BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN QUỲNH ANH
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ THEO
CÁC HIỆP ĐỊNH VỀ ĐẦU TƯ
CỦA ASEAN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 9 38 01 08
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2020
Cơng trình được hồn thành tại:
Trường Đại học Luật Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Phước Hiệp
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận án cấp Trường
tại Trường Đại học Luật Hà Nội vào hồi….. ngày….. tháng…..
năm….
Có thể tìm hiểu Luận án tại:
1. Thư viện Quốc gia
2. Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội
1
MỞ ĐẦU
1.
Lý do lựa chọn đề tài
Vào đầu những năm 90 của thế kỷ thứ 20, q trình tồn cầu hóa kinh
tế diễn ra với tốc độ nhanh chóng, các hoạt động đầu tư nước ngồi khơng
ngừng tăng lên cả về quy mô và số lượng. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) đã dần trở thành một trong những nhân tố chiến lược cho sự
nghiệp phát triển kinh tế của các quốc gia và trở thành mục tiêu quan trọng
của nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới. Tuy nhiên, khi tiến hành hoạt
động đầu tư ra nước ngoài, nhà đầu tư phải đối mặt với rất nhiều rủi ro như
rủi ro kinh tế, rủi ro tài chính hay rủi ro chính trị. Do đó, một hệ thống thể
chế đồng bộ tại nước nhận đầu tư với các quy định về bảo hộ đầu tư sẽ có
vai trị quan trọng trong việc góp phần hạn chế rủi ro của nhà đầu tư nước
ngồi, qua đó, bảo vệ các lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên lãnh thổ
nước nhận đầu tư. Nói cách khác, các biện pháp bảo hộ đầu tư càng đầy đủ,
càng hợp lý sẽ càng tạo tâm lý yên tâm cho nhà đầu tư nước ngoài trước khi
đưa ra quyết định lựa chọn một thị trường để bỏ vốn, bỏ công sức đầu tư.
Tại Việt Nam, sau đổi mới, sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI
trong ba thập kỷ qua đã tác động lớn đến nền kinh tế Việt Nam. Nguồn vốn
FDI đóng vai trị như là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
của Việt Nam khi mức đóng góp của khu vực FDI trong GDP của cả nước
đã tăng từ 9,3% năm 1995 lên 16,9% năm 2008 và 23% năm 2019.1 Những
lợi ích mà FDI mang lại là khơng hề nhỏ. Do đó, Chính phủ cần có những
giải pháp để tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, mà đặc biệt là thu hút
đầu tư trong khu vực ASEAN với rất nhiều lợi thế. Bên cạnh việc đẩy mạnh
tự do hố đầu tư, Chính phủ cũng nên chú trọng vào việc xây dựng môi
trường đầu tư an toàn, minh bạch, nhiều ưu đãi với các quy định về bảo hộ
đầu tư đầy đủ, tạo sự an tâm cho nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư tại
Việt Nam.
Kể từ khi Việt Nam tham gia vào ASEAN, hội nhập khu vực là một
trong những chủ chương quan trọng, mang lại rất nhiều lợi ích cho đất
nước. Trong các văn bản của Đảng và Nhà nước đều khẳng định vị trí trung
tâm của ASEAN trong tiến trình hội nhập của Việt Nam. Việt Nam đã triển
khai một cách tích cực và từng bước tiến trình hội nhập ASEAN nói chung
và kinh tế nói riêng. Việt Nam đã tiến hành các hoạt động đầu tư trực tiếp
tại một số quốc gia ASEAN khác như Campuchia, Lào, Myanmar… đồng
thời, các dự án đầu tư từ các Nhà đầu tư ASEAN như Singapore, Thái Lan,
1
Xem: Nguyễn Thị Việt Nga (2019), Bàn về chính sách ưu đãi đầu tư của Việt Nam đối với doanh nghiệp
FDI
truy cập ngày 1/8/2019.
2
Malaysia… đã được triển khai tại Việt Nam, góp phần quan trọng cho sự
phát triển kinh tế của quốc gia.
Với mục tiêu thúc đẩy đầu tư nội khối và tăng cường khả năng cạnh
tranh của ASEAN trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, một khung pháp lý
hiện đại, chi tiết và tiến bộ hơn như ACIA được mong đợi sẽ góp phần bảo
vệ tốt hơn lợi ích của Nhà đầu tư ASEAN, qua đó, đạt được mục tiêu hội
nhập sâu hơn trong lĩnh vực đầu tư giữa các nước thành viên.
Xuất phát từ những lý do trên nên việc nghiên cứu một cách tổng thể
những vấn đề lý luận và pháp lý về bảo hộ đầu tư theo các hiệp định về đầu
tư của ASEAN có ý nghĩa quan trọng. Đối với các nhà hoạch định chính
sách, pháp luật, đây là cơ hội rà soát lại mức độ tương thích giữa pháp luật
đầu tư Việt Nam với quy định của ASEAN, qua đó, đánh giá khách quan
mức độ thực thi các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đồng thời,
đảm bảo môi trường đầu tư an toàn, minh bạch, hấp dẫn hơn nữa đối với
các Nhà đầu tư ASEAN. Đối với các nhà đầu tư Việt Nam, những nghiên
cứu này sẽ giúp nhà đầu tư hiểu rõ hơn những đảm bảo pháp lý mà các
nước ASEAN đã cam kết đối với các nhà đầu tư nước ngồi, từ đó, bảo vệ
tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi đầu tư tại ASEAN.
2.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong Luận án này, Nghiên cứu sinh giới hạn đối tượng nghiên cứu
của Luận án là những quy định trong các Hiệp định nội khối của ASEAN
về bảo hộ đầu tư, bao gồm Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (IGA)
năm 1987, Hiệp định về Khu vực đầu tư ASEAN năm 1998 và Hiệp định
đầu tư tồn diện ASEAN (ACIA) năm 2009. Song, khi ACIA có hiệu lực từ
ngày 29/3/2012 sẽ làm chấm dứt hiệu lực của IGA và AIA. Do vậy, việc
phân tích các quy định của IGA và AIA trong Luận án chỉ nhằm làm rõ quá
trình hình thành và phát triển các quy định của ASEAN về bảo hộ đầu tư,
nên toàn bộ chương 3 của Luận án sẽ tập trung phân tích các quy định về
bảo hộ đầu tư theo quy định của ACIA.
Bên cạnh đó, Luận án cũng nghiên cứu dưới góc độ so sánh hiệp định
về đầu tư của ASEAN với các hiệp định song phương, đa phương khác như
EVIPA, CPTPP.
Ngoài ra, những phán quyết của các trọng tài quốc tế khi giải quyết
những tranh chấp giữa Nhà nước và nhà đầu tư cũng là một trong những đối
tượng nghiên cứu thuộc Luận án để giải thích rõ hơn cho các quy định trong
các hiệp định đầu tư quốc tế nói chung và trong các hiệp định của ASEAN
nói riêng.
Cuối cùng, Luận án nghiên cứu hệ thống các quy định trong pháp luật
Việt Nam cũng như một số nước thành viên ASEAN khác về bảo hộ đầu tư
(những nước đã có luật riêng về đầu tư), qua đó đánh giá tích tương thích
3
trong hệ thống pháp luật của các quốc gia thành viên với quy định của
ACIA.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu như trên, phạm vi nghiên cứu của
Luận án bao gồm:
Một là, Một số vấn đề lý luận về bảo hộ đầu tư theo các hiệp định về
đầu tư của ASEAN
Hai là, Thực trạng các quy định và thực tiễn thực hiện các quy định
về bảo hộ đầu tư theo các hiệp định về đầu tư của ASEAN
Ba là, Thực tiễn Việt Nam về bảo hộ đầu tư theo các hiệp định về đầu
tư của ASEAN
Bên cạnh đó, phạm vi về khơng gian, đó là các hiệp định về đầu tư
trong nội khối ASEAN chứ không nghiên cứu các quy định về bảo hộ đầu
tư giữa ASEAN với các đối tác. Phạm vi về thời gian, Luận án chỉ tập trung
làm rõ các quy định của ASEAN về bảo hộ đầu tư trong Hiệp định đầu tư
tồn diện ASEAN (ACIA)
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
Mục đích nghiên cứu của Luận án là làm rõ một cách có hệ thống
những vấn đề lý luận và pháp lý về bảo hộ đầu tư trong luật quốc tế và sự
liên quan giữa ASEAN với luật quốc tế với tư cách là một bộ phận của luật
quốc tế; bảo hộ đầu tư trong các hiệp định về đầu tư của ASEAN; những
vấn đề pháp lý về bảo hộ đầu tư của Việt Nam, từ đó, đề xuất một số giải
pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động này của Việt Nam.
Phù hợp với mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của
Luận án gồm:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về bảo hộ đầu tư trong luật quốc tế nói
chung, trong đó có pháp luật ASEAN với tư cách là một bộ phận của luật
quốc tế
- Phân tích một cách hệ thống nội dung pháp luật ASEAN về bảo hộ
đầu tư, bao gồm: (i) Nguyên tắc bảo hộ; (ii) Biện pháp bảo hộ, từ đó, so
sánh với những quy định về bảo hộ đầu tư trong các hiệp định khu vực hoặc
song phương khác trên thế giới và đánh giá những điểm cần tiếp tục hoàn
thiện của pháp luật ASEAN về bảo hộ đầu tư.
- Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ đầu tư
theo Luật Đầu tư năm 2014, qua đó đánh giá mức độ tương thích với các
quy định của ASEAN và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các quy định
của pháp luật Việt Nam về bảo hộ đầu tư.
4.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của Luận án
Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau:
4
- Phương pháp tổng hợp và phương pháp phân tích được sử dụng để
đánh giá tổng quan các cơng trình nghiên cứu có liên quan đến Luận án ở
chương 1;
- Phương pháp lịch sử được sử dụng để làm rõ quá trình phát triển các
quy định về bảo hộ đầu tư của ASEAN ở chương 2 và chương 3;
- Phương pháp pháp phân tích được sử dụng trong tồn bộ Luận án,
đặc biệt tại các chương 2, chương 3 và chương 4 để làm rõ nội dung các
quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật ASEAN, pháp luật của Việt Nam
về bảo hộ đầu tư;
- Phương pháp so sánh luật để so sánh các quy định của pháp luật
ASEAN với các hiệp định đầu tư song phương và khu vực ở chương 2 và
chương 3.
5.
Ý nghĩa khoa học và tính mới của Luận án
Luận án đã có những đóng góp mới về mặt khoa học như sau:
Thứ nhất, Luận án đã phân tích một cách có hệ thống một số vấn đề lý
luận cơ bản về bảo hộ đầu tư theo các hiệp định đầu tư của ASEAN;
Thứ hai, Luận án đã phân tích sâu sắc hơn và đánh giá một cách toàn
diện, hệ thống những quy định trong các hiệp định của ASEAN về bảo hộ
đầu tư, qua đó, chỉ ra một số “khoảng trống” trong các quy định này;
Thứ ba, Luận án đã phân tích một cách tổng thể các quy định của
pháp luật Việt Nam về bảo hộ đầu tư theo các nội dung được ghi nhận trong
các Hiệp định của ASEAN, qua đó, đánh giá mức độ tương thích và kiến
nghị một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này.
6.
Ý nghĩa thực tiễn của Luận án
Kết quả nghiên cứu của Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu
thao khảo cho các cơ quan lập pháp, các nhà quản lý trong hoạt động xây
dựng, ban hành chính sách, pháp luật về hội nhập ASEAN của Việt Nam
nói chung và trong lĩnh vực kinh tế nói riêng. Bên cạnh đó, Luận án cũng
đóng góp vào hệ thống kiến thức pháp lý để phổ biến, tuyên truyền cho các
doanh nghiệp Việt Nam khi tiến hành các hoạt động đầu tư tại các quốc gia
thành viên ASEAN về những bảo đảm đầu tư đã được các quốc gia cam kết,
để từ đó, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
7.
Kết cấu của Luận án
Ngồi phần mở đầu và kết luận, Luận án được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về bảo hộ đầu tư theo các hiệp định
về đầu tư của ASEAN
Chương 3: Thực tiễn bảo hộ đầu tư theo các hiệp định về đầu tư của
ASEAN
Chương 4: Thực tiễn Việt Nam về bảo hộ đầu tư theo các hiệp định về
đầu tư của ASEAN
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI
Các nội dung pháp lý về bảo hộ đầu tư trong ASEAN đã được khảo
cứu trong các cơng trình cả ở trong nước và nước ngồi. Mặc dù các cơng
trình ở trong và ngoài nước đã làm rõ ở mức độ nhất định đối với một số
vấn đề cơ bản liên quan đến đề tài, tuy nhiên còn nhiều vấn đề cần được
nghiên cứu hoặc cần được tiếp tục làm sâu sắc hơn:
Về lý luận, Luận án làm rõ hơn nội hàm của khái niệm “bảo hộ đầu
tư” trong luật đầu tư quốc tế nói chung và các hiệp định của ASEAN nói
riêng, bao gồm: Đối tượng bảo hộ; các nguyên tắc của bảo hộ đầu tư; các
biện pháp bảo hộ trong luật đầu tư quốc tế, từ đó nhấn mạnh sự giống nhau
về mặt lý luận giữa vấn đề bảo hộ của ASEAN với vấn đề bảo hộ trong luật
đầu tư quốc tế.
Về pháp lý, Luận án sẽ tiếp tục phân tích cụ thể những nội dung pháp
lý của bảo hộ đầu tư theo các quy định của Hiệp định đầu tư toàn diện
ASEAN năm 2009 trên các phương diện: (i) đối tượng bảo hộ; (ii) nguyên
tắc bảo hộ và (iii) các biện pháp bảo hộ đầu tư. Thông qua việc nghiên cứu
những nội dung này, Luận án sẽ làm rõ: Một là, sự kế thừa và phát triển
trong các quy định của ASEAN về bảo hộ đầu tư từ Hiệp định khuyến
khích và bảo hộ đầu tư ASEAN năm 1987 đến Hiệp định đầu tư toàn diện
ASEAN năm 2009; Hai là, những “khoảng trống” tiếp tục cần được hoàn
thiện trong các quy định về bảo hộ đầu tư của ASEAN hiện nay nhằm tạo ra
một khuôn khổ pháp lý chi tiết, cụ thể hơn nữa trong bảo hộ đầu tư; Ba là,
những điểm tương đồng và khác biệt giữa các quy định của ASEAN về bảo
hộ đầu tư và các quy định của Hiệp định bảo hộ đầu tư Việt Nam – Liên
minh châu Âu (EVIPA), Hiệp định đối tác tiến bộ xun Thái Bình Dương
(CPTPP), từ đó, đánh giá ưu, nhược điểm của từng hiệp định trong bảo hộ
đầu tư.
Về thực tiễn, Luận án phân tích và đánh giá thực tiễn thực thi các
quy định của ASEAN về bảo hộ đầu tư của Việt Nam và một số quốc gia
thành viên ASEAN, đặc biệt là mức độ tương thích với các quy định của
ASEAN, mức độ hồn thiện của pháp luật Việt Nam về bảo hộ đầu tư và
kiến nghị những giải pháp để hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực
này.
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ THEO CÁC HIỆP
ĐỊNH CỦA ASEAN VỀ ĐẦU TƯ
6
Về mặt lý thuyết, các điều ước quốc tế của ASEAN về đầu tư chính là
luật quốc tế khu vực, một bộ phận của Luật quốc tế chung mà thực chất là
Luật của Liên hợp quốc và Luật của WTO, nhưng nằm trong phần ngoại lệ
của hệ thống này.
2.1. Khái niệm bảo hộ đầu tư
2.1.1. Định nghĩa bảo hộ đầu tư
Định nghĩa bảo hộ đầu tư gắn liền với sự phát triển của những quy
định về bảo hộ đầu tư nước ngoài trong luật quốc tế qua các giai đoạn khác
nhau. Có thể hiểu, bảo hộ đầu tư là những hoạt động của quốc gia nhận đầu
tư nhằm bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư nước ngồi trước những hành động
của quốc gia nhận đầu tư gây thiệt hại đến lợi ích của nhà đầu tư nước
ngồi.
2.1.2. Đặc điểm của bảo hộ đầu tư
2.1.2.1.
Chủ thể
Chủ thể trong quan hệ bảo hộ đầu tư của ASEAN là bất kỳ quốc gia
thành viên nào của ASEAN và các Nhà đầu tư ASEAN. Trong đó, Nhà đầu
tư ASEAN theo ACIA được xác định là thể nhân hoặc pháp nhân của
QGTV đang hoặc đã tiến hành hoạt động đầu tư trên lãnh thổ của bất kì
QGTV nào khác (Điểm d Điều 4).
2.1.2.2.
Đối tượng được bảo hộ
Đối tượng được bảo hộ là khoản đầu tư của nhà đầu tư nước ngồi. Có
nhiều cách tiếp cận về các khoản đầu tư trong các hiệp định đầu tư, có thể dựa
trên tài sản, dựa trên yếu tố doanh nghiệp, sự hiện diện thương mại và sự tiếp
cận rộng về tài sản.
ACIA áp dụng cách tiếp cận rất rộng khi định nghĩa về khoản đầu tư.
