Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (239.74 KB, 25 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>Phòng giáo dục và đào tạo thành phố Đông Hà Quảng Trị</b>
<b> Trường tiểu học Hàm Nghi</b>
<b></b>
<b>GIÁO VIÊN THỰC HIỆN </b>
<b>Bùi Thị Bản</b>
<b>Phần I: Lý do chọn đề tài</b>
*Bậc học ban đầu hết sức quan trọng để đào tạo thế hệ trẻ là bậc Tiểu học. Các em sẽ trở thành
những công dân tốt mang trong mình những phẩm chất tạo thành cốt lõi của một nhân cách Việt Nam
trong giai đoạn mới. Những phẩm chất đó là: trí tuệ phát triển, ý chí cao, tình cảm đẹp.
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng nên nghị quyết của Ban chấp hành trung ương Đảng đã chỉ rõ
là phải “Nâng cao chất lượng toàn diện bậc Tiểu học”. Trong chương trình hiện hành của môn tự nhiên
và xã hội ở lớp năm được chia thành ba phần: Khoa học – Lịch sử - Địa lý. Những tri thức thu nhận
được từ môn học này là những cơ sở ban đầu, những đường nét ban đầu của nhân cách. Vì vậy việc
dạy các em như thế nào để có hiệu quả giáo dục cao. Những tri thức mà các em thu nhận được sẽ gắn
chặt trong kí ức, tâm trí và một số kiến thức sẽ được hiện thực hoá trong cuộc sống thơ ngây và cả
cuộc đời của học sinh.
Trong nhiều năm qua ở các trường Tiểu học đã có nhiều cố gắng đổi mới phương pháp dạy học.
Một điều quan trọng trong sự đổi mới đó là việc làm và sử dụng các phương tiện dạy học để xố bỏ
tình trạng “thầy đọc, trị ghi” rồi “học thuộc lịng, nói lại theo sách”. Vì vậy việc làm và sử dụng đồ
<b>Phần 2: Cơ sở lí luận và thực tiễn giải quyết đề tài</b>
**************************
Phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức hoạt động của Giáo viên và của học sinh trong
quá trình dạy học. Q trình đó được tiến hành dưới vai trị của giáo viên, sự hoạt động nhận thức tích
cực của học sinh – phải lấy học sinh làm trung tâm. Cần phải khai thác tối đa những ưu điểm của các
phương pháp dạy học để học sinh phát huy tính tích cực học tập một cách thơng minh sáng tạo.
ở lứa tuổi tiểu học, các em học sinh còn rất hồn nhiên . Các em chỉ hiểu được những khái niệm
có liên quan đến mơi trường tự nhiên và xã hội trực tiếp xung quanh. Các em còn thiếu kiến thức trực
tiếp về thế “giới thực”. Vì vậy cần tạo điều kiện để các em trải nghiệm một cách trực tiếp hay gián
tiếp. Cả tư duy và tình cảm của các em đều mang tính cụ thể, trực quan, giàu cảm xúc. Mặt khác ở
giai đoạn này ghi nhớ không chủ định còn giữ một vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức của
các em. Đồng thời khả năng tập trung chú ý của các em chưa cao. Vì vậy việc sử dụng đồ dùng dạy
học đã góp phần không nhỏ trong giờ dạy Tự nhiên và xã hội ở trường Tiểu học.
Những đồ dùng truyền thống để dạy học bao gồm:
- Tranh ảnh phục vụ kiến thức bài học.
- Tranh ảnh, tư liệu sưu tầm của Giáo viên và học sinh để minh hoạ cụ thể hơn nội dung
của bài.
- Bản đồ, lược đồ.
- Sơ đồ trận đánh, chiến dịch.
- Mẫu vật có thật trong tự nhiên.
Hiện nay việc dạy học chương trình hố đã thực sự lấy học sinh làm trung tâm. Các trường học
đã được trang bị cơ sở vật chất hiện đại nên cần phải cho học sinh được làm quen với các đồ dùng dạy
học sinh động thông qua các phương tiện hiện đại như:
- Sơ đồ có sự điều khiển ánh sáng, màu sắc, có sự chuyển động linh hoạt, phù hợp với từng
đơn vị tri thức nhỏ.
- Thiết kế băng hình, đĩa phục vụ nội dung bài dạy.
Sử dụng đồ dùng dạy học trong quá trình dạy học là con đường kết hợp chặt chẽ giữa cái cụ thể
và cái trìu tượng, phù hợp với các đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học. Nó cịn tạo điều kiện tích
cực trong q trình học tập của học sinh.
<b>A/ sử dụng đồ dùng trực quan tạo biểu tượng trong việc dạy môn lịc sử 5.</b>
************************
Bộ môn lịch sử trong trường Tiểu học là một bộ mơn góp phần giáo dục tồn diện cho học sinh.
Tuy nhiên trong học sinh vẫn còn tồn tại tâm lí coi mơn lịch sử là mơn phụ, thụ động, ít suy nghĩ. Cần
sử dụng đồ dùng trực quan để tạo biểu tượng, để giờ dạy không tẻ nhạt mà trở nên sinh động tạo
hứng thú trong học tập cho học sinh.
Do đặc điểm của việc nhận thức lịch sử là không thể trực tiếp quan sát sự kiện, nhân vật trong
quá khứ cho nên việc tạo biểu tượng lịch sử là một yêu cầu rất quan trọng. Biểu tượng lịch sử là hình
ảnh chân thực về hiện thực trong quá khứ bằng hoạt động của các giác quan: thị giác tạo nên hình
ảnh trực quan, thính giác đem lại những hình ảnh về q khứ thơng qua lời giảng của giáo viên.
giáo viên phải cung cấp tài liệu – sự kiện lịch sử chính xác, vừa sức tiếp thu của học sinh, có hình ảnh
cụ thể, sinh động. Đồ dùng trực quan là chỗ dựa dễ hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện lịch sử, là
phương tiện rất có hiệu lực để hình thành các tri thức, các khái niệm lịch sử.
Năm 2004 này, cả nước ta tưng bừng kỉ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Vì vây, bài
học lịch sử:
<b>“Điện Biên Phủ – Pháo đài thực dân sụp đổ”</b>
có tầm quan trọng và tính cập nhật cao. Để thực hiện thành công giờ dạy này, trước hết giáo
viên phải thiết kế một bại học đầy đủ, cụ thể. Bản thiết kế phải mang nhiều tâm sức, trí tuệ và thời
gian vì “Muốn dạy học có kết quả, cần thiết kế thành công”.
Hai yếu tố chủ yếu của bản thiết kế này là:
<b>1) Phương pháp dạy học: đảm bảo sự chủ động của học sinh.</b>
- Hướng về học sinh, phát huy tính tích cực của các em trong học tập ở các khâu (lên lớp,
học ở nhà, kiểm tra, bài tập, thực hành...)
- Khuyến khích học sinh nêu câu hỏi, thắc mắc, đặt vấn đề để tự trả lời, cùng bạn học giải
quyết dưới sự hướng dẫn của thầy cô.
- Gợi ý một số vấn đề để học sinh có thể viết bài luận nhỏ, trả lời câu hỏi, điền câu, sắp xếp
đúng các sự kiện, địa điểm, thời gian.
<b>2) Làm và sử dụng đồ dùng dạy học:</b>
Ngoài các đồ dùng như:
- Bản đồ Việt Nam
- Tranh ảnh về chiến thắng Điện Biên Phủ do học sinh sưu tầm.
Giáo viên cần phải có:
- Sơ đồ khu Mường Thanh phóng to có sử dụng mũi tên màu sắc.
- Đĩa CD Room ghi lại hình ảnh tư liệu và lịch sử: bộ đội kéo pháo, đào hầm, tấn công và đặc
biệt là đoạn phim về cuộc tổng công kích chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954.
<b>Khi tiến hành giờ dạy cần chú ý:</b>
a) Phần kiểm tra bài cũ:
Sử dụng kíên thức đã học để tiếp thu kiến thức mới và liên hệ với hiện tại.
b) Phần mở đầu giới thiệu bài phải gây được không khí học tập, hứng thú với bài học cho
học sinh.
c) Phần chủ yếu của bài học:
bao gồm:
- Phương pháp dạy học
- Những câu hỏi chính
- Những điều chủ yếu cần học
- Việc sử dụng các đồ dùng dạy học
- Việc quản lí lớp của giáo viên
- Phân phối thời gian cho từng phần
- Hoạt động của học sinh
Qua tiết học tôi nhận thấy
<b>Thứ nhất</b>
- Giáo viên treo bản đồ và đưa ra những câu hỏi cho học sinh trả lời để thu hút sự chhú ý
quan sát của các em. Điều đó ln ln gợi cho các em suy nghĩ để giải quyết vấn đề trung tâm của
bài giảng.
<b>Thứ hai</b>
- Việc sử dụng các loại đồ dùng trực quan như sơ đồ, đĩa CD Room phù hợp với bài dạy vừa
nâng cao trình độ về lịch sử và nghiệp vụ cho giáo viên vừa giúp cho học sinh nắm được bài học một
cách có hiệu quả nhất
- Tại sao Pháp và Mỹ gọi Điện Biên Phủ là “Pháo đài không thể công phá”
- Thời gian và quy mô của chiến dịch.
