ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đỗ Thị Thanh Ngun
ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH DIỄN NGƠN TRUYỆN CỰC NGẮN
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đỗ Thị Thanh Ngun
ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH DIỄN NGƠN TRUYỆN CỰC NGẮN
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
MS: 60.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN HỒNG
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi, số liệu
và dẫn chứng nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và khơng sao chép từ bất kỳ
cơng trình nào.
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Thanh Nguyên
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn cao học Phân tích diễn ngơn truyện cực
ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và động
viên, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc và chân thành đến:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng
Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi để tơi hồn thành khóa học;
Lãnh đạo Bộ mơn Ngơn ngữ học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn Thành phố Hồ Chí Minh cùng q Thầy Cơ trong và ngoài trường đã tận tâm
truyền đạt kiến thức cũng như kỹ năng nghiên cứu cho tôi trong suốt khóa học cao
học; đặc biệt là TS. Trần Hồng - thầy đã tận tình dìu dắt, giúp đỡ tơi từ khi bắt đầu
làm đề cương cho đến lúc hoàn thành luận văn cao học;
Quý vị Giáo sư, Tiến sĩ trong Hội đồng đánh giá luận văn;
Quý vị Thủ thư và nhân viên Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và cung cấp cho
tơi nguồn tài liệu q giá.
Cuối cùng, tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc đến gia đình và các bạn học viên
Lớp Cao học Ngơn ngữ học khóa 2017 - 2019 đã luôn bên cạnh, giúp đỡ tôi cả tinh
thần lẫn vật chất.
Xin chân thành cảm ơn.
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu ..............................................................................................2
2.1. Lịch sử nghiên cứu về phân tích diễn ngơn ............................................2
2.2. Lịch sử nghiên cứu về truyện cực ngắn ..................................................6
3. Mục đích nghiên cứu .........................................................................................11
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .....................................................................11
4.1. Đối tượng nghiên cứu ...........................................................................11
4.2. Phạm vi nghiên cứu...............................................................................11
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu .....................................................11
5.1. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................11
5.2. Nguồn ngữ liệu......................................................................................12
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn ...........................................................................12
6.1. Về mặt lý luận .......................................................................................12
6.2. Về mặt thực tiễn ....................................................................................13
7. Bố cục của luận văn ..........................................................................................13
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN..................................................................................14
1.1. Một số khái niệm liên quan đến diễn ngơn và phân tích diễn ngơn ...............14
1.1.1. Khái niệm diễn ngơn ..........................................................................14
1.1.2. Phân tích diễn ngơn ............................................................................16
1.1.3. Ngữ cảnh tình huống và ngữ vực trong phân tích diễn ngơn.............19
1.1.4. Cấu trúc của diễn ngôn ......................................................................24
1.2. Giới thiệu chung về truyện cực ngắn..............................................................26
1.2.1. Vấn đề tên gọi ....................................................................................26
1.2.2. Nguồn gốc hình thành và những tiền đề xuất hiện truyện cực ngắn..28
1.2.3. Truyện cực ngắn trong sự đối sánh với truyện ngắn ..........................31
1.2.4. Đặc điểm truyện cực ngắn .................................................................35
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1............................................................................................40
iv
Chương 2 PHÂN TÍCH NGỮ VỰC DIỄN NGƠN TRUYỆN CỰC NGẮN
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI .......................................................41
2.1. Ngữ cảnh tình huống của diễn ngơn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam
hiện đại ......................................................................................................................41
2.1.1. Trường ................................................................................................41
2.1.2. Thức ...................................................................................................48
2.1.3. Không khí chung ................................................................................52
2.2. Sự thể hiện của ngữ vực diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam
hiện đại qua các phương tiện từ vựng .......................................................................55
2.2.1. Từ ngữ mang sắc thái khẩu ngữ .........................................................55
2.2.2. Thành ngữ và tổ hợp mang tính thành ngữ ........................................59
2.2.3. Từ ngữ mang tính thời sự, từ ngữ vay mượn, ngôn ngữ chat, blog ...61
2.2.4. Từ ngữ được dùng với hình thức đặt trong dấu ngoặc kép “” ...........66
2.2.5. Ẩn dụ tu từ .........................................................................................68
2.3. Sự thể hiện của ngữ vực diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam
hiện đại qua các phương tiện cú pháp .......................................................................72
2.3.1. Đặc điểm đoạn văn.............................................................................72
2.3.2. Đặc điểm cú pháp...............................................................................75
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2............................................................................................87
Chương 3 PHÂN TÍCH CẤU TRÚC DIỄN NGÔN TRUYỆN CỰC NGẮN
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI .......................................................89
3.1. Khái quát về cấu trúc diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện
đại ..............................................................................................................................89
3.1.1. Cấu trúc diễn ngôn gồm bốn phần .....................................................89
3.1.2. Cấu trúc diễn ngôn gồm ba phần .......................................................94
3.1.3. Cấu trúc diễn ngôn gồm hai phần ......................................................99
3.2. Đặc điểm các thành phần của cấu trúc diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn
học Việt Nam hiện đại...............................................................................................99
3.2.1. Phần tiêu đề ........................................................................................99
3.2.2. Phần mở đầu .....................................................................................103
v
3.2.3. Phần triển khai .................................................................................111
3.2.4. Phần kết thúc ....................................................................................112
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3..........................................................................................121
KẾT LUẬN ............................................................................................................122
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................125
PHỤ LỤC ...................................................................................................................1
PHỤ LỤC 1 .................................................................................................................1
PHỤ LỤC 2 .................................................................................................................8
PHỤ LỤC 3 ...............................................................................................................14
PHỤ LỤC 4 ...............................................................................................................22
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng thống kê các chủ đề của diễn ngôn truyện cực ngắn .......................43
Bảng 2.2: Bảng thống kê độ dài của diễn ngôn truyện cực ngắn ..............................49
Bảng 2.3: Bảng liệt kê biến thể phát âm trong diễn ngôn truyện cực ngắn ..............56
Bảng 2.4: Bảng liệt kê từ địa phương của diễn ngôn truyện cực ngắn .....................57
Bảng 2.5: Bảng liệt kê ẩn dụ tu từ của diễn ngôn truyện cực ngắn ..........................69
Bảng 2.6: Bảng thống kê số đoạn văn của diễn ngôn truyện cực ngắn ....................73
Bảng 2.7: Bảng thống kê số câu/đoạn văn của diễn ngôn truyện cực ngắn ..............74
Bảng 2.8: Bảng thống kê số chữ/câu của diễn ngôn truyện cực ngắn ......................76
Bảng 2.9: Bảng thống kê kiểu câu của diễn ngôn truyện cực ngắn ..........................77
Bảng 3.1: Bảng thống kê các kiểu cấu trúc cú pháp của phần tiêu đề diễn ngôn truyện
cực ngắn ..................................................................................................................101
Bảng 3.2: Bảng thống kê các kiểu tiêu đề của diễn ngôn truyện cực ngắn.............102
Bảng 3.3: Bảng thống kê các kiểu mở đầu của diễn ngôn truyện cực ngắn ...........108
Bảng 3.4: Bảng thống kê các kiểu kết luận của diễn ngôn truyện cực ngắn ..........116
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Truyện cực ngắn” (truyện rất ngắn, truyện chớp, truyện ngắn ngắn, truyện bất
ngờ, truyện bưu thiếp, truyện mini, truyện hỏa tốc, truyện nhanh, truyện vội, truyện
“mỏng”, vi truyện, truyện dài bằng “hơi khói”…) là một dạng thức đặc biệt của
truyện. Tuy chưa thật sự thống nhất về tên gọi, nhưng nhìn chung, hầu hết các nhà
nghiên cứu xác định truyện cực ngắn là loại truyện có dung lượng khoảng dưới 1200
chữ. Hồng Long (2014) cho rằng “Mỗi truyện là một hình ảnh thể hiện tư tưởng và
phát xuất từ bên trong, từ suối nguồn tâm linh sâu kín, từ nội tâm mãnh liệt của tác
giả, hình ảnh truyện hấp dẫn đủ để diễn tả tư tưởng. Truyện phải có tính gợi mở và
mỗi truyện cực ngắn là một thực thể sinh động, màu mỡ thịt da ngơn từ và hình ảnh
chứ khơng phải chỉ là những câu văn cụt ngủn ghép lại với nhau. Tức là tuy dùng
ngôn từ cực hạn nhưng truyện phải có da thịt, sức sống chứ khơng phải chỉ có xương
cốt mà thôi” (tr.9).
