Tải bản đầy đủ (.pdf) (162 trang)

Nghiên cứu giải pháp nền móng hợp lý cho các bồn chứa xăng dầu trên đất yếu ven sông ở tp HCM và ở ĐBSCL

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (11.01 MB, 162 trang )

Đại Học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

ĐẶNG MINH THÔNG

ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NỀN MÓNG HP LÝ CHO CÁC BỒN
CHỨA XĂNG DẦU TRÊN ĐẤT YẾU VEN SÔNG Ở TP.HCM VÀ Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Chuyên ngành : Công trình trên đất yếu
Mã số ngành : 31.10.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TP.HỒ CHÍ MINH, tháng 11 năm 2003


CÔNG TRÌNH ĐƯC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học 1 : TS. LÊ BÁ VINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học 2 : TS. DƯƠNG HỒNG THẨM

Cán bộ chấm nhận xét 1

: TS. CAO VĂN TRIỆU


Cán bộ chấm nhận xét 2

: PGS TS. TRẦN THỊ THANH

Luận văn thạc só được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN
THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày 12 tháng 12 năm 2003


Đại Học Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

Độc Lập  Tự Do  Hạnh Phúc

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên học viên : ĐẶNG MINH THÔNG
Ngày, tháng, năm sinh : 23 – 03 - 1977
Chuyên ngành : CÔNG TRÌNH TRÊN ĐẤT YẾU

Phái : Nam
Nơi sinh : Bà Rịa – Vũng Tàu
Mã số : 31.10. 02

I- TÊN ĐỀ TÀI :
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NỀN MÓNG HP LÝ CHO CÁC BỒN CHỨA XĂNG DẦU TRÊN ĐẤT YẾU
VEN SÔNG Ở TP.HCM VÀ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
II- NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG :
1- NHIỆM VỤ:

Nghiên cứu các giải pháp cấu tạo nền móng bồn dầu và các giải pháp gia cố nền đất yếu dưới bồn dầu;
Nghiên cứu tìm ra giải pháp hợp lý cho bồn dầu trên đất yếu ven sông.
2- NỘI DUNG:
PHẦN I: TỔNG QUAN
Chướng 1 : Nghiên cứu tổng quan về giải pháp nền móng cho các bồn chứa xăng dầu trên đất yếu ven sông ở
TP.HCM và ở Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Chướng 2 : Nghiên cứu tổng quan về quá trình hình thành và đặc điểm đất yếu ven sông ở khu vực TP.HCM và ở
Đồng Bằng Sông Cửu Long.
PHẦN II: NGHIÊN CỨU ĐI SÂU VÀ PHÁT TRIỂN
Chương 3 : Nghiên cứu về cấu tạo của các giải pháp nền móng cho các bồn chứa xăng dầu trên đất yếu ven sông ở
TP.HCM và ĐBSCL
Chương 4 : Nghiên cứu tính toán các giải pháp nền móng cho các bồn chứa xăng dầu trên đất yếu ven sông ở
TP.HCM và ĐBSCL.
Chương 5 : Ứng dụng các kết quả nghiên cứu để tính toán cho công trình bồn dầu thực tế xây dựng ĐBSCL
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Chương 6 : Các nhận xét, kết luận và kiến nghị
III- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ
: 20-01-2003
IV- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ
: 12-12-2003
V – HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
: TS. LÊ BÁ VINH
TS. DƯƠNG HỒNG THẨM
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN 1 CÁN BỘ HƯỚNG DẪN 2

CHỦ NHIỆM NGÀNH BỘ MÔN QUẢN LÝ NGÀNH

TS. LÊ BÁ VINH
TS. DƯƠNG HỒNG THẨM GS.TSKH. LÊ BÁ LƯƠNG
ThS. VÕ PHÁN

Nội dung và đề cương Luận Văn Thạc Só đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
Ngày 12 tháng 12 năm 2003

PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH

KHOA QUẢN LÝ NGÀNH


LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, con xin gửi lời chân thành cảm ơn đến đấng sinh thành, người đã nuôi
dưỡng cho con lớn khôn để hôm nay con mới có thể hoàn thành được luận văn thạc só
này.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc Thầy Giáo Sư Tiến Só Khoa Học Lê Bá Lương
đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện luận văn này. Thầy đã hết lòng
giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em có thể hoàn thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn Thầy Tiến Só Lê Bá Vinh và Thầy Tiến Só Dương Hồng
Thẩm đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ trong suốt thời gian em thực hiện luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn Thầy Tiến Só Cao Văn Triệu, cô Phó Giáo Sư Tiến Só
Trần Thị Thanh đã chân tình hướng dẫn để em thực hiện luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn Thầy Giáo Sư Tiến Só Khoa Học Nguyễn Văn Thơ,
Thầy Tiến Só Châu Ngọc Ẩn, Thầy Tiến Só Lê Bá Khánh cùng các Thầy, Cô phòng
Quản Lý Khoa Học Khoa Sau Đại Học đã giảng dạy, giúp đỡ em trong suốt những năm
học cao học và hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn anh Lê Quang Khải - Phó giám đốc, anh
Lưu Đình Nguyên – Trưởng phòng xây dựng và cùng các đồng nghiệp thuộc Công ty Tư
vấn Xây dựng điện 3 đã giúp đỡ, tạo nhiều điều kiện tốt để em học tập và làm việc
trong thời gian em học cao học và thực hiện luận án cao học.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cơ Học Đất – Lê Quý An, Nguyễn Công Mẫn, Nguyễn Văn Quỳ, Nhà Xuất Bản
Giáo Dục 1995.
2. Cơ Học Đất – Vũ Công Ngữ, Nguyễn Văn Dũng, Nhà Xuất Bản Khoa Học Kỹ
Thuật 2000.
3. Cơ Học Đất Tập 1&2 – R. Whitlow, Nhà Xuất Bản Giáo Dục 1995.
4. Thổ Chất Và Địa Chất Công Trình, Bài giảng, GS.TSKH Nguyễn Văn Thơ.
5. Xây Dựng Đê Đập, Đắp Nền Tuyến Dân Cư Trên Đất Yếu ở ĐBSCL - GS.TSKH
Nguyễn Văn Thơ, TS Trần Thị Thanh-Nhà Xuất Bản Nông Nghiệp.
6. Những Phương Pháp Xây Dựng Công Trình Trên Nền Đất Yếu – Hoàng Văn Tân,
Trần Đình Ngô, Phan Xuân Trường, Phạm Xuân, Nguyễn Hải, Nhà Xuất Bản
Khoa Học & Kỹ Thuật 1973.
7. Công Trình Trên Đất Yếu Trong Điều Kiện Việt Nam – Pierre Laréral, Nguyễn
Thành Long, Lê Bá Lương, Nguyễn Quang Chiêu, Vũ Đức Lục 1989.
8. Tính Toán Nền Móng Công Trình Theo Thời Gian – Lê Bá Lương, Trường Đại
Học Bách Khoa Tp.HCM 1981.
9. Nền móng – Châu Ngọc Ẩn – Nhà Xuất Bản Đại Học Quốc Gia Tp.HCM
10. Công Nghệ Mới Xử lý nền đất yếu (vải địa kỹ thuật và bấc thấm) – Nguyễn Viết
Trung, Nguyễn Phương Duy, Nguyễn Duy Lâm – Nhà Xuất Bản Giao Thông Vận
Tải.
11. ng Dụng Vải Và Lưới Địa Kỹ Thuật Trong Xây Dựng Công Trình – Bùi Đức
Hợp – Nhà Xuất Bản Giao Thông Vận Tải.
12. Luận án tiến só về “ Lựa chọn giải pháp kỹ thuật hợp lý xử lý nền đất yếu ở khu
vực phía nam TP.HCM” của Nguyễn Mạnh Thuỷ, Hà Nội – 2002.
13. Tuyển Tập Báo Cáo Hội Thảo “Kỹ Thuật Xử Lý Nền Trong Vùng Đất Yếu” Hà
Nội, tháng 10-1999 – Liên Hiệp Khoa Học & Kỹ Thuật Việt Nam (USTA)
14. Nghiên cứu các giải pháp nền móng công trình hợp lý cho đất yếu ở đbscl trong
điều kiện sống chung với lũ – GS.TSKH Lê Bá Lương, TS. Lê Bá khánh, Ths. Lê
Bá Vinh. Báo cáo khoa học.
15. Đề tài NCKH cấp bộ “Nghiên cứu các giải pháp nền móng hợp lý cho các công
trình” tháng 3-1993, chủ nhiệm đề tài GS.TSKH Lê Bá Lương.

16. Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ Lần Thứ 8 (25 –26/04/2002)


17. Tiêu Chuẩn Thiết Kế Và Nghiệm Thu Vải Địa Kỹ Thuật Trong Xây Dựng Nền
Đắp Trên Đất Yếu, Theo Tiêu Chuẩn 22 TCN –248 –98 - Bộ Giao Thông
18. Tiêu chuẩn thiết kế Bấc thấm, theo tiêu chuẩn 245: 2000 – Bộ Xây dựng.
19. Những Biện Pháp Kỹ Thuật Mới Cải Tạo Đất Yếu Trong Xây Dựng – D.T
Bergado, J.C.Chai, M.C.Alfaro, A.S.Balasubramaniam
20. Thiết kế xử lý nền đất yếu bằng chất tải trước kết hợp với thoát nước thẳng đứng,
P.V.Long & D.T.Bergado, Hội thảo về vải địa kỹ thuật và cọc bản nhựa, 23-51996, Hà nội.
21. Elements of Soil Mechanics – G.N. Smith, Ian G.N. Smith, Edinburgh
22. Soil Mechanics in Engineering Practice – Tezaghi, K. and Peck, R. Bitumen
(1967), John Wiley & sons Inc., New York, N.Y.
23. An Introduction to The Mechanics of Soil and foundations – John Atkinson,
Mcgraw – Hill Book Company.
24. Principles of Geotechnical Engineering – Braja M. Das.
25. Principles of Foundation Engineering – Braja M. Das.
26. Foundation Analysis and Design – Joseph E. Bowles, P. E., S.E.
27. Soil and foundation, Chengliu-Jackb. Evett, Pretice Hall Career & Technology.


TÓM TẮT LÝ LỊCH KHOA HỌC
Họ và tên
Sinh ngày
Nơi sinh
Địa chỉ liên lạc
Nơi công tác

: ĐẶNG MINH THÔNG
: 23 – 03 - 1977

: Bà Rịa – Vũng Tàu
: Ô 5, ấp Bắc xã Hòa Long, Thị xã Bà Rịa, Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
: Công Ty Tư vấn Xây Dựng Điện 3

QÚA TRÌNH ĐÀO TẠO:
Từ tháng 09 năm 1995 tới tháng 01 năm 2000 học Đại Học tại trường Đại Học
Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh.
Từ tháng 09 năm 2001 tới nay học sau Đạ i Học tại trường Đại Học Bách Khoa
thành phố Hồ Chí Minh.

QÚA TRÌNH CÔNG TÁC:
Năm 2000 – 2001 công tác tại Công Ty Xây Dựng Và Phát Triển Nhà Quận 3
Năm 2001 tới nay học sau Đại Học tại trường Đại Học Bách Khoa thành phố Hồ
Chí Minh.
Năm 2001 tới nay công tác tại Công Ty Tư vấn Xây Dựng Điện 3 – Tổng Công
Ty Điện Lực Việt Nam


-1-

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
I.

Đặt vấn đề

0-1

II. Mục đích của đề tài


0-1

III. Nhiệm vụ của đề tài

0-2

IV. Phạm vi nghiên cứu

1-2

V. Phương hướng nghiên cứu

1-2

PHẦN 1 : NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN
CHƯƠNG 1:

NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ GIẢI PHÁP NỀN MÓNG
CHO CÁC BỒN CHỨA XĂNG DẦU TRÊN ĐẤT YẾU Ở VEN
SÔNG Ở TP.HCM VÀ ĐBSCL

1.1

Một số thành công và thất bại về xây dựng nền móng công trình
trong nước và ngoài nước.

1-2

1.1.1 Một số thành công và thất bại trong thực tế xây dựng nền móng

công trình ở nước ngoài.

2-5

1.1.2 Một số thành công và thất bại trong thực tế xây dựng nền móng
công trình ở trong nước.

5-10

1.1.3 Nhận xét
1.2

Tổng quan các giải pháp nền móng áp dụng cho công trình bồn
chứa xăng dầu và các công trình tương tự.

10-10
11-14

1.2.1 Giải pháp xử lý nhằm cải tạo sự phân bố ứng suất và điều kiện
biến dạng của đất nền: (đệm cát)

11-11

1.2.2 Giải pháp cừ tràm

11-11

1.2.3 Giải pháp xử lý nhằm tăng độ chặt của nền đất

11-12


1.2.4 Giải pháp xử lý nền bằng thiết bị thoát nước thẳng đứng kết
hợp với gia tải trước

12-12

1.2.5 Giải pháp cọc vôi - xi măng đất

12-13


-21.2.6 Xử lý nền bằng vải địa kỹ thuật

13-13

1.2.7 Móng cọc bê tông cốt thép

13-14

1.2.8 Kết luận

14-15

1.3

Một số hình ảnh các công trình bồn dầu xây dựng tại các nhà máy
điện ở ĐBSCL và các vùng lân cận.