Theo đó, khoản đầu tư là bất kì hình thức tài sản được nhà đầu tư sở hữu
hoặc có quyền định đoạt, bao gồm nhưng không giới hạn các loại: (i) động
sản và bất động sản cùng các quyền tài sản khác như thế chấp, cầm cố hoặc
đặt cọc; (ii) cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy nợ và bất kì hình thức khác
tham gia vào pháp nhân và các quyền hay lợi ích phát sinh từ đó; (iii) quyền
sở hữu trí tuệ được công nhận theo luật và quy định của mỗi Quốc gia
Thành viên; (iv) quyền đòi tiền hoặc quyền đối với việc thực hiện hợp đồng
liên quan tới kinh doanh và có giá trị tài chính; (v) các quyền theo hợp
đồng, bao gồm hợp đồng chìa khóa trao tay, xây dựng, quản lý, sản xuất
hoặc phân chia lợi nhuận; và (iv) nhượng quyền kinh doanh đòi hỏi tiến
hành các hoạt động kinh tế và có giá trị tài chính, được công nhận bởi luật
hoặc theo hợp đồng, bao gồm bất cứ nhượng quyền tìm kiếm, trồng trọt,
chiết xuất hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên (Điểm c Điều 4). Thuật ngữ
“khoản đầu tư” cũng bao gồm các khoản thu thông qua đầu tư, cụ thể là lợi
nhuận, lợi tức, lãi, cổ tức, tiền bản quyền và các khoản phí; bất kỳ sự thay
7
đổi nào về hình thức đối với tài sản được đầu tư hoặc tái đầu tư không ảnh
hưởng tới việc phân loại tài sản đó là khoản đầu tư.
2.1.2.3.
Hình thức bảo hộ đầu tư
Nghĩa vụ bảo hộ của quốc gia nhận đầu tư được thể hiện dưới dạng
những cam kết của quốc gia được ghi nhận trong các điều ước quốc tế cũng
như trong hệ thống pháp luật quốc gia (cam kết đa phương, song phương và
đơn phương). Những cam kết này thường được xây dựng dựa trên nguyên
tắc có đi có lại trong luật quốc tế thơng qua việc áp dụng chế độ xử đầu tư
như NT hay MFN hay bất kỳ một chế độ đối xử đặc biệt nào mà quốc gia
nhận đầu tư dành riêng cho nhà đầu tư nước ngồi.
2.1.3. Vai trị của bảo hộ đầu tư
2.1.3.1.
Đối với nhà đầu tư
Các quy định của pháp luật quốc tế về bảo hộ đầu tư có vai trị quan
trọng trong việc góp phần hạn chế rủi ro của nhà đầu tư. Dựa trên cơ sở cam
kết của nước tiếp nhận đầu tư thông qua các biện pháp bảo hộ đầu tư, các
quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên lãnh thổ nước nhận đầu tư sẽ
được bảo đảm.
2.1.3.2.
Đối với nước nhận đầu tư
Các biện pháp bảo hộ đầu tư trước tiên nhằm cân bằng giữa lợi ích
của nhà đầu tư nước ngồi và lợi ích của nước nhận đầu tư. Ngoài ra, các
biện pháp bảo hộ đầu tư sẽ góp phần thu hút các hoạt động đầu tư nước
ngồi. Do đó, các biện pháp bảo hộ đầu tư càng đầy đủ, càng hợp lý, càng
tạo tâm lý yên tâm cho nhà đầu tư nước ngoài khi lựa chọn một thị trường
để bỏ vốn, bỏ công sức đầu tư.
2.2. Cơ sở pháp lý của bảo hộ đầu tư
2.2.1. Điều ước quốc tế
Những điều ước này có thể chia thành ba loại:
Thứ nhất là những điều ước chuyên biệt về đầu tư như các Hiệp định
đầu tư quốc tế;
Thứ hai là những điều ước quốc tế có điều khoản về đầu tư quốc tế.
Đây chủ yếu là là những hiệp định thương mại song phương hoặc đa
phương trong đó có điều khoản về đầu tư hay có riêng một chương quy định
về đầu tư;
Thứ ba là những điều ước chỉ quy định một nội dung cụ thể trong bảo
hộ đầu tư, trong đó, chủ yếu là cơ chế giải quyết tranh chấp về đầu tư.
2.2.2. Tập quán quốc tế
Tập qn quốc tế vẫn có vai trị nhất định trong luật đầu tư quốc tế nói
chung và bảo hộ đầu tư nói riêng. Một số nguyên tắc của tập quán quốc tế
đã được ghi nhận trong luật đầu tư quốc tế như “nghĩa vụ của quốc gia
nhận đầu tư phải đảm bảo cho nhà đầu tư nước ngoài và khoản đầu tư của
họ các nguyên tắc đối xử tối thiểu” hay “quốc gia nhận đầu tư không thể
8
tước quyền sở hữu khoản đầu tư của nhà đầu tư nước ngồi trừ khi thỏa
mãn bốn điều kiện: vì mục đích cơng; được luật quy định; thực hiện theo
cách thức không phân biệt đối xử và bồi thường thỏa đáng”.
2.2.3. Các nguồn luật khác
Bên cạnh điều ước quốc tế và tập quán quốc tế, các phán quyết của
các cơ quan tài phán quốc tế cũng có ý nghĩa rất quan quan trọng trong bảo
hộ đầu tư, điển hình là những phán quyết của ICJ (Tồ án cơng lý quốc tế) –
cơ quan tư pháp cao nhất của Liên hợp quốc.
2.3. Các nguyên tắc bảo hộ đầu tư
Các nguyên tắc phổ biến ghi nhận trong pháp luật quốc tế về bảo hộ
đầu tư nói chung và của ASEAN nói riêng bao gồm:
2.3.1. Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (Most Favoured Nation - MFN)
Trong lĩnh vực đầu tư, nguyên tắc này nhằm đảm bảo bình đẳng tồn
diện về đối xử, trên phương diện tạo một sân chơi bình đẳng giữa các nhà
đầu tư nước ngoài đến từ các quốc gia khác nhau trong hai thời điểm: Một
là, trong giai đoạn nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận nước nhận đầu tư để
chuẩn bị tiến hành các hoạt động đầu tư; hai là, khi nhà đầu tư nước ngoài
đã trực tiếp tiến hành các hoạt động đầu tư trên lãnh thổ nước nhận đầu tư.
MFN theo ACIA có hai đặc trưng cơ bản như sau. Thứ nhất, ACIA đã
loại trừ rõ ràng các quyền về thủ tục này khỏi phạm vi MFN. Thứ hai, các
quốc gia thành viên ASEAN không thể được miễn nghĩa vụ MFN đối với
bất kỳ thỏa thuận hiện tại hoặc trong tương lai nào, trừ khi họ kết luận được
các thỏa thuận đó là thỏa thuận tiểu khu vực giữa các bên.
2.3.2. Nguyên tắc đối xử quốc gia (National Treatment - NT)
Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) nhằm tạo ra sự bình đẳng khơng
phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài
trong hai thời điểm, một là trước khi nhà đầu tư nước ngoài tiến hành đầu tư
và hai là, khi nhà đầu tư nước ngoài đã trực tiếp tiến hành các hoạt động
đầu tư trên lãnh thổ nước nhận đầu tư.
Các nước ASEAN đã thừa nhận áp dụng NT ở cả giai đoạn trước và
sau khi thành lập khoản đầu tư. Tuy nhiên, ACIA cho phép áp dụng ngoại
lệ trong các hoạt động đầu tư có ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị
và kinh tế của quốc gia hoặc để bảo vệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở địa
phương bởi vì họ nhận ra sự mất cân bằng về kinh tế giữa hai loại doanh
nghiệp này.
2.3.3. Nguyên tắc đối xử công bằng và thoả đáng (Fair and Equitable
Treatment - FET)
Nguyên tắc đối xử công bằng và thoả đáng đối với nhà đầu tư nước
ngoài đảm bảo về cơ bản rằng, các nhà đầu tư không bị đối xử một cách bất
9
cơng trong tất cả hồn cảnh có liên quan, và điều đó có nghĩa là phải đảm bảo
cơng lý cho các nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm:
+ Cấm sự độc đốn trong q trình ra quyết định;
+ Cấm từ chối công lý và coi thường các nguyên tắc cơ bản của thủ
tục tố tụng;
+ Cấm sự phân biệt đối xử có mục tiêu trên cơ sở sai trái rõ ràng;
+ Cấm đối xử ngược đãi đối với các nhà đầu tư;
+ Bảo vệ những nguyện vọng chính đáng của nhà đầu tư.
Cách tiếp cận về FET của ACIA hẹp hơn khá nhiều khi nội dung của
FET trong ACIA chỉ liên quan đến nghĩa vụ không được từ chối công lý
trong q trình tố tụng mà khơng đề cập đến nguyên tắc phù hợp với thủ
tục.
2.3.4. Nguyên tắc bảo hộ an toàn và đầy đủ (Full Protection Sercurity FPS)
Nguyên tắc này ngầm định rằng QGTV sẽ tiến hành những biện pháp
cần thiết một cách hợp lý để bảo hộ cho các khoản đầu tư từ những tác động
bất lợi. Sự bảo vệ này phải được quốc gia nhận đầu tư thực hiện mọi lúc, kể
cả khi xảy ra bạo loạn hay lật đổ chính phủ tại quốc gia đó. Đây là nghĩa vụ
của quốc gia và nếu vi phạm những nghĩa vụ này sẽ dẫn đến trách nhiệm
của quốc gia và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại.
Tuy nhiên FPS không đặt ra một nghĩa vụ tuyệt đối đối với nước nhận
đầu tư mà thay vào đó là “nghĩa vụ mẫn cán” (due diligence), tức là thực
hiện các biện pháp thích hợp trong tất cả các hoàn cảnh.
