Tải bản đầy đủ (.docx) (66 trang)

Dân tộc học đại cương: Dân tộc KHMER

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (299.53 KB, 66 trang )

Nhóm 1

DÂN TỘC KHMER
I.




Khái qt chung
Dưới góc độ địa lí, lịch sử,văn hóa, nhân văn: vùng Nam Bộ được tính từ
đường giáp ranh giữa tỉnh Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu với các tỉnh
Đắc Nơng, Lâm Đơng, Bình Thuận và kết thúc ở Mũi Cà Mau
Khí hậu: Nhiệt đới ẩm gió mùa với 2 màu mưa và mùa khơ rõ rệt
Địa hình: đồng bằng chiếm diện tích lớn
Sơng ngịi: dày đặc với hệ thống kênh rạch chằng chịt. Có hai mùa nước lũ
và mùa nước nổi
Hệ sinh vật vô cùng phong phú và đa dạng
Nam Bộ là nơi cư trú của nhiều cư dân khác nhau: Mạ, Xtieng, Mnông, Chơro, Chăm, Khơ-me, Hoa, Kinh...(Chăm, Hoa,Kinh, Khơ-me sống ở vùng đồng
bằng)
Tạo nên sắc thái vùng đất mới Nam Bộ là những nét văn hóa của các tộc
người sinh sống ở nơi đây
-nơi hội tụ và sản sinh ra các tôn giáo: Phật Giáo, Đạo giáo, Thiên Chúa
giáo, Hồi giáo, Cao Đài, Hịa Hảo,.
Các lễ hội
Các cơng trình kiến trúc
Phong tục tập quán
Hoạt động mưa sinh
ẩm thực
Trang phục
Các điệu múa dân gian
Các kho tàng tri thức dân tộc...


Tạo nên sắc thái vùng đất Nam Bộ vô cùng phong phú ấy không thể không
nhắc đến dân tộc Khmer.
- Tên gọi:
Bắt nguồn từ tiếng Pali-sancrit gọi là Khemara: bình an và hạnh phúc
Tên gọi khác: người Việt gốc Miên, Khơ-me-Krôm, người Thổ, người Cao
Man, Kam Pu, Kam Bốt, Cur, Cul, Cu...
1






1.
2.
3.

4.
5.
6.
7.

Có 3 loại Khơ-me
1. Khơ-me Crom ( người Khơ- me sống vùng thấp)
2. Khơ-me Lơ (người Khơ -me sống vùng cao)
3. Khơ-me Kandal (người Khơ-me sống vùng giữa)
Sống ở vùng đất mặn và vùng đất phèn, cư trú trên từng dải của giồng đất,
duyên hải hoặc những dải đất ven sơng
Có 3 vùng mơi sinh
Vùng đất nội địa: nơi sinh sống cổ xưa nhất có chùa tháp từ khoảng bốn

trăm năm trước, là vùng đất phù sa. Điểm tụ cư gọi là Sroc, mỗi Sroc có vài Phum.
Vùng ven biển: Trà Vinh qua Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang
Vùng đồi núi biên giới Tây Nam: bên cạnh tứ giác Long Xuyên. An Giang
và Kiên Giang tụ cư trên các gờ đất, giống đất và kênh ngoài ra ở trong các thị
trấn
Dân số: 1.260.640 (năm 2010)
Thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm ngơn ngữ Mơn- Khơme
Tơn giáo: Phật giáo tiểu thừa
Tập trung đơng nhất ở Sóc Trăng. Trà Vinh, Kiên iang, An Giang, Cần Thơ...
I.
KINH TẾ DÂN TỘC KHMER
1. Sản xuất nông nghiệp
a.Trồng trọt.Họ chia đất gieo trồng 2 loại:ruộng và rẫy.Ruộng là đất trồng
lúa,rẫy(chõm ka) là đất trồng hoa màu ,cây lương thực.Có nơi vụ này trồng
lúa ,vụ sau trồng dưa hấu rau đậu ...khi đó gọi là rẫy.
Ruộng:
**Chủ yếu canh tác nơng nghiệptrồng lúa nước và có kinh nghiệm trong
việc canh tác lúa nước. Đồng bào phân biệt nhiều loại ruộng đất gieo – trồng
và các giống lúa, biện pháp kỹ thuật thích hợp cho từng loại đất.



Loại ruộng gị (xrê tl): phù hợp với lúa sớm (xrâu sêral) và các giống
lúa như néang vơk, néang khlai…
Loại ruộng thấp (xrê tumniếp): được cấu tạo từ phù sa cận sinh, chứa
nhiều đất pha cát, có khả năng lưu trữ nước lâu hơn nên rất thích hợp với
giống lúa mùa (xrâu rơđâu).

2








Loại ruộng rộc (xrê lattơ): nằm giữa 2 giồng, tích tụ được nhiều chất hữu
cơ, có nước quanh năm, thích hợp với nhiều vụ lúa và hoa màu trong mùa
khô,
Loại ruộng lúa nồi (xrê lơn tưk): phổ biến ở vùng tứ giác Long Xuyên,
thích hợp với kỹ thuật sạ lúa với các giống néang tây, néang dum…
Loại ruộng vùng bưng trũng (xrê chơmrơn): giàu chất đạm nên nông dân
Khmer cấy lúa 2 lần. Ở các vùng đất bưng, bàu được cải tạo thành ruộng
này, họ thường phát cỏ, đắp bờ, cho trâu bò giẫm đạp cỏ xuống đất bùn
để biến thành phân tốt. Loại ruộng này thích hợp với giống lúa có thời
gian sinh trưởng dài ngày, cho năng suất cao.

Họ đã biết sử dụng 150 giống lúa tẻ vá nếp khác nhau với Các vụ lúa:
-Vụ lúa mùa :vụ lúa chính phổ biến của vùng.Sau tết Chol Thnam thmei người
khmer bắt đầu làm đất,gieo mạ cùng với những cơn mưa đầu mùa.Vụ mùa bắt đầu
tháng 4 (đầu mùa mưa) đến tháng 12(đầu màu khô).Và thángGiêng năm sau.
-Vụ lúa sớm(vụ lúa nhẹ) :gieo cuối tháng 2 đầu tháng 3 dương lịch thu hoạch tháng
6,7..
-Vụ lúa muộn :gieo cấy ruộng bưng,thời gian sinh trưởng khá dài .
-Vụ lúa nổi:gieo cuối tháng 6 ,thu hoạch dầu tháng 11khi nước bắt đầu rút.
**
Quy trình:làm đất-gieo mạ -cấy lúa –chăm sóc-thu hoạch:
Sau tết Chol Thanm Thmei:
+ Bắt tay vào làm đất ,cày bừa và dọn ruộng khi đó đầu mùa mưa ,đất dễ cày
sới(cơng việc nam giới đảm nhiệm ,họ dùng cày để sới).Sau đó phơi đất cho khơ ải

rồi mới dùng bừa tơi ra.Họ dùng loại trục đất bằng gỗ hình trái khế.Trước khi cấy
ruộng được:cho nước vào bừa sục ,phẳng,cho mạ chóng bén rễ.
+Sau đó ,ủ giống thóc cho mọc mầm rồi gieo vào ruộng có bùn mỏng trên mặt.Khi
bón ,họ tháo nước lấp xấp cho mầm phát triển.Ngày gieo mạ được chọn ngay tốt
nhờ Acha xem..Ngày cấy lúa được chọn sau khi đã có sự chuẩn bị ruộng và mạ đã

3


đạt yêu cầu.(Đó là gày thagoi sok-ngày tốt).Khi cấy phụ nữ dàn hàng ngang.Ở nơi
ruộng cứng phải dùng nọc cấy để trọc lỗ.
+Trước đây ,họ khơng biết dùng phân bón và làm cỏ.Việc chăm bón lúa chỉ là giữ
nước.Họ biết chống côn trùng chuột cua phá lúa...Họ chỉ biết cúng thần:mục súc
,thần ruộng.Sau mói biết dùng thuốc trừ sâu diệt chuột.
+Thu hoạch:cuối mùa mưa đầu mùa khô(cuối tháng11-12) cho dến tháng Giêng
năm sau là mùa thu hoạch.Ngày đầu tiên tổ chức lễ cúng thần lúa(hồn lúa)và các
thần mục súc,thần đồng ruộng.Bó lúa đầu tiên được buộc bàng chỉ và treo rên bồ
thóc ở nhà(vì đó là nơi thần lúa trú ngụ).Liềm và các loại hát dùng gặt lúa.Lúa bó
thành đượm và đập lúa tại ruộng hoặc gánh về dùng chân đạp lên sân.Thóc được
phơi khơ ,quạt sạch bảo quản và sử dụng.
Thủy lợi:
Người Khmer đã có nhiều sáng kiến tạo ra các biện pháp thủy lợi thích hợp với
địa thế ruộng đất:
- Ở vùng đất gò hay vùng đất cao gần giồng, ngoài việc lợi dụng nước
mưa để làm ruộng, đồng bào cịn thường đào các giếng (onđơn ang tữk),
ngay giữa ruộng và dùng thùng gánh hay gàu dây (xnack) để kéo nước.
-Nơng dân Khmer cịn lời dụng các đường nước (ơ) để dẫn và chứa nước,
khi cần thì tát vào ruộng bằng gàu giai hay gàu song (xnach yaung,
thloeng).
- Ở những vùng gần sông rạch và bị nhiễm mặn, phèn: Trà Cú, Long Tồn,

Long Phú…đồng bào cịn lợi dụng thủy triều lên xuống để đưa nước vào
ruộng rồi đắp những đập nhỏ (tronup) để giữ nước xổ phèn hay giữ phù sa
lại làm màu. Trước đây do tiếp thu của người Việt, người Khmer thường sử
dụng guồng (rohăt luk).
- khác với hệ thống thủy lợi của người Khmer ở Campuchia, các cơng trình
thủy lợi của người Khmer nước ta có quy mơ nhỏ, khơng cần huy động
nhiều nhân lực. Ở đồng bằng sông Cửu Long, từ rất sớm người Khmer đã
tạo ra những hình thức tương trợ trong sản xuất. Các dôk đăy :mượn tay
luôn phiên là những tổ chức vần công, đổi công nhằm giúp đỡ nhau trong
sản xuất cũng như đời sống.