15-16


CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐẤT YẾU VEN SÔNG Ở KHU VỰC TP.HCM
VÀ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
2.1

Nghiên cứu tổng quát quá trình hình thành đất yếu ở khu vực

17-23

TP.HCM và Đồng Bằng Sông Cửu Long.
2.1.1 Đất yếu nói chung

17-18

2.1.2 Đặc điểm và tính chất của đất sét yếu

18-23

2.2

Khái quát về địa chất khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long.

23-28

2.3

Phân bố tổng quát địa chất công trình khu vực TP.HCM.

29-32


2.4

Mặt cắt địa chất tiêu biểu tại khu vực TP.HCM và ĐBSCL

33-33

2.5

Thống kê các đặc trưng cơ lý cơ bản để phục vụ tính toán

34-39

PHẦN 2: NGHIÊN CỨU ĐI SÂU VÀ PHÁT TRIỂN
CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TẠO CỦA CÁC GIẢI PHÁP NỀN MÓNG
CHO CÁC BỒN CHỨA XĂNG DẦU TRÊN ĐẤT YẾU VEN SÔNG
Ở TP.HCM VÀ ĐBSCL
3.1

Đề xuất khoảng cách an toàn đối công trình bồn dầu ven sông

40-41

3.2

Cấu tạo của giải pháp xử lý nền đất yếu bằng hệ thống bấc thấm

42-48

kết hợp với chất tải trọng phụ tạm thời.
3.3


Cấu tạo của giải pháp xử lý nền bằng hệ thống cọc đất vôi - xi măng 49-51

3.4

Cấu tạo của giải pháp sử dụng cọc bê tông cốt thép

52-56

3.5

Lựa chọn giải pháp cấu tạo cho công trình bồn dầu và cá công
trình tương tự trên đất yếu ở ĐBSCL và một số khu vực taïi TP.HCM

56-57


-3CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU TÍNH TOÁN VÀ CẤU TẠO CÁC GIẢI PHÁP
NỀN MÓNG HP LÝ CHO CÔNG TRÌNH SILÔ XÂY DỰNG
VEN SÔNG TRÊN ĐẤT YẾU TẠI KHU VỰC KCN HIỆP PHƯỚC
4.1

Giải pháp xử lý nền đất yếu bằng hệ thống bấc thấm kết hợp với chất
tải trọng phụ tạm thời
58-74

4.2

Giải pháp xử lý nền đất yếu bằng cọc đất vôi – xi măng


4.3 Giải pháp sử dụng cọc bê tông cốt thép

75-88
89-96

CHƯƠNG 5: CẤU TẠO VÀ TÍNH TOÁN ỨNG DỤNG CHO CÔNG TRÌNH
BỒN DẦU THỰC TẾ XÂY DỰNG Ở ĐBSCL
5.1

Khái quát sơ bộ công trình bồn dầu bằng thép.

97-98

5.2

Giải pháp nền móng cho bồn chứa dầu.

98-98

5.3

Giới thiệu đặc điểm công trình bồn dầu thực tế tính toán.

98-99

5.4

Công trình 1 là bồn dầu tại Nhà máy điện Sóc Trăng.

99-118


5.4.1 Tính toán giải pháp xử lý nền bằng bấc thấm kết hợp gia
tải trước bằng đất đắp.

103-110

5.4.2 Tính toán phương án sử dụng cọc vôi – xi măng đất

110-118

5.5

Công trình 2 là bồn dầu tại Nhà máy điện Cần Thơ.

118-124

5.5.1 Phương án móng cọc vôi – ximăng

118-121

5.5.2 Phương án móng cọc bê tông cốt thép

121-124

5.6

Các Nhận xét và kết luận.

124-125


CHƯƠNG 6: CÁC NHẬN XÉT, KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
6.1

Các kết luận

126-127

6.2

Các kiến nghị

127-129

6.3

Các phương hướng nghiên cứu tiếp theo

129-130

TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC TÍNH TOÁN
LÝ LỊCH KHOA HỌC


-1-

MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Đồng bằng Sông Cửu Long và một số khu vực tại TP.HCM như Nhà Bè,
Cần giờ, Thủ Thiêm, Thanh Đa, … là vùng đất có hệ thống sông ngòi và kênh

rạch được hình thành nhờ quá trình bồi tụ và lắng động trầm tích có nguồn gốc
sông biển, đầm lầy. Đây là vùng không thuận lợi về mặt địa chất công trình, đất
nền phổ biến nhất là các lớp đất yếu. Đặc điểm chung của chúng là sức chịu tải
nhỏ và biến dạng lớn dưới tác dụng của tải trọng công trình. Nhiều giải pháp xử
lý nền đất yếu đã được áp dụng, song chưa đánh giá đúng bản chất của đất yếu
trong công tác khảo sát – thiết kế cũng như thi công nên tổng độ lún và tốc độ
lún xác định được còn có sự khác biệt rõ rệt giữa tính toán theo lý thuyết và thực
tế, dẫn đến hiện tượng một số công trình công nghiệp – dân dụng, đường giao
thông, đường dây tải điện, cầu cảng, … bị hư hỏng trong quá trình thi công hoặc
sử dụng. Mặt khác, việc phân tích và đánh giá hiệu của các giải pháp xử lý này
cũng chưa được quan tâm đúng mức. Các vấn đề trên đã được một số tác giả đề
cập đến nhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu và đánh giá toàn diện.
Và trong các giải pháp nền móng đặt ra nhằm lựa chọn ra giải pháp nền
móng cho phù hợp với điều kiện địa chất ở khu vực Tp.HCM và ĐBSCL. Ứng
dụng các kết quả trên để để xử lý nền móng cho các bồn chứa xăng dầu, … là
một vấn đề rất cần thiết và thiết thực. Ngoài ra còn phải xét đến ảnh hưởng về
ổn định và biến dạng của công trình ven sông trên đất yếu, vì nhiều sự cố công
trình đã và đang xảy ra nên việc nghiên cứu này rất thiết thực.
Do đó, việc nghiên cứu lựa chọn giải pháp kỹ thuật hợp lý xử lý nền đất
yếu ở khu vực này là một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách góp
phần nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng.
2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:
Nâng cao hiệu quả xử lý nền đất yếu nhằm bảo đảm ổn định - biến dạng
cho công trình và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất xây dựng khu vực
nghiên cứu.
3. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:
Việc nghiên cứu đề tài này chủ yếu là tổng hợp các thành quả nghiên cứu
của những người đi trước, từ đó phân tích và áp dụng vào các công trình, môi
trường cụ thể đó là các công trình Bồn chứa xăng dầu xây dựng ven sông tại khu
vực Nhà máy điện Cần Thơ và Nhà máy điện Sóc Trăng thuộc Đồng bằng sông

Cửu Long. Các nghiên cứu đi sâu chủ yếu là cấu tạo đề nghị của từng phương án
cũng như trình tự và giải pháp tính toán cho các trường hợp phương á n móng cụ
thể.


