Tải bản đầy đủ (.docx) (16 trang)

THI HSG LICH SU NGHE AN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (180.53 KB, 16 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b> TÀI LIỆU THI HSG LỊCH SỬ 9- TỈNH NGHỆ AN</b>
<b>Câu 1: Nhận dịnh về khai phá văn minh của thực dân Pháp.</b>


- Pháp có âm mưu xâm lược Việt Nam từ thế kỉ XVII nhưng chưa có cơ hội. Mãi
Cuối thế kỉ XIX khi đã ổn định tình hình chính trị trong nước, nền kinh tếTB chủ
nghĩa Pháp phát triển mạnh mẽ và chuyển mạnh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa ,
nhu cầu về nguyên liệu thi trường đặt ra cấp thiết vì vây tư bản pháp đẩy mạnh tốc độ
đi xâm lược. Việt Nam có nhiều tài nguyên, nhân công dồi dào trở thành miếng mồi
ngon cho tư bản Pháp.Để thực hiện được mục đích của chúng, Pháp đặt ra chiêu bài
được gọi là khai Phá Văn Minh cho người bản xứ.


- cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất: Ngay từ đầu Pháp đã chọn vị trí xâm lược
, lấy cớ bảo vệ đạo gia tô…để nổ súng xâm lược nước ta và ý định thơn tính nhanh
nước ta, sau đó ra sức vơ vét của cải đem về nước.Nhưng khi chúng vừa đặt chân đến
mảnh đất Việt Nam, chúng đã gặp phải sự kháng cự mãnh liệt của nhân dân ta, vì vây
gần 30 năm sau ( 1884) chúnh mới thực sự chiếm được nước ta.Ngay sau đó chúng
đưa ra chương trình Khai thác thuộc địa lần thứ nhất.Kế hoạch vạch ngày 22.3. 1897,
gồm 7 điểm: thiết lập bộ máy cai trị; lập hệ thống thuế khoá mới; xây dựng các thiết bị
kinh tế: đường sắt, đường bộ, sông đào, bến cảng; phát triển công cuộc thực dân của
Pháp và sử dụng lao động bản xứ; tổ chức phịng thủ Đơng Dương, lập căn cứ hải
quân; đảm bảo an ninh vùng biên giới phía bắc Bắc Kỳ; mở rộng ảnh hưởng của Pháp
ở Viễn Đơng. Chương trình đã được Đume và những toàn quyền kế tiếp vừa thực
hiện, vừa bổ sung, điều chỉnh cho thích hợp với điều kiện chủ quan, khách quan của
từng thời điểm cụ thể.


Trong chương trình đó, chúng ta thấy chúng không đầu tư vè công nghiẹp nặng,
không đầu tư về KHKT vì nó sẽ trái với mục đích của chúng.


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

Pháp; hàng chục vạn thanh niên bị đưa sang chiến trường Châu Âu trong Chiến tranh
thế giới I.



Như vậy nhìn chung kinhtế việt nam có biến chuyển nhưng là một nền kinh tế
què quặt, nông nghiệp vẫn lạc hâu ( Thiếu công nghiệp…)->phải lệ thuộc vào TB
Pháp


Xã hội việt Nam biến đổi đó là xuất hiện thêm các giai cấp mới và tầng lớp mới ,
Giai cấp củ bị phân hố, nơng dân bị bần cùng hơn do chính sách vơ vét bóc lột của
chúng.


Văn hố thì chúng thực hiện chính sách ngu dân,duy trì chế độ học thi cử của
chế độ phong kiến, trường học chỉ dành riêng cho đào tạo tay sai , con em giàu có.


- Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai: Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất
(1914 – 1918), đế quốc Pháp tuy là nước thắng trận, nhưng nền kinh tế bị tàn phá
nặng nề (các ngành sản xuất công, nông, thương, giao thông vận tải bị giảm sút
nghiêm trọng; số nợ nước ngoài tăng lên; các khoản đầu tư ở Nga bị mất trắng; đồng
phơrăng mất giá). Cuộc khủng hoảng thiếu trong các nước tư bản ngày càng gây nên
khó khăn cho kinh tế Pháp.


- Để hàn gắn những vết thương chiến tranh, bù đắp những thiệt hại to lớn trong
chiến tranh, trên cơ sở đó khơi phục và củng cố lại đại vị kinh tế của mình trong hệ
thống tư bản chủ nghĩa, đế quốc Pháp vừa bóc lột nhân dân lao động trong nước, vừa
ráo riết đẩy mạnh khai thác các thuộc địa.


- Thực hiện chương trình khai thác lần thứ hai ở Đơng Dương sau chiến tranh, tư
bản tài chính Pháp đã tăng cường đầu tư vào Đông Dương: Việt Nam – Miên
(Campuchia) – Lào với quy mô lớn và tốc độ nhanh gấp nhiều lần so với thời kì trước
chiến tranh. Riêng đối với Việt Nam, từ 1924 đến 1929 tổng số vốn đầu tư vào Việt
Nam đã hơn gấp 6 lần vốn đầu tư vào trong 20 năm trước chiến tranh.


- Hai ngành được đầu tư nhiều nhất là nông nghiệp và công nghiệp. Về nông


nghiệp, thực dân Pháp đẩy mạnh cướp đoạt ruộng đất của nông dân để mở thêm đồn
điền (chủ yếu là đồn điền cao su).


Về công nghiệp, đẩy mạnh khai mỏ (chủ yếu là mỏ than), đồng thời cịn mở
thêm một số xí nghiệp chế biến khơng cạnh tranh với công nghiệp nước Pháp (sợi,
rượu, diêm, đường v.v…). Về thương nghiệp, độc chiếm thị trường (dựng hàng rào
thuế quan, đánh thuế nặng vào hàng nhập của các nước khác v.v…). Giao thông vận
tải được phát triển, cả về đường sắt lẫn đường bộ và đường biển. Tất cả các hoạt động
trên đều do ngân hàng Đông Dương nắm. Để phục vụ đắc lực cho chính sách khai
thác, bóc lột kinh tế, thực dân Pháp cịn ra sức tăng cường bộ máy cai trị, đàn áp mang
tính chất qn sự và thi hành chính sách văn hóa giáo dục nơ dịch.


Tình hình đó làm cho nền kinh tế thuộc địa ở Việt Nam có những chuyển biến
quan trọng. Nhưng chính sách khai thác thuộc địa về cơ bản vẫn không thay đổi. Thực
dân Pháp hết sức hạn chế công nghiệp phát triển, nhất là công nghiệp nặng, làm cho
Việt Nam là một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, què quặt phụ thuộc vào
kinh tế Pháp.


