Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (117.48 KB, 8 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>1. Dàn ý cảm nhận nhân vật Từ Hải</b>
<b>I. Mở bài</b>
Ngịi bút Nguyễn Du tài tình khi khắc họa những nhân vật trong Truyện Kiều luôn chân thật,
sống động, gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc. Nhân vật vừa có nét chung, vừa có nét riêng
nổi bật, đặc biệt là về tâm lí, tính cách. Chỉ cần một lời thơ cô đọng, tác giả đã làm lộ ngay
thần thái của nhân vật.
Đoạn Chí khí anh hùng - Từ Hải ra đi lập sự nghiệp, giã từ Thúy Kiều - đã thể hiện sắc nét
nghệ thuật miêu tả nhân vật đó của Nguyễn Du.
<b>II. Thân bài</b>
A. Hình ảnh Từ Hải
Từ Hải đa tình, nhưng trước hết Từ Hải là một tráng sĩ, một người có chí khí mạnh mẽ. Chỉ là
mục đích cao để hướng tới, khi là nghị lực để đạt tới mục đích.
Ở con người Từ Hải, nỗi khát khao được vẫy vùng giữa trời cao đất rộng như đã trở thành
một sức mạnh của thiên nhiên, khơng gì có thể kiềm chế nổi. Từ Hải đang sống trong cảnh
nồng nàn hương lửa, chợt động lịng bốn phương. Thế là tồn bộ tâm trí hướng về trời bể
mênh mang và lập tức ở vào tư thế một mình với thanh gươm yên ngựa sẵn sàng lên đường.
Động lòng bốn phương là “động bụng nghĩ đến bốn phương” (Tàn Đà). Nói cụ thể hơn là
thấy trong lịng cái chí tung hồnh ở bốn phương đang thúc giục, kêu gọi. Chỉ hai câu đầu, ta
thấy Từ Hải khơng phải là con người tầm thường, mà có tâm chí của bậc hào kiệt.
Khơng gian trong câu 3, 4 (trời bể mênh mang, lên đường thẳng rong) thể hiện chí khí anh
hùng của Từ Hải: lên đường, một mình một ngựa, một thanh gươm!
B. Chí khí anh hùng của Từ Hải
Lời Từ Hải nói trong lúc tiễn biệt thể hiện rõ tính cách của nhân vật anh hùng này.
Con người có chí khí phi thường. Từ Hải là con người của sự nghiệp phi thường, khơng thể
đắm mình mãi chốn khuê phòng. Đang ở trong cảnh hạnh phúc ngọt ngào. Từ Hải thoắt đã
động lòng bốn phương, tiếng gọi của sự nghiệp đã thức tỉnh chàng. Giờ đây sự nghiệp đối với
chàng là trên hết. Đối với Từ Hải, sự nghiệp chẳng những là ý nghĩa của sự sống, mà còn là
điều kiện để thực hiện - nhưng ước ao mà người tri kỉ gửi gắm, trông cậy ở chàng. Họ vậy
nên khơng chút bịn rịn, khơng có những lời than vãn lúc chia biệt. Thêm nữa, trong lời trách
người tri ki chưa thốt khỏi thường tình nhi nữ, cịn bao hàm cái ý khun Kiều hãy vượt lên
tình cảm thông thường để làm vợ của một anh hùng. Cho nên sau này trong nỗi nhớ thương
của Kiều (Cánh hồng bay bỗng tuyệt vời - Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm) khơng chi
có sự mong chờ người yêu xa cách, mà còn mong chờ cả sự nghiệp của Từ Hải.
Con người rất tự chủ và tự tin. Trước đây, ngay trong cảnh trần ai, Từ Hải ngang nhiên xem
mình là anh hùng, tất cả sự nghiệp sau này như đã nắm chắc trong tay. Giờ đây xuất phát chỉ
với thanh gươm yên ngựa, Từ Hải đã khẳng định, muộn thì cũng khơng qua một năm, sẽ nhất
định trở về với cả một cơ đồ to lớn.