4


Trước đây do tiếp thu của người Việt, người Khmer thường sử dụng guồng
(rohăt luk).Gần đây ,cũng như người Việt họ sử dụng phổ biến các loại máy
bơm nhỏ.
**Công cụ:
+ Ở những vùng đất phù sa ven sông, ven biển, ven rừng trước đây của người
Khmer thường phát cỏ bằng “phảng” sau đó dùng loại bừa cào to mà kéo cỏ gom
lại thành vồng, rồi dung dây nọc to để xoi đất.
Ở những vùng dùng cày (cày :chắc chắn, dài hơn, lưỡi cày xới đất sâu hơn
thích hợp với đất đai Nam Bộ). Bừa của người Khmer cũng có răng dài. Mặt khác
việc sử dụng trục lăn đất (thlôc) phổ biến hơn ở Campuchia.
+

+ Người Khmer cũng sử dụng 2 loại cuốc chính là cuốc tai tượng và cuốc tiều.
Cuốc tiều đã có từ lâu đời, cán gỗ chắc, lưỡi dày, nặng, khó gãy vì gờ nối dài ở mặt
sau, cán gỗ chắc. Gọi là cuốc tiều vì người Khmer mua cuốc ở tiệm người Hoa,
người Hoa đặt người Kinh làm.

Xưa kia năng suất mỗi vụ trung bình 5-6 giạ/cơng. Những năm dưới chế độ cũ,
nông dân Khmer đã sử dụng phân bón hóa học, máy bơm nước…nên năng suất cao
hơn, trung bình 10-11 giạ/cơng. Sau ngày giải phóng, tiếp tục truyền thống canh
tác và áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất, đời sống của người dân ngày càng
được nâng cao.
Rẫy:
**Bên cạnh việc trồng lúa nước là ngành sản xuất chủ yếu, nơng dân Khmer
cịn trồng hoa màu trên đất rẫy gọi là Chõm ka. Có 2 loại đất rẫy: rẫy chuyên
vùng,và rẫy (vốn là ruộng ven làng). Giữa 2 vụ lớn, nơng dân Khmer cịn canh tác
thêm 1 vụ phụ. Trên đất Chõmka chủ yếu trồng đậu khoai, ngơ… Cũng có địa
phương chun trồng đặc sản như: dưa hấu (Cầu Ngang – Long Toàn – Trà Cú);
hành đỏ, nhãn ở Vĩnh Châu…
b.Chăn ni.
-Trâu ,bị chó, heo là gia súc chủ yếu trong chăn ni gia đình,việc ni trâu bị
cũng khá phổ biến(vùng Tri Tơn,Bẩy Núi). Nơi đây có nhiều trị chơi, tập tục
5


khuyến khích việc ni trâu bị. Chợ phiên trâu bị ở núi Sam được đồng bào đông
đảo tham gia.)
-Chăn nuôi nhìn chung vẫn cịn gắn với nơng nghiệp. Ngồi đa số gia súc, gia
cầm ni trong sân vườn, có nơi còn hàng ngàn con vịt tàu để lấy trứng và thịt:như
1 số gia đình ở Cửu Long và Hậu Giang.
-Từ sau những năm 1965,khi máy kéo máy bừa du nhập vào nơng thơn người
khmer ,đàn trâu đàn bị giảm đi đáng kể.
2.

Thủ cơng nghiệp:(Đóng thuyền,Đan lát-thủ cơng mây tre;Dệt chiếu;Làm
Gốm;Thổ cẩm-dệt;Nấu đường thốt nốt......ngồi ra nhiều nghề khác
như:đóng xe bị,làm diều,nắn nồi ,chế tác nhạc cụ truyền thống,........)

**Đóng thuyền:
-Người khmer có tục đua thuyền (ghe ngo) vào tháng 10 hàng năm âm
lịch trong dịp Lễ Chào mặt trăng(Ok om bok) để tỏ lòng biết ơn, cảm tạ
trăng đã đem nước đến cho mùa màng tươi tốt và nay xin mặt trăng
nhường uy lựu cho mặt trời chiếu nắng làm cho lúa chóng chín để mùa
gặt sắp tới thu được nhiều lúa.
-ghe ngo là một biểu tượng tiêu biểu cho cuộc sống nơng nghiệp của
họ.
**Quy trình:
-chọn cây-đốn cây-đóng ghe-hạ thủy-điểm nhãn.
Đóng 1 chiếc ghe mất khoảng 2 tháng rưỡi đến 3 tháng.ghe làm bằng gỗ
sao:
+vốn mọc trên núi cao có voi thần canh giữ.trước khi hạ cây dâng lễ lên
thần voi gồm:thủ lợn 1 nải chuối rồi ghi lên thân cây xin sau 7 ngày đến
hạ cây mòi thấn linh ra khỏi cây trong thời hạn đó.
+sau cây sao mọc(trồng) trong chùa khi hạ cây phải được đồng ý vị sư trụ
trì.Phải dâng lễ(hương nến ,bánh trái)lên thần đất,thàn nước bảo vệ
chùa,cầu xin hạ cây nge cho chùa để duy trì tập tục truyền thống.
Dùng rìu đẽo thân cây.
+Lễ hạ thủy:đầu ghe quay về hướng Đơng,trên đó đặt lễ vật có lọng đỏ
che.Lễ vặt cúng:được đặt thanh giằng thứ 5 –thanh giằng giữa –thanh
giằng đi.(Riêng thanh giữa có đựng túp lều để mời thần :đất ,nước
chứng giám buổi lễ).Đầu và đuôi ghe ngo được treo vải đỏ.
6


Lễ hạ thủy là để cầu mưa và để đạt được phúc lành,bao giờ tổ chức ở chùa
,rất nghiêm trang.
+Nhạc nổi lên ,Lễ Điểm nhãn được bắt đầu.Tương truyền:mắt ghe chỉ
được gắn khi có một trinh nữ đi qua và khơng để cho người con gái đó

biết.Người thợ lập tức dùng đinh đóng mắt vào thuyền,như vậ “linh” của
người chinh nữ sẽ phù hộ cho các tay chèo có sức cường tráng trong cuộc
đua..Vị chủ lễ mời thần linh đến chứng giám để hộ trì cho cuộc đua và
chữa lành bệnh tật.
+Ngồi ra,có lên đồng trong buổi lễ.Vị cơ đồng khi nhập vào đồng sẽ ban
phước cho ghe,cho đội chèo ghe,cho cử tọa.
Đặc điểm:
+Đầu và đuôi trông giống con cá(trong tài liệu văn hóa khmer nam bộ
nét đẹp trong bản sắc Việt nam) có tài liệu ghi rằng:hình thù tựa con
rắn,mình thon thoai thoải về phía trước,hai bên đầu hge uốn cong hơi thấp
hơn so với đằng sau một chút(tai liệu văn hóa người khmer ĐBSCL)dài
khỏang 30,4m.có khi hơn.
Theo Khang Khái thời Đông Ngô(thế kỷ 3)ghi trong “Phù Nam
Ký”.Thân cây thành thuyền độc mộc dài 12 sải ,rộng 3 phần sải(3/4
sải).Thuyền nào cũng có trang trí những tấm mành sắt trổ hoa.Thuyền lớn
chứa được trăm người.Mỗi người đều cầm 1 chèo bơi dài hoặc ngắn và 1
cây sào.Từ đầu đến đi thuyền có 50 người,hoặc hơn 40 người,tùy theo
thuyền lớn ,bé.
+ghe và mái chèo quýet sơn màu đen.ở đầu ghe tơ 3 vịng trịn vàng và
đỏ.Tựa như vịng trịn trên cổ rắn hổ mang.
Chiếc ghe ngo vật thể thiêng trong văn hóa phi vật thể:từ lúc chọn câyđốn cây -đóng ghe-đến lúc hạ thủy và điểm nhãn.Lễ hội đua ghe ngo là lễ
hội lớn của vùng.
***Nghề đan lát( thủ công mây tre đan) rất phổ biến ở nông thôn Khmer và
thường được tiến hành trong những lúc nông nhàn.
-Vật liệu: có sẵn,song,mây ,lá dừa ,tre nứa và các loại cây rừng.