- 56 ngày đêm (từ ngày 13 – 03 – 1954 đễn ngày 7 – 05 – 1954)
- Ta tấn cơng đợt một Vịng vây sau đợt một.
- Ta tấn cơng đợt hai vịng vây sau đợt hai.
- Ta tấn công đợt ba giành chiến thắng.
- Dùng các hình ảnh thực trong quá khứ để xây dựng hình tượng anh hùng của:
Binh chủng pháo binh: Anh Tơ Vĩnh Diện.
Binh chủng bộ binh: Anh Phan Đình Giót.
- Đặc biệt qua đoạn phim ngắn về cuộc tổng cơng kích chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954 đã
giúp cho học sinh như được sống thực trong chiến thắng ở Điện Biên Phủ năm xưa.
- Tiếng bộc phá, tiếng súng lớn cùng khói lửa mịt mù báo hiệu giây phút thất bại của thực
dân Pháp đã tới.
- Tiếng cầu cứu của Đờ Cát với Cô - nhi qua bộ đàm cho thấy sự thảm hại của khoa học kĩ
thuật quân sự đế quốc thực dân giàu mạnh trước sức mạnh dân tộc Việt Nam kiên cường.
- Tiếng hò reo chiến thắng vang dội trên chiến trường cùng với lá cờ đỏ sao vàng được các
chiến sĩ tung cao trên nóc hầm Đờ Cát và bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã
khắc sâu trong tâm trí của các em.
<b>Thứ ba</b>
Việc sử dụng các loại đồ dùng trực quan tạo biểu tượng như vậy không chỉ tiếp nhận kiến thức
đã học, chuẩn bị để tiếp thu các bài học tiếp theo. Dùng sơ đồ, phim ảnh học sinh được quan sát kĩ
hơn, cụ thể sinh động hơn, phát hiện và nêu lên những quan điểm mới. Do đó học sinh có thể đề ra
thắc mắc, câu hỏi hay trả lời, giải đáp vấn đề liên quan được đặt ra. Các loại đồ dùng trực quan này đã
được trình bày kiến thức thu nhận một cách phong phú, cụ thể sinh động hơn hẳn.
<b>Thứ tư</b>
Sử dụng đồ dùng trực quan có thể kiểm tra, đánh giá việc học tập của học sinh. Đây là phương
thức tốt nhất để giáo viên kiểm tra trí nhớ của các em về những kiến thức cần thiết của bài học.
<b>Thứ năm</b>
Trong khi sử dụng các đồ dùng trực quan, giáo viên đã giúp cho học sinh rèn luyện kĩ năng thực
hành. Học sinh tự miêu tả, tường thuật, giải thích các sự kiện lịch sử. Các em có điều kiện để thử
thách năng lực của mình trong các tình huống khác nhau. Giáo viên đã tạo điều kiện và cơ hội để các
em khám phá và thử thách năng lực của mình, phát triển kĩ năng ngơn ngữ nói một cách trực tiếp.
<b>Cuối cùng</b>
<b>b/ Sử dụng đồ dùng trực quan tạo biểu tượng trong việc dạy môn khoa học 5</b>
************************
Khoa học là một môn học thực hành. Những hiểu biết mà các em nhận thức được là thực tế
đang xảy ra ở xung quanh các em là những điều mà các em có thể áp dụng ngay vào bản thân mình,
vào những người xung quanh và môi trường thiên nhiên. Học sinh trường tiểu học Cát Linh của chúng
ta sống ở thành phố nên ít có điều kiện tiếp xúc với thiên nhiên đa dạng ở các vùng, ít có các cơ hội
quan sát trực tiếp hoạt động sống của các lồi vật quanh ta.
Phần lớn ở chương ttrình Khoa học 5 kỳ hai là nghiên cứu về sự sinh sản của thực vật và động
vật trong đó có bài
<b>"Sự sinh sản và nuôi con của chim"</b>
Với nội dung bài ngắn gọn và phần minh hoạ chỉ có một bức tranh "Mớm mồi cho chim con". Vì
vậy trong quá trình giảng dạy của thầy cô và tiếp thu của học sinh cịn có nhiều hạn chế. Từ thực
trạng đó tơi đã suy nghĩ, tìm cách tạo ra đồ dùng dạy học để khai thác được nọi dung bài học một
cách đầy đủ, sâu sắc và sinh động.
Đây là một hệ thống các hình ảnh sưu tầm có xen kẽ các đoạn phim ngắn được sắp xếp theo
từng nội dung nhỏ của tiết học. Với màu sắc tươi tắn, hình dáng sống động như trong thiên nhiên làm
cho các em chú ý theo dõi, lôi cuốn các em vào bài học. Từ đó các em tự rút ra những kiến thức sâu
sắc, mở rộng sự hiểu biết của mình.
Để làm được đĩa CD Room này tôi đã sử dụng tư liệu lấy được từ mạng Internet, các chương
trình thế giới động vật ở truyền hình cáp và trnh ảnh sưu tầm.
Chương trình là một dạng phim video. Để tạo chương trình này, tơi đã sử dụng chương trình
chính là Adobe Premiere (chương trình biên tâp phim). Hỗ trợ thêm còn có chương trình Adobe
Đĩa gồm 6 phần:
Phần 1: giới thiệu đề mục và tên bài.
Phần 2: Đời sống của chim.
Phần 3: Đặc điểm sinh sản của chim.
Phần 4: sự phát triển của trứng nở thành chim con.
Phần 5: Sự ni dưỡng chăm sóc của chim bố mẹ với chim con.
Phần 6: Phần tham khảo về sự muôn màu mn vẻ của thế giới các lồi chim.
<b>Sau khi tiến hành giờ dạy tơi nhận thấy:</b>
1) Bằng các hình ảnh trực quan, khoa học, chính xác học sinh hiểu nội dung bài một cách dễ
dàng và rút ra được kiến thức một cachs sâu sắc.
2) Qua từng đoạn phim ngắn, nhất là đoạn trứng phát triển nở thành chim con, học sinh được
tận mắt thấy một quá trình sinh sản đầy đủ, sâu sắc, sống động chỉ trong thời gian ngắn (2 phút).
Qua đó học sinh giải đáp được vấn đề mà giáo viên đã nêu:
- Con chim non trong trứng làm sao ra được khỏi vỏ trứng?
- Nó phá vỏ hay mẹ nó giúp?
3) Học sinh có cơ hội tranh luận cùng bạn học, được giải đáp và tìm hiểu về:
- Đặc điểm chim non mới nở:
+ còn rất yếu ớt, nhiều phần cơ thể cịn chưa có lơng, chưa có lơng cánh, chưa đi lại được (bồ
câu, sẻ, ri..)
+ Chim non có bộ lơng tơ khắp mình, khơ ngay sau khi nở và đi lại được (gà, vịt, ngan, ngỗng…)
- Sự nuôi con của chim được thể hiện bằng hành động cụ thể nào?
- Sự đa dạng về kích thước, hình dáng, màu sắc.
- Những điều có hại và những điều có lợi mà các loài chim mang lại cho đời sống sản xuất của
con người.
4) Qua bài học còn giáo dục tư tưởng, nhân cách cho học sinh. Các em biết yêu quí thiên nhiên,
bảo vệ thiên nhiên (không bắt và phá tổ chim), học tập ở chim có hình dáng đẹp, tính tình hiền hồ
khơng gây hại cho đồng loại và con người, là biểu tượng cho hồ bình.
- Chim bồ câu - chim hồ bình.
5) Với thời gian của đĩa là 9 phút, học sinh được cập nhật nhiều hình ảnh phục vụ nội dung bài,
Giáo viên tiết kiệm được nhiều thời gian treo tranh, mô tả tranh…để cung cấp thêm các thông tin khác
cho học sinh
<b>c/ sử dụng đồ dùng trực quan phục vụ nọi dung dạy học môn địa lí 5</b>
***********************
Địa lí cũng là mơn khoa học thực hành. Bên cạnh những đồ dùng đặc trưng của bộ môn như:
Bản đồ, lược đồ, tranh ảnh, mơ hình, quả địa cầu…giáo viên có thể sử dụng một số đồ dùng khác như
biểu đồ, thống kê, máy ảnh số, tivi để khai thác và phục vụ nội dung bài học.
Đối tượng học sinh tiểu học còn rất nhỏ tuổi nên điều kiện để đi xa khỏi nơi mình sống cịn rất
hạn chế. Vì vậy vốn hiểu biết về mơn Địa lí chưa có là bao nhiêu.
Phần địa lí dân cư Việt Nam lớp 5 kì I gồm hai bài trong đó có bài:
<b>"Các dân tộc Việt Nam. Sự phân bố dân cư"</b>
Bài học cho các em được làm quen với một số khái niệm về dân số, mật độ dân số, dân cư, dân
tộc, một số biểu mẫu thống kê, biểu đồ. Để giúp học sinh nắm bắt được từng đơn vị tri thức nhỏ,
kkhắc sâu kiến thức của bài, tôi đã chuẩn thêm những đồ dùng sau:
- Hình ảnh các dân tộc ít người mà học sinh chưa được quan sát ở lớp bốn (khi học bài "các dân
tộc mìên núi phía Bắc") có gắn liền với nhà cửa, nơi sống và xen kẽ một số đoạn phim ngắn.