C. Khuynh hướng lí tưởng hố nhân vật anh hùng Từ Hải
Từ Hải là nhân vật được Nguyễn Du tái tạo theo khuynh hướng lí tưởng hóa. Trong đoạn
trích này, qua từ ngữ, hình ảnh nghệ thuật miêu tả của tác giả, Từ Hải hiện ra với tính cách
của con người phi thường.
Chữ dứt áo trong câu Quyết lời dứt áo ra đi thể hiện được phong cách con người phi thường
lúc chia biệt: người ở nắm áo, nhưng người đi cứ dứt áo ra đi.
Mặt khác, Từ Hải là con người phi thưởng, nên lúc ra đi cũng khơng thể ra đi như mọi người.
Nguyễn Du nói rõ:
<i>Trơng vời trời bể mênh mang,</i>
<i>Thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong.</i>
Hơn nữa, hình ảnh Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi cho thấy chí lớn của một bậc hào kiệt.
Từ Hải ra đi chỉ với thanh gươm yên ngựa, nhưng vẫn cả quyết ngày trở về sẽ có mười vạn
tinh binh. Làm thế nào mà có được như thế. Từ Hải khơng nói. nhưng Kiều thì tin và người
đọc cũng khơng thấy phải băn khoăn.
<b>III. Kết bài</b>
Hình ảnh người anh hùng Từ Hải, chỉ khi của người anh hùng Từ Hải hiện rõ trong đoạn thơ.
Nguyễn Du đã thành cơng trong việc sử dụng từ ngữ, hình ảnh, nghệ thuật miêu tả theo
khuynh hướng lí tưởng hóa để biến Từ Hải thành một hình tượng lí tưởng, phi thường với
những nét thật cụ thể, sinh động.
<b>2. Cảm nhận về nhân vật Từ Hải - Mẫu 1</b>
Đoạn trích Chí khí anh hùng trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du, nói về Từ Hải,
một hình tượng nhân vật lí tưởng thể hiện ước mơ lãng mạn về một người anh hùng có những
phẩm chất, phi thường.
Đoạn trích Chí khí anh hùng từ câu 2213 đến câu 2230 trong Truyện Kiều của đại thi hào
Nguyễn Du, nói về Từ Hải, một hình tượng nhân vật lí tưởng thể hiện ước mơ lãng mạn về
một người anh hùng có những phẩm chất, phi thường.
Rơi vào lầu xanh lần thứ hai, Thúy Kiều luôn sống trong tâm trạng chán chường, tuyệt vọng:
<i>Biết thân chạy chẳng khỏi trời,</i>
<i>Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.</i>
Thế rồi Từ Hải đột nhiên xuất hiện. Từ Hải tìm đến với Thúy Kiều như tìm đến với tri âm, tri
kĩ. Trong vũng lầy nhơ nhớp của chốn lầu xanh, Từ Hải đã tinh tường nhận ra phẩm chất cao
quý của Thúy Kiều và với con mắt tinh đời, ngay từ cuộc gặp gỡ đầu tiên Kiều đã thầm
khẳng định Từ Hải là người duy nhất có thể tát cạn bể oan cho mình. Nàng khiêm nhường
bày tỏ:
<i>Rộng thương cỏ nội hoa hèn,</i>
<i>Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau</i>
Hai người, một là gái giang hồ, một đang làm “giặc”, đều thuộc hạng người bị xã hội phong
kiến khinh rẻ nhất, đã đến với nhau tâm đầu ý hợp trong một mối tình tri kỉ. Từ Hải đánh giá
Kiều rất cao, còn Kiều nhận ra Từ là đấng anh hùng. Nhưng tình u khơng thể giữ chân Từ
Hải được lâu. Đã đến lúc Từ Hải ra đi để tiếp tục tạo lập sự nghiệp. Đoạn trích này cho thấy
một Từ Hải đầy chí khí anh hùng, mà cũng đượm chút cô đơn, trống trải giữa đời.