7


-Sản phẩm:những đồ đựng, đồ chứa, giỏ xách,giỏ đựng cơm hay hộp đựng trầu

cau,… các đồ nghề đánh cá đan tre như lờ, đó, đăng,ruốc..… (đặc biệt Xà gọm –
một nông cụ bắt tép bằng nan tre là sản phảm tiêu thụ khá nhiều)
-Các sản phẩm đan lát bền đẹp ,rất khéo léo đa dạng và phong phú kiểu
dáng,tinh tế trong đan cài và mang nhiều sắc thái dân tộc trong quá trình tạo thành.
***Nghề đan đệm, dệt chiếu là một nghề truyền thống lâu đời của người khmer.
Do người phụ nữ đảm nhiệm.
-chiếu nhiều loại ,kích cỡ khác nhau như để cúng chùa (loại dài) hay sử dụng
trong gia đình(loại nhỏ).Để dệt được mất bốn ,năm ngày.Chỉ dệt tháng mùa mưa
(tháng 8 đến tháng 10).Vì lúc đó nước lên mới có lát mọc.
-Nguyên liệu:các loại dây cây-sợi cói,kok(lạt),thuốc nhuộm.sử dụng các màu tự
nhiên:màu vàng từ nghệ;màu đen từ lá bàng;màu tím từ mực viết pha ra...
-Dệt cần có 2 người cùng làm:một người điều khiển khung dệt còn người kia xỏ
các sợi lác vào khung.Để chuẩn bị lác dệt ,người ta nhổ từng cọng lác(loại dài
tròn),lấy dao gọt bỏ ruột,phơi nắng cho khơ.Sâu đó, nấu nước màu rồi nhúng bó lác
vào nhuộm,phơi khơ 2 ngày.
-Hoa văn truyền thống hoa văn hình:tháp,cánh vng,thoivà nửa hình thoi,có
thể được dệt thành hoa văn chính trên chiếu.
Tuy nhiên ,để đáp ứng nhu cầu thị trường.Họ thay đổi hoặc kết hợp truyền
thống và hiện đại.Chiếu thường in các loại hoa văn như:




Chữ Việt –thường là tên người hoặc dòng chữ tiếng Anh: Happy New
Year ,được dệt giữa chiếu,xung quanh là cá hoa văn truyền thống người
khmer.
Hoa văn :cánh hoa vng,dệt thành chiếu hoa,hình cị ,hình khịi:các
đường thẳng song song,hình tháp...các đừng ziczac..

Tiêu thụ :thực hiện qua mối quan hệ thân quentrng nhà ngồi xóm,sản phẩm có

thể được bán ở chợ hay có người đến tìm mua.Người mua thường là người quen
trong địa phương đến làm đặt để sử dụng trong nhà.Hiện nay chỉ còn khoảng
hai ,ba gia đình dệt chiếu.
8


***Gốm:
- truyền thống làm đồ gốm từ lâu đời. Tiến hành thời kỳ nông nhàn. Hai trung tâm
làm gốm của đồng bào là Tri Tơn và Sóc Xồi (Kiên Giang). Phẩm chất và hình
dạng gốm Sóc Xồi có khác vì đất ở đấy không dẻo bằng Tri Tôn.
-Nguyên liệu:đất sét(mềm dẻo,mịn,chịu nhiệt,kết dính tốt)
**Quy trình:Chọn đất –nhào nặn-vỗ và tạo hình sản phẩm-làm bóng-tạo hoa văn
sản phẩm.Sau đó phơi nắng trên tấm ván để kiệt nước.sau 1 tuần hoặc 10 ngày cho
vào lò đốt nung.
-Kỹ thuật :đơn giản, dựa vào đôi bàn tay của phụ nữ .
-Công cụ :chủ yếu hịn kê,bàn đập, dựa vào đơi bàn tay của phụ nữ, chưa có bàn
xoay,chưa có lị cố định,gốm mộc ,khơng màu.
-Sản phẩm phơi khơ và nung chín ở 600-800 độ. Ngồi các dụng cụ gia đình, sản
phẩm gốm cịn phổ biến là nồi (cà om), các cà rang, bếp lò, các loại trống cúng
thần ..
***Dệt thổ cẩm(lụa khmer):
Dưới chế độ cũ, người khmer từng biết trồng dâu ,nuôi tằm dệt lụa ,dệt
vải.Việc nhập các hàng vải đã bóp chết nghề nuôi tằm, dệt vải, chăn nuôi của người
Khmer. Trước đây làng Lương Hịa – Nguyệt Hóa (Châu Thành – Cửu Long), Cầu
Ngang, Trà Cú… có thể nổi tiếng về ni tằm, dệt lụa .Nhề dệt đã bị mai một cho
đến trước 1975,nghề dệt hầu như Thất truyền.
Ở vùng Tịnh Biên và Tri Tơn, vì đồng bào cịn mặ chăn (Sampơt) nên nghề dệt
rất phát triển. ngồi dệt các loại Sampơt, đồng bào còn dệt các loại khăn tằm, khăn
đội, được người Việt ưa thích. Cũng ở Tịnh Biên và Tri Tôn, đi đôi với nghề dệt là
nhuộm (mặc nưa). Đồng bào lấy trái mặc nưa lúc mới già đem giã nhỏ, quậy với

nước lạnh để nhuộm đen hàng tơ lụa rất tốt vì càng ra nắng lại càng lên màu.

9


Nơi cịn sót lại nghề dệt của người Khmer đó là sóc Tà Kốt, phum Tropeng
Tchâu ( nghĩa là ao sâu) thuộc xã Văn Giáo – Tịnh Biên,cách huyện lỵ 5km trên
dường từ Tịnh Biên đi Tri Tơn. Sóc có khoảng 45 hộ gia đình Khmer, trong đó
khoảng 15 hộ có khung dệt. Ngồi nghề dệt ra, người Khmer ở đây cịn có nghề
làm đường thốt nốt, đóng xe bị, rèn…
+Theo những người Tà Khốt cho biết,trước đây người trong sóc biết trồng
bơng vải trên rẫy,triền núi,trong vườn.Bơng trái thu hoạch được cán bằng xa cán để
loại bỏ hột,se thành con cúi và kéo thành sợi.Sợi bông được hồ bằng bột gạo và
nhuộm màu.Người khmet nhuộm màu bằng lá cây,rễ cây,trái cây với các màu
đen ,đỏ ,vàng



Kỹ thuật nhuộm:dùng các loại thuốc nhuộm theo phương pháp cổ truyền
có nguồn gốc từ thiên nhiên.
 Trước khi nhuộm tơ người dệt định hình sẵn trong đầu những má họa
tiết hoa văn dự định dệt ,rồi mới mắc những lọn tơ thành mành treo
trên cột nhà để phân phối màu.
 Nhuộm bao nhiêu màu đánh bấy nhiêu sợi .Sau đó dùng nilơng buộc
kín thành tùng khúc .Nhuộm xong màu nào ,bó đoạn đó lại và tiếp tục
mở đoạn khúc ra để nhuộm màu khác.Cơng đoạn nhuộm màu cho
mỗi tấm vải thổ cẩm có khi mất cả tháng trời.

Hiện nay,không trồng nhiều vải,nhuộm màu như xưa.Thay vào đó mua sợi
nhuộm sẵn từ Châu Đốc ,Long Xuyên đem dệt.

+ Quy trình nhuộm tơ phức tạp,quy trình dệt rắc rối hơn:



.Các cơng đoạn nghề dệt của người Khmer ở Tà Kốt cũng qua 1 số bước
như: mắc sợi, luồng go, bắt sợi dọc lên khung dệt…
khung dệt của người Khmer ở Tà Kốt đã có từ rất lâu và truyền lại qua
nhiều đời. khổ vải dệt quá rộng từ 80cm hoặc hơn, hệ thống go có phần
phức tạp và được điều khiển bởi hệ thống dây treo kết hợp với bàn đạp
chân. Trục sợi và trục cuộn vải cố định ở 2 đầu, người dệt phải ngồi cố
định ở phần đầu vải đã dệt, thoi dệt khá dài. Kỹ thuật bắt hoa văn cũng có
phần phức tạp…
10


+Nghề dệt của người Khmer ở Tà Kốt, toàn bộ các công đoạn đều do người phụ nữ
đảm nhiệm và hầu như chỉ thực hiện vào thời kỳ nhàn rỗi giữa các hoạt động canh
tác nông nghiệp. Năng suất dệt khá thấp, do kỹ thuật bắt hoa văn đòi hỏi nhiều
cơng phu và sự tỉ mỉ.


Hoa văn :các hình kỳ hà, các đường viện tạo thành dải với một số mảng cách
điệu được lặp lại khá đơn điệu tạo nên những ơ hình thoi… Đáng lưu ý, là
những tấm vải, phần màu nền chủ yếu là màu vàng hoặc sẫm, hoa văn được
khn vào các ơ hình quả trám tạo bởi các đường chéo đan nhau. Những hoa
văn trên vải, rất gần với các trang trí hoa văn thường bắt gặp ở các chùa
Khmer.

+Dệt lụa thổ cẩm để mặc xà rơng hoặc khăn chồng:người khmer sử dụng kỹ thuật
dệt 3 lớp sợi tơ vói 3 màu khác nhau.Loại thổ cẩm này nhìn ngang thấy màu

xanh,nhìn nghiêng bên trái thấy màu cam,nghiêng bên phải thấy màu đỏ.Còn loại
thổ cẩm làm bức họa hoặc khăn trải bàn,do mẫu hoa văn thương phỏng theo các
tích truyện cổ nên kỹ thuật dệt phúc tạp hơn.
+Sản phẩm:các tấm cải dùng làm xà rông cho đàn ông hoặc váy cho phụ nữ, khăn
để địu con…
+ Quy mơ nghề dệt theo từng gia đình và năng suất thấp nên sản phẩm dệt chỉ
để dùng trong gia đình hoặc phum sóc, và các trang phục từ vải dệt này chủ yếu là
để dùng trong các dịp lễ, tết truyền thống của người Khmer ở địa phương.