-2-

Do cấu tạo của Bồn chứa xăng dầu tại các Nhà máy điện nói riêng và
Bồn chứa xăng dầu chung có chiều cao bé hơn nhiều so với đường kính, vì vậy
để hạn chế phạm vi nghiên cứu, giới hạn ảnh hưởng của chuyển vị ngang đến ổn
định của bờ sông cũng như không xét đến ảnh hưởng của hiện tượng từ biến do
ứng suất tiếp bằng cách khống chế khoảng cách đến bờ sông.
Do không có điều kiện thí nghiệm thực tế, nên có một số thông số đã chấp
nhận sử dụng các thông số, công thức, biểu đồ kinh nghiệm để tính toán.
Không đi sâu vào lý thuyết phần tử hữu hạn mà chỉ ứng dụng phần tử hữu
hạn nhằm để tự động hoá tính toán và phân tích kết quả tính toán.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu cơ sở lý thuyết tính toán giải pháp nền móng công trình ven
sông trên đất yếu ở khu vực TP.HCM và ĐBSCL.
Nghiên cứu tính toán giải pháp nền móng cho Bồn chứa xăng dầu trên đất
yếu ven sông, nhằm lựa chọn giải pháp nền móng cho từng địa chất cụ thể.
5. PHƯƠNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU:
1 – Nghiên cứu giải pháp cấu tạo nền móng và giải pháp nền móng cho
các Bồn chứa xăng dầu trên đất yếu ven sông ở khu vực TP.HCM và ĐBSCL.
Từ đó đề nghị lựa chọn một số giải pháp tính toán nền móng cho công trình.
2 – Nghiên cứu tính toán ổn định và biến dạng nền móng cho các công
trình Bồn chứa xăng dầu trên đất yếu ven sông và đề xuất khoảng cách an toàn
về ổn định nền cho công trình Bồn dầu đến bờ sông.
3 – Nghiên cứu tính toán giải pháp hợp lý cho công trình Bồn chứa xăng
dầu trên đất yếu. Và đề xuất tính toán giải pháp nền móng công trình theo lưu

đồ.


-1-

CHƯƠNG 1
NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ GIẢI PHÁP NỀN MÓNG CHO CÁC BỒN
CHỨA XĂNG DẦU TRÊN ĐẤT YẾU VEN SÔNG Ở TP.HCM VÀ ĐBSCL
1.1 MỘT SỐ THÀNH CÔNG VÀ THẤT BẠI VỀ XÂY DỰNG NỀN MÓNG
CÔNG TRÌNH TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC.
Ngày nay trước áp lực của vấn đề tăng nhanh dân số thế giới, tốc độ đô thị
hóa ngày càng phát triển, vùng đất xây dựng ngày càng trở nên thu hẹp dần.
Những vùng đất trước đây được coi là đất yếu hoặc xấu thì bây giờ cần phải có
những biện pháp gia cố để đưa vào sử dụng xây dựng công trình. Để đáp ứng
những yêu cầu về xây dựng ngày càng tăng, đặc biệt là những vùng đất yếu đã
xuất hiện hàng loạt các công trình nghiên cứu của ngành thổ nhưỡng học chuyên
nghiên cứu về các vùng đất yếu.
Từ sau những năm hai mươi của thế kỷ XX, do nền sản xuất phát triển
nhanh và có những chuyển biến to lớn, yêu cầu phải mở rộng sản xuất nên có
nhiều công trình quy mô lớn được tiến hành, tạo điều kiện cho ngành xây dựng
phát triển. Có nhiều nhà khoa học đã cống hiến to lớn trong việc nghiên cứu
những tính hóa lý của vùng đất yếu như: Pacropxki, Lomonoxop, I.I Lisvan, P.A
Đrodd, . . .
Trong lónh vực thổ nhưỡng chúng ta phải kể đến những công trình nghiên
cứu của Maxlov, V.V. Okhotin, N.N Ivanov, K Terzaghi, R.B Peck, A.W
Skepton, G.A Leonards, A.W Bishop . . . và nhiều nhà khoa học khác đã góp
phần không nhỏ vào việc khám phá bản chất hóa lý của đất và giải quyết việc
xây dựng các công trình trên những vùng đất yếu.
Trong lónh vực nghiên cứu về cố kết thấm, K Terzaghi đã công bố lý thuyết
cố kết thấm vào năm 1925, lý thuyết này tiếp tục phát triển bởi các tác giả như

Jipxon, R Boron v. v … Các vấn đề vvề từ biến của đất, lý thuyết cố kết thấm và
vai trò từ biến đối với cố kết thấm được rất nhiều nhà khoa học Nga nghiên cứu.
Ở nước ta, trong thời gian qua vấn đề về xây dựng công trình trên nền đất
yếu cũng tăng cường nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu Việt Nam ra sức phấn đấu
giải quyết những vấn đề gắn liền với điều kiện cụ thể của địa chất Việt Nam.
Trong lónh vực cải tạo nền đất sét yếu phải kể đến các công trình của các tác
giả: Lê Bá Lương, Hoàng Văn Tân, Vũ Công Ngữ, Nguyễn Văn Thơ, Phan
Trường Phiệt, Nguyễn Văn Quảng, Bùi Anh Định, Lê Đức Thắng . . .


-2-

- Trong lónh vực nghiên cứu các giải pháp nền móng hợp lý cũng có nhiều
tác giả nghiên cứu và cũng đã gặt hái thành công bước đầu phục vụ ứng dụng
trong công tác thiết kế và thi công nền móng công trình.
- Để tìm giải pháp nền móng hợp lý cho việc thiết kế và thi công xây
dựng các công trình ở những vùng đất yếu, cần phải nghiên cứu nhiều vấn đề
độc lập, mỗi vấn đề là một đối tượng nghiên cứu rõ ràng.
Nền đất dưới tác dụng của tải trọng có thể bị phá hoại do hai nguyên nhân :
không đảm bảo ổn định về mặt cường độ hoặc biến dạng lún vượt qua mức giới
hạn cho phép. Trong nhiều trường hợp nền đất vẫn chưa mất ổn định về cường
độ nhưng vì có biến dạng quá lớn hoặc biến dạng không đồng đều trong công
trình và điều đó vẫn có thể dẫn đến công trình không thể sử dụng được. Chính vì
vậy trong việc tính toán và thiết kế công trình xây dựng chúng ta không chỉ tính
toán đến ứng suất dưới nền móng do tải trọng công trình gây ra không vượt quá
cường độ cho phép, mà phải luôn quan tâm tới độ lún cuối cùng cũng như độ lún
lệch các bộ phận, độ nghiêng của công trình.
1.1.1 Một số thành công và thất bại trong thực tế xây dựng nền móng công
trình ở nước ngoài.
Nguyên nhân gây biến dạng công trình rất nhiều, do đó cũng cũng có rất

nhiều biện pháp xử lý chúng. Dưới đây, do khuôn khổ đề tài có hạn chỉ nêu một
vài ví dụ điển hình.
1.