Ở Việt Nam, truyện cực ngắn là một “viên ngọc ẩn” và phát triển nở rộ vào
thập niên 90 của thế kỷ XX với “Cuộc thi viết truyện cực ngắn” do Tạp chí Thế giới
mới, Kiến thức ngày nay và báo Văn nghệ tổ chức. Bóng dáng truyện cực ngắn xuất
hiện trên mặt báo Nhân dân, Tuổi trẻ, Văn nghệ và Tạp chí Sơng Hương với các tên
gọi khác nhau.
Phân tích diễn ngơn đang là một hướng đi thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước. Đây chính là sự mở rộng của ngơn ngữ học trên nhiều phương diện
như đối tượng nghiên cứu, hệ thống khái niệm và phương pháp luận. Nguyễn Hòa
(2008) cho rằng “Phân tích khơng những phản ánh những thay thế hệ phương pháp
luận truyền thống từ nghiên cứu sang phân tích việc sử dụng, mà còn là sự thể hiện
những thay đổi trong nhận thức về bản chất của ngôn ngữ” (tr.14). Diệp Quang Ban
(2009) thì cho rằng “Phân tích diễn ngôn là một cách tiếp cận phương pháp luận đối
với việc phân tích ngơn ngữ bên trên bậc câu, gồm các tiêu chuẩn như tính kết nối,
hiện tượng hồi chiếu… Hiểu một cách cụ thể hơn thì phân tích diễn ngơn là đường
hướng tiếp cận tài liệu ngơn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngơn/văn bản) từ tính
2
đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngơn từ và ngữ cảnh tình huống, với các
mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực mà nội dung hết sức phong phú đa
dạng (gồm các hiện tượng thuộc thể loại và phong cách chức năng, phong cách cá
nhân cho đến các hiện tượng xã hội, văn hóa và dân tộc)” (tr.158). Định nghĩa của
Diệp Quang Ban có nội hàm rõ ràng, tiện dụng, cho nên việc hiểu nó sâu hơn là cần
thiết. Trong định nghĩa này, tác giả đã nêu ra ba yếu tố quan trọng nhất, đó là: đối
tượng khảo sát; đối tượng nghiên cứu và phương pháp tiếp cận là phân tích (phân tích
ngơn ngữ trong sử dụng).
Truyện cực ngắn là một thể loại diễn ngôn tự sự đặc thù, cần được xem xét
trong tương quan với các diễn ngôn tự sự khác. Tuy nhiên, vận dụng lý thuyết phân
tích diễn ngơn để nghiên cứu về thể loại truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam
hiện đại thì cho đến nay vẫn chưa có đề tài nào.
Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu Phân tích diễn
ngơn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại, nhằm ứng dụng lý thuyết
phân tích diễn ngơn đi sâu nghiên cứu về thể loại truyện này.
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Lịch sử nghiên cứu về phân tích diễn ngơn
Phân tích diễn ngơn đã trải qua một quá trình phát triển mạnh mẽ trong khoảng
năm mươi năm gần đây với những tên gọi khác nhau. Trong ngơn ngữ học, đã có
những tên gọi như “Ngôn ngữ học văn bản - text linguistics”, “Phân tích văn bản text analysis”, “Phân tích chức năng - functional analysis”; trong triết học, đó là lý
thuyết về hành động nói (speech acts); và trong xã hội học là dân tộc học giao tiếp
(enthnography of communication)… Có thể khái quát mức độ phát triển của lý luận
phân tích diễn ngôn ở những nét đại cương như sau: Ở giai đoạn “ngữ pháp văn bản”,
phân tích diễn ngơn chủ yếu thao tác với “liên kết” và đã có cơng trình nghiên cứu
của Halliday và Hasan (1976) như “Liên kết - cohesion”. Tại nước Liên bang Nga và
Việt Nam cũng có nhiều cơng trình theo khuynh hướng này. Ở thời kỳ hậu “ngữ pháp
văn bản”, khi vấn đề mạch lạc và cấu trúc của văn bản càng được quan tâm hơn, thì
3
các nhà ngôn ngữ đã đề nghị gọi địa hạt mới này là “phân tích diễn ngơn - discourse
analysis”.
Theo Diệp Quang Ban (2009), nhà ngôn ngữ học người Bỉ E. Buysen là người
đầu tiên sử dụng discourse (diễn ngôn) như một khái niệm chun mơn trong Hoạt
động nói năng và văn bản (1943). Từ những năm 60 của thế kỷ XX, nghiên cứu diễn
ngơn (hay cịn gọi là phân tích diễn ngôn) đã trở thành một trào lưu khoa học phát
triển rầm rộ ở châu Âu và diễn ngôn trở thành một khái niệm trung tâm, được sử dụng
rộng rãi trong khoa học xã hội và nhân văn. Sau thời kỳ thống trị của cấu trúc luận,
nó lại xuất hiện với những hàm nghĩa mới trong các cơng trình nghiên cứu hậu cấu
trúc và giải cấu trúc của M. Foucault, J. Derrida, R. Barthes.