+Nghề dệt của người Khmer ở Tà K ốt hiện nay đang có chiều hướng suy sút,
số gia đình có nghề dệt cịn không nhiều, và những người biết nghề dệt, biết các kỹ
thuật bắt hoa văn cũng cịn rất ít, phần nhiều là những người già hoặc có tuổi.
***Đặc biệt làm đường thốt nốt cũng khá phát triển và phổ biến.Sản phẩm
đường thốt nốt đóng gói và được người tiêu dùng trong và ngoài nước tin dùng.
-Gắn liền đời sống sinh hoạt của người khmer An Giang.Trồng nhiều huyện
Tịnh Biên và Tri Tơn.
-Loại vây thân cột khơng có cành nhánh,quả kết thành buồng ,lá và hoa mọc
tùng chùm ,lá cây xòe rộng như lá cọ ,tất cả bẹ tập trung ở bẹ,kết thành một khối
11


tán trịn.Thốt nốt có cây đực và cái.Cây đực có bông nhưng không đậu trái,thường
lấy nước thốt nốt từ nhánh bông này.Cây cái cho nhiều trái và nước không
nhiều.Để làm đường thốt nốt ,khơng dùng nước từ quả (vì hàm lượng đường khơng
cao).
Trồng 15 năm thu hoạch ,cao trùng bình 15 m.Dịch thốt nốt cho liên tục được 4
tháng ,rồi ngưng chảy.Cây sẽ ra hoa mới.Mỗi cây,mỗi lưa cho trên dưới 50 trái.Chờ
1 tháng bắt đầu thu hoach tiếp,cứ khai thác đến bốn, năm chục năm.
Quy trình:
+Lấy dịch thốt nốt (muốn thế phải trèo lên tận ngọn ,dùng cây tre buộc vào thân

cây)và cât mặt bông thốt nốt và hứng những giọt nước rỉ ra từ vết cắt mang về nấu
đường.Nước của cây đem về ,chủ lò (lò nấu đường bằng gạch,bên ngồi tơ đát sét
trộn với trấu rất bền.Họ đun lửa bằng trấu hay lá cây bạch đàn..)
+ Đổ vào chảo ,nổi lửa nấu đến khi cô đặc,trở về màu vàng tươi ,đỏ ra cho
nguội đóng thành cây hoặc lấy lá thốt nốt bao quanh rồi mang đi bán.
+Nước thốt nốt để qua 12 tiếng là hư nên mỗi ngày thợ lấy nước treoc lên cây
bốn dến năm lần.Leo lên hàng trăm cây mỗi ngày rất nguy hiểm.Mỗi cây chỉ cho
khoang 20kg/mùa.Đường thốt nốt có mặt trên thị trường theo mùa:từ tháng 10 năm
trước đến tháng 4 năm sau.
Vị đường thốt nốt khơng ngọt gắt như đường mía,mùi thơm,vị béo đậm đà khó
qn.
Ngồi ra lác đác ở nơng thơn khmer cịn một số nghề:thợ nề,thợ mộc,nghề rèn,
đóng xe bị,lấy phân rơi,làm nghề ăn ong(lấy mật và sáp)… Nhìn chung, những
nghề nàycó quy mơ nhỏ theo từng gia đình, cịn các sản phẩm thủ công khác, chủ
yếu là để đáp ứng nhu cầu gia đình, phum sóc, kỹ thuật sản xuất mang tính cổ
truyền, năng suất thấp.Ở thị trấn cịn một số ít thợ bạc làm vật dụng như:ơ trầu ,hộp
thuốc,đồ nữ trang và câc bình bằng bạc.
3.

Săn bắt và hái lượm

**Đánh cá:

12


-Người Khmer ở vùng sông rạch hay biển như Long Toàn (Cửu Long), Vĩnh
Châu, Giarai…đã sử dụng những kỹ thuật đánh bắt cá nước ngọt và nước mặn. Rất
ít người Khmer sống nghề chài lưới trên biển tuy cũng có 1 số gia đình chung lưng
hùn vốn mua thuyền và lưới đánh cá.

-Kỹ thuật đánh bắt cá sông, cá đồng của người Khmer cũng như các ngư cụ:
lưới, đăng, đó, giống với người Việt ngoại trừ các xaneng. Trên sông Hậu, sơng
Tiền phần nhiều dùng lưới và giăng câu.Cịn cá sơng nhỏ .kênh rạch :dùng vó,lờ
.xiên....Cá kiếm được cải thiện bữa ăn hoặc dư thừa mang ra chợ bán hay làm
khơ.Nhiều loại dùng làm mắm(mắn bị hóc)-món ăn độc đáo của dân tộc.
**Ngồi ra cịn có sự khai thác lâm thổ sản trong rừng
4.

Thương nghiệp

-Dưới chế độ cũ ở nông thôn Khmer đã xuất hiện ở 1 vài quán bán buôn bán lẻ.
Số người Khmer sống về nghề buôn bán rất ít, phần nhiều là những người sống ở
các thị trấn và thường có quan hệ với người Hoa. Từ sau ngày giải phóng, số người
Khmer bị dồn về các thị trấn, thị xã sống tạm bằng dịch vụ nay càng giảm bớt, họ
trở lại nông thôn hoặc làm nông nghiệp ven đô.
-Dođặc điểm là vùng sông nước cư trú ven sông,ven kênh,và con rạch nhỏ nên
khu chợ nổi cũng là nơi trao đổi không thể thiếu của người Khmer:
**Chợ nổi:
+Chợ nổi bán tất cả hàng hóa, người dân thường đi ghe, thuyền buôn bán với
nhau trên mặt sông. Từ đó hình thành nên chợ nổi. Chợ nổi thường họp ở các ngã
ba sơng. Đó là nơi sơng khơng q rộng và quá sâu, thuận tiện cho việc neo đậu
thuyền
họp cả ngày: Đi chợ nổi phải đi thật sớm, từ lúc mới rạng đông đến gần trưa, nhất
là vào buổi sáng, khi trời cịn mát,nắng cịn dùi dụi, đơng nhất khoảng 8 - 9 giờ
.Mặt trời lên cao, bắt đầu nắng gắt, là chợ vãn khách .
+Hàng hóa chủ yếu là trái cây miệt vườn, các loại rau.... bán thực phẩm, quà bánh,
đồ ăn, cà-phê, giải khát, thuốc chữa bệnh, sửa chữa các loại dụng cụ... và mỗi 1
thuyền buôn đều treo hàng hóa bán trên 1 thân cây cột buộc đầu thuyền. ,thường
bán bn hàng hóa đụng trong sọt lớn.Thuyền cịn là nơi cư ngụ của các gia đình
thương lái ở trên đó. Mọi sinh hoạt đời sống đều diễn ra trên thuyền

13


+Trước mỗi mũi ghe, người ta thường cắm hoặc gác ngang một cây sào dài, bên
trên treo lủng lẳng những hàng hóa mà chủ nhân muốn bán. Ai bán loại trái cây gì
thì cắm một cái sào trên mũi thuyền và treo sản phẩm mình muốn bán lên cái sào
đó để mời gọi bạn hàng - còn gọi là "treo bẹo" hay "bẹo hàng".Tức là quảng cáo
hàng tại chỗ. Người mua cứ nhìn cây "bẹo" đó, từ xa biết để cặp thuyền đến thỏa
thuận bán mua mà chẳng cần phải hỏi thêm.
Hiện nay, ở chợ nổi có những hình thức “bẹo hàng” hiện đại hơn như những bảng
hiệu, hộp đèn, áp phích, băng rơn của các ghe hàng...
II.

-

-

-

-

VĂN HĨA XÃ HỘI
Tổ chức xã hội và thiết chế làng bản
1, Tổ chức cộng đồng của ng Khmer là Phum và Sóc( Srốc), Phum và Sóc là
những đơn vị xã hội, hình thái cư trú của ng Khmer đc hình thành và sáng tạo trong
quá trình khai phá và định hướng NB
Phum trong tiếng Khmer đc quan niệm tương tụ như làng, xóm của ng Việt. Trong
tiếng Khmer “Phum” có nghĩa là đất, thổ cư, hay vườn tổng hợp của gia đình trên
đất ở, Phum có thể có ranh giới tự nhiên, mức độ tập trung các nhà trên một Phum
k cố định, có Phum chỉ có một nóc nhà, có Phum là nơi cộng cư của vài ba gia đình

cùng huyết tộc, thơng thường là gia đình là ng cha và các con của ơng, và những
gia đình nhỏ của con gái ơng ta, song cũng có Phum lớn có cả trăm gia đình thuộc
nhiều dịng họ khác nhau, nhưng k mấy khi quy một ấp thành một đơn vị hành
chính
Mỗi Phum đều có tên riêng thường lấy tên ng sáng lập rap hum, như phum Tả,
Phum Đon…
Việc quản lý các Phum do một “mê phum” đảm nhiệm, đó là một ng đàn ơng, đàn
bà lớn tuổi có uy tín và thuộc vai lớn trong dòng họ. Mê phum chịu trách nhiệm đại
diện cho các thành viên trong phum lo điều hành quan hệ của Srốc trong phum liên
quan đến tôn giáo tín ngưỡng
Phum là dấu vết của nơng xã nơng thơn mang tính chất sinh hoạt tự quản của cộng
đồng, vừa có quan hệ huyết thống vừa có quan hệ láng giềng. Srốc, sóc trong tiếng
khmer có hàm nghĩa khá rộng ngoài việc chỉ một địa vực cư trú tương đương với
làng bản, sóc có nghĩa là quê hương, xứ sở, sốc trước đây tương đương với đợn vị
huyện
Các Srốc lâu đời thường có lũy tre bao bọc hoặc hàng rào cây gai dày đặc, giữa
srốc là đường đi rộng, nhà của thường dọc theo đó
14