Tháp nghiêng ở Piza (Italia)

Hình 1.1 Quang cảnh của
tháp nghiêng Piza - Italia

Hình 1.2 - Tháp Piza bị nghiêng ở Italia
1 - Lớp đất bùn cát; 2- Lớp cát xen lẫm
với thấu kính sét; 3 - Lớp đất sét cứng


-3-

Độ lún của phía hướng
Nam Tháp (cm)

Tải trọng (T)

Sự cố công trình Tháp Piza nổi tiếng này là một điển hình về sự cố lún
lệch của đất nền theo thời gian.
Móng của tháp có dạng hình tròn
15.000
đường kính 20m, được xây dựng
10.000
bằng các khối đá xếp lại với nhau,
5.000
đặt ở độ sâu nhỏ hơn 2m. Tải

1.200
1.400
1.600
1.800
2.000
0
trọng tác dụng lên nền đất dưới
20
đáy móng là 5kg/cm2.
60
Sự phá hoại do lực cắt gây ra
100
nghiêng và hiện tượng lúm không
theo những quy luật thông thường.
140
Quá trình xây dựng Tháp cũng
phức tạp và kéo dài trong khoảng Hình 1.3 Biểu đồ lún của phía hướng Nam Tháp
thời gian từ năm 1173 đến năm
1370. Tháp được bắt đầu xây dựng vào tháng 8/1173, vào năm 1178 khi xây
dựng khoảng được ¼ tầng thứ 4 thì bị dừng lại, vì khả năng chịu tải ban đầu của
đất nền kéo. Đến năm 1272 công việc xây dựng được tiếp tục, vì lúc này khả
năng chịu tải của đất nền được tăng lên do quá trình cố kết. Đến năm 1278, khi
xây dựng đến tầng 7, thì công trình bị dừng lại một lần nữa, vì lý do chiến tranh.
Và vào năm 1370, công trình mới hoàn tất. Tháp nghiêng Pisa đã nghiêng và lún
trong gần thế kỷ này. Có một thời gian du khách không được tham quan Tháp
Pisa vì nghiêng và lún không đảm bảo an toàn dù sau nhiều lần sữa chữa gia cố.
Hiện nay sau thời gian sữa chữa Tháp Pisa đã cho phép du khách được phép
tham quan trở lại.
2.


Kho chứa lúa mì ở Cannada

Hình1.4 Quang cảnh khi kho bị lật nghiêng

Hình 1.5a Trước khi dựng lại kho
1.5b Sau khi hoàn thành

Trọng lượng kho là 18.100 T, sau khi chất đầy lúa mì (23.500 T) thì tổng
trọng lượng kho là 41.600 T. Ngay sau khi vừa chất đủ tải trọng, kho bắt đầu bò


-4-

nghiêng về phía Tây, độ nghiêng đạt tới 26053’. Do đó, một bên móng bị nhấn
chìm xuống 8,7m, còn phía đối diện bị nâng lên 0,59m. Phía Bắc công trình bị hạ
xuống so với phía Nam là 1,80 m. Sự hư hỏng kho lúa mì này xảy ra là do độ
bền của đất nền dưới công trình bị phá hoại.
Nền bị phá hoại cắt cục bộ do lún lệch và phát triển nhanh chóng đến giai
đoạn phá hoại tổng thể (từ giai đoạn II đến giai đoạn III). Mặt trượt bắt đầu một
phía móng, dừng lại tại một điểm nào đó trong nền. Chỉ khi móng có chuyển vị
theo phương đứng lớn, mặt trượt phát triển đến mặt đất. Khi phá hoại đất xung
quanh có hiện tượng trồi lên.
Mặt dù chìm và xoay đi, song khi vẫn không bị hư hại lớn. Bằng cách đào
đất bên dưới phía bị xoay rồi nâng công trình lên và chống đỡ bằng cọc, kho đã
đưa được kho trở lại vị trí thẳng đứng. Nhưng lúc này nó nằm thấp hơn độ sâu
móng ban đầu là 7m.
Đối với đất sét yếu có tính nén lún tương đối lớn và cát không chặt, đường
cong quan hệ giữa ứng suất và biến dạng không rõ rệt (đặt biệt là đất sét),
nhưng phá hoại nền là do biến dạng của nền đất yếu ở dưới móng khiến cho
móng lún không ngừng, khiến cho móng lún vượt quá phạm vi cho phép.

3.

Công trình xi lô chứa ngũ cốc (Canada)

Sự cố công trình ở Canada, khi xây dựng xilô chứa ngũ cốc được xây dựng
trên nền đất sét. Khi xây dựng gần nhau, vùng hoạt động về ứng suất sẽ rộng và
sâu hơn nhiều so với các xi lô độc lập. Khi tải trọng càng lớn thì hiện tượng này
càng thể hiện rõ. Đất trong vùng chập ứng suất sẽ chịu áp lực lớn hơn và tương
ứng sẽ lún nhiều hơn, gây ra hiện tượng xi lô lún nghiêng vào nhau.

Hình 1.6 Hai Xilô nghiêng vào nhau do lún không đều ở vùng chập ứng suất ở Canada

Quá trình chất vật liệu thô vào xilô gây ra nhiều vấn đề. Khi tải trọng do
trọng lượng của vật liệu trong xilô rời khỏi trọng tâm của xilô tùy vùng chịu nén
bị bóp méo. Điều này cũng tương tự như khi xilô chịu lực gió tác dụng lên thành


-5-

xilô, làm trong đất xuất hiện những vùng cục bộ có ứng suất vượt quá ứng suất
cho phép gây cho xilô bị nghiêng, và theo thời gian thì biến dạng nghiêng sẽ
càng tăng làm cho kết cấu bị phá hoại.
Sự cố này xảy ra khi mới xây dựng xong, ban đầu vật liệu được chất đày
vào xi lô rất lớn. Trong quá trình đó, tải trọng công trình đã truyền lên kết cấu
đất và nước trong lỗ rỗng. p lực nước trong lỗ rỗng có xu hướng là giảm lực ma
sát giữa các phần tử đất và do đó làm giảm sức chống cắt do tải trọng công trình
gây ra thì công trình sẽ bị phá hoại. Và ngược lại, với thời gian áp lực nước trong
lỗ sẽ bị tiêu tán, đất nền sẽ cố kết và tăng khả năng chịu tải, và công trình sẽ ổn
định với tải trọng công trình.
1.1.2 Một số thành công và thất bại trong thực tế xây dựng nền móng công

trình ở trong nước.
1.

Công trình bồn chứa mật thuộc Nhà máy đường khánh hội - Tp.HCM.