Giữa những năm 60 đến giữa những năm 70 của thế kỷ XX, cấu tạo ngôn ngữ
lớn hơn câu thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ
lớn hơn câu được gọi tên là ngôn ngữ học văn bản (text linguistics). Trong định nghĩa
về diễn ngôn, Barthes (1970) đã nêu: Diễn ngơn là một đoạn lời nói hữu tận bất kỳ,
tạo thành một thể thống nhất xét từ quan điểm nội dung, được truyền đạt cùng với
những mục đích giao tiếp thứ cấp, và có một tổ chức nội tại phù hợp với những mục
đích này, vả lại (đoạn lời này) gắn bó với những nhân tố văn hóa khác nữa, ngồi
những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngơn ngữ (Dẫn theo Diệp Quang Ban, 2009,
tr.96). Ngồi ra, cịn có các cơng trình nghiên cứu khác như: Dẫn luận ngôn ngữ học
văn bản (1972) của Dressler, Một số phương diện của ngữ pháp văn bản (1972) của
Van Dijk… Việc nghiên cứu văn bản giai đoạn này tập trung chú ý ở cấu tạo ngôn
ngữ lớn hơn câu, nên xuất hiện những tên gọi như: cú pháp văn bản (Dressler, 1972),
ngữ pháp văn bản (Weinrich, 1967; Dressler, 1972; Van Dijk, 1972), ngữ pháp liên
câu (Enkvist, 1973), chỉnh thể cú pháp trên câu (một số nhà nghiên cứu Nga).
Năm 1983, cơng trình nghiên cứu Phân tích diễn ngơn (Discourse Analysis)
của G. Brown và G. Yule đã đánh dấu bước phát triển mới của ngơn ngữ học. Bên
cạnh đó, cịn có Levinson với Dụng học (Pragmatics). Tác giả này cũng dùng tên gọi
phân tích diễn ngơn và xem nó như là tên gọi khác của dụng học, đối lại với phân tích
hội thoại.
4
Trong Diễn ngôn tự sự (Narrative discourse), trên cơ sở phân biệt discourse
và story, G. Genette cho rằng diễn ngôn tự sự là cách thức trình bày một câu chuyện.
Tác giả đã phân chia diễn ngôn tự sự thành các phạm trù ngữ pháp như: thời, thức và
giọng. Trong đó, thời và thức nằm ở cấp độ mối quan hệ giữa câu chuyện và diễn
ngôn tự sự, giọng chỉ ra mối quan hệ giữa hoạt động kể và diễn ngôn tự sự, giữa hoạt
động kể và câu chuyện. Genette đã dùng những phạm trù ngữ pháp này để phân tích
cấu trúc tự sự của Đi tìm thời gian đã mất của M. Proust. Cũng trong giai đoạn này,
khái niệm diễn ngôn bắt đầu được sử dụng rộng rãi và đặc biệt trở thành một khái
niệm trung tâm trong trường phái phân tích diễn ngơn (hay cịn gọi là nghiên cứu diễn
ngơn), một hướng nghiên cứu có phạm vi và ảnh hưởng rất rộng rãi, bao trùm rất
nhiều lĩnh vực như ngôn ngữ học, xã hội học, tâm lý xã hội học, nghiên cứu văn
học…
Một số cơng trình nghiên cứu về diễn ngơn của nước ngồi được dịch sang
tiếng Việt, chẳng hạn: Dụng học; Một số dẫn luận nghiên cứu ngôn ngữ của G. Yule
(Hồng Nhâm, Trúc Thanh, Ái Nguyên dịch, 1997); Dẫn nhập phân tích diễn ngơn
của G. Brown, G. Yule (Trần Thuần dịch, 2002); Dẫn luận ngữ pháp chức năng của
M. Halliday (Hồng Văn Vân dịch, 2004)… Các cơng trình này tập trung vào mấy
điểm sau: diễn ngơn là gì, đặc điểm và chức năng của diễn ngơn, các vấn đề về ngữ
cảnh và ý nghĩa của diễn ngôn, cấu trúc thông tin của diễn ngôn, bản chất quy chiếu
trong diễn ngơn, các đường hướng phân tích diễn ngơn…
Ở Việt Nam, quan niệm về diễn ngôn/văn bản được giới thiệu sớm nhất trong
lĩnh vực ngơn ngữ học, có thể kể đến các cơng trình: Hệ thống liên kết văn bản tiếng
Việt của Trần Ngọc Thêm (1985); Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Giao tiếp diễn
ngôn và cấu tạo văn bản của Diệp Quang Ban (1998, 2009), Ngữ dụng học, tập 1 của
Nguyễn Đức Dân (1998), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 của Đỗ Hữu Châu (2001),
Phân tích diễn ngơn: Một số vấn đề lý luận và phương pháp của Nguyễn Hòa (2003),
Dụng học Việt ngữ của Nguyễn Thiện Giáp (2004)…
Bên cạnh đó, cịn có thể kể đến các bài viết của các tác giả khác như: Phân
tích diễn ngơn phê phán là gì? của Nguyễn Hịa (Tạp chí Ngơn ngữ, 2 - 2005), Thực
hành phân tích diễn ngôn bài Lá rụng của Diệp Quang Ban (Tạp chí Ngơn ngữ, 2 -
5
2009), Một vài dạng cấu trúc nhân quả khó nhận biết trong diễn ngôn nghệ thuật
ngôn từ của Nguyễn Văn Thành (Tạp chí Ngơn ngữ, 4 - 2009)… Gần đây hơn có một
số bài viết như: Diễn ngơn trong giao tiếp văn học của Nguyễn Duy Bình đăng trên
Tạp chí Khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội, số 28, năm 2012, Lý thuyết ngữ vực
và việc nhận diện các đặc điểm của diễn ngôn của Trịnh Sâm đăng trên Tạp chí Khoa
học của Đại học Quốc gia Hà Nội, số 1, năm 2014, Tìm hiểu một số kiểu diễn ngôn
của ngành khoa học xã hội và nhân văn của Nguyễn Thanh Tuấn và Trương Thị Thủy
in trên Bản tin Khoa học và Giáo dục Trường Đại học Yersin Đà Lạt năm 2014…
Ngồi ra, cịn có các bài báo khoa học, luận án, luận văn nghiên cứu phân tích
diễn ngơn trên các ngữ liệu cụ thể. Có thể kể đến một vài cơng trình tiêu biểu như
sau:
- Một số đặc điểm ngữ vực trong diễn ngôn tiếng Anh quảng cáo của Huỳnh
Hữu Hiền (Tạp chí Khoa học và Cơng nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 2, năm 2003);
- Phân tích diễn ngơn thư tín thương mại tiếng Việt của Vương Thị Kim Thanh
(Tạp chí Khoa học xã hội, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí
Minh, số 3, năm 2009);
- Vũ Văn Lăng với luận án tiến sĩ Một số tác phẩm của Nam Cao dưới ánh
sáng của phân tích diễn ngơn và dụng học, bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội năm
2013;
- Nguyễn Thị Thu Hằng với luận án tiến sĩ Diễn ngôn hội thoại trong truyện
ngắn Nam Cao - đối thoại, độc thoại và mạch lạc, bảo vệ tại Trường Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015;
- Đỗ Thị Xuân Dung với luận án tiến sĩ Đối chiếu đặc điểm diễn ngôn của
khẩu hiệu tiếng Anh và tiếng Việt, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Huế năm
2015;
- Trần Thùy Linh với luận án tiến sĩ Nghiên cứu ngơn ngữ văn bản hợp đồng
tiếng Việt từ bình diện phân tích diễn ngơn, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2016;
6
- Trần Bình Tuyên với luận án tiến sĩ Văn chính luận Nguyễn Ái Quốc - Hồ
Chí Minh từ góc nhìn lý thuyết phân tích diễn ngơn, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa
học Huế năm 2017;
- Phạm Nguyên Nhung với luận án tiến sĩ Phân tích diễn ngơn có nội dung kêu
gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh (giai đoạn 1941 - 1969), bảo vệ tại Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2017;
- Phạm Nữ Nguyên Trà với luận văn thạc sĩ Quốc văn giáo khoa thư dưới góc
nhìn phân tích diễn ngơn, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018.
