BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-----------------
TIỂU LUẬN KẾT THÚC MƠN
TRIẾT HỌC
Đề tài:
VAI TRỊ THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG
PHÁP LUẬN CỦA TRIẾT HỌC ĐỐI VỚI
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC
HV: PHAN THANH NHÂN
MSHV: 208140111310023
LỚP: CH28-A3
GVHD: PHẠM THỊ BÌNH
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................... 2
1. Lý do chọn đề tài.............................................................................................................2
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu...................................................................................2
3. Phạm vi nghiên cứu.........................................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................................2
CHƯƠNG 1. LÍ LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC..............................3
1.1 Khái niệm Triết học.........................................................................................................3
1.2 Khái niệm khoa học.........................................................................................................4
1.3 Mối quan hệ giữa triết học và khoa học...........................................................................5
CHƯƠNG II. VAI TRÒ THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA TRIẾT
HỌC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC...............................................................7
2.1 Thế giới quan...................................................................................................................7
2.1.1 Khái niệm thế giới quan...............................................................................................7
2.1.2 Các hình thái thế giới quan..........................................................................................7
2.2 Phương pháp luận............................................................................................................8
2.2.1 Khái niệm phương pháp..............................................................................................8
2.2.2 Khái niệm phương pháp luận.......................................................................................8
2.3 Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối với sự phát triển của khoa
học 9
2.3.1 Triết học là cơ sở để giải thích và định hướng nhận thức và hoạt động của các khoa
học 9
2.3.2 Nhà khoa học không thể thiểu phương pháp luận triết học sáng suốt dẫn đường......12
KẾT LUẬN.........................................................................................................................14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................15
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự đột phá quan trọng trong lịch sử nhân loại là dựa vào sự phát triển khoa học và kỹ
thuật. Từ thiến niên kỷ thứ ba, Khoa học kỹ thuật đã trở thành yếu tố quan trọng của sự phát
triển, là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu. Điều này được phản ánh rõ
trong việc hoạch định các chính sách và chiến lược phát triển khoa học, kỹ thuật và kinh tế
của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào trình độ sự phát triển cụ thể của từng
nước mà xây dựng chiến lược, chính sách phát triển khoa học kỹ thuật mang tính đa dạng và
đặc thù đối với từng giai đoạn phát triển cụ thể phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cơ sở vật
chất của mỗi quốc gia.
Trong những năm gần đây, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại phát triển như
vũ bão làm thay đổi bộ mặt của cuộc sống xã hội, đòi hỏi các nhà triết học và các nhà khoa
học chuyên môn giải quyết đúng đắn và kịp thời những yêu cầu lý luận và thực tiễn cấp
bách. Sự giải đáp này chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở nắm vững và vận dụng một cách
đúng đắn và sáng tạo thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác –
Lênin. Do đó việc nghiên cứu vai trò của triết học đối với khoa học, đặc biệt là vai trò thế
giới quan và phương pháp luận của triết học đối với các khoa học cụ thể càng có ý nghĩa hết
sức quan trọng.
Từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Vai trò thế giới quan và phương pháp
luận của triết học đối với sự phát triển của khoa học”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài làm rõ nội dung: vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối với
sự phát triển của khoa học.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu, làm rõ các khái niệm triết học, khoa học, thế giới quan, phương
pháp luận và vai trò thế giới quan, phương pháp luận của triết học đối với sự phát triển của
khoa học.
4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, phân tích tổng hợp để tư duy, suy luận cho
bài viết.
3
1 CHƯƠNG 1. LÍ LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC.
1.1 Khái niệm Triết học.
Triết học là bộ môn nghiên cứu về những vấn đề chung và cơ bản của con người, thế
giới quan và vị trí của con người trong thế giới quan, những vấn đề có kết nối với chân
lý, sự tồn tại, kiến thức, giá trị, quy luật, ý thức, và ngôn ngữ. Triết học được phân biệt với
những môn khoa học khác bằng cách thức mà nó giải quyết những vấn đề trên, đó là ở tính
phê phán, phương pháp tiếp cận có hệ thống chung nhất và sự phụ thuộc của nó vào tính
duy lý trong việc lập luận.