150
500
1400
6000
15000

100 150 200

Công trình này đã được GS.TSKH Lê Bá Lương cùng nhóm Kỹ sư xây
dựng của trường Bách Khoa TP.HCM nghiên cứu xử lý năm 1993. Sau khi xây
dựng xong khi cho mật vào thì Bồn bắt đầu lún mãnh liệt.
Bồn chứa mật của nhà máy
17000
16000
Bê tông đá
đường Khánh Hội xây dựng năm
4x6 M.100
Bồn chứa mật
1990 với các đặc trưng kỹ thuật
Bê tông cốt thép đá 1x2 M.200
chính như sau:
Bê tông đá 4x6 M.100
Đệm cát trộm lẫn
- Địa chất tại khu vực xây
đá 4x6 đầm chặt

dựng: lớp bùn dày 22m
có c = 0,0668kg/cm2,  =
2.70,  = 1.45g/cm3, W =
86,6%.
1200
- Kết cấu bên trên có ba
bồn chứa mật, mỗi bồn
có đường kính D = 16m,
Bùn dày 22m: c = 0.068kG/cm2; = 2.7độ
= 2.7 đo; W = 86.6%
chiều cao H = 10m.
- Móng của mỗi bồn là
móng bản 17mx17m dày
50cm.
- Nền dưới của đáy móng
như sau: lớp đệm cát dày
c = 0.3 kG/cm2; = 8.6độ; = 8.6 g/cm3
Hình 1.7 Sơ đồ cấu tạo móng của Bồn chứa
1.4m, bố trí giếng cát
mật xử lý bằng giếng cát bị lún 1.54m
đường kính D = 40cm


-6-

theo lưới ô vuông khoảng cách 1.2m, chiều dài của giếng cát l = 6m.
Khi xây dựng xong mật được rót đầy vào ba bồn: ngay từ đó cả ba bồn mật
bị lún xuống một cách mạnh mẽ. Chỉ trong 3 tháng đầu chỗ lún nhiều nhất đã
đạt tới 1m, ba bồn chứa mật bị nghiêng đáng kể.
Sự cố công trình xảy ra là do dùng giếng cát mà không có gia tải phụ tạm

thời để nén trước đất nền trước khi xây dựng móng công trình. Do đó khi xây
dựng xong công trình và chứa đày mật vào các bồn thì lúc đó nền đất yếu trong
phạm vi chiều cao giếng cát mới đất đầu cố kết một cách rõ rệt và gây ra lún
mạnh mẽ.
Độ lún:
+ Tính toán độ lún ổn định toàn bộ lớn nhất: S =1.54m.
+ Độ lún đã cố kết: 1m.
+ Độ lún còn lại 0.54m xảy ra với thời gian 5 năm.
Giải pháp xử lý :
 Về nền không cần gia cố gì thêm mà chỉ dùng giải pháp siêu cao về
móng để điều chỉnh độ lún lệch sẽ xảy ra.
 Về móng giải quyết như sau:
- Kéo từng bồn mật lên.
- Xây dựng móng hình vành khăn + móng chữ thập ở bên trong vành
khăn. Bên trong 4 ô trống đổ đầy cát, các móng này có tác dụng bù lún.
- Để phòng ngừa độ lún lệch có thể xảy ra sử dụng các nêm dự phòng sẵn.
Ở chỗ nào sẽ xảy ra lún nhiều thì dùng kích để kích bồn lên (bồn rỗng)
phía đó lên, rồi đặt nêm vào.
2.

Công trình Bồn chứa dầu Hiệp Phước – Nhà Bè:

Công trình bồn
chứa dầu là công trình
dạng hình tròn có đường
kính d = 43m, chiều cao
từ mặt đất nền hoàn
thiện H =15m, tải trọng
20.000 tấn được phân bố
đều trên tấm bêtông và

truyền xuống nền móng
công trình.
Đây là một công
trình do một đơn vị tư
vấn nước ngoài khảo sát

Hình 1.8 Sơ đồ bồn dầu ven sông có biến dạng
lớn trên nền đất yếu


-7-

thiết kế và thi công. Nền công trình thuộc loại đất sét yếu có chiều dày lớn, được
xử lý nền bằng bấc thấm kết hợp gia tải trước bằng bơm hút chân không.

Hình 1.9 Bồn dầu tại Nhà máy điện Hiệp Phước bị lún lớn hơn 1.0m
Độ lún ổn định toàn bộ được tính toán xấp xỉ : S  1000 mm
Kết qủa độ lún thực tế sau hai lần gia tải là :
Lần thứ 1:
S1 = 2400 mm
Lần thứ 2:
S2 = 860 mm
Độ lún tổng cộng:
S = 3260 mm
Ở đây có sự sai khác giữa kết quả đo và dự tính là do các nguyên nhân
sau:
- Việc xác định vùng hoạt động về ứng suất và biến dạng của nền dưới
công trình chưa xét đến ảnh hưởng của con sông lớn kế bên.
- Tổng biến dạng lún theo tính toán của công trình này chưa xét đến độ
dịch chuyển ngang lớn của đất nền ven sông theo bài toán không gian

đàn hồi hữu hạn.
Chưa xét đến hiện tượng từ biến do ứng suất pháp () và ứng suất cắt ()
trong nền đất yếu ven sông.
3.

Công trình Bồn chứa dầu ở Nhà điện Cần Thơ

Công trình Bồn dầu 2000 m3 tại Nhà máy điện Cần Thơ bị lún do sử dụng
cừ tràm trên nền đất yếu có chiều dày lớn.

Hình 1.10 Bồn dầu 2000 m3 tại Nhà


-8-

máy điện Cần Thơ gia cố nền bằng cừ tràm bị lún 1.2m và Bồn được kích lên để
xử lý
4.

Công trình Xilô Trà Nóc – Cần Thơ.

Công trình được xây dựng tại Cần Thơ, dùng để chứa ngũ cốc. Móng công
trình này có dạng hình chữ nhật kích thước 110x25 m. Đây là công trình sử dụng
thành công giải pháp xử lý nền bằng giếng cát kết hợp với gia tải trước
Kết qủa khảo sát địa chất khoan đến 40 m như sau:
Lớp 1 : Đất sét dẻo, màu xám, trạng thái nhão
Lớp 2 : Đất sét ít dẻo, lẫn cát, màu xám xanh, trạng thái nhão
Lớp 3 : Đất sét ít dẻo, lẫn cát, màu xám xanh, trạng thái nhão
Lớp 4 : Đất sét , màu xám đen, trạng thái dẻo mềm
Lớp 5 : Đất sét , màu xám đen, trạng thái dẻo mềm

Lớp 6 : Đất sét lẫn cát, màu xanh đen, trạng thái nửa cứng
Lớp 7 : Đất sét, màu xám đen, trạng thái nửa cứng

Hình 1.11 Mặt bằng và mặt cắt bố trí hệ thống giếng cát
Sau khi tính toán độ lún của công trình là 1,09m. Như vậy cần có biện pháp
xử lý nền thích hợp.
Sau khi sử dụng giải pháp giếng cát có gia tải với đường kính giếng cát d =
0.4m, khoảng cách 3 m thì sau 4 tháng thì lún được 0.71m.
Độ lún còn lại là: 1.09 – 0.71 = 0.38m. Khi xây dựng Xilô tải trọng tác
dụng sẽ nhỏ hơn nhiều so với tải trọng 5m đất gia tải. Độ lún còn lại vào khoảng
38cm và sẽ kéo dài trong nhiều năm vì vậy nếu khả năng thi công cho phép thì


-9-

nên tăng chiều dài của giếng cát lên để xử lý tối đa ngay trong thời kỳ đắp đất
gia tải.
5.