- Biểu đồ hình quạt giữa các dân tộc.
- Bảng thống kê tên và số lượng người của 54 dân tộc nước ta.
Để làm được các đồ dùng này tôi đã:
- Sưu tầm tranh ảnh về các dân tộc tại Viện bảo tàng dân tộc học.
- Tìm hiểu các số liệu thống kê mới nhất để đảm bảo cập nhật thông tin.
- Sưu tầm một số đoạn phim ngắn về nơi sinh sống, cảnh lao động sản xuất, sinh hoạt văn hoá
của các dân tộc.
Sử dụng tính năng quay phim, phát hình của máy ảnh số cắm ttrực tiếp qua tivi cho học sinh
quan sát.
<b>Sau giờ dạy , tôi nhận thấy một số điều sau:</b>
1) Đồ dùng trực quan đã giúp học sinh tự đi được trên con đường từ trực quan sinh động đến tư
duy trìu tượng. Các em có thể tự rút ra được kết luận hoặc giải thích được những vấn đề mà giáo viên
và chính bản thân các em nêu ra:
- Việt Nam là nước có ít hay nhiều dân tộc?
- Các dân tộc khác thường sống nhiều ở đâu?
- Em đã biết nhiều hình ảnh về dân tộc nào?
- Dân tộc nào có số lượng người ít nhất?
- Từ đỉnh Hà Giang tới mũi Cà Mau có người dân tộc nào sinh sống nhiều ở địa phương đó?
2) Trong một thời gian ngắn các em có thể quan sát và nhớ lâu được nhiều hình ảnh mà thao
tác sử dụng tranh khó có thể có hiệu quả cao như vậy. Các em như được đi du lịch qua màn ảnh nhỏ.
Giáo viên có thể dừng hình để mở rộng thêm kiến thức về dân tộc và chuyển ý sang phần Sự phân bố
dân cư, kế hoạch điều chỉnh dân cư của nước ta.
Tạo cho giờ học khơng khí nhẹ nhàng, thoải mái, học sinh khơng bị căng thẳng, khơng phải
nghe thuyết trình nhiều, đơn điệu, khơ khan. Các em có nhiều thời gian nêu ý kiến của mình, khong
phải chỉ đơn thuần có thầy "vấn", trị "đáp". Trong giờ học các em được tìm hiểu rộng và sâu nhưng
nội dung phần ghi nhớ ngắn gọn. Những ý này đã được khắc sâu qua từng chuyên mục, giúp các em
có khả năng tiếp thu tốt, có thể thuộc bài ngay trên lớp. Điều này có tác dụng khơi dậy niềm ham
thích bộ mơn thuộc cả hai lĩnh vực tự nhiên và xã hội
<b>Phần 3: Bài học kinh nghiệm</b>
Từ lâu nay, việc khuyến khích làm đồ dùng và sử dụng đồ dùng dạy học đã được ngành giáo dục
và các trường học rất quan tâm vì đây chính là cơ sởđể tạo được sự thành cơng trong các tiết dạy.
Hiệu quả của việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh được tăng cường. Khẩu hiệu
"Học đi đơi với hành" khơng cịn là hình thức, sáo rỗng.
Để đáp ứng nhu cầu về đổi mới phương pháp dạy và học hướng tập trung vào học sinh, hướng
tập trung vào đứa trẻ, trên cơ sở hoạt động của đứa trẻ, người giáo viên phải suy nghĩ, lựa chọn
những tài liệu trực quan cho từng bài dạy sao cho phù hợp. Hơn nữa hiện nay các trường tiểu học ở Hà
Nội đã có điều kiện trang bị các thiết bị nghe nhìn hiện đại. Học sinh của chúng ta thơng minh hơn và
có sự phát triển tâm lí tốt hơn học sinh Tiểu học cách đây 10 năm về trước. Các em có nhu cầu trực
quan cao hơn. Tranh vẽ tĩnh, màu sắc chưa thực sự sát hợp, những sơ đồ trận đánh, chiến dịc đơn
giản chưa lôi cuốn được các em, chưa tạo ra được sự say mê trong học tập của các môn học vẫn được
coi là "phụ "này. Thiết kế các bài học có sử dụng mơ hình, sơ đồ sinh động, máy ảnh số, đĩa CD ROOM
có tác dụng thiết thực như sau:
- Giờ học sôi nổi, sinh động, đảm bảo các em được hoạt động, học tập một cách tích cực, chủ
động sáng tạo, suy nghĩ độc lập. Các em nói lên được ý kiến riêng của mình một cách tự nhiên khơng
gị bó, rập khn máy móc…
- Giúp học sinh nắm bài một cách hiệu quả, trình bày các kiến thức đã thu nhận một cách phong
phú, cụ thể, sinh động hơn trong thời gian ngắn hơn. Như vậy giành được nhiều thời gian hơn để học
sinh phát hiện, giải thích các tri thức nhỏ trong bài, liên hệ vầ áp dụng vào thực tế đời sống.
- Rèn kĩ năng thựchành cho học sinh như việc sưu tầm tranh ảnh, trìng bày, miêu tả, tường
thuật, giải thích sự kiện lịch sử, hiện tượng tự nhiên (địa hình, khí hậu, thời tiết, động thực vật…)
- Kiểm tra ttrí nhớ cần thiết của các mơn học. Sự kiểm tra có sử dụng đồ dùng trực quan tạo
biểu tượng kkhông dừng lại ở việc xem học sinh có học thuộc, có nhớ hay khơng mà cịn xem các em
đã nhớ, đã biết để hiểu như thế nào?
- Làm quen, biết cách sử dụng các phương tiện trực quan hiện đại ở trường và áp dụng được ở
nhà theo kịp bước phát triển chung của khoa học kĩ thuật.
- Đồ dùng trực quan góp phần xây dựng nhân cách cho học sinh. Tiểu học là cấp học nền tảng
<b>phần IV: kết luận</b>
Phần nội dung đề tài đã nêu lên những cơng việc, những biện pháp chính mà tơi đã cố gắng
thực hiện trong q trình dạy học từ đầu năm đến nay.
<b>Kết quả từ phía học sinh cho thấy:</b>
- Bài kiểm tra chất lượng đầu năm còn chưa cao. Số điểm 9, 10 chưa nhiều, nhất là ở lớp 5B và
5C.
- Số điểm hàng tháng giữa học kì I có tiến bộ hơn, đặc biệt là lớp 5a và 5b.
- Bài kiểm tra cuối học kì I:
+ Cả 3 lớp đạt 100% số điểm trên trung bình.
+ Điểm 5, 6 chỉ còn số lượng nhỏ.
+ Điểm 9, 10 chiếm số lượng cao hơn hẳn.
- Điểm trung bình các bộ mơn cuối học kì I:
+ Lớp 5a: 80% đạt loại giỏi từ 9,0 trở lên
+ Lớp 5b: 62% đạt loại giỏi từ 9,0 trở lên
(Tính trung bình cả 3 môn Khoa - Sử - Địa).
Trên đây là những suy nghĩ và việc làm của tôi về: "Làm và sử dụng đồ dùng dạy học môn Tự
nhiên và xã hội 5".
Tuổi thơ và mái ttrường đầu tiên sẽ là kỉ niệm đẹp trong đời của mỗi học sinh. Làm sao mà các
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Đông Hà ngày 1 tháng 4 năm 2010
Người viết
Trần Thị Thu
<b> </b>
<b> PhÇn I: Mở đầu</b>
<b>Phơng pháp tổ chức dạy các dạng bài tập luyện từ và câu</b>
<b>cho học sinh lớp 4</b>
A.<b>Lý do chọn đề tài</b>
<b>1. Cơ sở lí luận.</b>
Nhận thức đợc tầm quan trọng của Tiếng Việt trong sự nghiệp giáo dục con
ngời. Từ xa xa ông cha ta đã sử dụng nó một cách tự giác nhằm để giáo dục trẻ
nhỏ.
Khi cha có nhà trờng, trẻ đợc giáo dục trong gia đình và ngồi xã hội. Từ
thuở nằm nơi, các em đợc bao bọc trong tiếng hát ru của mẹ, của bà, lớn lên chút
nữa những câu chuyện kể có tác dụng to lớn, là dịng sữa ngọt ngào ni dỡng tâm
Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục nhà trờng xuất hiện nh một điều
tất yếu, đón bớc thiếu nhi cắp sách tới trờng. Cả thế giới đang mở trớc mắt các em.
Kho tàng văn minh nhân loại đợc chuyển giao từ những điều sơ đẳng nhất. Quá
trình giáo dục đợc thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, tất cả các môn học.