Về nguồn gốc, triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây từ khoảng thế kỷ
VIII đến thế kỷ VI TCN, tại các quốc gia văn minh cổ đại như: Hy Lạp, Ấn Độ, Trung
Quốc.
Dù ra đời ở phương Đông hay phương Tây, triết học cũng đều là hoạt động tinh thần
biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người. Tồn tại với tư cách là một hình thái ý
thức xã hội.
Đối tượng nghiên cứu của triết học là những mối liên hệ chung nhất của sự vật, hiện
thực khách quan, mối liên hệ giữa thế giới vật chất với những sự vật hiện tượng do con
người tưởng tượng ra và được phản ánh trong các khái niệm, phạm trù, của triết học.
Triết học giải quyết rất nhiều vấn đề có liên quan với nhau. Trong đó, vấn đề quan
trọng nhất hay còn được gọi là vấn đề cơ bản của triết học, gồm hai mặt:
Mặt thứ nhất: Vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau? Cái nào quyết định
đến cái nào?
Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức thế giới xung quanh mình hay không?
Để giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học, trong lịch sử triết học đã chia
thành các trường phái lớn, trong đó nổi bật:
Trường phái 1: Những người cho rằng vật chất có trước và giữ vai trò quyết định.
Những người này được gọi là các nhà duy vật và các học thuyết của họ hợp thành chủ nghĩa
duy vật.
Trường phái 2: Những nhà triết học cho rằng ý thức là cái có trường và giữ vai trò
quyết định. Họ được gọi là nhà triết học duy tâm và tập hợp các học thuyết của họ hợp
thành chủ nghĩa duy tâm.
Trường phái 3: Bao gồm những nhà triết học cho rằng vật chất và ý thức tồn tại song
song với nhau, không cái nào quyết định cái nào cả hai cùng là nguồn gốc tạo ra thế giới
được gọi là các nhà nhị nguyên. Các học thuyết của họ hợp thành học thuyết nhị ngun
luận (Decacton).
Mặc dù có vẻ nằm hồn tồn trong phạm trù trừu tượng, triết học cũng có áp
dụng thực tiễn. Điển hình nhất là áp dụng trong nguyên tắc xử thế, như nguyên tắc xử thế
trong nghề nghiệp, và triết lý chính trị. Triết lý chính trị và kinh tế của Khổng Phu
4
Tử, Kautilya, Tôn Tử, John Locke, Jean-Jacques Rousseau, Karl Marx, John Stuart
Mill, Mahatma Gandhi, Robert Nozick và John Rawls đã được dùng làm nền móng hình
thành các triều đại, chính quyền cũng như làm cơ sở biện minh cho hành động của họ.
Triết học giáo dục "Giáo dục tiên tiến" do John Dewey chủ trương có ảnh hưởng sâu
đậm trong phương pháp giáo dục tại Hoa Kỳ trong thế kỷ 20 hoặc các ẩn dụ tôn giáo đã giáo
dục nhân gian về tâm lý con người, và sức mạnh của quan hệ giữa người với người.
Một áp dụng thực tiễn nữa của triết học là trong nhận thức luận - một ngành triết học
tìm hiểu về sự hiểu biết, bằng chứng cụ thể và sự thật thoả đáng. Hai thí dụ của nhận thức
luận và logic áp dụng trong thực tế hằng ngày là tin tức báo chí và các cuộc điều tra của
cảnh sát. Nhận xét, suy diễn logic chung chung có khả năng giúp cho cơng dân có thể phán
xét khi nghe, đọc tin tức hay bài bình luận, thảo luận. Triết lý trong khoa học tìm hiểu và
giải thích về những khúc mắc trong phương pháp khoa học. Mỹ học giúp diễn đạt về nghệ
thuật. Ngay cả bản thể học, một ngành triết rất trừu tượng và có vẻ ít có áp dụng nào thực
tiễn, lại góp phần quan trọng trong suy luận logic của ngành khoa học máy tính.