Công trình kho xăng dầu Cần Thơ:

Hiện nay với sự phát triển ứng dụng công nghệ vào xử lý nền móng, một số
chuyên gia trong lónh vực nền móng đã đưa vào ứng dụng thành công phương
pháp gia cố sâu bằng cột đất xi măng, điển hình là công trình móng bồn tại kho
xăng dầu Cần Thơ.
Về kết cấu công trình:
Các bể chứa xăng dầu 3000m3, có kết cấu bằng bản thép, nắp có hệ dầm
đỡ mái thép, đáy bể bằng thép. Đường kính bể 21m, chiều cao 9m.
Tổng tải trọng của kết cấu bể
: 92,87 tấn

Tổng tải trọng chất lỏng
: 3000 tấn
Tải trọng lớp bêtông nhựa asfal dày 10cm
: 59 tấn
Tải trọng phân bố của lớp đệm cát đá 0,5 – 1 dày 80cm : 1,67 tấn/m2
Độ lún dự tính của công trình là 25cm. Độ lún theo kết quả thí nghiệm thử
tải tính ở hiện trường trong thời gian 1,5tháng là 10cm.

Hình 1.12 Công trình móng bồn dầu tại kho xăng dầu Cần Thơ sử dụng
thành công giải pháp xử lý nền bằng cọc đất – ximăng.


- 10 -

Đây là một giải pháp hữu hiệu để gia cố nền móng công trình, mang lại
hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao. Thi công không gây tiếng ồn, không làm xáo trộn
các công tác khác, thời gian thi công nhanh hơn nhiều phương án khác, sau khi
thi công xong có thể tiến hành thử tải tỉnh ngay được.
6.

Công trình Bồn dầu 5000 m3 tại Nhà máy điện Cần Thơ:

Sử dụng thành công giải pháp móng cọc BTCT 40x40cm cắm tới tầng đất
sét cứng, không dùng đài cọc mà người ta dùng mũ đầu cọc kết hợp trãi vải địa
kỹ thuật và tôn nền bằng đệm cát cao 1,2m. Đây là một giải pháp mới được sử
dụng cho móng bồn dầu 5000 m3 tại Nhà máy điện Cần Thơ năm 1998.

Hình 1.13 Công trình Bồn dầu 5000 m3 sử dụng cọc BTCT
1.1.3 NHẬN XÉT:
Đánh giá không đúng, không đầy đủ điều kiện địa kỹ thuật (địa chất công

trình, địa chất thủy văn, địa chất kiến tạo, cơ đất – nền móng và kỹ thuật cải tạo
móng, …) của nền công trình luôn luôn dẫn đến hậu quả nặng nề – gây ra thảm
họa hay kết thúc sớm việc khai thác chúng.
Trên thế giới nhiều công trình bị phá hoại do thiếu thông tin hay hiểu chưa
hết về điều kiện địa kỹ thuật nền đất trong khu vực xây dựng, khảo sát địa chất,
tính toán - thiết kế và thi công thiếu chuẩn xác. Trong đó việc thi công không
chuẩn xác rất xảy ra thường xuyên.
Thực tế khảo sát địa kỹ thuật nền đất phục vụ xây dựng các công trình
trong các khu vực TP.HCM và các vùng thuộc ĐBSCL cho thấy: cấu trúc địa
chất nền đất trong vùng trên rất phức tạp, các lớp đất tốt nằm xen kẹp các lớp
đất yếu, chúng lại phân bố không liên tục và có chiều dày rất khác nhau; việc
khai thác nước ngầm phục vụ sinh hoạt của con người cũng như công tác xây
dựng công trình không theo quy hoạch, đó là động lực thúc đẩy quá trình lún nứt


- 11 -

và hư hỏng của những công trình trong khu vực. Ngoài ra, động đất là mối đe
dọa không nhỏ đến ổn định công trình xây dựng và tính mạng con người.
Mọi yếu tố trên đây là một trong số những nguyên nhân chính gây nên
hiện tượng lún nhiều quá mức cho phép, lún lệch hay lún xoắn gây biến dạng
nghiêm
trọng, thậm chí dẫn đến phá hoại các công trình xây dựng.
1.2

TỔNG QUAN CÁC GIẢI PHÁP NỀN MÓNG ÁP DỤNG CHO CÔNG
TRÌNH BỒN CHỨA XĂNG DẦU VÀ CÁC CÔNG TRÌNH TƯƠNG TỰ:

Đặc điểm của các công trình Bồn dầu bằng thép là chiều rộng lớn hơn
chiều cao từ 2 - 3 lần, thường đặt ven sông trên nền đất yếu có lớp bùn sét dày

lớn từ 30 - 40m, đặc biệt có nơi dày 50 m, vùng chịu nén lún phát triển sâu. Vì
vậy việc lựa chọn giải pháp nền móng hợp lý là rất quan trọng.
Ở nước ta, việc xây dựng nền móng các công trình Bồn chứa xăng dầu tại
những vùng đất yếu như tại các Nhà máy điện như Trà Nóc – Cần Thơ, Sóc
Trăng, Cà Màu và khu vực TP.HCM như Nhà máy điện Hiệp Phước nói riêng và
khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung có thể sử dụng các giải pháp
chính sau tùy độ lớn tải trọng. Trong đề tài này nghiên cứu các giải pháp nề n
móng cho các Bồn chứa xăng dầu tại các Nhà máy điện trên vùng đất yếu ven
sông ở Nhà máy điện Trà Nóc - Cần Thơ, Nhà máy điện Sóc Trăng ở ĐBSCL.
1.2.1 Giải pháp xử lý nhằm cải tạo sự phân bố ứng suất và điều kiện biến
dạng của đất nền: (đệm cát)
Khi lớp đất yếu có chiều dày không lớn (≤ 3m) nằm trực tiếp dưới móng
công trình thì có thể áp dụng biện pháp xử lý nhân tạo như đệm cát để gia cố đất
nền nhằm làm tăng khả năng chịu lực và hạn chế mức độ biến dạng của đất.
Nếu chiều dày lớp đất yếu lớn hơn 3m hoặc nước ngầm có áp lực tác dụng
trong phạm vi lớp đệm cát thì không nên dùng biện pháp này để xử lý.
Hiện nay, công trình Bồn dầu 5000 m3 tại Nhà máy nhiệt điện Bà Rịa đã
xử dụng đệm cát thành công, giải pháp đệm cát sử dụng có kết hợp với vải địa
kỹ thuật lót xung quanh phạm vi đệm cát nhằm hạn chế tác dụng của nước
ngầm.
1.2.2 Giải pháp cừ tràm:
Đây là giải pháp mang tính truền thống để áp dụng cho các công trình có
tải trọng nhỏ trên vùng đất yếu. Cừ tràm có chiều dài từ 3 - 5m được đóng để gia
cố nền đất với mục đích là tăng khả năng chịu tải và giảm độ lún. Theo kinh
nghiệm hiện nay thường sử dụng 25 cây/m2.