Những điều sơ đẳng nhất đã góp phần rất quan trọng trong việc sử dụng ngôn
ngữ vào hoạt động giao tiếp của học sinh. Ngơn ngữ là thứ cơng cụ có tác dụng vơ
cùng to lớn. Nó có thể diễn tả tất cả những gì con ngời nghĩ ra, nhìn thấy biết đợc
những giá trị trừu tợng mà các giác quan không thể vơn tới đợc. Các môn học ở
Tiểu học có tác dụng hỗ trợ cho nhau nhằm giáo dục toàn diện học sinh phải kể
đến Luyện từ và câu, một phân môn chiếm thời lợng khá lớn trong mơn Tiếng Việt
ở Tiểu học. Nó tách thành một phân mơn độc lập, có vị trí ngang bằng với phân
môn Tập đọc, Tập làm văn...song song tồn tại với các mơn học khác. Điều đó thể
hiện việc cung cấp vốn từ cho học sinh là rất cần thiết và nó có thể mang tính chất
cấp bách nhằm “đầu t” cho học sinh có cơ sở hình thành ngơn ngữ cho hoạt động
giao tiếp cũng nh chiếm lĩnh nguồn tri thức mới trong các mơn học khác. Tầm quan
trọng đó đã đợc rèn giũa luyện tập nhuần nhuyễn trong quá trình giải quyết các
dạng bài tập trong mơn Luyện từ và câu lớp 4.
<b>2. C¬ së thùc tiƠn.</b>
Trong quá trình dạy học cũng nh việc phát hiện học sinh năng khiếu, tôi
cũng nh một số giáo viên khác khi dạy đến tiết Luyện từ và câu, đặc biệt các khái
niệm về từ đơn, từ ghép, các kiểu từ ghép...bộc lộ khơng ít hạn chế. Về nội dung
chơng trình dạy phần đó trong sách giáo khoa rất ít. Chính vì vậy học sinh rất khó
xác định, dẫn đến tiết học trở nên nhàm chán không thu hút học sinh vào hoạt động
Từ những lý do khách quan và chủ quan đã nêu trên, thông qua việc học tập,
giảng dạy trong những năm qua, tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu sâu hơn về
phơng pháp tổ chức dạy các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, nhằm
tìm ra đợc phơng pháp, hình thức tổ chức thích hợp nhất, vận dụng tốt nhất trong
quá trình giảng dạy của mình. Vì điều kiện, khả năng nghiên cứu có hạn tơi xin
<i><b>mạnh dạn trình bày kết quả nghiên cứu của mình thơng qua đề tài Ph</b></i>“ <i><b>ơng pháp tổ</b></i>
<i><b>chức dạy các dạng bài tập luyện từ và câu cho học sinh lớp 4”.</b></i>
<b>B. NhiƯm vơ nghiªn cøu.</b>
Tìm hiểu tình hình học tiếng việt phân mơn Luyện từ và câu thực hành xác
định phơng pháp tổ chức dạy các dạng bài tập luyện từ và câ. Đề xuất một số biện
pháp thực hiện trong khi dạy học sinh dạng bài này.
Đối tợng nghiên cứu: Học sinh lớp 4c.
<b>C. Mục đích nghiên cứu</b>.
Với đề tài này mục đích nghiên cứu chính là tìm phơng pháp tổ chức thích
hợp nhất trong quá trình dạy các dạng bài tập Luyện từ và câu. Từ đó vận dụng linh
hoạt vào hớng dẫn rèn kỹ năng làm các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinh
một cáhc hiệu quả nhất.
<b>D. Ph¬ng pháp nghiên cứu.</b>
thc hin c mc ớch ca tài đặt ra, tơi mạnh dạn nghiên cứu, học
hỏi tìm tũi, ỏp dng nhng phng phỏp sau:
<b>I. Phơng pháp nghiên cøu.</b>
1. Phơng pháp nghiên cứu lý luận (đọc tài liệu).
2. Phơng pháp phân tích tổng hợp.
3. Phơng pháp điều tra.
4. Phng phỏp thc nghim
5. Phng phỏp m thoi.
6. Phơng pháp tổng kết, rút kinh nghiệm.
<b>II. Tiến trình nghiên cứu.</b>
1. Dự giờ thăm lớp, tiếp xúc gần gũi với học sinh vàhiểu tình trạng giải quyết
làm các bài tập Luyện từ và câu của giáo viên và học sinh lớp 4.
2. Đề ra phơng hớng để nâng cao chất lợng làm các bài tập có hiệu quả hơn.
3. Dạy thực nghiệm, áp dụng trên lớp đối chứng, phân tích các kết quả bằng
số liệu thống kê.
<b>1. Đối với chơng trình sách giáo khoa.</b>
S tit Luyn t v cõu của chính sách giáo khoa lớp 4 gồm 2 tiết/tuần. Sau
mỗi tiết hình thành kiến thức là một loạt các bài tập củng cố bài. Mà việc xác định
phơng pháp tổ chức cho một tiết dạy nh vậy là hết sức cần thiết. Việc xác định yêu
cầu của bài và hớng giải quyết cịn mang tính thụ động, cha phát huy triệt để vốn
kiến thức khi luyện tập, thực hành.
<b>2. Đối với giáo viên.</b>
<i>Phõn mụn Luyn t v câu</i>“ ” tạo cho học sinh môi trờng giao tiếp để học
sinh mở rộng vốn từ có định hớng, trang bị cho học sinh các kiến thức cơ bản về
Tiếng Việt gắn với các tình huống giao tiếp thờng gặp. Từ đó nâng cao các kỹ năng
sử dụng Tiếng Việt của học sinh. Giáo viên là một trong 3 nhân tố cần đợc xem xét
<i>của quá trình dạy học “Luyện từ và câu”, là nhân tố quyết định sự thành cơng của</i>
q trình dạy học này. Khi nghiên cứu quá trình dạy hớng dẫn học sinh làm các
<i>dạng bài tập Luyện từ và câu</i>“ ” cho học sinh lớp 4, tôi thấy thực trạng của giáo viên
nh sau:
<i>- Phân môn Luyện từ và câu</i>“ ” là phần kiến thức khó trong khi hớng dẫn học
sinh nắm đợc yêu cầu và vận dụng vào việc làm các bài tập nên dẫn đến tâm lý giáo
viên ngại bởi việc vận dụng của giáo viên còn lúng túng gặp khó khăn.
- Giáo viên một số ít khơng chịu đầu t thời gian cho việc nghiên cứu để khai
thác kiến thức và tìm ra phơng pháp phù hợp với học sinh, lệ thuộc vào đáp án, gợi
ý dẫn đến học sinh ngại học phân môn này.
- Cách dạy của một số giáo viên cịn đơn điệu, lệ thuộc máy móc vào sách
giáo khoa, hầu nh ít sáng tạo, cha thu hút lôi cuốn học sinh.
- Nhiều giáo viên cha quan tâm đến việc mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ
cho học sinh, giúp học sinh làm giàu vốn hiểu biết phong phú về Tiếng Việt.
- Thực tế trong trờng tơi cơng tác, chúng tơi thờng rất tích cực đổi mới phơng
pháp dạy sao cho có hiệu quả nhất ở môn học này. Đồng thời là tiền đề trong việc
phát triển bồi dỡng những em có năng khiếu. Nhng kết quả giảng dạy và hiệu quả
cịn bộc lộ khơng ớt nhng hn ch.
<b>3. Đối với học sinh.</b>
Hầu hết học sinh cha hiểu hết vị trí, tầm quan trọng, tác dụng của phân môn
<i>Luyện từ và câu</i>
nờn cha dành thời gian thích đáng để học mơn này.
Học sinh khơng có hứng thú học phân mơn này. Các em đều cho đây là phân
<i>môn vừa khô</i>“ <i>” vừa khó</i>“ ”.
Nhiều học sinh cha nắm rõ khái niệm của từ, câu...Từ đó dẫn đến việc nhận
diện phân loại, xác định hớng làm bài lệch lạc. Việc xác định cịn nhầm lẫn nhiều.
Học sinh cha có thói quen phân tích dữ kiện của đầu bài, thờng hay bỏ sót,
làm sai hoặc không làm hết yêu cầu của đề bài.
Do vậy ngay khi dạy tới phần từ ghép, từ láy...Tôi đã tiến hành khảo sát học
sinh lớp 4B<sub> bằng bài tập sau.</sub>
<b>Đề bài: Xác định từ ghép v t lỏy trong on vn sau.</b>
<i>Dáng tre v</i>
<i>ơn mộc mạc, màu tre tơi nhũn nhạn. Rồi tre lớn lên cứng cáp,</i>
<i>dẻo dai, vững chắc. Tre trông thanh cao, giản dị, chí khí nh ngời .</i>
<b>Qua khảo sát ở lớp tôi có 37 học sinh, kết quả khảo sát nh sau:</b>
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
6 16 8 19 12 34 11 31
Điều đáng nói ở đây là có tới 20 em cha biết xác định từ ghép, từ láy, trong
quá trình làm học sinh cha biết trình bày khoa học rõ ràng, câu trả lời cha đầy đủ.
Qua giảng dạy tôi nhận thấy kết quả cha cao là do nguyên nhân cả hai phía;
Ngời dạy và ngời học. Do vậy tôi rất cần phải trau dồi kiến thức tìm ra phơng pháp
đổi mới trong hớng dẫn giảng dạy để khắc phục thực trạng trên để kết quả dạy học
đợc nâng lên, thu hút sự chú ý ca hc sinh vo hot ng hc.
<i><b>4. Sơ lợc một số dạng bài tập Luyện từ và câu</b></i> <b> điển hình.</b>
+ Phân tích cấu tạo của tiếng.
+ Tỡm cỏc từ ngữ nói về chủ đề.
