinh thần trách
nhiệm, phấn đấu học tập, rèn luyện, bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn và
phẩm chất đạo đức.
3.2. Nguyên nhân của những hạn chế
Những hạn chế trên đã làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng đội ngũ cán bộ,

cơng chức. Nhìn chung, những tồn tại, hạn chế nêu trên là do những nguyên nhân
sau đây:
UBND huyện Kim Bảng có chủ trương nhưng việc đề ra chương trình, kế
hoạch để thực hiện chủ trương chưa cụ thể, chưa mang tính chiến lược về xây dựng
đội ngũ cán bộ, công chức nên chưa chuẩn bị đầy đủ cán bộ kế thừa để đáp ứng với
nhiệm vụ của từng giai đoạn.
Những hạn chế về nhận thức và sự sa sút về phẩm chất, về trách nhiệm của
một bộ phận cán bộ, công chức đã làm ảnh hưởng đến chất lượng công tác chuyên
môn.
Đời sống kinh tế của một số cán bộ, cơng chức cịn khó khăn nên ngại không
đi đào tạo, bồi dưỡng khi được cơ quan bố trí đi học. Bên cạnh đó có một số cán bộ
chưa ý thức được việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vừa là
quyền lợi, vừa là nghĩa vụ đối với cán bộ, công chức hiện nay.
Một số cán bộ, cơng chức chưa chịu khó học tập và rèn luyện, cịn tự mãn, với
những thành tích đã đạt được, chưa lấy mục tiêu chất lượng, hiệu quả cơng tác làm
hàng đầu, vì vậy chưa phấn đấu nổ lực vươn lên để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ
mới.


Tính chủ động sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của một số cán bộ, cơng chức,
trong đó có cả cán bộ là lãnh đạo chủ chốt chưa tốt, có lúc cịn nặng về tư tưởng ỷ
lại, bng trơi, khơng bám vào nghị quyết, khơng chủ động xây dựng chương trình,
kế hoạch thực hiện. Chưa tiến hành sơ kết, tổng kết những nội dung đã đề ra trong
nghị quyết, để kịp thời chấn chỉnh những thiếu sót, những việc chưa làm.
Bên cạnh đó vấn đề cịn tồn tại những mặt hạn chế là do công tác quản lý cán
bộ ở cơ sở chưa tốt, chậm được đổi mới. Công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ cán bộ, công chức cơ sở chưa được coi trọng đúng mức, chưa thực hiện một
cách đồng bộ và khoa học. Do đó khơng chủ động được nguồn cán bộ cho việc bố trí
thay thế, thiếu nguồn bổ sung, làm cho lực lượng cán bộ ở cơ sở bị hẫng hụt. Mặt
khác đội ngũ cán bộ chuyên trách thường không ổn định sau mỗi nhiệm kỳ, do các

chức danh bầu cử không trúng cử, hoặc các công chức được bầu vào các chức danh
chủ chốt, làm cho vị trí cơng chức chun mơn bị khuyết.
Công tác kiểm tra, đánh giá về công tác cán bộ, công tác quy hoạch đào tạo
đội ngũ cán bộ, cơng chức cơ sở của các cấp ủy, chính quyền các cấp khơng thường
xun, chưa có biện pháp khắc phục những yếu kém một cách có hiệu quả. Nhiều
nơi cịn vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ trong cơng tác cán bộ;
chính sách đãi ngộ, khen thưởng, đối với cán bộ cơ sở chưa thoả đáng, chưa tạo
động lực, thu hút được đội ngũ cán bộ về công tác cơ sở. Việc xử lý những sai phạm,
tiêu cực ở cơ sở chưa kịp thời và nghiêm minh, dẫn đến có vụ việc kéo dài làm cho
tình hình phức tạp thêm.
Do chậm phát triển của ngành giáo dục - đào tạo, trình độ văn hố thấp, nên
đa số cán bộ không đủ tiêu chuẩn đầu vào để đưa đi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức, dẫn đến không đáp ứng được nhu cầu phát triển của cán bộ. Mặt khác số sinh
viên là người các địa phương trong vùng sau khi tốt nghiệp ra trường xin làm việc ở
các thành phố, thị xã để có điều kiện làm việc, thăng tiến và thu nhập cao hơn nên
không chịu về cơ sở cơng tác, nhiều nơi chưa có biện pháp tích cực về vấn đề này.


3.3 Bài học kinh nghiệm
Từ thực trạng đội ngũ cán bộ, cơng chức UBND huyện Kim Bảng có thể rút
ra một số kinh nghiệm bước đầu sau đây:
Một là, công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của huyện uỷ
là một yêu cầu khách quan, cấp bách. Tuy nhiên khi xây dựng kế hoạch đào tạo phải
thận trọng, phải có định hướng phát triển lâu dài. Đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ
phải gắn với giáo dục đạo đức cách mạng. Quán triệt và chấp hành nghiêm túc các
quan điểm của Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ, đấu tranh tự phê
bình, phê bình.
Hai là, phát huy vai trò và trách nhiệm của mỗi cán bộ, công chức. Ra sức học
tập, rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, toàn tâm, toàn ý cho nhiệm
vụ chung, nêu cao ý thức tổ chức kỉ luật, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn để hồn

thành nhiệm vụ được giao.
Ba là, coi trọng cơng tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức , đánh giá, bố
trí đúng cán bộ; kiên quyết xử lí, thay thế những cán bộ thoái hoá, thiếu trách nhiệm,
vi phạm kỉ luật, năng lực kém, uy tín bị giảm sút.



×