Trước sau đối với Từ Hải, Nguyễn Du vẫn dành cho chàng thái độ trân trọng và kính phục, ở
chàng, nhất cử nhất động đều thể hiện rõ chí khí, cốt cách anh hùng. Trên con đường tạo
dựng nghiệp lớn, cuộc hôn nhân bất ngờ giữa chàng với Thúy Kiều chỉ là phút chốc nghỉ
ngơi, chứ không phải là điểm âm, tri kỉ và cuộc hôn nhân của họ đang hạnh phúc hơn bao giờ
hết. Ấy vậy mà, chỉ mới sáu tháng vui hưởng hạnh phúc bên Thúy Kiều, Từ Hải đã lại động
lịng bốn phương, dứt khốt lên đường, tiếp tục sự nghiệp lớn lao đang còn dang dở:
<i>Trượng phu thoắt đã động lịng bốn phương.</i>
<i>Trơng vời trời bể mênh mang,</i>
<i>Thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong.</i>
Từ Hải được tác giả miêu tả là con người đa tình, nhưng trước hết Từ Hải là một tráng sĩ, một
người có chí khí mạnh mẽ. Chí là mục đích cao cả hướng tới, khí là nghị lực để đạt tới mục
Trước lúc gặp gỡ và kết duyên với Thúy Kiều, Từ Hải đã là một anh hùng hảo hán: Dọc
ngang nào biết trên đầu có ai, đã từng: Nghênh ngang một cõi biên thùy. Cái chí nguyện lập
nên công danh, sự nghiệp ở chàng là rất lớn. Vì thế khơng có gì cản được bước chân chàng.
Dù Nguyễn Du khơng nói cụ thể là Từ Hải ra đi làm gì nhưng nếu theo dõi mạch truyện và
những câu chàng giải thích để Thúy Kiều an lịng thì người đọc sẽ hiểu cả một sự nghiệp vinh
quang đang chờ chàng ở phía trước. Từ Hải khơng phải là con người của những đam mê
thông thường mà là con người của sự nghiệp anh hùng. Đang sống trong cảnh nồng nàn
hương lửa. Từ chợt động lòng bốn phương, thế là tồn bộ tâm trí hướng về trời biển mênh
mang, và lập tức một minh với thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong. Chữ trượng phu
trong Truyện Kiểu chỉ xuất hiện một lần dành riêng đã nói về Từ Hải. Điều đó cho thấy
Nguyễn Du đã dùng từ Trượng phu với nghĩa Từ Hải là người đàn ơng có chí khí lớn. Chữ
thoắt thể hiện quyết định nhanh chóng, dứt khốt cùa chàng. Bơn chữ động lịng bốn phương
nói lên được cái ý Từ Hải “không phải là người của một nhà, một họ, một xóm, một làng mà
là người của trời đất, của bốn phương”. (Hồi Thanh).
Động lịng bốn phương là thấy trong lịng náo nức cái chí tung hoành khắp bốn phương trời.
Con người phi thường như chàng chẳng thể giam hãm mình trong một khơng gian chật hẹp.
Chàng nghĩ rất nhanh, quyết định lại càng nhanh. Một thanh gươm, một con tuấn mã, chàng
hối hả lên đường. Ấy là bởi khát vọng tự do luôn sôi sục trong huyết quản của người anh
hùng. Hồi Thanh bình luận: Qua câu thơ, hình ảnh của con người “thanh gươm yên ngựa”
tưởng như che đầy cả trời đất”.