+ Tìm lời khun trong các câu tục ngữ, ca dao.
+ Đặt dấu chấm phẩy vào đoạn văn cho phù hợp.
+ Tìm từ đơn, từ phức và đặt câu với từ tìm đợc
+ Tìm từ ghép, từ láy và đặt câu với từ đó.
+ Phân biệt động từ, danh từ, tính từ trong đoạn văn.
+ Phân biệt các kiểu câu chia theo mục đích nói, tác dụng của nó.
+ Viết thêm trạng ngữ cho câu...
<b>II. Đề ra các biện pháp nghiên cứu, áp dụng phơng pháp tổn</b>
<b>A. Phơng pháp nghiên cứu.</b>
<i>Vi đặc trng của môn Luyện từ và câu</i>“ ” cùng các mâu thuẫn giữa yêu cầu
của xã hội, nhu cầu hiểu biết của học sinh với thực trạng giảng dạy của giáo viên,
việc học của học sinh trờng tôi, đồng thời để củng cố nâng cao kiến thức, kỹ năng
<i>làm các bài tập Luyện từ và câu</i>“ ” cho học sinh lớp 4. Tôi đã nghiên cứu và rút ra
đợc nhiều kinh nghiệm thông qua các bài học trên lớp, trớc hết tôi yêu cầu học sinh
thực hiện theo các bớc sau.
<i>1. Đọc thật kỹ đề bài.</i>
<i>2. Nắm chắc yêu cầu của đề bài. Phân tích mối quan hệ giữa yếu tố đã cho</i>
<i>và yếu tố phải tìm.</i>
Đặc biệt tôi cũng mạnh dạn đa ra từng bớc hớng dẫn các phơng pháp rèn
<i>luyện kỹ năng làm các dạng bài tập Luyện từ và câu</i>“ ”. Muốn học sinh làm bài một
cách có hiệu quả, trớc hết các em phải nắm chắc kiến thức, vì đó là bớc quan trọng
cho cả giáo viên và học sinh.
Mỗi một dạng bài tập cụ thể, bài tập riêng đều có một hình thức tổ chức
riêng. Có thể theo nhóm, làm việc cả lớp hoặc làm việc cá nhân. Song song với các
hình thức đó là phơng pháp hình thành giải quyết vấn đề cho học sinh.
Muốn làm đợc việc đó trớc tiên học sinh phải hiểu rõ đặc điểm của nội dung
<i>các chủ điểm mà phân môn Luyện từ và câu</i>“ ” cần cung cấp.
- Qua các bài mở rộng vốn từ học sinh đợc:
Cung cấp thêm các từ ngữ mới theo chủ điểm hoặc nghĩa, các yếu tố hán
việt; rèn luyện khả năng huy động vốn từ theo chủ điểm ; rèn luyện sử dụng từ, sử
dụng thành ngữ tục ngữ.
- Thông qua các bài tập cấu tạo của tiếng, cấu tạo của từng học sinh đợc:
Tìm hiểu về cấu tạo của tiếng, nhận diện đợc hiện tợng bắt đầu từ vấn đề trong thơ,
tìm hiểu phơng thức tạo từ mới để phục vụ cho nhu cầu giao tiếp. Học sinh cần tìm
hiểu đợc:
<b>Có 2 cách để tạo từ phức:</b>
1. GhÐp nh÷ng tiÕng có nghĩa lại với nhau là từ ghép.
2. Phi hp những tiếng có âm đầu hay vần (hoặc cả âm đầu và vần) giống
nhau đó là từ láy.
- Thơng qua các bài tập về từ loại: Học sinh đợc cung cấp kiến thức sơ giản
về danh từ, động từ, tính từ gắn bó với các tình huống sử dụng. Cần lu ý:
+ Tạo ra các từ ghép hoặc từ láy vi tớnh t ó cho.
+ Thêm vào các từ rất, quá, lắm...vào trớc hoặc sau tính từ.
+ Tạo ra phép so s¸nh.
Thơng qua các bài tập về câu, học sinh đợc rèn luyện năng lực sử dụng các kiểu câu
tuỳ theo nhu cầu, lĩnh vực giao tiếp.
<b>Ví dụ: Nhiều khi ta có thể sử dụng câu hỏi để thực hiện:</b>
1. Thái độ khen, chê.
2. Sự khẳng định, phủ định
3. Yêu cầu, mong muốn...
- Đặc biệt rất chú trọng đến việc dạy học sinh biết giữ phép lịch sự trong giao
tiếp. Cụ thể: Khi hỏi chuyện ngời khác cần giữ phép lịch sự.
<b>C©u hái:</b>
<b> 1. Cần tha gửi, xng hô cho phù hợp với quan hệ giữa mình với ngời đợc hỏi.</b>
2. Cần tránh những câu hỏi làm phiền lịng ngời khác.
<b>C©u khiÕn:</b>
<b>1. Khi u cầu, đề nghị phải giữ phép lịch sự</b>
3. Có thể dùng câu hỏi, kiểu câu nếu yêu cầu đề nghị.
<b> B. Phơng pháp tổ chức dạy cho học sinh làm bài tập Luyện từ và câu .</b>“ ”
<i>Các kiểu hình thức và kĩ năng cần học trong phân môn Luyện từ và câu</i>“ ” đợc rèn
luyện thông qua nhiều bài tập với các tình huống giao tiếp t nhiờn.
<b>a. Đối với các dạng bài tập mở rộng vốn từ.</b>
<b>Ví dụ: Tìm các từ ngữ:</b>
- Th hin lịng nhân hậu, tình cảm u thơng đồng loại.
- Trái nghĩa với nhân hậu hoặc yêu thơng.
- Thể hiện tinh thần đùm bọc, giúp đỡ đồng loại.
- Trái nghĩa với với đùm bọc hoặc giúp đỡ.
Ngoài việc sử dụng hớng mẫu trong sách giáo khoa. Giáo viên yêu cầu học
<i>sinh làm việc theo nhóm (4 nhóm). Mỗi nhóm một yêu cầu, sau khi đại diện nhóm</i>
trả lời cho học sinh làm việc ở lớp.
Nhóm 1: Lịng thơng ngời, đùm bọc, giúp đỡ...
Nêu ý nghĩa của các từ em tìm đợc. Các nhóm cùng bổ sung, giáo viên chốt
lại ý kiến đúng.
Liên hệ giữa tình huống học sinh đã làm đợc trong cuộc sống, quá trình học tập.
<b>b. Rèn luyện kĩ năng cấu tạo từ </b>–<b> dạng bài tập tìm từ ghép, từ láy.</b>
<b>Ví dụ: Tìm từ láy, từ ghép chứa các tiếng sau đây.</b>
- Ngay
- Th¼ng
- ThËt
Đối với các dạng bài tập này tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm trong
phiếu. Giáo viên có thể sử dụng phơng pháp động não thu nạp rất nhiều từ, từ q
trình học sinh, mỗi nhóm hoạt động một nhiệm vụ với từ (Ngay, thẳng, thật).
<b>Tõ</b> <b>Từ láy</b> <b>Từ ghép</b>
Ngay Ngay ngáy Ngay thẳng, ngay ngắn...
Thẳng Thẳng thắn Ngay thẳng, thẳng tắp...
Thật Thật thà Sự thật, th¼ng thËt...
Cùng yêu cầu của bài đã cho học sinh chọn từ để đặt câu với từ đó. Giáo viên
<b>* Cho häc sinh so sánh từ láy, từ ghép:</b>
Giáo viên chốt:
T bao gi cũng có nghĩa vì nó là đơn vị nhỏ nhất để đặt câu.
Từ láy, từ ghép đều là từ có nghĩa. Từ láy là phối hợp những tiếng có phụ âm đầu,
vần hoặc cả âm đầu và giống nhau gọi là từ láy. Từ ghép là ghép những tiếng có
nghĩa lại với nhau, đó là từ ghép. Dựa vào cấu tạo trên mà học sinh có thể xác định
từ ghộp v t lỏy.
Giáo viên có thể lấy thêm ví dơ:
<b>c. Luyện tập các bài có dạng về tính từ, động từ, danh từ.</b>
Trong đó chơng trình sách giáo khoa cũng lựa chọn những tình huống giao
tiếp gắn bó với cuộc sống gần gũi của học sinh.
<b>VÝ dụ1: Viết họ và tên 3 bạn nam, 3 bạn nữ trong lớp em. Họ và tên các bạn</b>
ấy là danh từ chung hay danh từ riêng? vì sao?
Vi bi này tôi đã gợi ý cho học sinh: Xác định tên của bạn mình, viết, ghi
rõ họ, tên. Lu ý đó là danh từ chung hay danh từ riêng.
Cho häc sinh làm việc cá nhân, nêu miệng. Phần học này học sinh thờng hay
mắc lỗi ở vạch danh từ chung.
<i>Tụi yêu cầu các em nêu lại danh từ chung là gì? Dùng phép suy</i>“ ” để học
sinh áp dụng vào bài của mình.