Nguyên tắc bảo hộ đẩy đủ và an ninh được quy định tại Điều 11
ACIA. Theo nghĩa vụ này, quốc gia nhận đầu tư phải thực hiện tất cả các
biện pháp khả thi có thể một cách hợp lý để bảo hộ và bảo đảm an ninh cho
các khoản đầu tư như thận trọng, ngăn ngừa, khắc phục, cưỡng chế (chống
lại những hoạt động làm gián đoạn đầu tư) và/hoặc tận tâm. Nguyên tắc
FPS yêu cầu quốc gia nhận đầu tư phải có những hành động tích cực chứ
khơng đơn thuần chỉ là những hành động mang tính tránh gây thiệt hại.
2.3.5. So sánh các nguyên tắc bảo hộ đầu tư trong các hiệp định của
ASEAN về đầu tư với một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
2.3.5.1.
So sánh nguyên tắc bảo hộ đầu tư trong ACIA với EVIPA
Các nguyên tắc bảo hộ đầu tư trong ACIA và EVIPA về cơ bản là
giống nhau, nhưng đối với nguyên tắc FET, nếu như ACIA quy định nội
dung của FET gồm hai nghĩa vụ là không được từ chối công lý và phù hợp
với nguyên tắc thủ tục thì EVIPA lại quy định theo hướng liệt kê những
hành vi cụ thể bị coi là vi phạm nguyên tắc này của quốc gia nhận đầu tư.
Thậm chí, mức độ bảo hộ mà EVIPA dành cho các nhà đầu tư và khoản đầu
tư là rất lớn khi cho phép các bên được quyền thoả thuận nội dung của
10
nguyên tắc bảo hộ cao hơn những nội dung được ghi nhận trong chính Hiệp
định này.
Đối với nguyên tắc FPS, nội dung quy định của EVIPA tương tự
ACIA khi đều đặt ra nghĩa vụ cho các QGTV thực hiện các biện pháp cần
thiết ở mức hợp lý để bảo hộ và an toàn, đầy đủ cho các khoản đầu tư của
nhà đầu tư nước ngoài.
2.3.5.2. So sánh nguyên tắc bảo hộ đầu tư trong ACIA với CPTPP
Nguyên tắc bảo hộ được quy định tại Điều 9.6 của CPTPP, bao gồm
các nguyên tắc tương tự như ACIA và cũng giống như các IIA khác là
nguyên tắc NT, MFN, FET và FPS.
Với NT và MFN, tinh thần chung vẫn là mỗi bên sẽ dành cho nhà đầu tư
và khoản đầu tư của bên khác chính sách đối xử khơng kém thuận lợi hơn mà
nước đó trong những hồn cảnh tương tự áp dụng đối với các nhà đầu tư hay
các khoản đầu tư của mình.
Nguyên tắc FET trong ACIA và CPTPP đều bao gồm hai nghĩa vụ: (i)
Không được từ chối công lý và (ii) Phù hợp với thủ tục pháp luật. Nghĩa vụ
thứ nhất của hai điều ước này tương tự nhau. Đối với nghĩa vụ thứ hai, quy
định của CPTPP cụ thể hơn của ACIA ở chỗ CPTPP có dẫn chiếu cụ thể
đến căn cứ là “các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới”.
Nguyên tắc FPS trong ACIA và CPTPP, mặc dù có sự khác nhau về câu
chữ nhưng nội dung của nguyên tắc này đều đặt ra nghĩa vụ cho quốc gia nhận
đầu tư phải tiến hành những biện pháp cần thiết như ngăn ngừa, khắc phục,
cưỡng chế đối với những hoạt động làm ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của
nhà đầu tư nước ngoài.
2.4. Các biện pháp bảo hộ đầu tư
2.4.1. Không tước quyền sở hữu và bồi thường khi tước quyền sở hữu
(Expropriation and Compensation)
Tước quyền sở hữu là thuật ngữ chỉ hành động trưng thu, trưng dụng
tài sản thuộc sở hữu tư nhân để phục vụ cho mục đích cơng cộng của Nhà
nước và có bồi thường thỏa đáng. Đối tượng của tước quyền sở hữu thường
bao gồm quyền tài sản (vơ hình và hữu hình), lợi ích tài sản hoặc cả lợi ích phi
tài sản
Tước quyền sở hữu bao gồm hai hình thức là tước quyền sở hữu trực
tiếp và tước quyền sở hữu gián tiếp
Hành động tước quyền sở hữu là hợp pháp khi thoả mãn các điều
kiện: (1) vì mục đích cơng cộng (hoặc mục đích theo quy định của pháp
luật), (2) khơng phân biệt đối xử, (3) thanh tốn kịp thời, bồi thường đầy đủ
và hiệu quả và (4) đúng thủ tục pháp lý.
2.4.2. Chuyển vốn và tài sản ra nước ngồi (Transfers)
Nước nhận đầu tư khơng được ngăn cản nhà đầu tư nước ngoài được
chuyển các khoản tiền, tài sản thuộc sở hữu của nhà đầu tư ra khỏi nước
11
nhận đầu tư cũng như không được ngăn cản nhà đầu tư nước ngoài được tự
do trong việc sử dụng đồng tiền khi chuyển ra nước ngoài. Các hiệp định
đầu tư song phương, đa phương đều có quy định rõ về phạm vi chuyển vốn
và lợi nhuận. Tuy nhiên, đây không phải là một quyền tuyệt đối. Các hiệp
định đều ghi nhận những ngoại lệ cho phép nước nhận đầu tư hạn chế
quyền này của nhà đầu tư nước ngoài trong các trường hợp như để bảo vệ
lợi ích của chủ thể khác; thực thi phán quyết của các cơ quan tư pháp hoặc
do khó khăn về cán cân thanh toán…2
2.4.3. Bồi thường trong trường hợp xung đột vũ trang (Compensation in
Amed of Conflict)
Khi đầu tư ra nước ngoài, nhà đầu tư có thể sẽ phải gánh chịu những
tổn thất mà hồn tồn khơng xuất phát từ lỗi chủ quan trong quá trình đầu
tư sản xuất kinh doanh. Những tổn thất có thể bắt nguồn từ những cuộc
xung đột vũ trang hay từ những bất ổn về chính trị tại nước nhận đầu
tư…(tổn thất phi thương mại). Phán quyết của các cơ quan tài phán đều
đồng tình rằng FPS sẽ được áp dụng khi có hành động liên quan đến bạo
lực xảy ra và yêu cầu Nhà nước phải thực hiện các nghĩa vụ mẫn cán để
ngăn ngừa thiệt hại cho nhà đầu tư trước những hành vi sai trái của bên thứ
ba như bồi thường thiệt hại, trừng phạt với những cá nhân, tổ chức gây ra
thiệt hại cho nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, nghĩa vụ này không phải là
tuyệt đối mà nước tiếp nhận đầu tư sẽ có những biện pháp hợp lý trong
phạm vi quyền hạn của mình.
2.4.4. Thế quyền (Subrogation)
Đây là một phần quan trọng trong chế độ bảo đảm đầu tư ở nước
ngoài, đó là sự bảo đảm cho nhà đầu tư khi gặp rủi ro sẽ được chủ thể khác
thay thế việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quan hệ đầu tư với bên cịn
lại.
Về phía quốc gia nhận đầu tư, việc ghi nhận biện pháp thế quyền thể
hiện sự bảo hộ mang tính chính trị của quốc gia nhận đầu tư đối với quốc
gia mà đầu tư mang quốc tịch, giúp tăng cường tình hữu nghị và hợp tác
giữa hai chính phủ trong quan hệ đầu tư.
2.4.5. Giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư với Nhà nước (Investment
Dispute Between an Investor and a State)
Trong hầu hết các hiệp định đầu tư quốc tế đều quy định về cơ chế
giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài. Cụ thể, các nhà đầu tư
nước ngoài sẽ được lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, hoặc giải
quyết tại tòa án của nước nhận đầu tư, hoặc giải quyết tranh chấp tại trọng
tài quốc tế để tìm kiếm sự bảo vệ trước các hành vi vi phạm của nước nhận
đầu tư.
2
The United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD) (2000), Transfer of Funds, New York and
Geneva,tr.28-34.
12
2.4.6. Điều khoản chung (Umbrella Clause)
Phiên bản chung nhất của hầu hết các điều khoản chung là “mỗi bên
tham gia ký kết hợp đồng phải có trách nhiệm thực hiện tất cả các nghĩa vụ
mà bên đó đã thừa nhận trong hợp đồng đầu tư”. Việc giải thích điều
khoản phụ thuộc vào từ ngữ cụ thể, ý nghĩa thông thường, phạm vi, đối
tượng và mục đích của từng hiệp định cũng như lịch sử đàm phán hay
những ý định khác của các bên.