Trong cảnh tiễn biệt, tác giả tả hình ảnh Từ Hải: thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong
trước rồi mới đế cho Từ Hải và Kiều nói những lời tiễn biệt. Có người cho rằng nếu như vậy
thì Thúy Kiều cịn nói sao được nữa? Có lẽ tác giả muốn dựng cảnh tiễn biệt này khác hẳn
cảnh tiễn biệt giữa Thúy Kiều - Kim Trọng, Thúy Kiều - Thúc Sinh. Từ Hải đã ở tư thế sẵn
sàng lên đường. Chàng ngồi trên yên ngựa mà nói những lời tiễn biệt với Thúy Kiều. Sự thật
Thúy Kiều biết rõ Từ Hải ra đi sẽ lâm vào tình cảnh bốn bể khơng nhà, nhưng vẫn khẩn thiết
xin được cùng đi, nàng rằng: Phận gái chữ tòng, chàng đi thiếp cũng một lịng xin đi. Ngắn
gọn thế thơi, nhưng quyết tâm thì rất cao. Chữ tịng ở đây khơng chỉ có nghĩa như trong sách
vở thánh hiền của dạo Nho: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu..., mà còn ngụ ý tiếp sức, chia
sẻ nhiệm vụ, muốn cùng được gánh vác với chồng.
Lời Từ Hải nói trong lúc tiễn biệt càng thể hiện rõ chí khí anh hùng của nhân vật này:
<i>Từ rằng: “Tâm phúc tương tri,</i>
<i>Sao chưa thốt khỏi nữ nhi thường tình?</i>
<i>Bao giờ mười vạn tinh binh,</i>
<i>Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.</i>
<i>Bằng nay bốn bể không nhà,</i>
<i>Theo càng thêm bận biết là đi đâu?</i>
<i>Đành lịng chờ đó ít lâu,</i>
<i>Chầy chăng là một năm sau vội gì!”</i>
Đã là tâm phúc tương tri có nghĩa là hai ta đã hiểu biết lịng dạ nhau sâu sắc, vậy mà sao,
dường như nàng chưa thấu tâm can ta, nên chưa thốt khỏi thói nữ nhi thường tình. Lẽ ra,
nàng phải tỏ ra cứng cỏi để xứng là phu nhân của một bậc trượng phu.
Lí tưởng anh hùng của Từ Hải bộc lộ qua ngôn ngữ mang đậm khẩu khí anh hùng. Khi nói lời
chia tay với Thúy Kiều chàng không quyến luyến, bịn rịn vì tình chồng vợ mặn nồng mà
qn đi mục đích cao cả. Nếu thực sự quyến luyến, Từ Hải sẽ chấp nhận cho Thúy Kiều đi
theo.
Từ Hải là con người có chí khí, khát khao sự nghiệp phi thường nên khơng thể đắm mình
trong chốn buồng the. Đang ở trong cảnh hạnh phúc ngọt ngào, tiếng gọi của sự nghiệp thôi
thúc từ bên trong. Từ Hải quyết dứt áo ra đi. Giờ đây, sự nghiệp đối với chàng là trên hết. Đối
với Từ Hải, nó chẳng những là ý nghĩa của cuộc sống mà còn là điều kiện để thực hiện những
ước ao mà người tri kỉ đã gửi gắm, trơng cậy ở chàng. Do vậy mà khơng có những lời than
vãn buồn bã lúc chia tay. Thêm nữa, trong lời trách Sao chưa thốt khỏi nữ nhi thường tình
cịn bao hàm ý khuyên Thúy Kiều hãy vượt lên tình cảm thông thường để xứng đáng là vợ
của một anh hùng. Cho nên sau này trong nỗi nhớ của Kiều: cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm, khơng chỉ có sự mong chờ, mà cịn có cả hi vọng vào
thành cơng và vinh quang trong sự nghiệp của Từ Hải.
Từ Hải là con người rất mực tự tin. Trước đây, chàng đã ngang nhiên xem mình là anh hùng
giữa chốn trần ai. Giờ thì chàng tin rằng tất cả sự nghiệp như đã nắm chắc trong tay. Dù xuất
phát chỉ với thanh gươm yên ngựa, nhưng Từ Hải đã tin rằng mình sẽ có trong tay mười vạn
tinh binh, sẽ trở về trong hào quang chiến thắng Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường,
để rõ mặt phi thường với Thúy Kiều, để đem lại vẻ vang cho người phụ nữ mà chàng hết lòng
yêu mến và trân trọng. Từ Hải đã khẳng định muộn thì cũng khơng q một năm, nhất định
sẽ trở về với cả một cơ đồ to lớn.