-

-

-

-

-


-

-

-

-

-

Mỗi Srốc thường có một ngơi chùa , tên gọi của Srốc thường trùng với tên giồng
đất cư trú, nếu nhiều Srốc tên gọi tính theo vị trí ở giồng (Srốc giữa kaldal, Srốc
đông…)
Việc quản lý Srốc đc giao cho một số người đứng đầu gọi là chủ Srốc
“Mesrok”( mẹ sóc) tập trung trong “ ban quản trị” những ng đứng đầu các phum
lựa chọn và đc quần chúng ủng hộ
Ban quản trị bầu ra các Mesrok là ng đàn ng đàn ơng lớn tuổi biết phong tục có uy
tín cao, ban quản trị có nhiệm vụ trong cơng việc nội bộ, quan hệ bên ngoài Srốc
với nhà chùa
Quan hệ giữa các thành viên trong Srốc mang tính bình đẳng thương yêu và giúp
đỡ nhau thành viên có trách nhiệm chấp hành các quy định tập tục truyền thống
đoàn kết trong Srốc, tự giác đóng góp phục vụ đối với nhà chùa qua đó cộng đồng
đánh giá
Srốc là đợn vị kinh tế- xã hội đọc lập đóng kín trong xã hội cổ truyền, hiện nay mê
phum, mê sóc chỉ các chức vụ ấp trưởng, xã trưởng mà bộ máy của bộ máy cũ
chụp lên
Người khmer đặt tên con theo lối “phụ tử liên danh” lấy tên của cha đặt làm họ
cho con cái hoặc dùng từ “chau”( chàng, nàng) và “neang”( nàng/nữ)
2 Giai cấp và thành phần xã hội:
Nông dân là giai cấp chiếm đa số ở vùng nông thôn có cơng khai phá ĐBSCL tư

liệu sản xuất chính là ruộng đất, chỉ có số ít đất đai thuộc quyền sở hữu của họ, có
hai tầng lớp là: trung nơng và bần nơng
+ Trung nơng là những ng có ruộng đất từ 5-10ha/1 gia đình
+ Bần nơng là tầng lớp k ổn định, ln bị phân hóa chiếm tỉ lệ khá đơng 65%
Một số k có ruộng phải sống bằng làm thuê mướn cho qua ngày là tầng lớp cố
nông
Địa chủ: bóc lộ nơng dân bằng địa tơ, mức địa tô phụ thuộc vào từng vùng, từng
thời kỳ, chiếm 70% thu hoạch, ng nông dân khmer vùa là tá điền vừa là con nợ của
địa chủ
Phú nơng: hình thành thời Mỹ họ là trung nông lớp trên, nhờ làm ăn phát đạt tích
tụ ruộng đất, trâu bị, cơng cụ máy móc và th nhân cơng làm th kiếm lời. Họ
bóc lột bằng hình thức “th mướn nhân cơng nơng nghiệp” và sản xuất nơng sản
mang tính hàng hóa
Tầng lớp sư sãi: gồm các bộ phận sư sãi và các tín đồ PG đang tu hành tại các
chùa, hệ thống chùa chiền tạo ra tầng lớp sư sãi khá đông đảo, họ họp thành giáo
15


-

-

-

-

-

-


-

phái riêng có tổ chức quản lý chặt chẽ. Tầng lớp sư có vị trí đặc biệt quan trọng
trong xh khmer do ảnh hưởng của PG
Tầng lớp tri thức: những ng am hiểu giáo lý PG các chức sắc sư sãi đã hồn tục,
giáo viên nơng thơn các vị Acha là ng thơng hiểu tập tục văn hóa khmer
Các saha, maha có kinh nghiệm về sản xuất nơng nghiệp dự đoán thời tiết gieo
trồng, chọn giống, tri thức khmer gắn liền với nông thôn với sản xuất nông ngiệp
đc nông dân quý mến kính trọng
3, Thiết chế làng bản:
Phum là thổ cư trên đó gồm các căn nhà của vài gia đình có quan hệ huyết thống
hay quan hệ hơn nhân với nhau, thường là nhà của người cha, gđ các con gái của
ông, gđ bà con bên mẹ nếu có
Phổ biến trong các phum nhỏ này cũng có những ng đứng đầu gọi là mêphum,
những ng này k có vai trò tộc trưởng, k cần ng ở vai bên trong 1 gđ mà ng có khả
năng và uy tín, mê phum, mê sóc là những ng già cả có kinh nghiệm uy tín đc dân
chúng bầu lên để trơng coi phum sóc
Gia đình nhỏ là hình thức phổ biến ở vùng khmer mặc dù vẫn tồn tại loại gđ lớn
gồm 3,4 thế hệ sống chung trông các phum nhỏ
Đứng đầu gia đình nhỏ là ng chồng hay ng cha, ông ta là ng thay mặt gđ giao dịch
với bên ngồi, tuy nhiên trong nội bộ gia đình vai trị của ng đàn ơng k có gì nổi
bật, ơng ta phải tham khảo ý kiến của vợ và vẫn đc sư đồng ý trong việc chi tiêu
mua bán, lễ lạt và cả đi tu nữa, ng phụ nữ khmer cũng chia sẻ ới chồng trong mọi
lao động vợ là thủ quỹ chính của gia đình
Số con trung bình hiện nay của gia đình khmer là từ 5-6, quan hệ giữa cha mẹ và
con cái cởi mở và nhẹ nhàng, trong gia đình k có thành kiến phân biệt trai gái, con
gái chịu nhiều ràng buộc vì gia đình là nơi duy nhất và trực tiếp dạy dỗ họ, con trai
thường đc giao phó cho nhà chùa rèn luyện thêm theo quan điểm của PG
Thừ kế tài sản k có sự phân biệt giữa bên cha và bên mẹ, giữa con trai và con gái,
ngoài tài sản chung sau khi kết hơn vợ chồng đầu có quyền có tài sản riêng về đất

đai cũng như các lạo tài sản khác do cha mẹ cho, khi ly dị tài sản của ai ng nấy giữ
tài sản chung chia đều, vừa thừa kế tài sản cha và mẹ đều có quyền để cho con,
phần con k phân biệt trưởng thứ, trai gái đc hưởng như nhau
Hôn nhân một vợ một chồng là phổ biến, trường hợp đa thê cũng say ra ở Tầng
Lớp giàu có nhưng k phổ biến, hơn nhân con cơ cậu, con chú, bác, con dì đều đc
chấp nhận, có hiên tượng an hem chồng và chị em vợ

16


-

1.

1.1.

Hơn nhân thường do cha mẹ sắp đặt và có sự thỏa thuận với con cái nguyện vọng
của con cái đc cha mẹ quan tâm, có tục ở rể bên nhà vợ trước lễ cưới 1 thời gian
để bù lại chi phí vào lễ cưới do nhà vợ đảm trách
trong quá trình cư trú và phát triển bên cạnh sự giao lưu và tiếp biến với các
dân tộc xung quanh. Dân tộc Khmer vẫn giữ được bản sắc riêng. Nét đặc sắc của
văn hóa Khmer thể hiện qua phong tục tập quán, lễ hội , cách ăn mặc, nhà ở, dụng
cụ sinh hoạt, sản xuất, cùng nhiều loại hình văn hóa truyền thống, loại hình sân
khấu cổ điển như Rơ Băm, Dù kê,...Trang phục của người Khmer thể hiện sự ứng
xử của con người với moi trường tự nhiên, nét văn hóa tộc người và tín ngưỡng,
bảo lưu nhiều yếu tố văn hóa tộc người, song bên cạnh đó cũng có sự tiếp thu với
các tộc người xung quanh.
III. VĂN HÓA VẬT CHẤT
Kiến trúc dân gian
Kiến trúc dân tộc khơ-me