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

- một sự khai hoá và cải tạo thực sự theo kiểu phương Tây. Bản chất của "sứ mạng
khai hố" đó chính là sự khai thác thuộc địa diễn ra dưới lưỡi lê, họng súng, máy
chém, bằng các thủ đoạn tổ chức bộ máy hành chính cai trị chặt chẽ, xây dựng hệ
thống quân sự, cảnh sát, toà án và nhà tù ở nước ta, thực dân Pháp tổ chức khai thác
vơ vét các các tài ngun khống sản, sản phẩm nơng lâm nghiệp q của vùng nhiệt
đới… Chúng tập trung phát triển một số lĩnh vực như khai khoáng hầm mỏ, đồn điến
cao sư, hệ thống giao thông đường sắt đường bộ, một số trung tâm thương mại ra đời,
song tất cả các nội dung đó thực chất là để phục vụ cho việc cướp bóc, khai thác thuộc
địa mà thơi.


Hồ Chí Minh từng nói về "nhà khai hố" như sau: "Khi người ta đã là một nhà
khai hố thì người ta có thể làm những việc dã man mà vẫn cứ là người văn minh


nhất"1. Và nếu dân bản xứ không chịu nhục được, phải vùng lên, thì các nhà khai hố
"điều qn đội, súng liên thanh, súng cối và tàu chiến đến, người ta ra lệnh giới
nghiêm. Người ta bắt bớ và bỏ tù hàng loạt. Đấy! Cơng cuộc khai hố nhân từ là như
thế đấy!".


Tuy nhiên, sau 2 cuộc khai thác thuộc địa, xã hội việt nam đã có chuyển biến sâu
sắc về mọi mặt, trong đó một số tiến bộ sản xuất công nghiệp bước đấu được du nhập,
tạo cơ sở đầu tiên về sản xuất công nghiệp ở nước ta; việc giao lưu bn bán với nước
ngồi được đẩy mạnh, tạo thành các trung tâm đô thị, thương cảng buôn bán tập trung,
là nền tảng ban đầu để xây dựng đô thị tập trung, phát triển thương mại dịch vụ, tạo
dựng nền sản xuất hàng hoá tư bản ở Việt Nam. Nhân dân Việt Nam được tiếp cận
được với một số tiến bộ về khoa học công nghệ và tri thức của nhân loại nhiều hơn
chế độ quân chủ phong kiến trước đây.


<b> Câu 2: Những vấn đề cơ bản trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân </b>“
<b>Pháp và tác phẩm Đ</b>” “ <b>ờng cách mệnh của Nguyễn âi Quốc.</b>”


<b>1/ Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp:</b>


<b>- Xuất xứ của tác phẩm: Bản án chế độ thực dân Pháp (tiếng Phỏp: Le Procốs</b>


<i>de la colonisation franỗaise) l mt tỏc phm chính luận do Nguyễn Ái Quố</i> c viết


bằng tiếng Pháp và được ra mắt lần đầu tiên năm 1925 tại thủ đô Pari của nước
Pháp, trên báo Inprékor của Quốc tế Cộng sản. Ở Việt Nam, tác phẩm được
xuất bản lần đầu tiên năm 1946 tại Hà Nội, bằng tiếng Pháp; năm 1960 tác
phẩm được xuất bản lần đầu bằng tiếng Việt và được tái bản vào các năm
1975, 1976, 1985, 2008.


<b> - Nội dung cơ bản của tác phẩm: Tác phẩm gồm 12 chương và phần phụ lục</b>


 Chương 1: Thuế máu


 Chương 2: Việc đầu độc người bản xứ
 Chương 3: Các quan thống đốc


 Chương 4: Các quan cai trị
 Chương 5: Những nhà khai hoá


 Chương 6: Tệ tham nhũng trong bộ máy cai trị
 Chương 7: Bóc lột người bản xứ


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

 Chương 9: Chính sách ngu dân
 Chương 10: Chủ nghĩa giáo hội


 Chương 11: Nỗi khổ nhục của người phụ nữ bản xứ
 Chương 12: Nô lệ thức tỉnh


 Phụ lục: Gửi thanh niên Việt Nam


+ Nội dung tác phẩm là bản cáo trạng những tội ác không thể dung tha của chế độ
thực dân Pháp đối với người dân An Nam, từ ấu nhi đến phụ lão, từ những thủ đoạn
dã man trắng trợn cướp miếng cơm manh áo hàng ngày của người dân nghèo khốn
cùng đến âm mưu thâm độc dùng rượu và thuốc phiện, hạn chế tối đa việc mở mang
dân trí để làm lụn bại tương lai của dân tộc Việt Nam. Những nội dung, vấn đề mà tác
phẩm lên án là: Thuế máu, việc đầu độc người bản xứ, các quan thống đốc, các quan
cai trị, những nhà khai hoá, tệ tham nhũng trong bộ máy cai trị, bóc lột người bản xứ,
chính sách ngu dân, chủ nghĩa giáo hội, nỗi khổ nhục của người phụ nữ bản xứ…


+ Với cách hành văn ngắn gọn, súc tích, hùng hồn, đanh thép cùng những sự kiện
đầy sức thuyết phục, tác phẩm đã gây được tiếng vang lớn ngay từ khi ra đời, thức


tỉnh lương tri của những con người yêu Tự do - Bình đẳng - Bác ái và thắp lên ngọn
lửa đấu tranh của người dân An Nam thuộc địa theo một con đường sáng suốt và đúng
đắn dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin.


<b>+ Bản án chế độ thực dân Pháp là một tác phẩm vốn có giá trị lớn về nội dung.</b>
Nhưng giá trị ấy lại càng nổi bật lên với một nghệ thuật biểu hiện sắc sảo. Tác phẩm
đề cập những vấn đề lớn của thời đại, nhưng lại không phân tích dài dịng, khơ khan,
mà đi từ việc diễn tả những hiện tượng hằng ngày xảy ra trong những hoàn cảnh cụ
thể, dẫn đến những kết luận sắc, gọn, súc tích.. Trên cơ sở diễn tả những sự việc cụ
thể đó, rọi vào nó ánh sáng của tư tưởng mới, tác phẩm làm cho tư duy của người đọc
mở mang, dẫn đến những suy nghĩ rộng và xa hơn, rồi lại trở về vấn đề trọng tâm với
một nhận định sâu sắc, sáng rõ hơn…


+ Hình thức biểu hiện của tác phẩm, về mọi mặt, từ cách diễn tả, cách sử dụng
ngôn ngữ, cách chọn lọc những chi tiết, những hiện tượng, những hình ảnh, cách sử
dụng các yếu tố của nghệ thuật châm biếm, đến cách bố cục từng chương, mục và tồn
tác phẩm, đều có những nét rất độc đáo. Trong các biện pháp nghệ thuật đó, nghệ
thuật châm biếm là một biện pháp được sử dụng rất tài tình, tinh tế, sắc sảo.