<b>Ví dụ 2: Gạch dới các động từ trong đoạn văn sau:</b>
Yiết Kiêu đến kinh đô yết kiến vua Trần Nhân Tông
<i>Nhà vua: Trẫm cho nhà ngơi nhận một loại binh khí</i>
<i>Yết Kiêu: Thần chỉ xin mt chic dựi st</i>
<i>Nhà vua: Để làm gì ?</i>
<i>Yết Kiêu: Để dùi những chiếc thuyền của giặc vì thần có thể lặn hàng giờ </i>
<i>d-ới nớc.</i>
Tụi ó cho hc sinh làm việc theo nhóm. Học sinh trong nhóm thảo luận nêu
trớc lớp.
<i>Lu ý có 2 từ dùi</i>“ <i>” từ nào là động từ ? Lấy ví dụ trờng hợp khác. Ngời ta lấy</i>
<i>cái đục là cái lỗ để nớc đục chảy ra.</i>
<b>Ví dụ 3: Tìm những từ ngữ biểu thị mức độ của đặc điểm, tính chất đợc gạch</b>
chân trong đoạn văn sau:
Hoa cà phê thơm đậm và ngọt lên mùi hơng thờng theo gió bay đi rất xa.
Nhà thơ Xuân Diệu chỉ có một lần đến đây ngắm nhìn của cà phê ó phi tht lờn.
<i>Hoa cà phê thơm lắm em ơi</i>
<i>Hoa cùng một điệu với hoa nhài</i>
<i>Trong ngà trắng ngọc, xinh và sáng.</i>
<i>Nh miệng em cời đâu đây thôi...</i>
õy l bi tập để rèn luyện về tính từ và bài này hơi trừu tợng với học sinh
Cho các em phân tích đề bài trớc vì yều cầu của bài khơng quen thuộc với học
sinh ;các em đã hiểu .
Tìm những từ biểu thị mức độ của đặc điểm tính chất của cá từ gạng chân cụ
thể : Hoà cà phê thơm nh thế nào ? (thơm đậm và ngọt ) nên mùi hơng bay đi rất
xa. Lần lợt học sinh tìm (trả lời cá nhân theo phơng pháp động não):
Nh vËy các em thấy quen thuộc với cách làm của bài này.
<b>c. Củng cố khắc sâu mở rộng luyện các dạng bài tập về câu.</b>
Vi dng bi ny cng c la chọn với thực tiễn sinh động hàng ngày để
học sinh biết đặt câu đúng, phù hợp với tình huống giao tiếp, đảm bảo lịch sự khi
đặt câu.
<b>1. C©u kĨ.</b>
<b>Ví dụ 1: Đặt một vài câu kể để:</b>
a) KĨ viƯc lµm hàng ngày sau khi đi học về.
b) Tả chiếc bút em đang dùng.
c) Trình bày ý kiến của em về tình bạn.
d) Núi lờn nim vui ca em khi nhn c im tt.
Tổ chức cho học sinh làm việc cá nhân. Kể về việc em làm...
Lu ý hc sinh khi viết hết câu phải có dấu chấm. Học sinh viết và đọc cho
học sinh trong lớp nhận xét bổ sung.
Nội dung của các yêu cầu trên khác nhau: Tả, bày tỏ ý kiến, nói lên niềm vui...
<i><b>Giáo viên hớng dẫn mẫu:</b></i>
+ Tả kết hợp với dùng từ ngữ gợi tả, biện pháp nghệ thuật
+ Bày tỏ ý kiến yêu mến, gắn bó nh thÕ nµo?
+ Nói lên niềm vui – vui sớng nh thế nào khi đợc điểm tốt.
<b>VÝ dô 2: Khi muèn mợn bạn cái bút, em có thể chọn những cách nói nào?</b>
a) Cho mợn cái bút!
b) Lan ơi, cho tớ mợn cái bút!
c) Lan i, cu cú th cho t mn cỏi bỳt c khụng?
Cho học sinh trả lời cá nhân, học sinh chọn trờng hợp c, vì nó thể hiƯn sù
lÞch sù trong giao tiÕp.
Giáo viên u cầu học sinh hoạt động tiếp nối. Trao đổi theo cặp, thực hành
lời yêu cầu lịch sự.
<b>2. C©u hái:</b>
Đối với việc giữ lịch sự khi đặt câu hỏi, dạng bài tập cho phn ny cng rt
c th:
<b>Ví dụ: So sánh các câu hỏi trong đoạn văn sau: Em thấy câu các bạn nhỏ hỏi</b>
cụ già có thích hợp hơn những câu hỏi khác không? Vì sao?
<i> Sau mt cuc do chi, ỏm trẻ ra về. Tiếng nói cời ríu rít. Bỗng các bạn</i>
<i>dừng lại khi thấy một cụ già đang ngồi ở vệ đờng. Trông cụ thật mệt mỏi, cặp mắt</i>
<i>lộ rõ vẻ u sầu.</i>
<i>- Chuyện gì đã xảy ra với ơng cụ thế nhỉ? Một em trai hỏi, - Đám trẻ tip li</i>
<i>bn tỏn sụi ni:</i>
<i>- Chắc là cụ bị ốm?</i>
<i>- Chúng mình thử hỏi xem đi?</i>
Các em tới chỗ ông cụ, lễ phép hỏi:
<i>- Tha cụ, chúng cháu có thể giúp gì cho cụ không?</i>
Giỏo viờn t chức cho học sinh làm việc cá nhân. Trớc hết học sinh phải xác
định câu nào là câu hỏi, câu nào là câu các bạn phỏng đoán với nhau: cho hc sinh
so sỏnh.
<i>Các câu các em hỏi nhau:- Chuyện gì xảy ra với ông cụ thế nhỉ?</i>
<i>- Chắc là cụ bị ốm</i>
<i>- Hay c ỏnh mt cỏi gỡ?</i>
Câu hỏi các bạn nhỏ hỏi cụ già:
<i>- Tha cụ, chúng cháu có thể giúp gì cụ không?</i>
Hng dn hc sinh nhn xột về câu hỏi của các bạn nhỏ với cụ già là rất phù
<i>cô rơi vào hoàn cảnh nh vậy). Qua bài tập này củng cố khắc sâu cho học sinh về</i>
cn t nhng câu hỏi lịch sự, tránh những câu hỏi làm phiền lòng ngời khác.
Học sinh còn bỡ ngỡ trong việc phân tích các câu hỏi. Tơi đã dớng dẫn các
em phải đặt nó trong văn cảnh cụ thể.
Hoạt động liên hệ: Cho học sinh đặt câu hỏi phù hợp khi gặp tình huống nh
trong bài tập trên ở ngồi thc t.
<b>3. Câu khiến</b>
- Dạng bài tập cho mảng kiến thức này gồm:
- Chuyển các câu kể thành câu khiến.
- Đặt câu khiến phù hợp với các tình huống.
- t câu khiến theo yêu cầu có <i> hãy</i>“ ” trớc động từ
<i>®i </i>
<i>“ ” hoặc nào</i>“ ” sau động từ
<i>xin</i>
“ <i>” hc mong</i>“ ” trớc chủ ngữ
- Nêu tình huống có thể dùng câu khiến nói trên.
<b>Ví dụ 1: Chuyển các câu kể thành câu khiến</b>
- Nam đi học
- Thanh i lao động
- Ngân chăm chỉ
- Giang phấn đấu học giỏi.
Víi bµi tập này trớc hết tôi cho học sinh phân tích mẫu: - Nam đi học!
-Nam phải đi học!
- Nam hÃy ®i häc!
<i>Cho häc sinh nhËn xÐt mÉu so víi c©u ban đầu: Thêm cac từ đi , phải ,</i>“ ” “ ”
<i>h·y </i>
- Nam đi học đi ! <i>(yêu cầu nhẹ nhàng)</i>
- Nam phải đi học! <i>( yêu cầu bắt buộc)</i>
- Nam hÃy đi học đi! <i>( yêu cầu mang tính ra lƯnh)</i>
<i>Sau đó tơi tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm ( 3 nhóm ứng với 3 tổ), </i>
mỗi tổ một câu rồi nêu miệng nhận xét.
Tôi chốt lại học sinh: Muốn đặt câu khiến có thể dùng một trong các cách
<i>sau: Thêm các từ hãy, đừng, chớ, nên, phải vào trớc động từ... và cuối câu dùng dấu</i>
chấm than (!).
Cùng phơng pháp tổ chức này tôi cho học sinh làm ví dụ 2.
<i>a. Cõu khin cú hóy ở trớc động từ.</i>
<i>b. Câu khiến có đi hoặc nào ở trớc động từ.</i>
<i>c. Câu khiến có xin hoặc mong ở trớc chủ ngữ.</i>
Phần này học sinh khơng cịn bỡ ngỡ về cách đặt câu khiến.
a. Bạn hãy làm bài tp i!
b. Mong các em làm bài tập thật tốt!
<i><b>4. Câu cảm: (câu cảm thán)</b></i>
<i>Yờu cu hc sinh hiu cõu cảm là câu dùng để bộc lộ cảm xúc (vui mng,</i>
<i>thán phục, đau xót, ngạc nhiên...) của ngời nói.</i>
<i>Lu ý trong c©u c¶m thêng cã các từ ngữ: ôi, chao, chµ, trêi, quá, lắm,</i>
<i>thật...Khi viết câu cảm cuối câu thờng có dấu chấm than (!).</i>
<b>Ví dụ 1: Đặt câu cảm cho các tình huống sau:</b>
a. Cụ giỏo ra mt bi tốn khó, cả lớp chỉ một bạn làm đợc. Hãy đặt câu cảm
để bày tỏ sự thán phục.
b. Vào ngày sinh nhật của em, có một bạn cũ đã chuyển trờng từ lâu bỗng
nhiên tới chúc mừng em. Hãy đặt câu cảm để bày tỏ sự ngạc nhiên và vui mừng.