Kiến trúc dân gian của các tộc người là các công trình về nhà ở, cơng trình
tơn giáo, cơng trình cơng cộng, thành qch, cầu cống, cơng trình phụ…được tạo
ra từ vật liệu tự nhiên, nhân tạo, bằng kỹ thuật thủ công với tư duy kỹ thuật của các
tộc người.
Nhà cửa của người khơ-me
Cũng như nhiều tộc người nhóm ngơn ngữ khmẻ khác, người khmer ở đồng
bằng sông Cửu Long trước đây ở nhà sàn làm bằng gỗ, tre, nứa, dừa nước…Ngày
nay nhà sàn Khmẻ cịn lại rất ít ở Tri Tôn, Châu Đốc ( tỉnh An Giang). Trước đây
sau khi cưới, chú rể về cư trú với vợ trong ngôi nhà sàn do anh ta dựng tại “phum”
của cha mẹ vợ. Nhà được làm trên nền các “đất giồng duyên hải”. Nhà hiện nay
chủ yếu là loại một gian ( Katan mui lờ quên), hai gian, ( Katan pê lờ quên), ba
gian (Katan bây lờ quên). Nhà ai gian và ba gian được một gian.
Nhà của người khmẻ có hai loại: nhà mái lá, nền đất và nhà xây. Loại nhà lá
nền đất có các loại cỡ nhỏ và cỡ lớn
Loại nhỏ phổ biến của đại đa số nông dân khmer ,một gian (rộng 3m,dài
5m,cao 2,5m , có 6 cột : 2 lớn, 4 nhỏ, 3 kèo, 18 đòn tay ), dùng lạt dừa buộc kèo và
cột, mái thấp, vách không cửa sổ nên bên trong rất tối…..loại lớn là của nơng dân
có mức sống khá hơn ( kbhung nhà có kích thước rơng 8m × dài . 12m × cao
4,5m), phía sau gian chính thường nối them bgian phụ để tăng diện tích sinh hoạt,
trổ cửa sổ. Đóa là loại nhà 2 mái lợp vây quanh bằng lá dừa nước (nipa pructican)
…Loại nhà xây là nhà của tầng lớp trung, phú nông khmer khá giả ở thị xã, thị
17


trấn, nhà có kết cấu khung kích thước rộng (10m× dài 15m × cao 6m), nền gạch, xi
măng, tường ván , gạch xây, mái ngói, tơn… Nhiều bộ vì kèo nhà khơ-me có trạm
trổ mơ típ chày cối… Dù nhà lớn hay nhỏ nét bày trí cơ bản giống nhau.
Cột nhà là yếu tố chính trong ngơi nhà khmer, do vậy khi chọn gỗ, đào lỗ
dựng cột, lễ nghi khi dựng cột … được coi trong. Khi ăn mừng nhà mới, người
khmer mặc y phục cột chỉ trắng cho cột cái, hoặc cột vòng hoa tươi vào tay chủ

nhà. Họ quan niệm cột cái quan tọng như vai trò của người đàn bà trong chế độ
mẫu hệ xưa. Nhà trên là nơi tiếp khách và sinh hoạt tín ngưỡng, nhà kho là nơi để
các công cụ sản xuất và các đồ dùng khác.
1.2

Cơng trình tơn giáo.
Chùa là trung tâm sinh hoạt tôn giáo xã hội và là quần thể kiến trúc quan
trọng trong các điểm cư trú của người khmer. Chùa được xây cât ở vị trí trung tâm
và trang trọng nhất của phum, sóc. Ngơi chính diện ( vihia) của chùa luôn quay về
hướng đông theo lối kiến trúc có hành lang rộng 4 phía theo kiểu “cấp mái”. Mái
chính thường lợp ngói sơn màu đỏ, vàng và lục nhạt. Mỗi cấp mái nhà 3 nếp ( nếp
giữa cao và dốc hơn 2 bên). Chỗ giao tiếp cái nếp ( mái và hồi) thường có các mơ
típ rồng, rắn trang trí. Chính diện là nơi thờ phật Thích Ca và tiến hành các nghi
thức tơn giáo. Phía sau hoặc hai bên chính điện có các nhà “Sala” thường được xây
dựng dưới dạng nhà sàn – nơi chứa kinh Phật, nơi các sư sãi học tập, sinh hoạt, tiếp
khách, nới tínđồ trong sóc đến cúng bái, hội họp, vui chơi…Khn viên chùa cịn
có một số chịi nhỏ ( tóp hoặc liêu ) được cất theo kiểu nhà sàn ( diện tích 2m ×
3m) làm nơi cho các nhà sư ở trong mùa “nhập hạ”; có tháp đựng cốt (pichet đây)
theo kiểu bát giác, trên đỉnh chạm đâu thần 4 mặt “Maah prum”. Sau khi hỏa táng,
cốt được gửi vào tháp này. Khn viên chua cịn có tháp Chiên Xúc ( Tì bái xá).
Có chùa xây tháp thiêu xác rất đồ sộ và mang tính mỹ thuật như chùa Phướn ( thị
xã Trà Vinh), có chùa xây rất đơn giản như chùa Bãi Xào Rơi ( huyện Trà cú, Trà
Vinh).
Tín ngưỡng dân gian khmer trong khuôn viên chùa là những miếu thờ Neaktà
( thò các hòn ốc) hoặc làm các nhà sàn nhỏ bằng tre lá đơn sơ ( tóp xăm lathí) để
tín đồ ngồi vào đó tượng niệm về kiếp trước của mình…nhiều chùa cịn có nhà để
Ghe ngo của Phum, sóc để dùng, trong dịp đua vào dịp tết cúng trăng ( ok om bók)
hằng năm. Nghệ thuật dân gian Khmer một phần lớn được biểu hiện tập trung ở
lối trang trí, kiến trúc ngơi chính diện của các chùa. Nghệ thuật trang trí ở chùa
Khơ-me thể hiện rõ sự un thâm, hình tượng hóa những mơ típ động vật thần

18


thoại ( thần thoại Balamon giáo, phật giáo và tín ngưỡng dân gian) qua nghệ thuật
điêu khắc, vẽ tranh lịch sử nhà phật lên tường bên trong các ngôi chùa…
Kiến trúc và trang trí kiến trúc khmer biểu hiện trong nhiều loại cơng trình,
song tập trung nhất là ở kiến trúc tôn giáo – chùa, tháp. Kiến trúc và trang trí chùa
khmer là tổng thể khơng gian ngoại thất và nội thất, của kỹ thuật xây dựng, nghệ
thuật điêu khắc, trang trí kiến trúc. Ngơi chính diện của chùa thường xây trên nền
cao 2,3 cấp. chính diện là cơng trình trung tâm trong khn viên chùa. Mái chính
diện lợp ngói theo kiểu 3 cấp mái, mỗi cấp lại chia làm 3 nếp, nếp ở giữa được
nâng cao hơn 2 nếp bên. Cấp mái thứ nhất dốc khoảng 600, cấp mái ở giữa và cấp
mái dưới thoải hơn, tạo ra vẻ nhẹ nhàng của kiến trúc. Cấp mái so le nhau tạo nên
vẻ hài hịa trong kiến trúc chùa. Các góc mái của chính điện khơng cong mà là các
góc thẳng được bổ sung bức phù điêu hình rồng, hoặc hoa lá dạng “sừng uốn cong”
hoặc “ đuôi rồng” làm cho kiến trúc mái mềm mại hẳn đi. Đuôi rồng trơn cao đến
2m uốn ngược lên trên. Bờ mái là than rồng với các vây lưng được tỉa rõ từng
chiếc.Đầu rông thường gắn với vị trí các góc đao của mái ln trong tư thế ngóc
lên từng đơi một. Rồng từng được trang trí trên mái và các cột cái trong chính điện
của chùa. Các cột cái có hình rơng cuốn giống mơ típ rồng của người Kinh thế kỷ
XIX. Rồng là con vật thiêng trong Phật thoại đã biến thành thuyền để đưa đức phật
vượt biển tới các nơi để thuyết pháp, truyền kinh, cứu độ chúng sinh. Người
Khmer trang trí hình rồng trên mái là để mong đức phật dừng lại ngơi chùa của
mình để che chở cứu giúp cho phật tử nơi đó…trên các nếp mái một số chỗ cịn
được trong trí những chiếc ghe ngo đang đua bơi. Tại các đầu dốc của mái trên
cùng thường bịt bằng gỗ hoặc xây kín và thường được trang trí hình Bồ tát chắp
tay ngồi trên tịa sen ở vị trí trung tâm, quanh đó là hình chạm trổ hoa dây… về cở
bản phong cách kiến trúc và trang trí mái chùa Khơ-me là vậy, song tưng chùa tùy
thuộc vào điều kiện cụ thể lại có lối trang trí khác đi đơi chút.
Chùa khmer do bố trí nội thất nơi thờ ở một phía và phần dành cho phật tử

làm lễ rộng, thoáng hơn nhiều so với các chùa của người kinh. Kích thước của
chính điện ln tn thủ ngun tắc: chiều dài phải gấp đôi chiều ngang, chiều cao
bằng chiều dài, kể cá trong các diện tích của khung cửa nhà ở và điện thờ. Chính
điện ln có 2 cửa chình trơng ra hướng đơng và cửa chính trơng ra hướng tây
cùng với 7 cửa sổ trông ra hướng nam và 7 cửa sổ trông ra hướng bắc. Hiện nay
trong q trình xây dựng 1 số chùa khơng hồn tồn tn thủ ngun tắc đó mà có
sự biến đổi chút ít. Chính điện có hành lang ( Chời tiên) bao quanh và luôn quay về
hướng đông theo triết lý đức phật từ phương tây quay về hướng đông để ban
19


2.