Tóm lại, các vấn đề lý luận về bảo hộ đầu tư trong các Hiệp định đầu
tư quốc tế như đã phân tích ở trên sẽ bao trùm lên lý luận về bảo hộ đầu tư
theo các Hiệp định của ASEAN. ASEAN là một tổ chức khu vực, là một
chủ thể của luật quốc tế nên xét về mặt bản chất pháp luật, pháp luật
ASEAN mang bản chất pháp luật quốc tế và là một bộ phận của luật quốc
tế. Do đó, các vấn đề lý luận về bảo hộ đầu tư theo các Hiệp định về đầu tư
của ASEAN cũng bao gồm các nội dung giống như các vấn đề lý luận về
bảo hộ đầu tư trong luật quốc tế.
CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN THỰC THI CÁC QUY
ĐỊNH VỀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ THEO CÁC HIỆP ĐỊNH CỦA ASEAN
VỀ ĐẦU TƯ
3.1. Thực trạng các quy định về bảo hộ đầu tư theo các hiệp định
của ASEAN về đầu tư
Trên cơ sở kế thừa những biện pháp của IGA cũng như những yêu cầu
mới đặt ra đối với khu vực đầu tư ASEAN, những biện pháp bảo hộ đầu tư
được ACIA ghi nhận bao gồm:
3.1.1. Tước quyền sở hữu và bồi thường
Theo quy định của ACIA, hoạt động tước quyền sở hữu được thực
hiện thông qua hai hình thức là tước quyền sở hữu trực tiếp và tước quyền
sở hữu gián tiếp
Tước quyền sở hữu hợp pháp đáp ứng bốn điều kiện sau: (i) vì mục
đích cơng cộng, (ii) khơng phân biệt đối xử, (iii) thanh toán kịp thời, bồi
thường đầy đủ và hiệu quả và (iv) đúng thủ tục pháp lý. Tước quyền sở hữu
bất hợp pháp khi không thỏa mãn được đầy đủ bốn điều kiện trên. ACIA
cũng không ghi nhận những quy định về bồi thường trong trường hợp tước
quyền sở hữu bất hợp pháp. Do đó, vấn đề bồi thường sẽ được xác định trên
cơ sở các quy tắc của luật quốc tế nói chung trên cơ sở xem xét các phán
quyết của các cơ quan tài phán.
3.1.2. Bảo đảm quyền chuyển vốn và tài sản
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 13 ACIA, Nhà đầu tư ASEAN được
phép chuyển vốn, tài sản và lợi nhuận đối với các khoản đầu tư vào và ra
13
khỏi lãnh thổ của QGTV nước nhận đầu tư một cách tự do và không chậm
trễ.
AICA đã đưa ra điều khoản quy định rằng quốc gia nhận đầu tư có
quyền đưa ra các hạn chế đối với các giao dịch về vốn của Nhà đầu tư
ASEAN trong những trường hợp sau: theo yêu cầu của Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF); khi gặp khó khăn về cán cân thanh tốn; trong các trường hợp ngoại
lệ, việc di chuyển vốn gây ra hoặc đe dọa gây ra tác động nghiêm trọng về
kinh tế hoặc tài chính của QGTV.
3.1.3. Bồi thường trong trường hợp xung đột vũ trang (Compensation in
Cases of Strife)
Theo quy định tại Điều 12 ACIA, trong trường hợp khoản đầu tư của
nhà đầu tư bị thiệt hại trong phạm vi lãnh thổ quốc gia nhận đầu tư do xung
đột vũ trang hoặc nội chiến hoặc tình trạng khẩn cấp của quốc gia đó thì
QGTV nhận đầu tư sẽ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư
nước ngoài để khắc phục hậu quả do xung đột, nội chiến hoặc tình trạng
khẩn cấp gây ra hoặc các hình thức khác đền bù có giá trị khác trên cơ sở
khơng phân biệt đối xử.
3.1.4. Thế quyền
Nguyên tắc thế quyền trong ACIA đã điều chỉnh phạm vi theo hướng
mở rộng với tất cả lĩnh vực và hình thức đầu tư. Điều 15 của ACIA quy
định rằng, nếu một quốc gia thành viên hoặc một cơ quan có thẩm quyền
của một quốc gia thành viên (quốc gia mà nhà đầu tư mang quốc tịch) đã
thanh toán cho nhà đầu tư của nước mình theo một nghĩa vụ bảo đảm, hoặc
theo hợp đồng bảo hiểm hoặc một hình thức bồi thường khác mà nước đó
đã cấp dựa trên rủi ro phi thương mại đối với một khoản đầu tư của nhà đầu
tư thì nước thành viên kia (quốc gia nhận đầu tư) phải công nhận sự thế
quyền này và chuyển giao bất cứ quyền sở hữu nào đối với khoản đầu tư
của nhà đầu tư nước ngoài.
3.1.5. Giải quyết tranh chấp giữa Nhà đầu tư với Quốc gia thành viên
(Investment Dispute Between an Investor and a Member State)
ACIA đã dành toàn bộ Phần B, từ Điều 28 đến Điều 41 để ghi nhận
những vấn đề pháp lý về giải quyết tranh chấp giữa Nhà đầu tư ASEAN và
QGTV nhận đầu tư bao gồm: phạm vi giải quyết tranh chấp; cơ quan giải
quyết tranh chấp và biện pháp, thủ tục giải quyết tranh chấp.
3.1.6. So sánh các quy định về bảo hộ đầu tư trong các Hiệp định của
ASEAN với quy định về bảo hộ đầu tư của một số hiệp định thương mại
tự do thế hệ mới
Nếu EVIPA trở nên khác biệt khi đặt cạnh ACIA thì CPTPP lại có
nhiều điểm tương đồng với ACIA. Nội dung các điều khoản bảo hộ đầu tư
khơng có sự khác biệt lớn, một số điểm hiện đại hơn nhằm cung cấp cách
hiểu rõ ràng hơn cho các điều khoản nhưng hồn tồn khơng làm thay đổi
14
nội dung chính (đây là những nội dung giống ACIA về cả hình thức và nội
dung). Cả ba hiệp định đều chứa đựng các quy định hướng đến các nguyên
tắc đối xử với nhà đầu tư và khoản đầu tư, vấn đề về tước đoạt tài sản, bồi
thường, và đặc biệt là cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và quốc
gia nhận đầu tư, nhà đầu tư có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình bằng cách khởi kiện quốc gia nhận đầu tư ra trọng tài hoặc hội đồng
tài phán (EVIPA) để yêu cầu giải quyết tranh chấp, đòi quyền lợi cho mình.
3.2. Thực tiễn thực thi các hiệp định của ASEAN về bảo hộ đầu tư tại
một số Quốc gia thành viên
Trong phần này nghiên cứu sinh chỉ thực hiện khảo cứu pháp luật về
bảo hộ đầu tư của những quốc gia thành viên ASEAN có luật riêng về đầu
tư bao gồm: Campuchia, Indonesia, Myanmar, Lào, Philipines để đánh giá
về việc triển khai thực hiện các Hiệp định của ASEAN về bảo hộ đầu tư.
Còn riêng trường hợp Việt Nam sẽ được khảo cứu ở Chương 4 của Luận án.
3.2.1. Pháp luật Campuchia
Luật đầu tư Camuchia năm 1994 đã có quy định khá cụ thể về vấn đề bảo
hộ đầu tư tại Chương IV. Cụ thể:
Thứ nhất, về nguyên tắc bảo hộ
Pháp luật Campuchia quy định Nhà đầu tư sẽ được đối xử theo cách
thức không phân biệt đối xử được quy định trong luật, ngoại trừ vấn đề sở
hữu đất đai được ghi nhận trong Hiến pháp của Campuchia (Điều 8).
Thứ hai, về biện pháp bảo hộ
+ Không tiến hành chính sách quốc hữu hóa mà tác động bất lợi đến
tài sản riêng của nhà đầu tư tại Campuchia (Điều 9)
+ Khơng áp đặt việc kiểm sốt giá đối với những sản phẩm hoặc dịch
vụ mà nhà đầu tư đã nhận được sự chấp thuận trước đó từ Chính phủ (Điều
10)
+ Cho phép nhà đầu tư được chuyển vốn và lợi nhuận ra nước ngoài
để thực hiện những nghĩa vụ tài chính gắn với hoạt động đầu tư của họ.
+ Đối với vấn đề giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước và Nhà đầu tư
nước ngoài sẽ được giải quyết thơng qua tham vấn, hịa giải hoặc tịa án của
Campuchia, hoặc giải quyết theo bất kì quy tắc quốc tế nào liên quan đến
giải quyết tranh chấp được các bên chấp thuận (Điều 20).
3.2.2. Pháp luật Indonesia
Tại Indonesia, các quy định về bảo hộ đối với nhà đầu tư được ghi nhận
tại Luật Đầu tư năm 2007, chương V với tiêu đề “Sự đối xử chống lại nhà đầu
tư”, bao gồm:
Thứ nhất, về nguyên tắc bảo hộ
Chính phủ sẽ đối xử công bằng đối với tất cả các nhà đầu tư của bất kì
quốc gia nào thực hiện các hoạt động đầu tư tại Indonesia phù hợp với pháp
luật. Tuy nhiên, sự đối xử này sẽ không áp dụng đối với các nhà đầu tư của
15
quốc gia đã có được những ưu đãi theo các hiệp định ký kết với Indonesia liên
quan đến liên minh thuế quan, khu vực thương mại tự do, thị thường chung,
liên minh tiền tệ, các hiệp định song phương, khu vực và đa phương giữa
Chính phủ Indonesia và các quốc gia khác ghi nhận những ưu đãi trong hoạt
động đầu tư (Điều 6).