<b>Ngồi tư cách chủ yếu là một tác phẩm chính trị, Bản án chế độ thực dân Pháp</b>
cịn là tác phẩm có giá trị về nhiều mặt như văn học, ngôn ngữ, lịch sử, v.v…


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

vơ sản ở chính quốc, một vịi bám vào nhân dân thuộc địa. Tác phẩm đề ra cho nhân
dân Việt Nam con đường đấu tranh giải phóng dân tộc theo chủ nghĩa Mác- Lê Nin.


Tác phẩm này viết cách đây gần một thế kỷ nhưng khoảng thời gian đó khơng hề
làm phai mờ những ý nghĩa, tác dụng, những giá trị lớn về lý luận và thực tiễn của nó.
Việc học tập, nghiên cứu để nhận thức đầy đủ và sâu sắc những giá trị của tác phẩm là
việc làm hết sức có ý nghĩa và cần thiết hiện nay.



<b>2/ Tác phẩm Đường cách mệnh:</b>


<b> - Xuất xứ của tác phẩm: Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung</b>
Quốc). Người đã liên lạc với các nhà cách mạng Việt Nam đang hoạt động ở đây
thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và tích cực vận động, tổ chức, huấn
luyện, đào tạo cán bộ cách mạng. Để xây dựng tổ chức Hội Việt Nam cách mạng
thanh niên có hệ tư tưởng cách mạng và khoa học, có đường lối chính trị đúng đắn, có
tổ chức chặt chẽ để lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã biên soạn các
bài giảng tại các lớp huấn luyện của tổ chức này. Đầu năm 1927, những bài giảng của
Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện được xuất bản thành tác phẩm “Đường kách
mệnh”. Bản in của tác ơhẩm này do chính tay người viết và vẽ tranh minh hoạ, được
dùng trong các lớp huấn luyện của Việt Nam thanh niên cách mạng đống chí hội và
Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức pr Á đông


<b>- Tư tưởng cơ bản của tác phẩm: Phải làm cách mệnh, thà chết tự do cịn hơn </b>
sống nơ lệ, quyết chiến đấu cho nền độc lập tự do của dân tộc là tinh thần của tác
phẩm. Có thể nói, “Khơng có gì quý hơn độc lập tự do” là quan điểm bao trùm toàn bộ
tác phẩm. Tác phẩm cũng chỉ rõ kẻ thù nguy hiểm nhất của độc lập tự do và vạch con
đường cụ thể để giành thắng lợi.


Tinh thần xun suốt tồn bộ tác phẩm là vì độc lập tự do của dân tộc, vì hạnh
phúc của nhân dân, phải giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân ra khỏi ách áp bức
bóc lột của chủ nghĩa đế quốc.


Kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là quan điểm tư tưởng chỉ đạo con
đường cách mạng Việt Nam. Giải phóng nhân dân phải gắn với sự nghiệp giải phóng
giai cấp vơ sản. Cách mạng giải phóng dân tộc phải theo quỹ đạo của cách mạng vô
sản, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa xã hội, lợi ích của dân tộc với lợi ích
của giai cấp vơ sản phải gắn bó với nhau. Thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc đều
phải giải quyết trên cơ sở quan điểm cách mạng vô sản để đưa cách mạng giải phóng


dân tộc tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng giải phóng dân tộc chuẩn bị
cho cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng xã hội chủ nghĩa chi phối cách mạng giải
phóng dân tộc.


Cách mạng phải triệt để, tích cực, chủ động và sáng tạo. Cách mạng phải độc lập
và sáng tạo, tự lực, tự cường, không ỷ lại ngồi chờ; phải tích cực tấn cơng, chủ động
tiến công, quyết giành thắng lợi. Biết tranh thủ sự giúp đỡ của cách mạng thế giới,
nhưng cũng phải có đóng góp cho cách mạng thế giới, cùng cách mạng thế giới đạp đổ
chủ nghĩa đế quốc tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội.


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

a) Tư cách một người cách mệnh


Tư cách một người cách mệnh được đặt lên vị trí hàng đầu của tác phẩm. Nội dung
gồm 3 phần:


- Tự mình phải cần kiệm - liêm chính - vị cơng vong tư. Giữ chủ nghĩa cho
vững…


- Đối người phải: với từng người thì khoan thứ. Trực mà khơng táo bạo. Hay xem
xét người.


- Làm việc phải : Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đốn, dũng cảm, phục tùng đồn
thể.


Tác phẩm đã nêu lên những vấn đề cơ bản của đạo đức mới - đạo đức của người
cộng sản. Đó là phải có đức và tài, trí và dũng, tư cách và năng lực theo kiểu người
cộng sản. Đó là con người một lịng một dạ. Đó là con người có tổ chức, gắn bó với tổ
chức, với đồn thể. Đồng thời biết phát huy năng lực cá nhân. “Tư cách người cách
mệnh” khác hẳn với chủ nghĩa anh hùng cá nhân, đặt mình lên trên tổ chức, đề cao cái
tôi đạo đức của người đảng viên cộng sản được đề cập trong tác phẩm phù hợp với


truyền thống đạo đức của dân tộc ta, đáp ứng yêu cầu của cách mạng và cũng rất đúng
với nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về đạo đức của người cách mạng. “Tư cách
người cách mệnh” đã dễ dàng chinh phục lòng người, tiếp thêm sức mạnh và định
hướng phấn đấu cho tất cả những ai yêu nước, thương nịi, muốn giải phóng q
hương xứ sở ra khỏi mọi áp bức bóc lột, xây dựng đất nước theo hướng dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.


“Tư cách người cách mệnh” có giá trị khoa học và giáo dục lớn đặt cơ sở cho
đạo đức học ở Việt Nam.


<b> b) Con đường cách mệnh </b>


Tác giả đưa ra khái niệm “cách mệnh”: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá
cái xấu đổi ra cái tốt”.