phước. Khi chính điện xây xong phải làm “lễ khánh thành” ( bầy chôi xây ma) một
cách trang trọng với sự tham gia của sư sãi trong chùa và chùa lân cận, cùng bà con
phum, sóc đến tụng kinh. Trong lễ khánh thành có việ phải đào 8 hố xung quanh
nền chùa về 8 hướng và dựng mối hố 1 vị bò tát được tạc bằng đá với nghĩa định vị
địa giới và trấn giữ “ ma quảy” không được xâm phạm vào khu chính điện của
chùa…
Cơng trình xây dựng tiếp theo trong khuôn viên chùa thường là ngôi tháp
tương đối rộng để cho thiêu thi hài của các tín đồ phật tử (xá lị). Do vậy việc quyên
góp kinh phí để xây dựng ngơi tháp này được các tín đồ tự giác tích cực đóng góp.
Tháp đựng cốt và một số tháp khác trong chùa thường có thần 4 mặt, đầu đội mũ
tháp nhọn cao vút.Trong khuôn viên chùa cịn có một số ngơi nhà khác ( kol riêng)
làm nơi ở cho các sư sãi; hoặc nhà dùng làm trường học. Nhà thiêu thi hài, nhiều
chùa xây cất và trang trí rất cơng phu.Cổng chùa cũng được xây cơng phu, “đồ sộ”
sát đường cái với nhiều phong kỹ thuật và trang trí khơng hồn tồn giống nhau.
Trang trí bên ngoài chùa thường là các tác phẩm phù điêu, tượng tròn dâo
gian với những đề tài gắn với triết lý sống của cộng đồng. Mơ típ phổ biến là hình
tượng của rồng, tiên nữ hình chim (tếp pro nam), chim thần ( garuda hoặc Na ha

krut), vũ nữ - chim ( kây no), “chàng” ( yak), thần đất (hêng prô ất thơ ni), linga.
Trên các đường đi trong phum, sóc nhất là ở các ngã 3, ngã 4 cịn có các chịi
gọi là Thala được làm 4 mái vng khơng vách. Thala được sử dụng như nhà công
cộng để cúng tế, hội họp nghỉ chân cho người đi đường hoặc làm chợ nhỏ trong
phum sóc.
Trang phục của người Khmer
2.1 Y phục người Khmer
a, Y phục của phụ nữ người Khmer
 Y phục hằng ngày
Do đặc điểm khí hậu vùng Nam Bộ thường xuyên nắng nóng, nên người
Khmer chọn chất vải mềm, mỏng để may y phục. Theo các cụ già kể lại trước đây,
phụ nữ thường mặc váy (xà rông) áo bà ba đen và quàng khăn rằn.
Khăn được làm từ vải sợi bơng, dài trung bình 180cm, rộng 75-80cm. Khăn
có nhiều loại khác nhau song phổ biến 2 loại: loại khơng có hoa văn thường có
màu trắng, và loại có hoa văn (thơng thường hoa văn là đường kẻ dọc và ngang
với màu sắc khá đa dạng như đỏ, đen, trắng). Đầu khăn dệt kẻ ô vuông.
Khác với các tộc người cùng cư trú, khăn của người Khmer ít dùng để cuốn
lên đầu mà thường là vắt xuôi hoặc vắt chéo ở vai. Khi vắt chéo ở vai khăn được
vắt từ nách vắt sang lên vai trái rồi luồn qua nách phải, một đầu khăn cuốn lên phía
20


ngực và một đầu khăn được thả sau lưng trái. Kiểu khăn này cũng rất phổ biến ở
phụ nữ Nam Bộ. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là kiểu khăn truyền thống của
phụ nữ người Khmer, sau đó được người Kinh tiếp thu và trở thành vật dụng truyền
thống.
Áo của người Khmer có 2 kiểu thơng dụng là kiểu áo dài và áo ngắn:
Áo dài (áo quyện, áo giây) : Đây là kiểu áo dài chui đầu, may bít tà, không
xẻ nách, không cài cúc ở thân áo. Từ cổ đến gấu áo dài trung bình 100cm, tay áo
khoảng 50cm. Áo thường may bằng vải hoa màu đen gọi là vải xăng đầm (vải Mỹ

A). Áo có các bộ phận : tay áo, cổ áo, thân áo, bông hoa trên tà áo, nút buộc. Đây
là áo cổ truyền của đông bào Khmer vùng Trà Vinh. Loại áo này sử dụng trong
ngày thường gọi áo giây, khi sử dụng trong đám cưới gọi là áo quyện. Trên áo
thường là các dạng hoa văn có cây, hoa quả như hình bơng sen, bắp ngô, cành
hoa...
Hiện nay, thường ngày loại áo này ít được sử dụng, phần lớn phụ nữ có tuổi
người Khmer ở trà Vinh mặc bộ bà ba đen giống phụ nữ người Kinh, các cô gái
mặc áo cánh hoa hoặc áo sơ mi, nhưng có thể nói áo quyện là một trong những y
phục được lưu giữ khá lâu dài và được mặc trong lễ hội và trong đám cưới của
người khmer.
Áo ngắn được may bằng vải phin, dạng cộc tay, cổ vng, rộng, áo may chít
nách và hơi xịe rộng ở phần gấu
Váy (xà rơng) thường là một mảnh vải thổ cẩm rộng 100-350cm. Nền vải
màu có in nhiều họa tiết hoa văn đẹp, trong đó, mơ típ hình thoi là chủ đạo. Ở đài
và gấu thường có các đài hoa văn chạy theo hàng ngang với 9 chữ thập đối xứng
nhau, tượng trưng cho các ngôi sao trên trời. Trên thân váy trang trí 4 đài hoa văn
chạy theo lối băng ngang, cách đều nhau 16cm với mơ típ hoa văn kiểu chân đèn
và các vì sao cách điệu.
Phần gấu váy là mơ típ hoa văn chân đèn cách điệu chạy xung quanh. Bên
cạnh chân đèn là họa tiết hình sao.
Cạp váy có trang trí ơ hình tam giác, hình tháp nhọn màu đen. Kiểu váy này
được mặc trong các ngày lễ hội và ngày cưới, ngày thường người Khmer rất hiếm
khi mặc.
Người Khmer sử dụng kỹ thuật nhuộm truyền thống là ikat và batik để vải
vóc, lụa óng có màu sắc khơng phai.
Phụ nữ thường mặc váy, áo đẹt bằng sợi tơ tằm hay sợi bông, có dệt chỉ kim
tuyến với các loại hoa văn khác nhau. Điểm nổi bật trên trang phục lễ hội truyền
thóng của người Khmer là mơ típ trang trí đính hạt cườm hay kim sa sáng loáng
21



kết hợp với hoa văn tinh xảo. Thêm vào đó là gam màu sặc sỡ làm tăng thêm vẻ
đẹp cho người mặc y phục.
Tùy vào khung cảnh: ở nhà, lên chùa Phật hay về nhà chồng, trang phục của
người Khmer cũng khác nhau. Trong dịp tết cổ truyền năm mới (Chôl chnăm
thmây) hay vào dịp tết Nguyên đán của người Kinh, cô gái Khmer bao giờ cũng
mặc những bộ váy áo đẹp nhất, kèm theo đó là nhiều đồ dùng trang sức đẹo mắt
rộn rã cùng nhau lên Chùa lễ Phật hay tập trung ở bãi nào đó trong phum sóc để
hẹn hị tìm hiểu nhau. Chiếc váy điển hình nhất là xăm pốt chân khen, váy quấn từ
một tấm vải rộng quanh thân từ hông ngang đùi phần vải phía sau luồn giữa hai
chân dắt lên phí trước cạnh hông, tạo thành chiếc quần ngắn, rộng. Họ mặc xà rơng
có đính chuỗi hạt cườm ở cạp cùng với chiếc áo dài dệt bằng tơ tằm, sợi bông hay
chỉ kim tuyến với các loại hoa văn khác nhau màu trắng hoặc màu vàng là chủ đao.
Mầu vàng còn là màu chủ đạo trong trang trí kiến trúc tơn giáo truyền thống, đặc
biệt là chùa của Phật giáo tiểu thừa.
Hiện nay thường ngày người phụ nữ Khmer mặc áo dài, quấn xà rông. Phụ
nữ Khmer ở giáp biên giới VN cà Campuchia như ở Hòn Đất, Kiên Lương, Hà
Tiên ở tỉnh Kiên Giang thường mặc các loại áo, váy, khăn in hoa lá sặc sỡ mua từ
Campuchia. Để đơn giản trong sinh hoạt thường ngày người Khmer mặc bộ trang
phục giống người Kinh Nam Bộ. Vì vậy có thể nói, trang phục của người Khmer
chịu ảnh hưởng nhiều luồng giao thoa văn hóa, từ đó dẫn đến biến đổi trong trang
phục tộc người
 Y phục truyền thống của cô dâu
Trong ngày cưới trang phục truyền thống của cô dâu bao gồm:mũ, dây buộc
tóc, dây buộc trán, dây đeo cổ, khăn quàng vai, áo dài, váy, dây buộc cổ tay, yếm...
Mũ cô dâu trong ngày cưới gồm 2 phần: phần dưới được làm vải đỏ. Trên
nền vải đỏ được xếp thành nhiều lớp giấy, xung quanh đính kín các hạt cườm và
những bông hoa nhuộm nhiều màu. Cuối cùng là các tua cườm bằng nhựa dài
khoảng 3cm treo ở xung quanh.
Phần trên cao khoảng 10cm là những cánh hoa cắt bằng giấy bìa cứng ghép

lại. Trên những bơng hoa đều đính các bơng hoa bằng nhơm mỏng xung quanh
trang trí giấy màu và các hạt cườm đủ màu sắc.
Mũ được mở ở phía sau gáy. Khi đội họ buộc dày lại để mũ nằm chắc chắn
trên đầu.
Dây buộc tóc được làm bằng một dải màu đỏ có độ dài khảng 17cm, rộng
1,5cm. Trên dây người ta đính 4 bơng hoa màu đỏ, 3 hàng cườm dẹp và dây hoa
22