Như vậy, cho đến nay đã có nhiều cơng trình nghiên cứu ứng dụng lý thuyết
phân tích diễn ngôn hoặc những vấn đề liên quan đến phân tích diễn ngơn đã được
thực hiện. Trong các cơng trình này, tùy vào mục đích nghiên cứu cụ thể cũng như
đặc trưng văn bản của đối tượng nghiên cứu, các tác giả đã lựa chọn các đường hướng
và khung lý thuyết khác nhau để thực hiện đề tài của mình. Những đường hướng được
lựa chọn cũng như cách thức tiếp cận đối tượng và kết quả nghiên cứu của những
công trình ứng dụng trên sẽ là cơ sở quý giá để chúng tơi có thể tham khảo cho q
trình thực hiện đề tài này.
2.2. Lịch sử nghiên cứu về truyện cực ngắn
2.2.1. Trên thế giới
Trên thế giới, mặc dù truyện cực ngắn là một thể loại tương đối mới nhưng nó
đã có một lịch sử lâu đời. Chúng ta có thể xem những câu thoại đầu, những mẩu
chuyện trong Kinh Phật, ngụ ngôn Aesop… là những truyện cực ngắn tuyệt hay.
Chẳng hạn như: một câu trong kinh Pháp Cú “Voi khơng đi dạo chơi trên lối mịn thỏ
chạy” cũng có thể xem là một truyện cực ngắn. Tuy không định danh là truyện cực
ngắn nhưng những mẩu chuyện trong “Trang Tử - Nam Hoa Kinh” có thể coi là kiệt
tác.
Thể loại truyện cực ngắn được gọi với nhiều tên khác nhau. Ngồi tên thơng
dụng nhất là “truyện cực ngắn” hay “truyện rất ngắn” thì cịn có các tên “truyện chớp,
truyện ngắn ngắn”, “truyện bất ngờ” (sudden fiction), “truyện bưu thiếp” (postcard
7
fiction), “truyện mini” (minute fiction), “truyện hỏa tốc” (furious fiction), “truyện
nhanh” (fast fiction), “truyện vội” (quick fiction), “truyện mỏng” (skinny fiction) và
“vi truyện” (micro-fiction) hay một tên gọi đặc biệt là “truyện dài bằng hơi khói” (với
ý nghĩa là thời gian để đọc nó chỉ bằng thời gian hút xong điếu thuốc lá). Người Trung
Quốc gọi truyện cực ngắn là “vi hình tiểu thuyết”, người Nhật gọi là “Sho-to sho-to”
tức phiên âm của chữ “short short story”. Sau này còn có tên “siêu đoản thiên tiểu
thuyết” (chotanpen shosetsu) rất thịnh hành cho điện thoại di động. Có hàng trăm
trang web chuyên về truyện cực ngắn với những giải thưởng riêng. Riêng Kawabata
Yasunari thì gọi riêng thể loại truyện cực ngắn của mình sáng tác là “truyện ngắn
trong lịng bàn tay” (Tenohira no shosetsu) (Theo Hoàng Long, 2014, tr.8).
Trong bài viết Truyện cực ngắn là nghệ thuật bình dân, nhà văn Trung Quốc
Dương Hiểu Mẫn (2006) cho rằng: “Truyện cực ngắn là nghệ thuật bình dân” bởi vì
“nó là hình thức nghệ thuật mà đại đa số người đều có thể tham gia sáng tác (gần gũi
cuộc sống); đại đa số người có thể trực tiếp thu được lợi ích từ trong ấy”.
Julio Cortázar đã đưa ra những nhận xét khá sắc sảo về truyện cực ngắn trong
hai tiểu luận ngắn Algunos aspectos del cuento (Vài phương diện của truyện ngắn)
và Del cuento breve y sus alrededores (Về truyện cực ngắn và những dạng tương
cận). Ông gọi thể loại này là “truyện chạy đua với đồng hồ”, có thể chứa đựng nội
dung tự sự lớn hơn nhiều cái phương tiện ít ỏi của nó. Hiệu quả của truyện cực ngắn
là “chúng tạo ra một cú sét đánh từ một nhúm chất liệu tối thiểu” (Julio Cortázar,
2013, đoạn 1).
Trong chuyên đề Truyện cực ngắn, nhà văn Joyce Carol Oates (2003) cho rằng
“Truyện cực ngắn hầu như ln ln mang tính nghiệm tác, được sắp đặt hết sức tinh
tế, khiến chúng ta nhớ đến định nghĩa của Frost về một bài thơ - một cấu trúc của
ngôn từ, tự tiêu vong đến đâu thì lại dàn trải ra đến đấy, giống như băng tan trên bếp
lửa. Dáng dấp của nó đơi khi giống như huyền thoại, đôi khi chỉ giống như một thứ
giai thoại, nhưng nó chấm dứt với câu văn cuối cùng của nó, thường thì với chữ cuối
cùng của nó. Độ căng thẳng của nó - ta có thể nói - là độ căng thẳng của tám phút
đồng hồ khi Hagler chiến đấu với Hearns, một thiên sử thi được cô đúc lại q nhỏ
đến độ ta xem nó mà chống ngợp cả người” (đoạn 4).