Từ đó, tác giả xác định các loại cách mạng:


- Tư bản cách mệnh như cách mệnh Pháp năm 1789, Mỹ cách mệnh độc lập năm
1776; Nhật cách mệnh năm 1864.


- Dân tộc cách mệnh như: Italia đuổi cường quyền Áo năm 1859; Tàu đuổi Mãn
Thanh 1911.


- Giai cấp cách mệnh như công nông Nga đuổi tư bản và giành lấy chính quyền 1917.
Tác giả giải thích nguyên nhân sinh ra các loại cách mệnh ấy. Từ phân tích mâu
thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp, tác giả xác định tính chất cách mệnh. Dân tộc cách
mệnh là dân tộc nô lệ đồng tâm hiệp lực đánh đuổi tụi áp bức mình đi để giành độc lập
tự do. Giai cấp cách mệnh là giai cấp bị áp bức cách mệnh để đạp đổ giai cấp đi áp
bức mình.



Về dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh, tác giả đều lấy ví dụ Việt Nam.
Khi kết luận, tác giả cũng nói đến sự cần thiết phải tiến hành dân tộc cách mệnh và
giai cấp cách mệnh ở Việt Nam. Cách mệnh Việt Nam phải tiến hành giải phóng dân
tộc để tiến lên giải phóng giai cấp. Việt Nam phải làm cả dân tộc cách mệnh và giai
cấp cách mệnh.


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

đế quốc Pháp vừa là kẻ thù của dân tộc và cũng là kẻ thù của giai cấp. Tác giả phân
biệt rạch ròi giữa đế quốc Pháp và nhân dân Pháp trước hết là công nông Pháp. Từ đó,
nêu mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam với giai cấp
cách mệnh Pháp nói riêng và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc với cách
mạng vơ sản chính quốc nói chung.


Cịn giai cấp phong kiến địa chủ, tác giả có phân loại: điền chủ nhỏ là bầu bạn
cách mệnh công nơng, những đại địa chủ thì chớ có cho họ vào hội của dân cày. Việc
xác định đúng, chính xác kẻ thù cơ bản là chủ nghĩa đế quốc Pháp có ý nghĩa to lớn
trong việc xây dựng chiến lược và sách lược cách mạng, trong việc tập hợp lực lượng,
phân hóa, cơ lập cao độ kẻ thù, nhằm tăng sức mạnh cho cách mạng. Đây là tầm tư
duy của thiên tài rất biện chứng, cách mạng và khoa học vượt lên tầm tư duy đương
thời của nhiều người cho rằng, đã địa chủ tất nhiên sẽ là kẻ thù của cách mạng, là đối
tượng đứng về phía đế quốc.


<b> c)Về lực lượng cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ rõ: Cách mạng là </b>
sự nghiệp của quần chúng gồm sĩ, nông, công, thương trong đó cơng – nơng là gốc
cách mạng, cịn học trị, nhà bn nhỏ, điền chủ nhỏ là bầu bạn của công – nông.
Công nông là người chủ cách mệnh “là vì cơng nơng bị áp bức nặng hơn, là vì cơng
nơng là đơng nhất cho nên sức mạnh hơn hết, là vì cơng nơng là tay khơng chân rồi,
nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan
góc”. “Học trị, nhà bn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không cực
khổ bằng công nông; 3 hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”.



Người đã căn cứ vào điều kiện cụ thể của đất nước, thái độ của các giai cấp trong
xã hội, đối với cách mạng để vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin cho phù
hợp, khơng giáo điều, máy móc. Vì vậy, lực lượng cách mạng vừa đông, vừa mạnh,
nhưng vẫn đảm bảo vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân.


<b> d) Về đoàn kết quốc tế, Nguyễn Ái Quốc nêu 3 vấn đề lớn: </b>
về đoàn kết quốc tế, Hồ Chí Minh


- Cách mạng Việt Nam phải đồn kết với các lực lượng cách mạng thế giới, cách
mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới. Ai làm cách mệnh trên thế giới
cũng đều là đồng chí của nhân dân Việt Nam. Cách mạng Việt Nam phải đứng hẳn về
phía phong trào cơng nhân và phong trào giải phóng dân tộc thế giới để đạp đổ tất cả
đế quốc chủ nghĩa trên thế giới.


- Xác định rõ quan hệ lợi ích dân tộc và cách mạng thế giới, giữa quyền lợi và trách
nhiệm, sự thống nhất của quan hệ này.


- Xác định rõ quan hệ cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc là tác động qua
lại. Cách mạng thuộc địa không thụ động ngồi chờ cách mạng chính quốc.


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

- Phải làm cho dân giác ngộ.


- Phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu.


- Phải hiểu phong trào thế giới, phải bày sách lược cho dân.


- Phải đoàn kết toàn dân “Cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc
của một hai người”... “Đàn bà, trẻ con cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều. Dân
khí mạnh thì qn lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”.



- Phải biết tổ chức dân chúng lại, tác giả nhấn mạnh vai trò của tổ chức: cách mạng
phải có tổ chức rất vững bền thì mới thành cơng. Tác giả đưa ra cách tổ chức quần
chúng như công hội, dân cày, hợp tác xã, thanh niên, phụ nữ, quốc tế cứu tế đỏ...
- Phải giành chính quyền bằng bạo lực cách mạng của quần chúng, phải biết chọn thời
cơ.


<b> Tóm lại, tác phẩm đã nêu lên những quan điểm cơ bản về phương pháp cách </b>
mạng Việt Nam trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tổng kết kinh
nghiệm cách mạng các nước. Những quan điểm đó là cơ sở cho Đảng xây dựng
phương pháp cách mạng của mình.


<b> Về Đảng Cộng sản, Đảng là điều kiện đầu tiên để đảm bảo cho sự thắng lợi của </b>
cách mệnh. “Đảng có vững cách mệnh mới thành cơng, cũng như người cầm lái có
vững thuyền mới chạy”.


Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải theo chủ nghĩa Mác - Lênin. “Đảng mà khơng
có chủ nghĩa cũng như người khơng có trí khơn, tàu khơng có bàn chỉ nam. Bây giờ
học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất,
cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”.


Nguyễn Ái Quốc luôn có ý thức xây dựng lập trường chính trị, bản chất giai cấp
cơng nhân, tính cách mạng triệt để của Đảng. Những tư tưởng về con đường cách
mạng Việt Nam của Người là những phác thảo cho đường lối chính trị của Đảng Cộng
sản Việt Nam. Người phân tích sâu sắc lịch sử cách mạng Nga để quán triệt bài học
kinh nghiệm về xây dựng Đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam.


Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên được Người đề cập gần như xuyên
suốt tác phẩm. Toàn bộ tác phẩm đã thể hiện nội dung đó.


Bằng tư tưởng xây dựng Đảng Cộng sản ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã đáp


ứng yêu cầu bức bách của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX, chuẩn bị những tiền đề
cần thiết cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.


<b> - Ý nghĩa của tác phẩm : </b>


1. Tác phẩm Đường cách mệnh đã vũ trang lí luận cách mạng cho cán bộ của
Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tuyên truyền vào giai cấp công nhân và các tầng
lớp nhân dân Việt Nam, có vai trị quan trọng trong việc chuẩn bị về tư tưởng, chính
trị, tổ chức cho sự thành lập chính Đảng cách mạng ở Việt Nam.


- Về tư tưởng: Tác phẩm có ý nghĩa giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
của Nguyễn Ái Quốc cho cán bộ và đông đảo quần chúng nhân dân, nhằm xây dựng
sự thống nhất trong nhận thức tư tưởng, chuẩn bị thành lập Đảng.


Tác phẩm khắc phục tư tưởng sai lầm, ám sát cá nhân, chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa
quốc gia; xác lập hệ tư tưởng mới - tư tưởng của giai cấp công nhân.


</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

nhận cho cán bộ và quần chúng công nông. Vạch ra được đường hướng cơ bản của
cách mạng Việt Nam, làm cơ sở cho việc xây dựng Cương lĩnh chính trị của Đảng.
Tác phẩm Đường cách mệnh ra đời đã chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối của
cách mạng Việt Nam; thúc đẩy phong trào yêu nước, phong trào công nhân phát triển
mạnh mẽ .


- Về tổ chức: Đào tạo ra một lớp cán bộ cách mạng kiểu mới chuẩn bị cho việc
thành lập Đảng. Tác phẩm cũng đưa ra hệ thống tổ chức của Đảng và các tổ chức quần
chúng như công hội, nông hội, thanh niên, phụ nữ... để Đảng tập hợp quần chúng,
chuẩn bị về mặt tổ chức cho sự ra đời của Đảng.


2. Tác phẩm Đường cách mệnh có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Lý luận
của tác phẩm không sách vở mà vạch ra lý luận cách mạng Việt Nam thiết thực, tri


thức lý luận cách mạng Việt Nam đã được hiện diện trong tác phẩm rất mácxít nhưng
cũng rất Việt Nam, dễ hiểu, dễ tiếp thu, kết hợp rất tài tình phương pháp lịch sử và
lơgích. Dùng lịch sử để nói lý luận, từ Cách mạng Pháp đến Cách mạng Nga và kết
luận ở Cách mạng Nga, rồi lấy lý luận soi sáng thực tiễn Việt Nam, và kết luận: Chỉ
có cách mạng vơ sản mới giải phóng được dân tộc.


Tác phẩm cũng là một hình mẫu của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -
Lênin vào Việt Nam của tác giả. Ví dụ: Lênin cho rằng, cách mạng thuộc địa chỉ có
thể giành được thắng lợi khi có sự giúp đỡ của cách mạng chính quốc, khi cách mạng
vơ sản chính quốc đã giành thắng lợi, nhưng tác phẩm phát hiện thêm rằng, cách mạng
thuộc địa có thể thành cơng trước cách mạng vơ sản ở chính quốc và tác động tích cực
đối với cách mạng chính quốc.


Chủ nghĩa Mác - Lê nin bàn nhiều về vấn đề giải phóng dân tộc. Tác phẩm chỉ
rõ dân tộc và giai cấp kết hợp với nhau, giải phóng dân tộc bằng con đường cách
mạng vô sản...


Tác phẩm Đường cách mệnh đã thể hiện thiên tài lý luận cách mạng của Nguyễn
Ái Quốc, tác phẩm có giá trị thực tiễn lớn lao, tạo ra sự chuyển biến căn bản, nhanh
chóng trong nhận thức và hành động cách mạng của cán bộ và đông đảo quần chúng,
chuẩn bị tiền đề cho việc thành lập Đảng.


Như vậy, trước khi Đảng ra đời, ở Việt Nam đã có sự thống nhất về tư tưởng
chính trị và tổ chức. Đó là điều kiện trực tiếp giữ vững sự thống nhất trong Đảng ngay
từ khi mới thành lập cũng như sau này. Tác phẩm Đường cách mệnh là một kho tàng
tri thức lý luận cách mạng Việt Nam, là sự thể hiện tư tưởng cơ bản của lãnh tụ Hồ
Chí Minh. Giá trị của tác phẩm càng được khẳng định khi Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố rằng, Đảng lấy chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động.



<b>Câu 3: Phân tích các khuynh hướng của phong trào yêu nước, giải phóng </b>
<b>dân tộc ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX? Vì sao khuynh hướng yêu </b>
<b>nước vơ sản chiếm ưu thế?.</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(10)</span><div class='page_container' data-page=10>

mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và giai cấp ở Việt Nam đều bị đặt trong quỹ đạo
<b>chuyển động của xã hội đó. Chính vì vậy, các phong trào yêu nước trong giai đoạn </b>
này có nhiều đặc điểm và tính chất khác biệt so với các thời kỳ trước đây, ngồi phong
trào u nước giải phóng dân tộc theo khuynh hướng phong kiến thì cịn xuất hiện
khuynh hướng dân chủ tư sản và khuynh hướng vô sản.


1. Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến


Cuối thế kỷ XIX, mặc dù triều đình phong kiến nhà Nguyễn ký các Hiệp ước ácmăng
<b>(Harmand) năm 1883 và Patơnốt (Patenôtre) năm 1884, đầu hàng thực dân Pháp, song</b>
phong trào chống thực dân Pháp xâm lược vẫn diễn ra. Phong trào Cần Vương
(1885-1896), một phong trào đấu tranh vũ trang do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát
động, đã mở cuộc tiến cơng trại lính Pháp ở cạnh kinh thành Huế (1885). Việc không
thành, Tôn Thất Thuyết đưa Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quảng Trị), hạ chiếu Cần
Vương. Mặc dù sau đó Hàm Nghi bị bắt, nhưng phong trào Cần Vương vẫn phát triển,
nhất là ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa: Ba Đình của
Phạm Bành và Đinh Công Tráng (1881-1887), Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật
(1883-1892) và Hương Khê của Phan Đình Phùng (1885-1895). Cùng thời gian này
còn nổ ra cuộc khởi nghĩa nơng dân n Thế do Hồng Hoa Thám lãnh đạo, kéo dài
đến năm 1913. Thực chất đây là phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân nhằm
đánh đổ Pháp và tay sai khôi phục lại nền độc lập dưới chế độ phong kiến.
Thất bại của phong trào Cần Vương chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong
kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra.