Thứ hai, về biện pháp bảo hộ
+ Chính phủ sẽ không tiến hành các biện pháp quốc hữu hóa hoặc
tước quyền sở hữu quyền tài sản của nhà đầu tư, trừ khi được luật quy định
và sẽ đền bù số tiền tính theo giá trị thị trường. Nếu các bên không đạt được
một thỏa thuận bồi thường, tranh chấp sẽ được giải quyết thông qua trọng
tài (Điều 7).
+ Nhà đầu tư có thể chuyển giao những tài sản thuộc sở hữu của họ
cho các bên phù hợp với luật và các quy định. Chính phủ có thể tiến hành
các biện pháp lý như cảnh báo, đóng băng tài sản, thu hồi giấy phép kinh
doanh, yêu cầu bồi thường thiệt hại và các chế tài khác phù hợp với quy
định của luật để tránh tổn thất cho Nhà nước.
+ Trường hợp có tranh chấp sẽ giải quyết tại trọng tài quốc tế do các
bên đồng ý lựa chọn.
3.2.3. Pháp luật Myanmar
Nội dung bảo hộ đầu tư được quy định trong Luật Đầu tư Myanmar 2016
bao gồm:
Thứ nhất, về nguyên tắc bảo hộ
+ Thực hiện đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc đối với nhà đầu tư
nước ngoài và khoản đầu tư trực tiếp của họ trong mở rộng, quản lý, vận
hành, bán hoặc định đoạt khoản đầu tư trực tiếp;
+ Đối xử công bằng và thoả đáng (FET) trong việc có được các thơng
tin liên quan đến bất kì biện pháp hoặc quyết định có tác động đáng kể nào
đối với nhà đầu tư hoặc khoản đầu tư trực tiếp của họ (Điều 48).
Thứ hai, về biện pháp bảo hộ
+ Chính phủ đảm bảo khơng tiến hành bất kì biện pháp nào tước
quyền sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc có tác động tương tự trong việc
chấm dứt một khoản đầu tư trừ những điều kiện: Thực sự cần thiết đối với
lợi ích của Myanmar hoặc công dân Myanmar; theo cách thức không phân
biệt đối xử; phù hợp với pháp luật; bồi thường nhanh chóng, thiện chí và
thoả đáng (Điều 52).
+ Nhà đầu tư nước ngồi có thể chuyển ra nước ngồi những quỹ liên
quan đến khoản đầu tư theo Luật đầu tư bằng đồng tiền tự do sử dụng. Việc
chuyển và nhận các khoản vay sẽ được thực hiện với sự chấp thuận của
Ngân hàng trung tâm Myanmar (Điều 57).
+ Về vấn đề giải quyết tranh chấp, một Ủy ban sẽ được thành lập
nhằm quản lý một cơ chế khiếu nại để giải quyết, ngăn chặn sự xuất hiện
16
của tranh chấp. Trước khi tranh chấp được đưa ra Tòa án hoặc trọng tài, tất
cả các bên tranh chấp sẽ sử dụng các nỗ lực để giải quyết tranh chấp một
cách thân thiện.
3.2.4. Pháp luật Lào
Tại Lào, những quy định về đầu tư nói chung và bảo hộ đầu tư nói
riêng được quy định tại Luật khuyến khích đầu tư năm 2016,bao gồm:
Thứ nhất, về nguyên tắc bảo hộ
Nhà nước bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp và sự bình đẳng của tất
cả các bên trong nước và nước ngoài đầu tư theo Luật của Lào, các hiệp
định và thỏa thuận mà Lào là thành viên (Điều 22).
Thứ hai, về biện pháp bảo hộ
+ Chính phủ bảo hộ khoản đầu tư hợp pháp của nhà đầu tư chống lại
các hành vi tước quyền sở hữu, tịch thu hoặc quốc hữu hóa bằng các biện
pháp hành chính. Trường hợp vì mục đích cơng cộng, nhà đầu tư sẽ được
bồi thường bằng giá trị đầu tư thực tế theo giá thị trường ở thời điểm
chuyển giao việc sử dụng theo thỏa thuận của các bên (Điều 23);
+ Chính phủ thừa nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của nhà đầu tư
theo Luật sở hữu trí tuệ của Lào, các điều ước quốc tế và thỏa thuận mà Lào là
thành viên (Điều 24);
+ Nhà đầu tư có quyền hồi hương vốn, tài sản và thu nhập thông qua
các ngân hàng đặt tại Lào sau khi đã thanh toán đầy đủ nghĩa vụ, thuế và
các loại phí khác theo quy định của pháp luật.
+ Tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư có thể giải quyết theo
các hình thức: Đàm phán; thủ tục hành chính; giải quyết tranh chấp bởi Cơ
quan giải quyết tranh chấp kinh tế Lào; tòa án trong nước hoặc tòa án quốc
tế mà Lào là thành viên (Điều 93).3
3.2.5. Pháp luật Philippines
Nhũng quy định về bảo hộ đầu tư được ghi nhận tại Bộ luật đầu tư
Omnibus, bao gồm các nội dung sau đây:
+ Nhà đầu tư nước ngoài được quyền hồi hương toàn bộ số tiền thanh
lý khoản đầu tư bằng loại tiền đầu tư ban đầu theo tỷ giá hối đoái tại thời
điểm hồi hương (Điểm a Điều 38).
+ Nhà đầu nước ngoài có quyền chuyển các thu nhập từ hoạt động
đầu tư bằng loại tiền đầu tư bao đầu theo tỷ giá hối đoái tại thời điểm
chuyển thu nhập (Điểm b Điều 38)
+ Chuyển vốn và lợi nhuận để thanh toán các khoản vay nước ngoài
(Điểm c Điều 38).
+ Nhà đầu tư sẽ khơng bị Chính phủ tước quyền sở hữu tài sản đầu tư
hoặc tài sản của doanh nghiệp, ngoại trừ vì mục đích cơng hoặc vì lợi ích
3
Luật khuyến khích đầu tư của Lào 2016
truy cập 1/5/2019.
17
quốc gia và sẽ bồi thường cho nhà đầu tư theo tỷ giá tại thời điểm tước
quyền sở hữu (Điểm d Điều 38).
+ Tài sản đầu tư hoặc tài sản của doanh nghiệp sẽ không bị trưng thu,
trưng dụng, trừ trường hợp chiến tranh hoặc tình trạng khẩn cấp của quốc
gia và có bồi thường (Điểm e điều 38).4
3.2.6. Nhận xét pháp luật về bảo hộ đầu tư tại một số nước ASEAN
Tại ASEAN, không phải mọi quốc gia đều có một văn bản riêng điều
chỉnh hoạt động đầu tư như Brunei, Malaysia hay Singapore.5 Trong những
nước có luật riêng về đầu tư, trừ Myanmar và Lào là những quốc gia có luật
đầu tư được ban hành mới sau ACIA. Tuy nhiên, đáng chú ý là ngay trong
luật Myanmar và Lào, mặc dù đã ban hành sau ACIA nhưng cũng không
quy định một cách đầy đủ tất cả những nội dung bảo hộ đầu tư đã được
ACIA ghi nhận..
Xuất phát từ những lý do trên, việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành
mới những quy định về bảo hộ đầu tư của các nước ASEAN để đảm bảo sự
tương thích với quy định của ACIA thực sự là một đòi hỏi cần thiết. Điều
này không chỉ tạo cơ sở để thực thi đầy đủ những quy định của ACIA mà
còn góp phần hồn thiện hơn pháp luật đầu tư của những nước này.
CHƯƠNG 4
THỰC TIỄN VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ ĐẦU TƯ THEO CÁC HIỆP
ĐỊNH CỦA ASEAN VỀ ĐẦU TƯ
4.1. Tình hình thực hiện các quy định về bảo hộ đầu tư của ASEAN
tại Việt Nam
Nội luật hoá hay áp dụng trực tiếp các điều ước quốc tế nói chung và
các điều ước quốc tế về bảo hộ đầu tư của ASEAN nói riêng là nghĩa vụ của
Việt Nam để thực thi các cam kết của ASEAN với tư cách là thành viên của
tổ chức này.