8
2.2.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, truyện cực ngắn nở rộ vào thập niên 90 của thế kỷ XX. Là một
“chùm hoa nở muộn” thế nhưng nó lại có một thành tựu vơ cùng rực rỡ. Chúng ta có
cả một phong trào thi viết truyện cực ngắn trên các báo và có tới hàng ngàn truyện
hay. Tuy nhiên, lịch sử nghiên cứu thể loại này cịn rất mới, chúng tơi chỉ điểm qua
một số bài viết tiêu biểu.
Lý giải nguồn gốc truyện cực ngắn, nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào cho rằng:
“Ở các nước phương Tây truyện cực ngắn xuất hiện rất sớm, có tiền thân trên báo chí
từ thế kỷ XVIII. Các tờ báo đã đăng tải những sự kiện nhỏ, những mẫu giới thiệu nhỏ
làm tươi tắn sự nhàm chán những trang giấy và khiến độc giả được giải trí, những tin
vặt trên báo chí chứa đựng nhiều mối liên hệ với truyện ngắn nói chung và với độ dày
của nó”. Tác giả cũng cho rằng truyện ngắn ở Việt Nam có khởi đầu từ báo chí và
cịn có thể có cội rễ sâu xa từ truyện tiếu lâm, truyện trạng. Tác giả cũng đưa ra những
nhận xét ban đầu về thể loại này: “Sức hấp dẫn không nằm ở cốt truyện mà chủ yếu
là ở sức gợi, khả năng viết sao cho ý tại ngôn ngoại của nhà văn. Chính khả năng viết
ngắn mà nói được nhiều mới khiến cho loại truyện này giống như một bài thơ” (Đặng
Anh Đào, 2008, đoạn 13).
Nguyễn Thanh Tâm trong bài viết Một số đặc trưng của truyện cực ngắn đã
nhận định “Một hiện tượng thường thấy ở truyện cực ngắn là sự miễn giảm tới mức
tối thiểu hệ thống nhân vật… Xuất hiện trong thế giới của loại hình vi truyện các nhân
vật không tràn đầy diện mạo lẫn những biến thái của tâm hồn. Hình như tác giả nhằm
ghi lại những khoảnh khắc, những ấn tượng nội tâm trong những lát cực mỏng của
đời mà thôi. Thủ pháp tẩy trắng nhân vật được một số tác giả huy động tới mức tối
đa, ngay cả cái tên đề hiện diện với đời sống cũng có lúc bị tẩy xóa mất” (Dẫn theo
Đào Quốc Toàn, 2006, tr.117).
Cùng với ý kiến của Bùi Việt Thắng, Nguyễn Thanh Tùng (2005) trong bài
Không phải trị đánh đố trên Tạp chí Thế giới mới cho rằng “Tính kịch trong truyện
ngắn dường như là yếu tố không thể thiếu. Không gây được yếu tố bất ngờ, truyện
khó đạt đến độ hay. Cái bất ngờ giống như một khúc đoạn gấp, mở ra những chân
trời mới lạ của nhận thức và tình cảm trong ta” (đoạn 6).
9
Nhà văn Phan Cung Việt (2006) trong bài viết Nhịp đập gấp của con tim lại
so sánh cấu tạo của truyện ngắn như cơ thể con người như sau: “Người ta nói điều
cấu tạo kỳ lạ của cơ thể con người. Có cả một cơ thể con người ở trong chỉ một cái
tai, một bàn chân, tấm lưng. Sự kỳ lạ ấy cũng rất ngắn. Đã là truyện thì phải có cốt
truyện và chi tiết truyện. Truyện tức là người trong đời, bởi vậy dù rất ngắn cũng phải
khắc họa nhân vật” (tr.161).
Trong bài viết Trần thuật trong truyện rất ngắn, nhà nghiên cứu Phùng Ngọc
Kiếm (2008) cho rằng “Để tạo hiệu quả nhiều nhất cho dung lượng ngôn từ ít ỏi, trần
thuật trong truyện rất ngắn phải hướng tới mục tiêu gây ấn tượng mạnh mẽ cho người
đọc về cái được kể, từ cái được kể, phải tạo ra lối trần thuật đa chức năng: lời kể có
nhiều khả năng trần thuật, giàu sức gợi…” (tr.245).
Hoàng Ngọc Hiến (2006) trong Truyện ngắn hiện đại dễ viết lại đánh giá
“Truyện ngắn hiện đại gần với kịch, không phải với ý nghĩa, cốt truyện, nội tâm nhân
vật chứa chất xung đột và xung đột đầy kịch tính mà trong kịch lời nói nào cũng do
nhân vật nói ra, do đó lời nói nào cũng có giọng nói một con người cụ thể. Trong
truyện lời trần thuật có giọng gần với lời thoại trong kịch” (tr.307).
Trong bài trả lời phỏng vấn Về truyện rất ngắn, Lê Ngọc Trà (2006) đã giới
thiệu về đặc điểm của thể loại truyện này. Ông xác định: “Đây là một thể loại văn
học có những đặc điểm riêng, chứ không phải là một kiểu truyện viết ngắn”
(tr.417). Ông chỉ rõ đặc điểm của thể loại này là “đậm đặc cảm xúc, sự phong phú
của âm điệu, của liên tưởng, vơ số những khoảng trống có ý nghĩa và vơ nghĩa”
(tr.418). Ơng cho rằng cái chất thơ và chất nhạc của cảm xúc đó cũng chính là
điểm quan trọng nhất để phân biệt truyện rất ngắn với các truyện viết ngắn khác
như truyện tiếu lâm và truyện ngụ ngôn.
Nguyễn Đăng Mạnh (2006) trong bài Viết ngắn mà hay mới khó đã đề cập đến
cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật truyện ngắn mini. Ông khẳng định “hay
trước hết phải có tư tưởng sâu sắc, mới lạ” (tr.372). Nhà văn viết truyện ngắn phải có
sự tìm tịi về tư tưởng. Tư tưởng đầy cảm xúc và mang tính hình tượng đó phải hình
thành từ khi ý đồ nghệ thuật mới chớm nở. Về nghệ thuật truyện cực ngắn, ông cũng
10
thống nhất quan điểm với Nguyên Ngọc, cho rằng “cái quan trọng nhất là tạo ra được
tình huống mới lạ, độc đáo” (tr.373).