2. 1. Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản:



Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX , chế độ phong kiến Việt Nam cùng với hệ tư


tưởng Nho giáo ngày càng tỏ ra bất lực trước yêu cầu của công cuộc chống ngoại xâm
vì nền độc lập dân tộc. Trong bối cảnh đó, một số nhà tư tưởng tiêu biểu, từ Phạm Phú
Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch… đến Phan Bội Châu,
Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh,… đã thực hiện một bước chuyển tư tưởng chính
trị có ý nghĩa lịch sử to lớn. Chủ nghĩa quốc gia dân tộc với những cuộc vận động dân
tộc- dân chủ của những tầng lớp xã hội mới đã xuất hiện.


</div>
<span class='text_page_counter'>(11)</span><div class='page_container' data-page=11>

Tiêu biểu là Phan Bội châu với Hội Duy tân (1904), tổ chức phong trào Đông
<b>Du (1906-1908) và Việt Nam Quang phục Hội (1912) với ý định tập hợp lực lượng </b>
rồi kéo quân về nước võ trang bạo động đánh Pháp, giải phóng dân tộc, nhưng rồi
cũng không thành công.


Phan Châu Trinh chủ trương dùng những cải cách văn hóa, mở mang dân trí,
nâng cao dân khí, phát triển kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa trong khuôn khổ hợp
pháp, làm cho dân giàu, nước mạnh, buộc thực dân Pháp phải trao trả độc lập cho
<b>nước Việt Nam. ở Bắc Kỳ, có việc mở trường học, giảng dạy và học tập theo những </b>
nội dung và phương pháp mới, tiêu biểu là trường Đông Kinh nghĩa thục Hà Nội. ở
Trung Kỳ, có cuộc vận động Duy tân, hô hào thay đổi phong tục, nếp sống, kết hợp
với phong trào đấu tranh chống thuế (1908). Phan Châu Trinh với các phong trào
Đông Du, phong cải cách xã hội ở Bắc kỳ và Trung kỳ (như việc thành lập Đông kinh
nghĩa thục, phong trào Duy Tân ở Trung kỳ), phong trào chống thuế ở Trung kỳ
1908....


Do những hạn chế về lịch sử, về giai cấp, nên Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh
cũng như các sĩ phu cấp tiến lãnh đạo phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX khơng thể
tìm được một phương hướng giải quyết chính xác cho cuộc đấu tranh giải phóng của
dân tộc, nên chỉ sau một thời kỳ phát triển đã bị kẻ thù dập tắt.



Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất mặc dù còn nhiều hạn chế về số lượng, về thế
lực kinh tế và chính trị, nhưng với tinh thần dân tộc, dân chủ, giai cấp tư sản Việt
<b>Nam đã bắt đầu vươn lên vũ đài đấu tranh với thực dân Pháp bằng một số cuộc đấu </b>
tranh cụ thể với những hình thức khác nhau.


- Năm 1919-1923, Phong trào quốc gia cải lương của bộ phận tư sản và địa chủ
lớp trên đã diễn ra bằng việc vận động chấn hưng nội hoá bài trừ ngoại hoá; chống
<b>độc quyền thương cảng Sài Gòn; chống độc quyền khai thác lúa gạo ở Nam Kỳ; đòi </b>
<b>thực dân Pháp phải mở rộng các viện dân biểu cho tư sản Việt Nam tham gia. Năm </b>
1923 xuất hiện Đảng Lập hiến của Bùi Quang Chiêu ở Sài Gòn, tập hợp tư sản và địa
chủ lớp trên. Họ cũng đưa ra một số khẩu hiệu đòi tự do dân chủ để lôi kéo quần
chúng. Nhưng khi bị thực dân Pháp đàn áp hoặc nhân nhượng cho một số quyền lợi
thì họ lại đi vào con đường thỏa hiệp.


</div>
<span class='text_page_counter'>(12)</span><div class='page_container' data-page=12>

- Năm 1927-1930 Phong trào cách mạng quốc gia tư sản gắn liền với sự ra đời
<b>và hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng (25-12-1927). Cội nguồn Đảng này là </b>
<b>Nam Đồng thư xã, lãnh tụ là Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Khắc Nhu </b>
và Phó Đức Chính. Đây là tổ chức chính trị tiêu biểu nhất của khuynh hướng tư sản ở
<b>Việt Nam, tập hợp các thành phần tư sản, tiểu tư sản, địa chủ và cả hạ sĩ quan Việt </b>
<b>Nam trong quân đội Pháp. Về tư tưởng, Việt Nam quốc dân Đảng mô phỏng theo chủ</b>
<b>nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn. Về chính trị, Việt Nam quốc dân Đảng chủ </b>
<b>trương đánh đuổi đế quốc, xóa bỏ chế độ vua quan, thành lập dân quyền, nhưng chưa </b>
<b>bao giờ có một đường lối chính trị cụ thể, rõ ràng. Về tổ chức, Việt Nam quốc dân </b>
Đảng chủ trương xây dựng các cấp từ Trung ương đến cơ sở, nhưng cũng chưa bao
giờ có một hệ thống tổ chức thống nhất.


<b> Ngày 9-2-1929, một số đảng viên của Việt Nam Quốc dân Đảng ám sát tên trùm</b>
mộ phu Badanh (Bazin) tại Hà Nội. Thực dân Pháp điên cuồng khủng bố phong trào
<b>yêu nước. Việt Nam Quốc dân Đảng bị tổn thất nặng nề nhất. Trong tình thế hết sức </b>
bị động, các lãnh tụ của Đảng quyết định dốc toàn bộ lực lượng vào một trận chiến


đấu cuối cùng với tư tưởng "không thành công cũng thành nhân".


Ngày 9-2-1930, cuộc khởi nghĩa Yên Bái bùng nổ, trung tâm là thị xã Yên Bái
với cuộc tiến công trại lính Pháp của quân khởi nghĩa. ở một số địa phương như Thái
Bình, Hải Dương... cũng có những hoạt động phối hợp.