Việt Nam đã tiến hành sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật trong nước
để tương thích với các cam kết chung trong ASEAN về bảo hộ đầu tư trên
cơ sở Nghị quyết 48 –NQ/TƯ về chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp
luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 được Bộ Chính trị
thơng qua ngày 24/5/2005 và Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 về
những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh
doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
4
Bộ luật đầu tư Omnibus
/>5
Jonathan Bonnitcha (2017), Investment Laws of ASEAN Countries: A comparative review, International Institute for
Sustainable Development
/>
18
4.1.1. Cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo hộ đầu tư tại Việt Nam
Bảo đảm đầu tư được ghi nhận trong hệ thống nội luật của Việt Nam
như Hiến pháp, Luật và các văn bản dưới Luật. Ngoài ra, Việt Nam đã tích
cực đàm phán, ký kết nhiều BIT với các quốc gia và khu vực trên thế giới,
thường tập trung vào một số nội dung chủ yếu như chế độ đối xử, nguyên
tắc bảo hộ, biện pháp bảo hộ, các quy định về giải quyết tranh chấp. Bên
cạnh đó, Việt Nam cịn tham gia rất nhiều cam kết đa phương và hiện đang
là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế, nhiều diễn đàn kinh tế trong khu
vực và trên thế giới như ASEAN, CPTPP, WTO, APEC, ASEM,…
4.1.2. Các nguyên tắc bảo hộ đầu tư
4.1.2.1.
Nguyên tắc không phân biệt đối xử
Nhà nước sẽ đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp cho tất cả các
nhà đầu tư mà khơng có sự phân biệt. Sự đảm bảo này khơng dựa trên tiêu
chí nguồn vốn và quốc tịch của nhà đầu tư mà chỉ phụ thuộc vào lĩnh vực
và địa bàn đầu tư.
4.1.2.2.
Nguyên tắc đối xử công bằng và thoả đáng (FET)
Vấn đề đối xử công bằng và thỏa đáng đối với nhà đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam, tuy không được quy định thành một điều khoản cụ thể và
được giải thích đầy đủ trong Luật Đầu tư giống như trong ACIA nhưng tinh
thần của nguyên tắc này đã được thể hiện rất rõ trong các đạo luật của Việt
Nam.
4.1.2.3.
Nguyên tắc bảo hộ đầy đủ và an ninh (FPS)
Luật Đầu tư năm 2014 của Việt Nam thể hiện FPS thông qua một số
biện pháp bảo hộ cụ thể như: Đảm bảo sự an toàn về vốn và tài sản của nhà
đầu tư nước ngoài sẽ theo quy định tại Điều 9 của Luật Đầu tư 2014; Các
quy định về giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư với Nhà nước tại Điều
14; Trường hợp Nhà nước đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư nước ngồi
khi có sự thay đổi chính sách, pháp luật (Điều 12); Nhà nước bảo lãnh cho
nhà đầu tư nước ngoài trong các dự án quan trọng (Điều 13).
4.1.3. Các biện pháp bảo hộ đầu tư
Việc ghi nhận các biện pháp bảo hộ đầu tư trong hệ thống các văn bản
pháp luật từ những bản Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp năm 1946) đến bản
Hiến pháp hiện hành năm 2013 và các văn bản luật chuyên ngành, các văn
bản dưới luật đã thể hiện vị trí, vai trị quan trọng của biện pháp bảo hộ đầu
tư. Theo Luật Đầu tư hiện hành thì các biện pháp bảo đảm đầu tư (được quy
định từ Điều 9 đến Điều 14) bao gồm 6 biện pháp sau đây:
- Bảo đảm quyền sở hữu tài sản
- Bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh
- Bảo đảm chuyển tài sản của nhà đầu tư nước ngoài ra nước ngoài
- Bảo lãnh của Chính phủ đối với một số dự án quan trọng
- Bảo đảm đầu tư kinh doanh trong trường hợp thay đổi pháp luật
19
- Giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh
4.2. Đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ đầu tư
4.2.1. Ưu điểm
Các quy định của ASEAN về bảo hộ đầu tư trong giai đoạn hiện nay
đã được Việt Nam nội luật hoá vào Luật Đầu tư năm 2014 và các văn bản
pháp luật khác có liên quan để đảm bảo tính tương thích với các quy định
về bảo hộ đầu tư trong các hiệp định của ASEAN. Có những quy định được
xem là đã tương thích với ACIA như MFN, NT; bồi thường trong trường
hợp tước quyền sở hữu; Có những quy định đã tương thích nhưng chưa rõ
và chi tiết như ACIA như FET và FPS, chuyển vốn và tài sản ra nước ngoài,
giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước và Nhà đầu tư nước ngoài.
4.2.2. Hạn chế
Thứ nhất, một số nội dung trong quy định của pháp luật Việt Nam về
bảo hộ đầu tư chưa tương thích với các quy định của ASEAN như biện
pháp bồi thường trong trường hợp xung đột vũ trang, thế quyền, biện pháp
giải quyết tranh chấp.
Thứ hai, một số quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ đầu tư
còn chung chung, thiếu cụ thể, các văn bản hướng dẫn thi hành hoạt động
đầu tư ban hành còn chậm, nhiều văn bản chưa rõ ràng, chồng chéo.
4.3. Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các Hiệp
định của ASEAN về bảo hộ đầu tư
4.3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện các Hiệp định của
ASEAN về bảo hộ đầu tư của Việt Nam
Thực hiện các Nghị quyết của Trung ương và Chính phủ, Việt Nam
cần thiết phải tiếp tục hồn thiện hệ thống pháp luật, chính sách có liên
quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài để thực hiện một cách chủ động, tích
cực hơn những cam kết pháp lý về đầu tư theo các Hiệp định về đầu tư của
ASEAN mà tiêu biểu hiện nay là ACIA.
Nhiệm vụ hoàn thiện pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào hai u
cầu:
(i) Tiếp tục rà sốt để nội luật hóa những quy định của ACIA theo
nguyên tắc phải đảm bảo sự tương thích với các quy định của pháp luật
ASEAN theo đúng tinh thần Nghị quyết số 31/NQ-CP của Chính phủ và Chỉ
thị số 15/CT- TTg của Thủ tướng Chính phủ;
(ii) Rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật hiện hành để đảm bảo
tính thống nhất và đồng bộ đáp ứng yêu cầu thực hiện AICA
(iii) Tập trung nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư nước
ngoài.
4.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định trong các Hiệp
định của ASEAN về bảo hộ đầu tư của Việt Nam
4.3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về bảo hộ đầu tư
20
Thứ nhất, bổ sung những nội dung chưa được ghi nhận trong Luật
Đầu tư năm 2014 của Việt Nam.
Đối với các quy định về bảo đảm quyền chuyển vốn và tài sản của nhà
đầu tư nước ngoài. Những quy định như Chính phủ có quyền ngăn cản một
khoản chuyển tiền thông qua việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm
thời như các quyết định cưỡng chế thi hành và lệnh phong toả tài sản tạm
thời của toà án liên quan đến phá sản… cần được nội luật hoá.
Đối với các quy định về trưng mua, trưng dụng tài sản của nhà đầu tư
nước ngoài, cần điều chỉnh thống nhất và chi tiết cơ chế, thể thức và điều
kiện áp dụng biện pháp trưng mua, trưng dụng và các vấn đề liên quan để
ổn định tâm lý cho nhà đầu tư.
Đối với các quy định về bảo đảm lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài
trong trường hợp thay đổi chính sách, pháp luật, cần có văn bản dưới luật
hướng dẫn cụ thể về tiêu chí, căn cứ và cách thức để xác định biện pháp giải
quyết thoả đáng nào sẽ được áp dụng khi có sự thay đổi chính sách, pháp
luật theo hướng bất lợi cho nhà đầu tư; cần xác định nguyên tắc chung và có
văn bản hướng dẫn bổ sung thêm quy định về bảo đảm quyền kinh doanh
cho các nhà đầu tư trong trường hợp pháp luật thay đổi mà ảnh hưởng đến
quyền kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài.
Đối với quy định về bảo đảm cơ chế giải quyết tranh chấp từ hoạt
động đầu tư nước ngoài. Trong bối cảnh tiếp nhận đầu tư quốc tế ngày càng
tăng như hiện nay, Việt Nam cần cân nhắc việc gia nhập Công ước
Washington về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà nước và công dân của
nhà nước khác để tạo sự tin tưởng cho Nhà đầu tư nước ngoài khi bỏ vốn
đầu tư vào thị trường Việt Nam
Thứ hai, cần quy định chi tiết, cụ thể hơn các biện pháp bảo hộ đầu
tư
Đối với các quy định về trưng mua, trưng dụng tài sản của nhà đầu tư
nước ngoài, cần khẩn trương xây dựng các văn bản pháp luật hướng dẫn cụ
thể việc thực hiện Luật Trưng mua, trưng dụng 2008. Cần có hướng dẫn cụ
thể việc có áp dụng thuế thu nhập cá nhân đối với trường hợp bị trưng thu,
trưng dụng hay không cũng và những cam kết cụ thể về trách nhiệm của
Nhà nước trong việc bồi thường nếu có sai phạm. Cần bổ sung các quy định
chi tiết về mức lãi suất trong trường hợp chậm thanh toán cũng như về trung
thu, trung dụng gián tiếp để bảo vệ lợi ích cho các bên trong quan hệ đầu tư,
và phù hợp với các cam kết mà Việt Nam tham gia.