Về nghệ thuật viết truyện rất ngắn, Nguyễn Nho Khiêm (2006) trong bài Ước
mơ của mỗi nhà văn khẳng định: “Nhà văn viết truyện rất ngắn giống như nhà điêu
khắc”, tức là phải biết “đục bỏ những yếu tố thừa” “nhà văn phải biết cô đúc tối đa
mọi chi tiết, từ hành động nhân vật, kết cấu truyện đến ngơn ngữ” (tr.278). Ơng cho
rằng truyện rất ngắn là mơ ước và cũng là thách đố của mỗi nhà văn.
Bên cạnh đó, cịn nhiều bài viết của các tác giả như: Lê Trí Viễn, Nguyễn
Khải, Nguyễn Kiên, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Văn Hùng, Phan Cung Việt,
Phùng Ngọc Kiếm… đã đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng về truyện rất ngắn như:
cốt truyện, sự kiện, nhân vật, ngôn ngữ, nghệ thuật trần thuật, đặc biệt nhấn mạnh đến
tính ngắn gọn, hàm súc, dư ba của loại hình tự sự cỡ nhỏ này.
Điều đáng ghi nhận là năm 2000, trong cơng trình Truyện ngắn mấy vấn đề lý
thuyết và thực tiễn thể loại của Bùi Việt Thắng, truyện ngắn rất ngắn đã xuất hiện với
tư cách là một kiểu của truyện ngắn. Trong một mục nhỏ của cơng trình, Bùi Việt
Thắng đã đưa ra cái nhìn khá hệ thống về nguồn gốc, bản chất và tương lai của truyện
cực ngắn. Việc này có ý nghĩa rất quan trọng đối với truyện cực ngắn trên phương diện
lý thuyết.
Ngồi ra, cịn có một số luận văn nghiên cứu về truyện cực ngắn trên các ngữ
liệu cụ thể. Có thể kể đến một vài cơng trình như sau:
- Cao Thị Hiền với luận văn thạc sĩ Đặc điểm kết cấu truyện cực ngắn, bảo vệ
tại Trường Đại học Vinh năm 2011;
- Nguyễn Thị Yến với luận văn thạc sĩ Thể loại truyện cực ngắn mini trong
văn học Việt Nam đương đại, bảo vệ tại Trường Đại học Vinh năm 2012;
- Tôn Thị Tuyết Oanh với luận văn thạc sĩ Đặc điểm ngôn ngữ truyện cực ngắn
Việt Nam, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015.
Nhìn chung, chúng tôi nhận thấy rằng truyện cực ngắn đang là vấn đề thu hút
được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nói chung và độc giả nói riêng. Các bài
viết trên đã nêu lên những nhận định ban đầu, khái quát về truyện cực ngắn như vấn
đề tên gọi, nguồn gốc, dung lượng, cốt truyện, tư tưởng, nhân vật, giọng điệu, ngôn
11
ngữ, đặc điểm kết cấu... Tuy nhiên, tìm hiểu về truyện cực ngắn dưới góc nhìn phân
tích diễn ngơn thì cho đến nay vẫn chưa có cơng trình nghiên cứu nào.
3. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài Phân tích diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện
đại, chúng tôi muốn làm sáng rõ đặc điểm của diễn ngôn truyện cực ngắn trên phương
diện ngữ vực và cấu trúc; từ đó góp phần bổ sung cho lý thuyết phân tích diễn ngơn
một mảng thể loại cịn chưa được đi sâu tìm hiểu cũng như giúp những người quan
tâm đến thể loại này có thêm tài liệu tham khảo.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn, đề tài này tập trung miêu tả, phân tích ngữ vực và
cấu trúc của diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại.
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp miêu tả và
phân tích diễn ngơn.
Phương pháp miêu tả: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để miêu tả các đặc
điểm về từ vựng, ngữ pháp và cấu trúc diễn ngơn.
Phương pháp phân tích diễn ngơn: Chúng tơi vận dụng hệ thống lý thuyết về
phân tích diễn ngơn (cụ thể là phương pháp phân tích ngữ vực và phương pháp phân
tích cấu trúc diễn ngơn) để khảo sát và phân tích ngữ liệu, tiến hành phân tích hình
thức và nội dung của diễn ngôn, đưa ra những nhận xét về ngữ cảnh tình huống (the
context of situation), đặc điểm ngữ vực và đặc điểm cấu trúc.
12
5.2. Nguồn ngữ liệu
Ngữ liệu của luận văn bao gồm 200 truyện cực ngắn được in trong các nguồn
sau đây (chúng tôi chỉ chọn lọc 200 diễn ngôn trong nguồn ngữ liệu):
- Truyện cực ngắn của nhiều tác giả, Tạp chí Kiến thức ngày nay, số 287 - 294
- 295 - 296 - 299 - 300 - 301 - 318 - 319 - 325, 1998 - 1999;
- 100 truyện hay cực ngắn của nhiều tác giả, Tạp chí Thế giới mới, NXB Văn
hóa Sài Gịn, 2006;
- Lời tiên tri của giọt sương của Nhật Chiêu, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2011;
- Những tàn dư mưa của Hoàng Long, NXB Lao động - Trung tâm Văn hóa
Ngơn ngữ Đơng Tây, Hà Nội, 2011;
- 101 truyện cực ngắn của Trần Hoàng Trúc, NXB Thanh niên, 2013;
- Tập truyện rất ngắn Nhặt bóng suy tư của Phong Nhã Ka, NXB Thành phố
Hồ Chí Minh, 2013;
- Truyện cực ngắn 100 chữ của Phan Tấn Linh, báo Nhân Dân điện tử, 30 - 9
- 2014, ;
- Truyện ngắn mini đặc sắc của nhiều tác giả, NXB Văn học, 2015;
- Tập truyện Ngắn và rất ngắn của Nguyễn Thị Minh Thái và Nguyễn Thị
Hậu, NXB Văn hóa - Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2016;
- Chùm truyện cực ngắn của Nguyễn Thị Bích Lan, báo Nhân dân, số 228,
2016;
- Truyện cực ngắn của nhiều tác giả, báo Tuổi trẻ online, 10 - 02 - 2018,
/>6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1. Về mặt lý luận
Đề tài vận dụng lý thuyết phân tích diễn ngôn vào một thể loại cụ thể là truyện
cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại, qua đó góp phần bổ sung cho lý thuyết
phân tích diễn ngơn một mảng thể loại cịn chưa được đi sâu tìm hiểu cũng như giúp
những người quan tâm đến thể loại này có thêm tài liệu tham khảo.