Khởi nghĩa Yên Bái nổ ra khi chưa có thời cơ, vì thế nó nhanh chóng bị thực dân Pháp
<b>dìm trong biển máu. Các lãnh tụ của Việt Nam quốc dân Đảng cùng hàng ngàn chiến </b>
sĩ yêu nước bị bắt và bị kết án tử hình. Trước khi bước lên đoạn đầu đài họ hơ vang
<b>khẩu hiệu "Việt Nam vạn tuế". Vai trò của Việt Nam Quốc dân Đảng trong phong </b>
<b>trào dân tộc ở Việt Nam chấm dứt cùng với sự thất bại của khởi nghĩa Yên Bái. </b>
- Đặc điểm nổi bật của khuynh hướng này là: Tầng lớp khởi xưởng trào lưu này
là những sĩ phu yêu nước tiến bộ. Họ là những nho sĩ được đào tạo trong nền khoa cử
cũ nhưng đã chuyển biến theo tư tưởng mới của thời đại, tư tưởng “ Duy Tân”. Chủ
nghĩa yêu nước của các sĩ phu văn thân thuộc phong trào Cần Vương trước kia nay đã
chuyển thành chủ nghĩa dân tộc gắn liền với những tư tưởng dân chủ và mong muốn
nước nhà đuổi kịp các quốc gia văn minh trên thế giới. Phong trào yêu nước cách
mạng hồi đầu thế kỷ XX ở Việt Năm tuy mang tính chất chung dân chủ tư sản, nhưng
lại phân hóa thành hai xu hướng rõ rệt là bạo động và cải cách. Xu hướng bạo động
chủ trương dựa vào ngoại viện và dùng thủ đoạn bạo lực để khơi phục độc lập dân tộc;
cịn xu hướng cải cách chủ trương dựa vào nhà cầm quyển Pháp tiến hành một số cải
cách về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa giáo dục để mở mang dân trí, nâng cao dân
khí, làm cho dân giàu nước mạnh, đoàn kết để đi tới tự cường, tự lập. Rõ ràng đối với
những người thuộc xu hướng này, việc giáo hoá dân chúng là điều kiện đầu tiên để
tiến lên giải phóng dân tộc.


- Về hình thức và phương pháp đấu tranh: Khơng chỉ hạn chế trong những hình
thức đấu tranh vũ trang như trước đây mà còn kết hợp cả với nhiều biện pháp mới về
chính trị, ngoại giao, tiến hành một phong trào cải cách sâu rộng trong đông đảo quần
chúng.



</div>
<span class='text_page_counter'>(13)</span><div class='page_container' data-page=13>

hình thức đấu tranh phong phú, thể hiện ý thức dân tộc, tinh thần chống đế quốc của
<b>giai cấp tư sản Việt Nam, nhưng cuối cùng đều thất bại vì giai cấp tư sản Việt Nam </b>
rất nhỏ yếu cả về kinh tế và chính trị nên khơng đủ sức giương cao ngọn cờ lãnh đạo
sự nghiệp giải phóng dân tộc.


Mặc dù thất bại nhưng các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đã
góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân ta, bồi đắp thêm cho chủ
<b>nghĩa yêu nước Việt Nam, đặc biệt góp phần thúc đẩy những nhà yêu nước, nhất là </b>
lớp thanh niên trí thức có khuynh hướng dân chủ tư sản chọn lựa một con đường mới,
một giải pháp cứu nước, giải phóng dân tộc theo xu thế của thời đại và nhu cầu mới
<b>của nhân dân Việt Nam. </b>


Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, các nước đế quốc càng tăng cường chính sách khai
thác và bóc lột thuộc địa để giải quyết những khó khăn trong nước, do vậy đời sống
của nhân dân Đông Nam Á càng trở nên cùng cực, mâu thuẫn dân tộc với đế quốc
càng thêm sâu sắc. Những biến đổi trong đời sống kinh tế, xã hội ở Đông Nam Á do
chính sách khai thác thuộc địa của các nước đế quốc mang lại cùng với sự ảnh hưởng
to lớn của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga đã dẫn đến sự xuất hiện
và phát triển một xu hướng mới trong cuộc đấu tranh dành độc lập Đông Nam Á: xu
hướng vô sản.


3. Khuynh hướng vô sản:


Cùng với xu hướng tư sản đã xuất hiện từ trước, xu hướng vô sản trong cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam đã nhanh chóng phát triển. Ngày 03 tháng 2 năm
1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và đứng ra lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc của nhân dân ba nước Đông Dương (tháng 10 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt
Nam đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương). Dưới sự lãnh đạo của những người
cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã đứng lên đấu tranh ngày càng


mạnh mẽ.


Cuộc đấu tranh của công nhân xuất hiện ngay từ khi giai cấp công nhân ra đời.
Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất phong trào đã diễn ra với những hình thức sơ khai
như bỏ trốn tập thể, phá giao kèo, đốt lán trại, đánh cai ký, đưa đơn phản kháng, rồi
tiến dần lên những hình thức đấu tranh đặc thù của giai cấp mình như bãi cơng. Năm
1907, đã nổ ra cuộc bãi công đầu tiên của 200 công nhân viên chức hãng Liên hiệp
Thương mại Đông Dương (LUCI) ở Hà Nội. Năm 1912, có cuộc bãi cơng của cơng
nhân Ba Son và cuộc bãi khóa của học sinh trường Bách nghệ Sài Gịn... Ngồi ra,
<b>cơng nhân cịn tham gia các phong trào u nước khác: công nhân mỏ than Đông </b>
<b>Triều tham gia đội nghĩa quân của lãnh binh Pha và lãnh binh Hy (1892); công nhân </b>
<b>làm đường Phủ Lạng Thương - Lạng Sơn tham gia phong trào khởi nghĩa Yên Thế, </b>
tập kích các đạo qn đóng dọc đường sắt và nhà ga (1894); những bồi bếp và công
<b>nhân làm trong quân đội Pháp tham gia vụ đầu độc binh lính và sĩ quan Pháp ở Hà </b>
<b>Nội (1908); công nhân tham gia khởi nghĩa Duy Tân ở Huế (1916); trong cuộc binh </b>
<b>biến ở Thái Nguyên, công nhân tham gia trực tiếp chiến đấu, hoặc rèn vũ khí cho </b>
nghĩa quân (1917).