Thường thì triết học được xem là một nghiên cứu một lĩnh vực chưa được hiểu đủ để
có thể trở thành nhánh tri thức của riêng mình. Những gì ngày xưa từng chỉ là các chủ đề
triết học thì đến thời hiện đại đã trở thành các ngành riêng, chẳng hạn tâm lý học, xã hội
học, ngôn ngữ học, và kinh tế học. Khoa học máy tính, khoa học nhận thức và trí tuệ nhân
tạo là các lĩnh vực nghiên cứu hiện đại mà triết học đã từng đóng một vai trị quan trọng
trong q trình phát triển.
Hơn thế, một phân ngành triết học mới phát triển để áp dụng triết học vào những vấn
đề của cuộc sống thường ngày được gọi là "triết học lời răn" (philosophical counseling).
Nhiều nhà triết học phương Đơng có thể giúp hàng triệu người đang chịu sự dằn vặt tâm lý
bằng cách xem xét sự phiền muộn của họ bằng cách thiền để gợi lại ký ức và sợi dây kết nối
sức mạnh giữa sức mạnh thể chất và sức mạnh tâm hồn.
1.2 Khái niệm khoa học
Khoa học là hệ thống tri thức về các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy được tích
luỹ trong lịch sử. Khoa học là kết quả của q trình tích cực nhận thức hiện thực khách
quan và tư duy trừu tượng.
Khoa học có nguồn gốc sâu xa từ trong thực tiễn lao động sản xuất. Những hiểu biết
ban đầu thường được tồn tại dưới dạng kinh nghiệm. Tri thức kinh nghiệm là những hiểu
biết được tích luỹ một cách ngẫu nhiên trong đời sống hàng ngày nhờ đó con người hình
dung được sự vật, biết phản ứng trước tự nhiên, biết ứng dụng trong quan hệ xã hội. Tuy
chưa đi sâu vào bản chất sự vật, song những tri thức kinh nghiệm làm cơ sở cho sự hình
thành các tri thức khoa học.
Quá trình phát triển khoa học có 2 xu hướng: thứ nhất là sự tích hợp những tri thức
khoa học thành hệ thống chung. Xu hướng thứ hai là sự phân lập các tri thức khoa học thành
5
những ngành khoa học khác nhau. Hai xu hướng này ngược chiều nhau nhưng không loại
trừ mà thống nhất với nhau.
Theo cách phân loại của Các Mác, khoa học được phân thành hai loại:
+ Khoa học tự nhiên: Có đối tượng là các dạng vật chất và các hình thức vận động của
các dạng vật chất đó được thể hiện trong giới tự nhiên cùng những mối liên hệ và quy luật
giữa chúng như: Cơ học, toán học, sinh vật học,...
+ Khoa học xã hội hay khoa học về con người: có đối tượng là những sinh hoạt của
con người, những quan hệ xã hội của con người cũng như những quy luật, những động lực
phát triển của xã hội như: sử học, kinh tế học, triết học...
1.3 Mối quan hệ giữa triết học và khoa học
Vấn đề về mối quan hệ về mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên (KHTN)
nói riêng hay khoa học cụ thể nói chung, đặc biệt là vấn đề về chức năng phương pháp luận
của triết học đối với khoa học cụ thể, vốn là những vấn đề hết sức quan trọng trong di sản
triết học của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin. Vấn đề này cũng đã được nhiều tác giả ở
nước ta bắt đầu nghiên cứu từ những năm 1960 – 1970.
Ngay từ những thập niên 1960 – 1970, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đã
thấy rõ được tầm quan trọng của việc nghiên cứu mối quan hệ giữa Triết học Mác và Các
Khoa học cụ thể, và chỉ có việc nắm vững, nghiên cứu và vận dụng sáng tạo những tư tưởng
về các vấn đề này của các tác gia kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin mới có thể thực
hiện được những vấn đề mà các đồng chí lãnh đạo đã dặn dị.
Triết học tác động vào KHTN trước tiên là thông qua thế giới quan và phương pháp
luận khoa học. V.I.Lênin đã nói đến ý nghĩa to lớn của phương pháp biện chứng duy vật của
chủ nghĩa Mác đối với KHTN.