Đối với các quy định về bảo đảm lợi ích của nhà đầu tư nước ngồi
trong trường hợp thay đổi chính sách, pháp luật. Cần có văn bản dưới luật
hướng dẫn cụ thể về tiêu chí, căn cứ và cách thức để xác định biện pháp giải
quyết thoả đáng nào sẽ được áp dụng khi có sự thay đổi chính sách, pháp
luật theo hướng bất lợi cho nhà đầu tư; Thủ tục và cách thức thực hiện ra
21
sao? Liệu nhà đầu tư nước ngồi có được bảo lưu dự án đã cấp phép trước
đó hay khơng? Hay tiếp tục thực hiện các dự án theo giấy phép đầu tư, giấy
chứng nhận đầu tư đã được cấp khi văn bản pháp luật mới ban hành gây bất
lợi cho nhà đầu tư. Vì thế, cần xác định nguyên tắc chung và có văn bản
hướng dẫn bổ sung thêm quy định về bảo đảm quyền kinh doanh cho các
nhà đầu tư trong trường hợp pháp luật thay đổi mà ảnh hưởng đến quyền
kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài.
Các quy định về bảo đảm cơ chế giải quyết tranh chấp từ hoạt động
đầu tư. Nghiên cứu luật thực định cho thấy, pháp luật Việt Nam vẫn chưa
chú trọng thủ tục tham vấn, hòa giải trong cơ chế giải quyết tranh chấp về
đầu tư nên các quy định về vấn đề này khá khái quát, tạo cảm giác Nhà
nước thiếu sự thiện chí với các nhà đầu tư khi có mâu thuẫn xảy ra. Bên
cạnh đó, Việt Nam chưa tham gia Công ước ICSID và công nhận Quy chế
trọng tài UNCITRAL mà trong số các cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư
quốc tế, cơ chế của ICSID được đánh giá là cơ chế hiệu quả và thường được
sử dụng nhất.
4.3.2.2.
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thực thi các quy
định pháp luật Việt Nam về bảo hộ đầu tư
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức giải quyết các vấn
đề phát sinh giữa nhà đầu tư nước ngoài với Nhà nước khi thực hiện hoạt
động đầu tư tại Việt Nam. Đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các
lĩnh vực đầu tư nước ngồi phải được tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đánh giá
và đào tạo một cách khoa học và hiệu quả.
4.3.2.3. Cải cách thủ tục hành chính trong hoạt động đầu tư nhằm thu hút
đầu tư nước ngồi
Cải cách hành chính, cải thiện mơi trường đầu tư kinh doanh có ý
nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thu hút đầu tư nước ngồi. Mặc dù
khơng được xếp vào nhóm các biện pháp bảo hộ đầu tư nhưng đây là giải
pháp luôn được thực hiện song song với chính sách bảo hộ đầu tư để thu hút
đầu tư nước ngoài.
4.3.2.4.
Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật
Việt Nam về bảo hộ đầu tư
Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các quy định về khuyến khích và bảo
đảm đầu tư cho các nhà đầu tư thông qua tổ chức những cuộc hội thảo, toạ
đàm, tham gia thảo luận, góp ý kiến cho các vấn đề liên quan đến khuyến
khích và bảo đảm đầu tư. Ngoài ra, nên tận dụng sự phát triển của công
nghệ thông tin hiện nay để lập ra các kênh thơng tin, website, báo điện tử,
truyền hình,.... nhằm đưa thông tin về các biện pháp này tới các nhà đầu tư
trong và ngoài nước.
4.3.2.5.
Gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan
22
Việt Nam cần mở rộng quan hệ hợp tác, ký kết các hiệp định song
phương và đa phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư, học hỏi kinh
nghiệm của các quốc gia khác trên thế giới. Thúc đẩy hợp tác quốc tế và thu
hút đầu tư trong và ngoài nước, Việt Nam cần nghiên cứu, đánh giá, tổng
kết về việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
viên; đồng thời, tìm hiểu, lựa chọn, tham khảo những quy định thích hợp
của pháp luật quốc tế nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong nước.
KẾT LUẬN CHUNG
1. Bảo hộ đầu tư có thể hiểu là những nguyên tắc được xây dựng
nhằm bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư nước ngồi trước những hành động của
quốc gia nhận đầu tư gây thiệt hại khơng chính đáng đến lợi ích của nhà đầu
tư. Sự phát triển của những quy định về bảo hộ đầu tư nước ngoài gắn liền
với những cuộc xung đột giữa các công ty đa quốc gia (MNCs) với tư cách
là các nhà đầu tư nước ngoài với quốc gia nhận đầu tư. Thông qua những
quy định về bảo hộ đầu tư, luật đầu tư quốc tế không chỉ bảo vệ những lợi
ích của nhà đầu tư nước ngồi trước những rủi ro có thể gặp phải trong q
trình tiến hành đầu tư tại quốc gia nhận đầu tư mà cịn góp phần đảm bảo sự
cân bằng giữa lợi ích của nhà đầu tư với lợi ích của quốc gia sở tại.
2. Tại ASEAN, từ những quy định đầu tiên về bảo hộ đầu tư trong
Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (IGA) năm 1987, Hiệp định đầu
tư toàn diện ASEAN (ACIA) đã được ký kết năm 2009, chuyển đổi từ mơ
hình một hiệp định đầu tư kiểu cũ với những nguyên tắc mơ hồ và không
xác định sang một hiệp định đầu tư hiện đại ghi nhận những quyền và nghĩa
vụ cụ thể hơn. Những quy định hiện hành của ASEAN về bảo hộ đầu tư có
sự tương đồng rất lớn với những hiệp định đầu tư quốc tế khác trên thế giới
cả về nguyên tắc và biện pháp bảo hộ nhưng vẫn có những quy định thể
hiện dấu ấn riêng, xuất phát từ thực tiễn của khu vực cũng như phong cách
của ASEAN. Tuy nhiên, ACIA vẫn chưa phải là một khn khổ pháp lý
hồn hảo. Một số nội dung pháp lý của ACIA vẫn cần được quy định hoặc
quy định cụ thể hơn để tránh những cách giải thích tùy tiện hoặc khơng
thống nhất giữa các quốc gia, ảnh hưởng đến lợi ích của nhà đầu tư như
cách tiếp cận về FET; lãi suất trong trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ
bồi thường; nghĩa vụ “không chậm trễ” trong việc đảm bảo quyền chuyển
vốn và lợi nhuận của nhà đầu tư…
3. Tại Việt Nam, những quy định về bảo hộ đầu tư được ghi nhận từ
những văn bản có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp cho đến Luật đầu tư,
các văn bản hướng dẫn thi hành cũng như các hiệp định bảo hộ đầu tư khá
tương thích so với những quy định của ACIA, đặc biệt Luật Đầu tư năm
23
2014, với những quy định từ Điều 9 đến Điều 14, đã góp phần bổ sung,
hồn thiện cơ chế bảo hộ đầu tư theo hướng Nhà nước cam kết thực hiện
các biện pháp hữu hiệu nhằm bảo hộ mọi loại tài sản hợp pháp của nhà đầu
tư, kể cả quyền sở hữu trí tuệ; cam kết khơng quốc hữu hóa, trưng mua,
trưng dụng tài sản của nhà đầu tư một cách trực tiếp hay gián tiếp, trừ
trường hợp vì mục đích cơng cộng, theo thủ tục luật định và bồi thường một
cách thỏa đáng, công bằng; cho phép nhà đầu tư nước ngoài chuyển ra nước
ngoài vốn, lợi nhuận và các khoản thu nhập hợp pháp khác.
4. Bên cạnh những kết quả đạt được, pháp luật đầu tư của Việt Nam
cịn khơng ít những điểm hạn chế như tình trạng chồng chéo và mâu thuẫn;
một số khái niệm chưa rõ ràng như khái niệm về đầu tư, bảo đảm đầu tư,
điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngồi, tổ chức kinh tế có sở hữu
chi phối của nhà đầu tư nước ngoài. Cụ thể, (i) các quy định về bảo đảm
quyền chuyển vốn và tài sản của nhà đầu tư nước ngồi tại các hiệp định
khuyến khích và bảo hộ đầu tư mà Việt Nam đã kí kết chưa được “nội luật
hoá” hoặc Việt Nam áp dụng biện pháp bảo lưu một số quy định để chưa
phải áp dụng biện pháp bảo đảm đầu tư này mà vẫn phù hợp với cam kết
quốc tế; (ii) các quy định về trưng mua, trưng dụng tài sản của nhà đầu tư,
bồi thường tổn thất, thiệt hại do chiến tranh, xung đột vũ trang gây ra đối
với nhà đầu tư chưa có văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể; (iii) vấn đề bảo
đảm lợi ích của nhà đầu tư nước ngồi trong trường hợp thay đổi chính sách,
pháp luật chưa có các quy định hướng dẫn rõ ràng, cụ thể. Để hoàn thiện các
quy định về bảo hộ đầu tư, qua đó, góp phần thu hút mạnh hơn nữa các nhà
đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các Nhà đầu tư ASEAN, Việt Nam cần phải
thực hiện thống nhất các giải pháp từ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về
đầu tư nước ngoài, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách có liên quan đến
hoạt động đầu tư nước ngồi, cải cách thủ tục hành chính cũng như tuyên
truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về bảo đảm đầu tư.