</div>
<span class='text_page_counter'>(14)</span><div class='page_container' data-page=14>

<b>xát ở Nam Định, Hà Nội, Hải Dương (1924). Đáng chú ý nhất là cuộc bãi công của </b>
hơn 1.000 công nhân Xưởng sửa chữa tàu thuỷ Ba Son, Sài Gịn (8-1925) do Tơn Đức
Thắng tổ chức, không chịu chữa chiến hạm Misơlê (Michelet) để thực dân Pháp chở
quân đi đàn áp phong trào nổi dậy chống xâm lược của nhân dân Trung Quốc tại các
thành phố có tơ giới của đế quốc. Cuộc bãi cơng nổ ra với u sách địi tăng lương
20%, thu nhận những công nhân bị sa thải được trở lại làm việc. Cuộc bãi công được
công nhân nhiều xưởng ở Sài Gòn - Chợ Lớn ủng hộ. Chủ hung hãn đe dọa, nhưng
không khuất phục được, cuối cùng chúng phải nhượng bộ, chịu tăng 10% lương cho
công nhân. Mặc dù vậy, sau khi trở lại làm việc cơng nhân Ba Son cịn tìm cách lãn
công, kéo dài thời hạn sửa chữa, làm cho chiến hạm Misơlê phải nằm chờ 4 tháng trời
mới nhổ neo đi lên hướng Bắc được. Ngoài ra, trong phong trào dân chủ những năm
<b>1925-1926, công nhân đã tham gia các cuộc mít tinh, biểu tình, địi thực dân Pháp thả </b>


Phan Bội Châu, để tang Phan Châu Trinh, v.v.. Nhìn chung, phong trào cơng nhân
những năm 1919-1925 đã có bước phát triển mới so với trước chiến tranh. Hình thức
bãi cơng đã trở nên phổ biến, diễn ra trên quy mô lớn hơn và thời gian dài hơn.


<b> Từ năm 1926 đến năm 1929, phong trào công nhân ngày càng phát triển với sự </b>
<b>ra đời và hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trong những năm </b>
1926-1927, mỗi năm có hàng chục cuộc bãi cơng. Trong hai năm 1928-1929 nổ ra
hơn 40 cuộc đấu tranh, tiêu biểu là các cuộc bãi công ở Nhà máy xi măng Hải Phòng,
<b>Nhà máy sợi Nam Định, Nhà máy diêm và Nhà máy cưa Bến Thủy, Xưởng sửa chữa </b>
ô tô Avia Hà Nội, Nhà máy sợi Hải Phòng, Mỏ than Hòn Gai, Nhà máy xe lửa Trường
Thi (Vinh), Xưởng sửa chữa tàu thuỷ Ba Son (Sài Gòn), Đồn điền cao su Phú Riềng,
v.v.. Các cuộc đấu tranh đó đã kết hợp những khẩu hiệu kinh tế với những khẩu hiệu
chính trị, vượt ra ngồi phạm vi một nhà máy, đồn điền, bước đầu có sự liên kết nhiều
ngành, nhiều địa phương. Điều đó chứng tỏ trình độ giác ngộ của cơng nhân đã nâng
lên rõ rệt tuy chưa được đều khắp. Phong trào phát triển mạnh mẽ, có sức quy tụ và
dẫn đầu phong trào yêu nước nói chung.


- Nguyễn ái Quốc và sự phát triển phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô
sản


</div>
<span class='text_page_counter'>(15)</span><div class='page_container' data-page=15>

cuộc đời hoạt động của Người, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản; mở
đường giải quyết đúng đắn về đường lối giải phóng dân tộc của Việt Nam. Bằng thiên
tài trí tuệ và hoạt động cách mạng của mình, Nguyễn ái Quốc đã kịp thời đáp ứng nhu
cầu bức thiết của lịch sử. Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu và của các
nhà cách mạng có xu hướng tư sản đương thời, Nguyễn ái Quốc đã đến với học thuyết
cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản... Từ
khi trở thành người cộng sản, cùng với việc thực hiện những nhiệm vụ đối với phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế, Nguyễn ái Quốc xúc tiến mạnh mẽ việc nghiên
cứu lý luận giải phóng dân tộc theo học thuyết cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác -
Lênin để truyền bá vào nước ta, từng bước chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức


cho việc thành lập chính đảng cộng sản ở Việt Nam.


<b>Tháng 6-1925, Người sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, hạt nhân là</b>
<b>Cộng sản đoàn. Cơ quan tuyên truyền của Hội là tuần báo Thanh niên. Đây là một </b>
bước chuẩn bị có ý nghĩa quyết định về mặt tổ chức cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt
<b>Nam. Từ năm 1925-1927, Người mở nhiều lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu, </b>
<b>đào tạo một đội ngũ cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Sau các khoá học một số được </b>
chọn đi học ở trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, một số được cử đi
học trường qn sự Hồng Phố, cịn phần lớn trở về nước để "truyền bá lý luận giải
phóng dân tộc, và tổ chức nhân dân".


Đầu năm 1927, những bài giảng của Nguyễn ái Quốc cho các lớp đào tạo cán bộ tại
Quảng Châu được Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất bản
thành sách với tên gọi là Đường kách mệnh. Trong tác phẩm này, Nguyễn ái Quốc
vạch ra những phương hướng cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng giải
<b>phóng dân tộc ở Việt Nam. </b>


Đường kách mệnh đã trực tiếp chuẩn bị về tư tưởng chính trị cho việc thành lập
<b>chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. </b>


<b> Sự truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh vào </b>
phong trào cơng nhân và phong trào yêu nước gắn liền với việc xây dựng các tổ chức
<b>cơ sở của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở nhiều trung tâm kinh tế, chính trị </b>
quan trọng. Số hội viên của Hội tăng nhanh. Năm 1928, có 300 hội viên, năm 1929,
có 1.700 hội viên. Tổ chức cơng hội cũng đã được xây dựng trong nhiều nhà máy,
<b>hầm mỏ. Một số đảng viên tiên tiến trong Tân Việt cũng ngả theo Hội Việt Nam Cách</b>
mạng Thanh niên. Nhiều người đã trở thành hội viên của Hội.


Việc truyền bá lý luận giải phóng dân tộc và tổ chức, vận động nhân dân đấu tranh đã
<b>dấy lên một phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là </b>


phong trào công nhân.


</div>
<span class='text_page_counter'>(16)</span><div class='page_container' data-page=16></div>

<!--links-->

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×