Những phát hiện của khoa học tự nhiên và kỹ thuật từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa
cuối thế kỷ XIX đòi hỏi phải khái quát về mặt triết học để vạch ra các mối liên hệ giữa các
quá trình diễn ra trong tự nhiên, nhận thức bản chất quá trình phát triển cuả tự nhiên. Điều
đó khơng thể thực hiện được với thế giới quan duy tâm và phương pháp siêu hình, kể cả
phép biện chứng duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình. Tuy nhiên, nó đã tạo điều kiện
chín muồi cho phép biện chứng duy vật ra đời.
Mác và Ăngghen cũng đã khái quát về mặt triết học toàn bộ những thành tựu khoa học
tự nhiên thế kỷ XIX để xây dựng nên chủ nghĩa duy vật biện chứng của mình, phê phán
quan niệm cũ siêu hình và vạch rõ phép biện chứng khách quan vốn có của mọi hiện tượng,
quá trình trong tự nhiên.
Hàng loạt phát minh trong khoa học tự nhiên thế kỷ thứ XIX đã góp phần to lớn vào
sự phát triển của xã hội và sự đổi mới tư duy, ngoài ba phát minh vạch thời đại - định luật
bảo tồn và chuyển hóa năng lượng, thuyết tế bào, thuyết tiến hóa của Đácuyn cịn có những
đóng góp khơng nhỏ của một số lĩnh vực khoa học khác.
Tất cả những thành tựu mới trong khoa học tự nhiên và kỹ thuật hiện nay và mai sau
càng làm giàu thêm sức sống của thế giới quan duy vật biện chứng.
6
Sự phát triển của tri thức khoa học tự nhiên ngay từ cuối thế kỷ XIX và đặc biệt là
trong thế kỷ XX đem lại những cái mới mà những quan điểm của Ăngghen về các hình thức
cụ thể của vận động vật chất, tất nhiên đã lạc hậu. Nhưng, việc tiếp cận biện chứng chung
đến chỗ hiểu được các kết quả phát triển khoa học, đến việc giải thích giới tự nhiên vẫn còn
giữ nguyên ý nghĩa của chúng trong thời đại ngày nay.
Triết học không thể khái quát các quan niệm và kết luận triết học từ đâu khác ngoài
các dữ liệu của khoa học và của đời sống thực tiễn.
Triết học ra đời trên cơ sở của sự phát triền của đời sống vật chất - kinh tế của xã hội,
và trên cơ sở đó đã phát triền lên theo tính quy luật khách quan vốn có của nó. Sự ra đời và
phát triền của triết học lại liên hệ khăng khít với sự ra đời và phát triển của khoa học tự
nhiên.
Thiếu kiến thức khoa học và dữ liệu đời sống cập nhật, nhà triết học khơng thể có tư
duy triết học hợp lý, đúng đắn; triết học trở nên xa rời thực tiễn.
7
2
CHƯƠNG II. VAI TRÒ THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA
TRIẾT HỌC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC
2.1 Thế giới quan
2.1.1 Khái niệm thế giới quan.
Thế giới quan là hệ thống những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới và
về vị trí của con người trong thế giới đó, nhằm giải đáp những vấn đề về mục đích, ý nghĩa
của cuộc sống.
Thế giới quan là một hệ thống gồm nhiều yếu tố, trong đó có bốn yếu tố cơ bản tồn
tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau. Đó là tri thức, niềm tin, lý trí và tình cảm.
Thế giới quan gồm các cấp độ: thế giới quan thông thường và thế giới quan lý luận.
Thế giới quan thơng thường hình thành trực tiếp, tự phát từ cuộc sống thường ngày;
có tính quần chúng rộng rãi; gắn với cộng đồng dân tộc, với đặc điểm của từng địa phương
và tôn giáo; biểu hiện qua ca dao, tục ngữ, thói quen, truyền thống, v.v..
Thế giới quan lý luận mang tính tự giác; được luận chứng bằng lý luận; có tính hệ
thống; có bộ phận chủ yếu là triết học.