13
6.2. Về mặt thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu từ đề tài có thể giúp những người quan tâm có cái
nhìn tồn cảnh về diễn ngơn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại, nhà
phê bình - nghiên cứu văn học có căn cứ tin cậy để đánh giá một sáng tác truyện cực
ngắn cụ thể trên góc nhìn phân tích diễn ngơn.
7. Bố cục của luận văn
Ngồi phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được triển khai thành ba
chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận. Trong chương này, chúng tơi trình bày cơ sở lý
thuyết làm tiền đề cho việc phân tích diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn học Việt
Nam hiện đại. Cụ thể là lý thuyết về diễn ngơn, phân tích diễn ngơn và các vấn đề về
ngữ cảnh tình huống, ngữ vực và cấu trúc trong phân tích diễn ngơn. Cùng với đó là
lý thuyết về truyện cực ngắn, vấn đề tên gọi, nguồn gốc hình thành, truyện cực ngắn
trong sự đối sánh với truyện ngắn và đặc điểm truyện cực ngắn.
Chương 2: Phân tích ngữ vực diễn ngơn truyện cực ngắn trong văn học Việt
Nam hiện đại. Trong chương này, chúng tơi phân tích các yếu tố trường, thức và
khơng khí chung trong ngữ cảnh tình huống của diễn ngơn truyện cực ngắn, miêu tả
và phân tích sự thể hiện của ngữ vực diễn ngôn truyện cực ngắn qua các phương tiện
từ vựng và các phương tiện cú pháp.
Chương 3: Phân tích cấu trúc diễn ngơn truyện cực ngắn trong văn học Việt
Nam hiện đại. Ở chương này, chúng tơi đi sâu khảo sát, phân tích, miêu tả cấu trúc
và các thành phần của cấu trúc diễn ngôn truyện cực ngắn.
14
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Một số khái niệm liên quan đến diễn ngơn và phân tích diễn ngơn
1.1.1. Khái niệm diễn ngôn
Thuật ngữ diễn ngôn (discourse) được sử dụng lần đầu tiên với tư cách là một
thuật ngữ chuyên môn bởi nhà ngôn ngữ học người Bỉ - E. Buysen (1943) trong tác
phẩm Hoạt động nói năng và văn bản. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, nghiên cứu
diễn ngơn (hay cịn gọi là phân tích diễn ngơn) đã trở thành một trào lưu khoa học
phát triển rầm rộ ở châu Âu và diễn ngôn trở thành một khái niệm trung tâm, được sử
dụng rộng rãi trong khoa học xã hội và nhân văn.
Đến cuối thế kỷ XX, thuật ngữ diễn ngôn bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam trong
các cơng trình nghiên cứu ngơn ngữ: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần
Ngọc Thêm (1985), Dụng học Việt ngữ của Nguyễn Thiện Giáp (2000), Đại cương
ngôn ngữ học, tập 2 của Đỗ Hữu Châu (2001), Phân tích diễn ngơn: Một số vấn đề lý
luận và phương pháp của Nguyễn Hịa (2008), Giao tiếp diễn ngơn và cấu tạo của
văn bản của Diệp Quang Ban (2009).
Barthes (1970) coi diễn ngôn là đối tượng của ngôn ngữ học văn bản, “diễn
ngôn - tương tự với văn bản do ngôn ngữ học nghiên cứu, và chúng tôi sẽ định nghĩa
nó (hãy cịn sơ bộ): Diễn ngơn là một đoạn lời nói hữu tận bất kỳ, tạo thành một thể
thống nhất xét từ quan điểm nội dung, được truyền đạt cùng với những mục đích giao
tiếp thứ cấp, và có một tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích này, vả lại (đoạn
lời này) gắn bó với những nhân tố văn hóa khác nữa, ngồi những nhân tố có quan
hệ đến bản thân ngơn ngữ (langue)” (Dẫn theo Diệp Quang Ban, 2009, tr.96).
Theo cách kiến giải của Barthes, ta có thể thấy rằng đối tượng khảo sát được
gọi là “diễn ngôn” cũng là “văn bản”, nhưng văn bản là do ngơn ngữ học nghiên cứu,
cịn diễn ngơn do ngôn ngữ học diễn ngôn nghiên cứu. Điểm quan trọng trong định
nghĩa của Barthes là có tính đến mục đích giao tiếp (mặt xã hội) và sự liên thơng giữa
văn hóa với ngơn ngữ.
15
Gruber và Redeker cho rằng “diễn ngôn được hiểu theo nghĩa rộng chính là
cách dùng ngơn ngữ gắn với tình huống sử dụng” (Dẫn theo Diệp Quang Ban, 2009,
tr.96).
Nguyễn Hòa (2008) cho rằng diễn ngôn (discourse) và văn bản (text) là hai
khái niệm cơ bản trong lý luận phân tích diễn ngơn, có liên quan chặt chẽ với nhau.
Tuy hai khái niệm này cần phải được phân định một cách rạch rịi, song trong thực tế
vấn đề khơng hồn tồn đơn giản; một số tác giả cho rằng chúng được sử dụng thay
thế cho nhau, trong khi đó một số tác giả khác thì lại cho rằng chúng được dùng với
một số khác biệt (tr.30).
Một số tác giả đã đưa ra các khái niệm để phân biệt “văn bản” và “diễn ngôn”
(vốn là vấn đề gây ra khá nhiều tranh cãi bởi sự phức tạp và rắc rối trong mối quan
hệ giữa chúng). Có thể kể đến một số ý kiến tiêu biểu như sau:
Crystal cho rằng: “Diễn ngôn được nhìn nhận như là một chuỗi ngơn ngữ (đặc
biệt là ngơn ngữ nói) liên tục lớn hơn câu, thường tạo nên một đơn vị có mạch lạc,
như bài truyền giáo, một lý lẽ, một câu chuyện tiếu lâm hay chuyện kể”. Và “văn bản
là một đoạn diễn ngơn nói hay viết, hoặc thể hiện ở dạng ký hiệu sử dụng tự nhiên,
được xác định để phân tích. Đây thường là một đơn vị ngơn ngữ có chức năng giao
tiếp có thể xác định được như một cuộc hội thoại hay tấm áp phích” (Dẫn theo
Nguyễn Hịa, 2008, tr.31).
Tuy thừa nhận diễn ngơn khơng hồn tồn là văn bản nhưng định nghĩa này
chưa làm rõ bản chất của sự khác biệt giữa hai khái niệm này. Chúng ta thấy văn bản
lại được xác định như sau: “Văn bản là một đoạn diễn ngơn nói hay viết, hoặc thể
hiện ở dạng ký hiệu”.