Tôi đã tổ chức cho học sinh làm việc cặp đơi và đóng vai trị trong tình
a. Ôi, bạn giỏi quá!
b. Ôi, bất ngờ quá, tớ cảm ¬n b¹n!
Tơi cho học sinh suy nghĩ tìm thêm các tình huống khác đặt câu cảm, nêu cá
nhận để các bn nhn xột.
<b>Ví dụ 2: Những câu cảm sau đây bộ lộ cảm xúc gì? </b>
<i>a. ễi, bn Nam n kỡa!</i>
<i>b. ồ, bạn Nam thông minh quá!</i>
<i>c. Trời, thật là kinh khủng!</i>
Theo tôi phần này tôi cho học sinh làm việc cá nhân:
- B1: Nhận xét ý nghĩa của câu c¶m.
- B3: Rót ra kÕt ln chung về câu cảm.
<b>d. Mở rộng khắc sâu cách dùng trạng ngữ trong câu.</b>
<b>Dạng bài tập:</b>
- Thờm trng ng ch ni chốn cho câu.
- Thêm trạng ngữ chỉ thời gian cho câu.
- Thêm trạng ngữ chỉ nguyên nhân cho câu.
- Thêm trạng ngữ chỉ mục đích cho câu.
- Thêm trạng ngữ chỉ phơng tiện cho câu.
<b>Ví dụ 1: Thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn cho câu:</b>
a..., em giúp bố mẹ làm những cơng việc gia đình
b..., em rất chăm chú nghe giảng và hăng hái phát biểu.
c..., hoa đã nở.
Theo tơi, vì phần này tơi cha trực tiếp giảng dạy nhng ở chơng trình lớp 4 cũ
nó khơng có những chi tiết cụ thể rõ ràng nh vậy nên việc hình thành kiến thức khó
khăn hơn. Cịn đối với dạng bài tập này tôi sẽ tổ chức cho học sinh làm việc theo
<i>nhóm (3 nhóm ứng với 3 tổ), mỗi tổ một câu. Tơi có gợi ý (với học sinh yếu): Em</i>
<i>giúp bố mẹ làm những cơng việc gia đình ti õu?</i>
Học sinh rất dễ phát hiện vì đây là các tình huống rất quen thuộc với học
sinh nên cũng không nhất thiết phải hớng dẫn cụ thể.
Tng t nh vậy là trạng ngữ chỉ thời gian cũng rất đơn giản.
Với trạng ngữ chỉ mục đích học sinh có thể mắc.
<b>Ví dụ 2: Tìm các trạng ngữ thích hợp chỉ mục đích để điền vào chỗ trống:</b>
a)..., xã em vừa đào một con mơng.
b)..., chóng em qut t©m häc tËp và rèn luyện thật tốt.
c)..., em phải năng tập thể dôc.
Giáo viên cần hớng dẫn h/s đến việc hiểu: Mục đích của đào mơng để làm gì?
Quyết tâm...tốt để dành đợc gì?
Tp th dc cú li gỡ?
<b>Ví dụ 3: Trạng ngữ chỉ phơng tiện có dạng bài tập:</b>
<i>Tìm trạng ngữ chỉ thời gian trong các câu sau</i>
- Bng mt ging thõn tình, thầy khuyên chúng em gắng học bài, làm bài
đầy đủ.
- Với óc quan sát tinh tế và đơi bàn tay khéo léo, ngời hoạ sĩ dân gian đã
sáng tạo nên những bức tranh làng Hồ nổi tiếng.
<i>Học sinh đã biết: Trạng ngữ chỉ phơng tiện thờng mở đầu bằng các từ</i>
<i>“b»ng, víi” và trả lời cho các câu hỏi: bằng cái gì, với cái gì?</i>
Nh vy mc khó của bài tập khong phụ thuộc vào các loại, các dạng bài
<i>tập mà phụ thuộc vào chính ngữ liệu đa ra cho học sinh. Với các bài tập Luyện t</i>
<i>và câu của học sinh lớp 4. Nhiều yêu cầu trong sách giáo khoa tôi cũng cần phân</i>
tớch cho nhiu đối tợng học sinh. Đối với học sinh khá, giỏi tôi thờng gài thêm hoạt
động tiếp nối. Với học sinh trung bình, học sinh yếu chọn những ngữ liệu cụ thể rõ
ràng để học sinh dễ xác nhận.
<b>VÝ dơ: Víi dạng bài mở rộng vốn từ ý chí nghị lùc.</b>
Viết một đoạn văn ngắn nói về một ngời có ý chí, nghị lực nên đax vợt qua
nhiều thử thách, đạt đợc thành công.
Với học sinh khá, giỏi tôi cho học sinh phân tích u cầu đề bài sau đó viết
ngay vào nháp.
Với học sinh trung bình và yếu tơi hớng dẫn học sinh sử dụng các từ ngữ
<i>(học sinh yếu tơi cịn hỏi về ngời em định viết có những phẩm chất gì).</i>
Quan tâm đến đối tợng học sinh trong giảng dạy chính là chú ý đến việc
nâng cao chất lợng học sinh giỏi để bồi dỡng và nâng cao chất lợng đại trà. Đó là
việc làm quan trọng và khơng thể thiếu trong q trình giảng dạy.
Một điều tơi cũng rất quan tâm đó là việc trình bày của học sinh. Các em làm
bài có thể tốt nhng cách trình bày bố cục bài làm của học sinh cịn là cả một vấn đề
cần chấn chỉnh.
Trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và tích cực tìm tịi phơng pháp tổ
<i>chức cho học sinh làm các dạng bài tập Luyện từ và câu. Trải qua một học kỳ ôn</i>
tập cùng thời gian áp dụng phơng pháp nghiên cứu tôi đã tiến hành khảo sát để xem
<i>sự chuyển biến của học sinh sau khi đã đợc hoạt động sôi nổi trong gi luyn t v</i>
<i>câu giải quyết các bài tập với lớp 4c do tôi chủ nhiệm.</i>
<b>Đề bài:</b>
<i>Đọc thầm bài Về thăm bà và trả lời câu hỏi sau:</i>
<i>1) Trong bài Về thăm bà </i> <i> từ nào cùng nghĩa với từ hiền</i>
<i>2) Câu Lần nào trở về với bà, Thanh cũng thấy bình yên và thong thả nh</i>
<i>th cú my ng t, tớnh t?</i>
a. Một động từ, 2 tính từ. Các từ đó là: - Động từ
- Tính từ
c. Hai động từ, 1 tính từ. Các từ đó là: - Động từ
- Tính từ
<i>3) Câu Cháu đã về đấy </i>“ <i> ?” đợc dùng làm gì?</i>
a. Dùng đề hỏi.
<i>4) Trong câu Sự im lặng làm Thanh mÃi mới cất đ</i> <i>ợc tiếng gọi khẽ bộ phận</i>
nào là chủ ng÷?
a. Thanh
b. Sự yên lặng
c. Sự yên lặng làm Thanh.
Kt qu thu đợc: Tổng só lớp 4c có 37 em.
Giái Kh¸ Trung b×nh Ỹu
SL % SL % SL % SL %
14 39,2 16 44,8 <b>7</b> 16 0 0
<b>III. Dạy thực nghiệm trên lớp đối chứng.</b>
Không chỉ dừng lại phạm vi nghiên cứu trong lớp, tôi đã áp dụng kinh
nghiệm đổi mới này vào lớp cùng khối là lớp 4C (lớp đối chứng). Lớp 4C có 7 học
sinh. Trớc tiên tơi sử dụng ngay bài khảo sát của lớp 4c(lớp tôi dạy) ở giai đoạn
cuối để khảo sát lớp 4A, kết quả thu đợc nh sau:
Giái : 7 em chiÕm 20%
Kh¸ : 9 em chiÕm 25,6%
TB : 11 em chiÕm 31,4%
YÕu : 8 em chiÕm 23%
Điều này chứng tỏ phơng pháp tổ chức cho học sinh học các bài tập Luyện từ
và câu là rất quan trọng, nó quyết định rất nhiều đến kết quả học tập của học sinh.
Cùng với việc nghiên cứu của mình, kết hợp với giáo viên chủ nhiệm lớp, phổ biến
kinh nghiệm tổ chức phơng pháp dạy học tốt cho học sinh xác định rõ yêu cầu của
bài, tổ chức cho các em đợc hoạt động có hiệu quả, học sinh đợc hớng dẫn thực
hành phù hợp với nội dung từng bài. Dần dần các em đã hình thành đợc thói quen
làm việc có kế hoạch, linh hoạt với từng dạng bài.
Sau một thời gian hớng dẫn lớp 4C, tơi ra một đề khảo sát.