Không chút vấn vương, bi lụy, không dùng dằng, quyến luyến như trong các cuộc chia tay
bình thường khác, Từ Hải có cách chia tay mang đậm dấu ấn anh hùng của riêng mình. Lời
chia tay mà cũng là lời hứa chắc như đinh đóng cột; là niềm tin sắt đá vào chiến thắng trong
một tương lai rất gần. Hai câu thơ cuối đoạn đã khẳng định thêm quyết tâm ấy:
<i>Quyết lời dứt áo ra đi,</i>
<i>Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi.</i>
Nguyễn Du mượn hình ảnh phim bằng (đại bàng) trong văn chương cổ điển, thường tượng
trưng cho khát vọng của những người anh hùng có bản lĩnh phi thường, muốn làm nên sự
Hình tượng người anh hùng Từ Hải là một sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Du về phương diện
cảm hứng và nghệ thuật miêu tả. Qua đó thể hiện tài năng sử dụng ngơn ngữ của nhà thơ
trong việc diễn tả chí khí anh hùng cùng khát vọng tự do của nhân vật Từ Hải.
Từ Hải là hình ảnh thể hiện mạnh mẽ cái ước mơ cơng lí vẫn âm ỉ trong cảnh đời tù túng của
xã hội cũ. Từ Hải ra đi để vẫy vùng cho phỉ sức, phỉ chí, nhưng nếu hiểu kỹ càng cịn thêm
một lí do nữa là vì bất bình trước những oan khổ của con người bị chà đạp như Thúy Kiều thì
khơng hẳn là khơng có căn cứ. Điều chắc chắn là cái khao khát của Từ Hải muốn được tung
hoành ! rong bốn bể để thực hiện ước mơ cơng lí chứ khơng bao giờ nhằm mục đích thiết lập
một ngai vàng quyền lực tầm thường.
Nguyễn Du đã thành công trong việc chọn lựa từ ngữ, hình ảnh và biện pháp miêu tả có
khuynh hướng lí tưởng hóa để biến Từ Hải thành một hình tượng phi thường với những nét
tính cách đẹp đẽ, sinh động. Đoạn trích tuy ngắn nhưng ý nghĩa lại rất lớn. Nó góp phần tơ
đậm tính cách của người anh hùng Từ Hải - nhân vật lí tưởng, mẫu người đẹp nhất trong kiệt
tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.
<b>3. Cảm nhận về nhân vật Từ Hải - Mẫu 2</b>
Kim Trọng, Thúc Sinh và Từ Hải là ba nhân vật đã gắn bó với số phận và đời sống tình cảm
của Thúy Kiều. Mối tình Kim - Kiều là mối tình đầu tuyệt đẹp giữa "Người quốc sắc, kẻ thiên
tài" đã nặng tình thề nguyền ''Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương". Mối tình giữa Thúc
Sinh và Thúy Kiều là quan hệ "Trước cịn trăng gió sau ra đá vàng". Từ Hải với Thúy Kiều
đã gắn bó với nhau bằng mối tình tri kỷ giữa "trai anh hùng, gái thuyền quyên". Những nhân
vật ấy đã được thi hào Nguyễn Du thể hiện một cách tuyệt đẹp, làm cho cảm hứng nhân văn
lung linh tỏa sáng trên những trang thơ "Truyện Kiều".
Đọc đoạn thơ "Kiều gặp Từ Hải" qua nghệ thuật tả người của một ngòi bút thiên tài, qua nhân
vật Từ Hải ta cảm nhận được ước mơ về tự do và công lý trong xã hội phong kiến.