G. Cook (1989) dùng khái niệm diễn ngôn để chỉ “những chuỗi ngôn ngữ trọn
nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích” trong khi văn bản là “một chuỗi ngơn ngữ
lý giải được ở mặt hình thức, bên ngồi ngữ cảnh”. Trong định nghĩa này, tác giả đã
xác định sự khác biệt giữa diễn ngôn và văn bản dựa trên sự đối lập giữa chức năng
và hình thức (Dẫn theo Nguyễn Hòa, 2008, tr.31).
16
Brown và Yule (1983) cho rằng “Văn bản là sự thể hiện ngôn từ của một hành
động giao tiếp” và “là sự thể hiện của diễn ngôn” (Dẫn theo David Nunan, 1997,
tr.20).
Như vậy, dù là phân biệt rạch ròi hai khái niệm “văn bản” và “diễn ngôn” hay
đồng nhất hai khái niệm này thì đều có một điểm chung là xem diễn ngôn và văn bản
là hai phương diện của cùng một đối tượng. Hầu hết các ý kiến đều cho rằng diễn
ngôn là ngôn ngữ trong sử dụng (language in use). Theo quan niệm này, ngoại diên
của diễn ngôn rộng hơn so với văn bản. Bởi diễn ngơn, ngồi cái vỏ ngôn ngữ (thể
hiện bằng văn bản viết hoặc nói), cịn bao gồm nhiều yếu tố như tâm lý, lịch sử, chính
trị, tri thức, phong cách, tình huống và cả tác động của chiến lược văn hóa (cultural
strategy) ở người sử dụng ngôn ngữ.
Luận văn tán đồng quan điểm của Nguyễn Hòa (2008) khi nhận định: Trong
thực tế rất khó phân biệt rạch rịi giữa diễn ngơn và văn bản bởi lẽ trong diễn ngơn
sẽ có cái văn bản. Cho nên sự phân biệt chỉ mang tính chất tương đối. Đây không
phải là hai thực thể tách biệt mà cho là một thực thể biểu hiện của ngôn ngữ hành
chức trong bối cảnh giao tiếp xã hội. Diễn ngôn là sự kiện hay q trình giao tiếp
hồn chỉnh thống nhất có mục đích, khơng có giới hạn được sử dụng trong hoàn cảnh
giao tiếp xã hội cụ thể (tr.33).
1.1.2. Phân tích diễn ngơn
Vào những năm 60 của thế kỷ XX, cùng với việc chú ý xác định khái niệm
diễn ngôn, các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng đồng thời chú ý tới các cấu tạo ngôn
ngữ lớn hơn câu dưới các tên: “Ngôn ngữ học văn bản” (Text Linguistics), “Phân tích
văn bản” (Text Analysis), “Phân tích chức năng” (Functional Analysis).
Người đầu tiên sử dụng thuật ngữ phân tích diễn ngôn là Harris (1952) trong
tác phẩm “Discourse Analysis” (Theo Nguyễn Hòa, 2008, tr.24); tiếp theo sau là
Mitchell (1957) và đặc biệt là Van Dijk (1972) đã có nhiều đóng góp trong việc phát
triển lý thuyết này (Theo Diệp Quang Ban, 2009, tr.149). Theo Z. Harris, phân tích
diễn ngơn đã có một đối tượng nghiên cứu rõ ràng, đó là diễn ngơn. Ơng coi phân
17
tích diễn ngơn là một hệ phương pháp hình thức phân tích văn bản thành các đơn vị
nhỏ hơn (Theo Nguyễn Hòa, 2008, tr.24).
Brown và Jule (1983) cho rằng “Phân tích diễn ngơn là sự phân tích ngơn ngữ
hành chức. Như vậy, khơng thể giới hạn phân tích diễn ngơn với việc miêu tả các
ngôn ngữ mà không quan tâm đến mục đích hay chức năng mà các hình thức này
được tạo ra để đảm nhận trong thế giới hoạt động của con người” (tr.15).
David Nunan (1998) cũng đã phân biệt phân tích văn bản và phân tích diễn
ngơn. Theo ông, phân tích văn bản là xem xét các đặc điểm nội dung và hình thức
của văn bản tách rời ngữ cảnh ngồi ngơn ngữ, cịn phân tích diễn ngơn là quan tâm
tới mặt chức năng, tức là liên quan đến mặt ngơn ngữ trong q trình sử dụng (ngơn
ngữ hành chức). Ơng chỉ rõ rằng, nhà phân tích diễn ngôn cũng cần quan tâm đến
việc nhận diện những cái đều đặn và những cái khuôn mẫu trong ngôn ngữ, đồng thời
còn phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng hơn cả là vừa chỉ ra, vừa giải thuyết mối
quan hệ giữa những cái đều đặn đó với những ý nghĩa, những mục đích được diễn đạt
qua diễn ngơn để đạt đến mục đích cuối cùng của việc phân tích (tr.21).
Cùng quan điểm trên, Cook (2001) nhấn mạnh rằng phân tích diễn ngơn cũng
khảo sát ngữ cảnh giao tiếp, ai tham gia với ai, tại sao, ở trong xã hội nào và tình
huống ra sao, nhờ vào phương tiện nào, các loại hành động giao tiếp khác nhau nào
được sử dụng và mối quan hệ của chúng (tr.3).
Ở Việt Nam, Đỗ Hữu Châu (2001) cho rằng phân tích diễn ngơn phải chú ý
xem xét cả hai mặt nội dung và hình thức của diễn ngơn, có như thế mới đánh giá đầy
đủ, tồn diện tính chất và hiệu quả của diễn ngơn. Tiếp cận diễn ngơn từ góc độ dụng
học, Đỗ Hữu Châu đặc biệt quan tâm đến ngữ cảnh giao tiếp. Quan điểm về phân tích
diễn ngơn của ơng đối lập với các nhà ngôn ngữ học theo quan điểm cấu trúc luận.
Từ những phân tích của ơng, có thể thấy rằng các yếu tố bên ngoài đã tác động, chi
phối khơng nhỏ đến việc hình thành các diễn ngơn, do vậy phân tích diễn ngơn khơng
thể khơng xem xét đến nhân tố ngữ cảnh (tr.36-37).
Theo Nguyễn Hòa (2008) phân tích diễn ngơn khơng những phản ánh những
hệ phương pháp luận truyền thống từ nghiên cứu sang phân tích sử dụng, mà còn là
sự thể hiện những thay đổi trong nhận thức về bản chất của ngôn ngữ. Đối tượng của