Đề bài:
<i>Chó chn chuån n</i>
“ <i>ớc mới đẹp làm sao. Màu vàng trên lng chú lắp lánh, bốn</i>
<i>cánh mỏng nh giấy bông. Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh nh thuỷ tinh .</i>”
Hãy xác định: Từ đơn, từ ghép, từ láy.
Trong các từ đó đâu là danh từ, động từ, tính từ.
Đật một câu với 1 từ đơn, từ ghép, từ láy em vừa tìm đợc.
Kết quả đạt đợc nh sau:
Giái : 11 em chiÕm 31,4%
Kh¸ : 15 em chiÕm 43,6%
TB : 05 em chiÕm 14%
YÕu : 04 em chiÕm 11%
Với kết quả thu đợc ở việc dạy thực nghiệm trên lớp đối chứng tôi càng vững
<i>vàng tin tởng vào việc vận dụng phơng pháp tổ chức dạy cỏc dng bi tp Luyn t</i>
<i>và câu cho học sinh líp 4 cã hiƯu qu¶.</i>
Thực hiện đề tài này, khi học sinh đã đợc củng cố, khắc sâu, mở rộng và rèn
<i>kĩ năng luyện tập thực hành về các dạng bài tập “Luyện từ và câu” lớp 4 tơi thấy</i>
kết quả của việc làm đó nh sau:
- Học sinh đợc tổ chức hoạt động một cách độc lập, tìm tịi kiến thức, tầm
nhận thức đối với mọi đối tợng học sinh là phù hợp, nên học sinh tiếp thu một cách
có hiệu quả.
- Các em biết dựa vào kiến thức lý thuyết để vận dụng làm các bài tập một
cách chủ động.
- Với phơng pháp tổ chức này học sinh nắm kiến thức một cách sâu sắc có cơ
sở, đợc đối chứng qua nhận xét của bạn, của giáo viên.
- Các em đã hình thành đợc thói quen đọc kỹ bài, xác định yêu cầu của bài.
Không cịn tình trạng bỏ sót u cầu của đề bài.
- Học sinh có ý thức rèn cách trình bày sạch sẽ, khoa học, biết dùng từ đặt
câu hợp lý. Ngoài ra học sinh cịn có thêm thói quen kiểm tra, sốt lại bài của
mình.
- Qua việc giảng dạy theo dõi kết quả của học sinh qua các giờ kiểm tra, bài
<i>kiểm tra định kỳ của học sinh tôi thấy: Học sinh sẵn sàng đón nhận mơn “Luyện từ</i>
<i>và câu” bất kỳ lúc nào. Đó cũng nói lên học sinh đã bt u yờu thớch mụn hc,</i>
mạnh dạn nêu ý kiến cđa m×nh.
- Tuy kết quả tơi nêu trên hết sức sơ lợc và ở phạm vi nhỏ, song nó cũng góp
phần động viên tơi trong cơng tác giảng dạy học sinh nói chung, phát hiện bồi dỡng
những học sinh khá, giỏi, phụ đạo học sinh yếu nói riêng. Bé nhỏ nh vậy nhng vô
cùng quan trọng đối với một giáo viên cịn non nớt kinh nghiệm nh tơi trong việc
<i>tháo gỡ khó khăn, trong việc tìm ra phơng pháp t chc dy cỏc dng bi tp Lun</i>
<i>từ và câu cho học sinh của mình.</i>
<b>II- Bài học kinh nghiệm.</b>
<i>Dy hc các dạng bài tập Luyện từ và câu</i>“ ” cho học sinh lớp 4 giúp học
<i>sinh nắm đợc kiến thức trong phân môn “Luyện từ và câu” cung cấp: Học sinh</i>
hiểu đợc từ mới, phát triển kĩ năng, kỹ xảo sử dụng từ ngữ, học sinh còn biết nhận
diện xác định các dạng bài tập, phân tích kỹ, chính xác yêu cầu của đề bài, từ đó có
hớng cho hoạt động học tập của mình. Để đạt đợc các điều đó, ngời giáo viên cần
chú ý:
- Trong quá trình giảng dạy giáo viên khơng nên nóng vội, mà phải bình tĩnh
trong thời gian không phải ngày 1 ngày 2. Đặc biệt luôn xem xét phơng pháp giảng
- Phải nghiên cứu để nhận thức rõ về vị trí, nhiệm vụ của phần kiến thức vừa
dạy.
- Lu ý quá trình giảm tải đề điều chỉnh sao cho phù hợp với đặc điểm học
sinh lớp mình, đề ra hớng giải quyết cho việc cân chỉnh thống nhất giảm tải.
đ-ợc áp đặt học sinh mà coi nhiệm vụ học của học sinh là quan trọng, là nhân tố chủ
yếu cho kết quả giáo dục. Ln gợi mở khám phá tìm tòi biện pháp tốt nhất cho
học sinh nắm chắc kiến thức. Rèn cho học sinh cách t duy thông minh, sáng tạo,
làm việc độc lập, nâng cao kết quả tự học của mình: Tạo cho học sinh có niềm vui
trong học tập, có hứng thú đặc biệt trong học tập. Giáo viên ln ln giải quyết
tình huống vớng mắc cho học sinh.
- Giáo viên phải tôn trọng nghiêm túc thực hiện giáo dục, giảng dạy theo
nguyên tắc từ những điều đơn giản mới đến nâng cao, khắc sâu...Để học sinh nắm
<i>vững việc giải quyết các bài tập “Luyện từ và câu”, giáo viên cũng cần lu ý điểm</i>
sau: + Tìm ra phơng pháp tổ chức sao cho phù hợp với từng dạng bài tập.
+ Phân biệt cho học sinh hớng giải quyết cho các dạng bài khác nhau. Học
sinh cần nắm đợc các bớc tiến hành một bài tập. Cần tổ chức cho học sinh theo các
hình thức tổ chức có thể theo nhóm, cá nhân, có thể làm việc cả lớp để phát huy tốt
hiệu quả giờ dạy.
- Lu ý cho học sinh cách trình bày sạch sẽ, khoa học, rèn chữ viết đẹp đúng
chính tả cho học sinh.
<b>III. Phạm vi, điều kiện áp dụng và hớng tiếp tục nghiên cứu.</b>
<b>-</b> <i>Đề tài này chỉ có thể áp dụng, vận dụng trong phạm vi ở tiết Luyện</i>
<i>từ và câu của học sinh lớp 4. </i>
<b>-</b> <b>IV. Những hạn chÕ:</b>
Nếu không đợc giáo viên gợi mở, đề ra phơng pháp tổ chức cụ thể cho từng
dạng bài thì học sinh sẽ rất ngại học môn này và không hiểu bản chất của các bài
tập cần khai thác cái gì?.
Các học sinh lớp 4 tầm nhận thức cịn hạn chế, thời gian dành cho tiết bài tập
cịn ít nên việc rèn cho học sinh có kĩ năng kĩ xảo còn cha đầy đủ và hệ thống.
<b>V. Những đề xuất.</b>
<i>Dạy các dạng bài tập “Luyện từ và câu” là nguồn cung cấp vốn từ, lối diễn</i>
đạt bồi dỡng t duy văn học cho học sinh. Muốn vậy:
<i><b>* Đối với học sinh: Các em cần quan tâm, xác định đợc tầm quan trọng của</b></i>
môn này. Các em cần đợc động viên, khích lệ kịp thời, đúng lúc của mọi ngời để
kích thích các em có nhiều cố gắng vơn lên trong học tập, đó chính là gia đình –
nhà trờng xã hội.
<i><b>* Đối với giáo viên: Không ngừng học hỏi tìm tịi tích luỹ kinh nghiệm từ</b></i>
đồng nghiệp, từ thơng tin, sách vở và từ chính học sinh.
+ Nắm chắc nội dung chơng trình, ý đồ của sách giáo khoa, dạy sát đối tợng
học sinh, lựa chọn phơng pháp hình thức tổ chức phù hợp với mỗi dạng bài.
+ Đặc biệt phải tâm huyết với nghề, ln đặt học sinh là trung tâm, có trách
nhiệm với việc học của học sinh và bài dạy của mình. Động viên gần gũi giúp đỡ
học sinh.
<i><b>* Đối với nhà tr</b><b> ờng và các cấp quản lý:</b><b> Nhà trờng cần tạo điều kiện cơ sở</b></i>
vật chất để giáo viên và học sinh có thể học tập nâng cao kiến thức.
+ Tạo điều kiện để giáo viên nâng cao tay nghề qua việc cung cấp các loại
sách tham khảo, trang thiết bị phục vụ bộ môn.
+ Động viên khuyến khích kịp thời những giáo viên, học sinh đạt nhiều
thành tích cao trong giảng dạy và học tập.
+ Quan tâm xây dựng và bồi dỡng đội ngũ giáo viên có trình độ chun mơn
nghiệp vụ.
Rất mong sự góp ý của các đồng nghiệp để chúng ta có hơng giải quyết tiếp
<i>theo cho việc nâng cao chất lợng dạy và học phân môn “Luyện từ và câu” nói riêng</i>
và phân mơn Tiếng Việt nói chung, góp phần giáo dục học sinh trở thành con ngời
phát trin ton din.
<i><b>Xin chân thành cảm ơn!</b></i>
Đông Hà ngày 1 tháng 4 năm 2010