Lúc bấy giờ Kiều đang sống ở Châu Thai trong tay Bạc Bà, Bạc Hạnh:
<i>"Thoắt buôn về, thoắt bán đi,</i>
<i>Mây trơi bèo nổi thiếu gì là nơi!"</i>
Trong cảnh ngộ ấy, "khách biên đình", nơi biên ải xa xơi đã đến với Kiều. Đó là một đêm
mùa thu "gió mát, trăng thanh". Hai chữ "bỗng đâu" nói lên sự bất ngờ, đột ngột:
<i>"Lầu thâu gió mát, trăng thanh,</i>
<i>Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi."</i>
Khơng phải là một văn nhân với tiếng "nhạc vàng", với "cờ pha màu áo nhuộm non da trời"
Cũng khơng phải là người "trăm nghìn đổ một trận cười khí khơng". Mà là "một đấng anh
hùng" có cốt cách phi thường:
<i>''Râu hùm, hàm én, mày ngài,</i>
<i>Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao."</i>
Những ẩn dụ, những số đo ấy tuy mang tính chất ước lệ tượng trưng của thi pháp cổ, nhưng
với cách ngắt nhịp 2/2/2 ở câu lục và 4/4 ở câu bát, giọng thơ trở nên mạnh mẽ đầy ấn tượng
về một tướng mạo phi phàm, uy nghi. "Khách biên đình" có võ nghệ cao cường vơ địch, có
trí dũng "lược thao gồm tài". Đó là một anh hùng xuất chúng:
<i>"Đường đường một đấng anh hào</i>
<i>Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài."</i>
<i>"Đội trời đạp đất ở đời</i>
<i>Họ Từ, tên Hải vốn người Việt Đơng</i>
<i>Giang hồ quen thói vẫy vùng,</i>
<i>Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo."</i>
Nguyễn Du đã sử dụng một số từ Hán-Việt như: "đấng anh hào", "Côn quyển", ' thao", "giang
"vẫy vùng" để khắc họa tính cách anh hùng và khát vọng tự do của nhân vật Từ Hải. Các phụ
âm "đ" trong các lừ ngữ như: đường đường", "đội trời, đạp đất", "ở đời", "Việt Đông", làm
cho giọng thơ vang lên hùng tráng, mạnh mẽ. Sau này khi Từ Cơng đã chết, Thúc Sinh cịn
nhắc lại đầy ngưỡng mộ:
<i>"Đại vương tên Hải họ Từ,</i>
<i>Đánh quen trăm trận, sức dư muôn người.</i>
<i>Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên,</i>
<i>Làm nên động địa kinh thiên đùng đùng,</i>
<i>Đại quân dồn đóng cõi đơng..."</i>
Có thể nói, Nguyễn Du đã dùng những từ ngữ, hình ánh tráng lệ nhất, giọng thơ hùng tráng
nhất, để ca ngợi cốt cách phi thường, thói giang hồ tự do, chí khí anh hùng của Từ Hải.
Từ Hải cịn là một anh hùng rất đa tình. Buổi gặp gỡ đầu tiên có thiếp danh trang trọng, nhiều
tâm đắc tương tri: "cùng liếc... cùng ưa". Người đẹp đã làm cho đấng anh hào phải xiêu lòng.
Cũng là khoảnh khắc "ban đầu lưu luyến" của lứa đôi:
<i>"Thiếp danh đưa đến lầu hồng,</i>
<i>Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa."</i>
Cuộc đối thoại tại "lầu hồng" giữa anh hùng và giai nhân đã làm nổi bật thêm những nét đẹp
<i>"Một lời đã biết đến ta,</i>
<i>Mn chung nghìn tứ, cũng là có nhau."</i>
Đó là một lời hứa như dao chém đá của trang anh hùng nghĩa hiệp. Chẳng cần dùng mưu kế
như Thúc Sinh "rước về hãy tạm dấu nàng một nơi", Từ Hải đã chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh,
thái độ xử lý rất đàng hoàng: 'Tiền trăm lại cứ ngun ngân phát hồn". Con người "giang hồ
quen thói vẫy vùng", từng "đánh quen trăm trận" ấy lại có một tình yêu rất lãng mạn, Từ Hải
là ân nhân của Kiều đã làm thay đổi số phận của một gái thanh lâu:
<i>"Trai anh hùng, gái thuyền quyên,</i>
<i>Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng."</i>
Nhân vật Từ Hải tựa như một ánh hào quang chiếu qua một quãng đời ngắn ngủi của Thúy
Kiều, nhưng đã để lại trong lòng người bao ấn tượng tốt đệp. Chân dung anh hùng Từ Hải là
một phương diện tuyệt đẹp về cảm hứng nhân văn của "Truyện Kiều".