văn bằng cánh một loại côn trùng màu đỏ thẫm. Dây buộc tóc dùng để buộc tóc ở
phía sau gáy.
Dây buộc trán dài chừng 40cm. Đây là 1 dải vải ghép cho dày, nền đỏ. Trên
dải đỏ trang trí hoa văn bằng những chuỗi hạt cườm dẹp, hai đầu dây đính những
chuỗi hạt cườm hình ống.
Dây đeo cổ làm bằng một miếng vải đỏ, dài 28cm, rộng 2,5cm. Trên đó
người ta đính 3 hàng hạt cườm nhựa dẹp, ở cuối hàng cùng đính các dây cườm nhỏ
có đủ màu sắc xanh, đỏ, tím, vàng. Điểm giữa của dây đeo được gắn một bông hoa
kim loại màu vàng. Dây đeo cổ dùng trang trí ở cơ cơ dâu cho thêm phần trang
trọng.
Khăn quàng vai khoảng 100cm, rộng 25-30cm. Khăn làm bằng vải lụa hoa
với kỹ thuật khâu tay. Trên mạt khăn đính tua màu vàng đính hạt cườm xung quanh
khăn.Ở trung tâm trang trí 2 vịng trịn bằng chỉ thêu màu xanh và đính hạ cườm
dẹp. Khăn dùng để vắt từ vai trái qua nách phải sau khi đã mặc váy áo
Áo cắt may bằng vải dài hơn 100cm, nách rộng 50cm, được may theo kiểu
áo dài, bít tà, thắt bó sát thân trên và hơi xòe ở phần dưới. Cổ áo tròn kiểu chui
đầu, dùng dùng cúc cài mà dùng khóa mở phía nách phải. Tay áo rộng vừa phải,
cửa tay còn được đơm 1 cúc bấm, khi mặc xong cơ dâu bấm cúc lại để táy áo bó
sát cổ tay, làm nổi rõ cánh tay thon thả.
Yếm được làm bằng tấm vải đỏ hình trái tim, mở và cài cúc ở phía sau gáy.
Khi đeo yếm người ta đeo lên cổ rồi bấm cúc lại cho chặt. Trên mặt yếm đính

những hạt cườm dẹp và hạt cườm hình ống đủ màu sắc. Xung quanh mép yếm đều
được thêu chỉ màu xanh gấp khúc và đính kín các hạt cườm hình ống.
Dây buộc cổ tay của cơ dâu trong ngày cưới gồm 2 dây vải đỏ, mỗi dây dài
17cm, rộng 1,5cm. Trên mặt dây người ta trang trí 2 vịng dây kiểu xà tích màu
vàng, ở giữa là hạt cườm dẹp và hạt cườm hình ống dẹp bằng nhựa. Ngời ra trên
mặt day cịn đính 2 cánh hoa. Hai đầu dây đơm cúc bấm, khi đeo vào cổ tây thì
bấm cúc lại.
Váy (xà rông) của cô dâu thuộc loại váy ống, dài 90cm, rộng 75cm. Váy
thường may bằng vải hoa nền xanh, cạp liền. Trên thân váy trang trí các cây hoa
màu đỏ, màu vàng và hình con chim. Đây là loại xà rơng kiểu xưa có màu sắc sặc
sỡ.
Trên đây là bộ trang phục cô dâu cách đây khoảng 30 năm trở về trước,
trong kí ức của người lớn tuổi nó là bộ trang phục cổ và mang đặc trưng riêng biệt
của người Khmer. Ngày nay những bộ y phục như thế khơng cịn nữa, thay vào đó
là những bộ y phục cắt may ttheo kiểu mới.
23


Những thay đổi trong y phục cô dâu
Trong thời gian gần đây trang phục của cơ dâu đãcó sự cải biên rất nhiều.
Xuất phát từ nguyên vật liệu có sẵn và có sự thay đổi về quan niệm tộc người theo
xu thế mới. Bộ trang phục cô dâu ngày nay khơng cịn 9 thứ như trước nữa, mà
giản tiện chỉ còn 3 thứ: khăn quàng vai, áo, váy.
Khăn quàng vai dài 172cm, rộng 20cm được may bằng 2 lớp vải. Lớp dưới
bằng vải sa tanh đỏ, lớp trên bằng vải dệt đỏ có in hoa. Tồn bộ phần giữa khăn
được gắn 7 hàng hạt kim sa màu vàng tạo thành bông hoa. Hai bên mép khăn cũng
được gắn chuỗi kim sa tạo thành những dây hoa.
ở hai đầu dây khăn được gắn kim sa kiểu đứng và một bông hoa to, ngoài
cũng được tua hạt cườm nhỏ màu vàng dài 6cm. Tồn bộ q trình gắn kim sa và
hạt cườm đều bằng tay. Kỹ thuật ghép dây hoa thẳng hàng và các dây hoa ở hai

mép khăn chứng tỏ người làm đã đạt trình độ khá điêu luyện. Khăn được dùng sau
khi mặc áo, vát từ nách phải vắt lên vai trái và đính lại ở đó.
Áo được cắt bằng vải đỏ theo kiếu áo yếm. Áo che kím từ ngực trở xuống.
Áo có 2 dây dài 24cm, rộng 3,5cm. Phần thân áo dài 25cm được đính đầy các
chuỗi kim sa với những kiểu trang trí khác nhau. Phần ngực áo được đính các hàng
kim sa chạy dọc, ở phần bụng các chuỗi hạt kim sa hình hoa được đính thành một
dải hình chữ nhật. Gấu áo được cắt lượn sóng theo hình đi tơm. Phần gấu áo
khơng trang trí kim sa mà chỉ là hoa văn của vải. Khi mặc luồn áo qua đầu và kéo
khóa phía sau, áo chỉ che đến cạp váy.
Váy dài từ 105-110cm, được ghép bởi 2 tầm vải liền mảnh đường ghép ở hai
bên
sườn. Riêng mặt trước của váy, vải được xếp gấp lại thành một dải vải chạy suốt từ
cạp đến gấu váy. ở dải vải này trên nền đỏ ngoài các dạng hoa văn in sẵn như hình
thoi, hoa văn hình cây, họ cịn đính kim sa hình cây hoa. Tồn bộ mặt trước của váy
được đính các hạt kim sa tạo thành mơ típ hình hoa trong ơ hình chữ nhật.
Cạp váy cao khoảng 4cm được mở phía sau bằng khóa kéo.
Phần gấu váy được trang trí bởi các dãy kim sa thẳng đứng chạy song song
với nhau trên nề đỏ có dệt hoa văn kim tuyến.
Đây là bộ trang phục kiểu mới của cô dâu người Khmer. Tuy nhiên số người
dùng kiểu trang phục này khơng nhiều. Bởi vì muốn có bộ trang phục như vậy mất
rất nhiều thời gian. Hiện nay trang phục cưới của cô dâu người Khmer khu vực
thành thị chủ yếu là bộ áo váy dài theo kiểu phương tây hay bộ áo dài khăn xếp
theo kiểu cách tân của người Kinh.
b, Y phục của nam giới người Khmer


24


Y phục hằng ngày

Trong lao động sản xuất và trong sinh hoạt, nam giới ngươi Khmer thường
mặc áo, quần dài, đi chân đất hoặc dép cao su.
Áo màu đen hoặc màu xanh. Áo được cắt theo kiểu chui đầu, ngắn tay, cổ
thấp tròn, xẻ ngực và cài cúc.
Quần được cắt may bằng vải phin màu chân que, cạp, đũng, ống quần may
rộng như quần của người Kinh.
 Y phục chú rể
Bộ y phục của chú rể người Khmer gồm có áo và váy:
Áo được may theo kiểu bà ba, cổ hình lá sen, nút áo được làm bằng các mảnh vải
bó lại. Đây là kiểu áo chú rể truyền thống của chú rể người khmer.
Gần đây ở người Khmer đã có kiểu áo được cắt may bằng vải ka tê. Áo dài khoảng
70-80cm, rộng 50cm. Vạt trước trang trí 4 túi g, gồm 2 túi nhỏ và hai túi dưới to
hơn. ở 2 cầu vai, mỗi bên dài 12cm có đơm một túi giả. Tay áo dài khoảng 45cm,
rộng 15-18cm, phần tay áo khơng trang trí hoa văn.
Váy: trong xã hội cổ truyền của nam giới Khmer nhất thiết phải có váy. Váy là y
phục quan trọng của nam giới, thể hiện đẳng cấp của người sử dụng. Hiện nay,
trong cưới xin và lễ hội người Khmer như một hình thức nhớ về văn hóa truyền
thống của tộc người.
Váy được làm bằng vải lụa in hoa, dài 150cm, rộng 100cm. Đây là loại vải
rộng gập đôi khâu lại. Hoa văn trên váy có hai dạng cơ bản hoa văn hình tháp và
hoa văn hình cây.
c, Y phục của các tầng lớp sư sãi Khmer
 Y phục của sa di mới vào chùa
Theo phong tục của người thoe Phật giáo tiểu thừa, thiếu niên từ 12 tuổi trở lên
thường đi tu ở chùa.
Trước khi đi tu người đó phải thay quần bằng chiếc xà rông, thay áo bằng tầm vải
màu trắng gọi là pea nea than chứng tỏ mình đã từ bỏ thế tục và được mọi người
gọi là nec.
Sau khi nghe lời giảng dạy và được phổ biến điều luật đi tu, người đi tu thay cà sa.
Tấm choàng đi cùng với bộ cà sa thường có kích thước 200×250cm bằng vải nâu.

Tấm vải làm váy có kích thước 100×112cm và một dây thắt lưng làm bằng vải màu
vàng.


-

-

-

-

25


×