- 12 -

1.2.3 Giải pháp xử lý nhằm tăng độ chặt của nền đất:

Khi đất có độ rỗng lớn ở trạng thái rời, bão hòa nước, tính nén lớn hoặc đất
có kết cấu dễ bị phá hoại và kém ổn định dưới tác dụng của tải trọng còn nhỏ thì
có thể áp dụng phương pháp như cọc cát để gia cố đất nền nhằm làm tăng độ
chặt của nền đất, tạo điều kiện cho nền đất đủ khả năng chịu lực.
Kinh nghiệm xây dựng cũng như những kết quả đã nghiên cứu cho thấy cọc
cát là một phương pháp có hiệu quả để nén chặt các lớp đất yếu có chiều dày
lớn như các loại đất cát nhỏ, bụi rời ở trạng thái bão hòa nước, các đất cát có
xen kẽ những lớp bùn mỏng, các loại đất dính yếu cũng như các loại đất bùn và
than bùn.
1.2.4 Giải pháp xử lý nền bằng thiết bị thoát nước thẳng đứng kết hợp với
gia tải trước:
a)

Giải pháp giếng cát:

Đất yếu như bùn, than bùn và các loại đất dính ở trạng thái bão hòa nước
có biến dạng lớn kéo dài theo thời gian và sức chịu tải thấp. Nhằm làm tăng độ
bền, tăng khả năng chịu tải, rút ngắn giai đoạn lún cố kết, giếng cát là một trong
những phương pháp tốt nhất, rẻ tiền nhất đáp ứng được yêu cầu này.
b)

Giải pháp bấc thấm:

Bấc thấm nhựa được chế tạo sẵn thay thế cho các giải pháp cọc cát, giếng
cát, cũng có tác dụng như giếng cát, nhưng Bấc thấn có các ưu điểm nổi trội sau:
Các ưu điểm và hiệu quả của nền đất yếu được gia cố bằng bấc thấm:
- Bấc thấm có khả năng thấm nước cao
- Bấc thấm có thể công nghiệp hóa trong việc sản xuất ổn định và dễ
dàng kiểm tra được chất lượng.
- Bấc thấm khi thi công cắm vào đất yếu rất nhanh, rút ngắn được thời

gian thi công, đồng thời phạm vi gây nên sự vấy bẩn và phá hoại kết cấu
của đất nền nhỏ hơn nhiều so với việc thi công cọc cát, giếng cát.
- Đảm bảo chất lượng tính liên tục của đường thoát nước
- Bấc thấm có thể thoát nước tốt trong các điều kiện khác nhau
- Trong quá trình thoát nước và cố kết, bấc thấm đặt trong nền đất yếu sẽ
không xảy ra hiện tượng bị cắt trượt do lún cố kết gây ra.
1.2.5 Giải pháp cọc vôi - xi măng đất:
Giải pháp gia cố nền bằng cọc vôi - xi măng bằng phương pháp trộn sâu,
qua thực tế sử dụng, đã chứng tỏ là một phương pháp cải tạo đất nền hiệu qủa.


- 13 -

Sử dụng giải pháp này làm tăng độ bền, độ ổn định, khả năng chịu lực, giảm độ
lún của nền đất, tăng nhanh thời gian cố kết, giúp đẩy nhanh tiến độ thi công.
Các ứng dụng của cọc vôi xi măng đất:
- Ổn định mái dốc
- Nhà hai đến ba tầng, nhà kho, nhà công nghiệp nhẹ
- Nền đường và nền đường sắt
- Nền đào, mương rãnh tháo nước, cấp nước, ống nhiệt
- Giảm chấn động xe cộ và chấn động tạo bởi nổ phá và đóng cọc
- Nền đường đắp đầu cầu
- Gia cố các nền đất có chất tải bên trên
1.2.6 Xử lý nền bằng vải địa kỹ thuật:
Vải địa có các chức năng: ngăn cách (cách ly), lọc, tiêu nước (cho nước
thoát qua VĐKT), gia cường đất yếu để tăng khả năng chịu tải của đất nền, làm
lớp bảo vệ và ngăn nước (không cho nước thấm qua thấm VĐKT). Thiết kế
VĐKT có sự trợ giúp của máy tính điện tử đã đem lại hiệu quả rất lớn trong lónh
vực gia cường nền đất đắp kém ổn định, gia cường nền đất yếu trong xây dựng
đường ô tô, đường sắt, đường sân bay, tường chắn đất, các công trình đê, đập

thuỷ lợi và nền móng các nhà cao tầng …
Tại TP.HCM VĐKT cũng đã được sử dụng trong một số công trình quan
trọng như tuyến đường Bắc Nhà Bè - Nam Bình Chánh, tuyến đường Hùng
Vương - An Lạc, kho xăng dầu Nhà Bè, Bồn chứa dầu Nhà máy nhiệt điện Bà
Rịa, … Tuy nhiên, vẫn chưa có các tài liệu đánh giá về hiệu qủa của việc sử
dụng VĐKT trong các công trình nêu trên.
1.2.7 Móng cọc bê tông cốt thép:
Móng cọc BTCT áp dụng cho các công trình xây dựng tại Việt Nam trong
thời gian gần đây rất phổ biến, nhất là những công trình có tải trọng lớn đặc biệt
ở những vùng đất yếu ven sông như ở ĐBSCL và một số khu vực ở TP.HCM.
Nhưng việc áp dụng giải pháp này đưa giá thành lên cao nhưng không cũng
không ít công trình gặp sự cố. Do đó việc nghiên cứu kỹ điều kiện địa chất công
trình và tải trọng công để đưa ra giải pháp hợp lý để tính toán nền móng cho các
công trình như các bồn chứa xăng dầu ven sông trên đất như ở ĐBSCL là vấn đề
cần phải quan tâm nghiên cứu.
Mặc dù giá thành cao nhưng việc áp dụng móng cọc cho các công trình có
tải trọng lớn trên vùng đất yếu có chiều dày vẫn là lựa chọn đầu tiên. Vì có
những ưu điểm sau:


×