<b>4. Cảm nhận về nhân vật Từ Hải trong đoạn trích Chí khí anh hùng</b>
Từ Hải xuất hiện trong tác phẩm, trước hết là một anh hùng cái thế, đầu đội trời chân đạp đất.
Khi cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, là vì việc nghĩa, là vì trọng Kiều như một tri kỉ. Nhưng khi
kết duyên cùng Kiều, Từ thực sự là một người đa tình. Song dẫu đa tình, Từ khơng qn
mình là một tráng sĩ. Trong xã hội phong kiến, đã làm thân nam nhi phải có chí vẫy vùng
Không gian trong hai câu thứ ba và thứ tư (trời bể mênh mang, con đường thẳng) đã thể hiện
rõ chí khí anh hùng của Từ Hải.
Tác giả dựng lên hình ảnh "Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong" rồi mới để cho Từ
Hải và Thuý Kiều nói lời tiễn biệt. Liệu có gì phi lơgíc khơng? Khơng, vì hai chữ "thẳng
riong" có người giải thích là "vội lời", chứ khơng phải lên đường đi thẳng rồi mới nói thì vơ
lí. Vậy có thể hình dung, Từ Hải lên n ngựa rồi mới nói những lời chia biệt với Thuý Kiều.
Và, có thể khẳng định cuộc chia biệt này khác hẳn hai lần trước khi Kiều từ biệt Kim Trọng
và Thúc Sinh. Kiều tiễn biệt Kim Trọng là tiễn biệt người yêu về quê hộ tang chú, có sự nhớ
nhung của một người đang yêu mối tình đầu say đắm mà phải xa cách. Khi chia tay Thúc
Sinh để chàng về quê xin phép Hoạn Thư cho Kiều được làm vợ lẽ, hi vọng gặp lại rất mong
manh vì cả hai đều biết tính Hoạn Thư, do đó gặp lại được là rất khó khăn. Chia tay Từ Hải là
chia tay người anh hùng để chàng thoả chí vẫy vùng bốn biển. Do vậy, tính chất ba cuộc chia
biệt là khác hẳn nhau.
Lời Từ Hải nói với Kiều lúc chia tay thể hiện rõ nét tính cách nhân vật. Thứ nhất, Từ Hải là
người có chí khí phi thường. Khi chia tay, thấy Kiều nói:
Nàng rằng:
<i>"Phận gái chữ tịng,</i>
<i>Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi".</i>
Từ Hải đã đáp lại rằng:
Từ rằng:
<i>"Tâm phúc tương tri,</i>
<i>Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình".</i>
Trong lời đáp ấy bao hàm lời dặn dị và niềm tin mà Từ Hải gửi gắm nơi Thuý Kiều. Chàng
vừa mong Kiều hiểu mình, đã là tri kỉ thì chia sẻ mọi điều trong cuộc sống, vừa động viên, tin
tưởng Kiều sẽ vượt qua sự bịn rịn của một nữ nhi thường tình để làm vợ một người anh hùng.
Chàng muốn lập cơng, có được sự nghiệp vẻ vang rồi đón Kiều về nhà chồng trong danh dự:
<i>Bao giờ mười vạn tinh binh,</i>
<i>Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường.</i>
<i>Làm cho rõ mặt phi thường,</i>
<i>Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia".</i>
Thêm nữa, chàng nghĩ có làm được như vậy mới xứng đáng với sự gửi gắm niềm tin, với sự
trông cậy của người đẹp.
Thứ hai, Từ Hải là người rất tự tin trong cuộc sống:
<i>Đành lịng chờ đó ít lâu,</i>
<i>Chầy chăng là một năm sau vội gì!</i>
Từ ý nghĩ, đến dáng vẻ, hành động và lời nói của Từ Hải trong lúc chia biệt đều thể hiện Từ
là người rất tự tin trong cuộc sống. Chàng tin rằng chỉ trong khoảng một năm chàng sẽ lập
công trở về với cả một cơ đồ lớn.
Trong đoạn trích, tác giả đã sử dụng kết hợp nhuần nhuyễn từ Hán Việt và ngơn ngữ bình
dân, dùng nhiều hình ảnh ước lệ và sử dụng điển cố, điển tích. Đặc biệt, nhân vật Từ Hải
được Nguyễn Du tái tạo theo khuynh hướng lí tưởng hố. Mọi ngơn từ, hình ảnh và cách
miêu tả, Nguyễn Du đều sử dụng rất phù hợp với khuynh hướng này.
Về từ ngữ, tác giả dùng từ trượng phu, đây là lần duy nhất tác giả dùng từ này và chỉ dùng
cho nhân vật Từ Hải. Trượng phu nghĩa là người đàn ơng có chí khí lớn. Thứ hai là từ thoắt
trong cặp câu:
<i>Nửa năm hương lửa đương nồng,</i>
<i>Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.</i>
Nếu là người khơng có chí khí, khơng có bản lĩnh thì trong lúc hạnh phúc vợ chồng đang
nồng ấm, người ta dễ quên những việc khác. Nhưng Từ Hải thì khác, ngay khi đang hạnh
phúc, chàng "thoắt" nhớ đến mục đích, chí hướng của đời mình. Tất nhiên chí khí đó phù hợp
bản chất của Từ, thêm nữa, Từ nghĩ thực hiện được chí lớn thì xứng đáng với niềm tin yêu và
trân trọng mà Thuý Kiều dành cho mình. Cụm từ động lịng bốn phương theo Tản Đà là
"động bụng nghĩ đến bốn phương" cho thấy Từ Hải "khơng phải là người một nhà, một họ,
một xóm, một làng mà là người của trời đất, của bốn phương" (Hoài Thanh). Hai chữ dứt áo
trong Quyết lời dứt áo ra đi thể hiện được phong cách mạnh mẽ, phi thường của đấng trượng
phu trong lúc chia biệt.
Về hình ảnh, "Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi" là một hình ảnh so sánh thật đẹp đẽ và đầy
ý nghĩa. Tác giả muốn ví Từ Hải như chim bằng cưỡi gió bay cao, bay xa ngồi biển lớn.
Khơng chỉ thế, trong câu thơ còn diễn tả được tâm trạng của con người khi được thoả chí
tung hồnh "diễn tả một cách khoái trá giây lát con người phi thường rời khỏi nơi tiễn biệt".
Nói thế khơng có nghĩa là Từ Hải không buồn khi xa Thuý Kiều mà chỉ khẳng định rõ hơn
chí khí của nhân vật. Hình ảnh: "Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong" cho thấy
chàng lên ngựa rồi mới nói lời tiễn biệt, điều đó diễn tả được cái cốt cách phi thường của
Về lời miêu tả và ngơn ngữ đối thoại cũng có những nét đặc biệt. Kiều biết Từ Hải ra đi trong
tình cảnh "bốn bể không nhà" nhưng vẫn nguyện đi theo. Chữ "tịng" khơng chỉ giản đơn như
trong sách vở của Nho giáo rằng phận nữ nhi phải "xuất giá tòng phu" mà còn bao hàm ý
thức sẻ chia nhiệm vụ, đồng lịng tiếp sức cho Từ khi Từ gặp khó khăn trong cuộc sống. Từ
Hải nói rằng sao Kiều chưa thốt khỏi thói nữ nhi thường tình khơng có ý chê Kiều nặng nề
mà chỉ là mong mỏi Kiều cứng rắn hơn để làm vợ một người anh hùng. Từ nói ngày về sẽ có
10 vạn tinh binh, Kiều tin tưởng Từ Hải. Điều đó càng chứng tỏ hai người quả là tâm đầu ý
hợp, tri kỉ, tri âm.