2.1.2 Các hình thái thế giới quan
Trong lịch sử xã hội, thế giới quan được thể hiện qua nhiều hình thái ý thức xã hội
khác nhau, trong đó, các hình thức chủ yếu là thần thoại, tơn giáo và triết học.
Thần thoại là hình thức thế giới quan đặc trưng cho trình độ nhận thức cịn thấp của
người nguyên thủy trong giai đoạn sơ khai của lịch sử lồi người. Nó là kết quả của sự cảm
nhận còn rất ấu trĩ của người nguyên thủy về thế giới khánh quan và về bản thân
mình.Trong đó, các yếu tố hiện thực và tưởng tượng, cái có thật và cái hoang đường, lý trí
và tín ngưỡng, tư duy và xúc cảm hịa quyện vào nhau mà chưa có sự tách biệt rõ ràng.
Thần thoại lưu tồn ở mọi dân tộc trên thế giới và mãi về sau vẫn tiếp tục tồn tại ở những
cộng đồng dân cư có trình độ sản xuất và năng lực tư duy lý luận cịn thấp kém.
Tơn giáo là thế giới quan duy tâm, phản ánh hiện thực một cách hư ảo. Tôn giáo ra
đời trong điều kiện trình độ nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người người còn hết
sức thấy kém, khi mà con người bất lực trước lực lượng tự nhiên cho nên đã gán cho nó
một bản chất siêu tự nhiên, một thế mạnh siêu thế gian. Đặc trưng chủ yếu của thế giới
quan tôn giáo là niềm tin vào sự tồn tại của các đấng siêu tự nhiên được coi như là thần
thánh mầu nhiệm, qua đó nhằm gửi gắm nguyện vọng giải thoát khỏi cảnh sống lầm than,
đau khổ và vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn.
Thế giới quan triết học chỉ xuất hiện khi sự phát triển của tư duy lồi người đạt tới
một trình độ nhất định, khi trong xã hội có sự phân chia giữa lao động trí óc và lao động
chân tay. Triết học không chỉ nêu lên các quan điểm mà cịn giải thích, chứng minh cho các
quan điểm đó. Triết học phản ánh thế giới bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật.
Ngoài các quan điểm triết học, thế giới quan còn thể hiện ở các quan điểm chính trị,
kinh tế, đạo đức, thẩm mĩ, v.v. Tuy nhiên, các quan điểm này đều dựa trên cơ sở lý luận
8
chung là triết học. Các quan điểm triết học có vai trị liên kết các quan điểm chính trị, kinh
tế, đạo đức, thẩm mĩ và các hiểu biết khác của con người thành một hệ thống thống nhất.
Như vậy, triết học đóng vai trị cơ sở lý luận, "hạt nhân" lý luận của thế giới quan.
Ngay từ khi mới ra đời, triết học đã là hệ thống những quan điểm lý luận chung nhất về
thế giới và về vị trí của con người trong thế giới.
2.2 Phương pháp luận
2.2.1 Khái niệm phương pháp
Xét về nguồn gốc, thuật "phương pháp" bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp "methodos", có
nghĩa là con đường, công cụ nhận thức và hành động. Theo nghĩa thông thường, phương
pháp là cánh thức mà chủ thể sử dụng nhằm thực hiện mục đích vạch ra. Theo nghĩa khoa
học, phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được ra từ tri thức về các quy luật khách
quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục đích
nhất định.
Phương pháp có nhiều loại, nhiều cấp độ khác nhau. Xét về loại hình hoạt động,
phương pháp gồm có: phương pháp nhận thức và phương pháp hoạt động thực tiễn.
Phương pháp nhận thức là sự tổng hợp những cách thức, những thao tác của tư duy
nhằm nhận thức chân lý.
Phương pháp thực tiễn là sự tổng hợp những biện pháp, những phương thức hoạt
động thực tiễn cụ thể cảm tính của con người nhằm tác động vào thế giới khách quan.
Cả hai loại phương pháp trên đây đều được quy định bởi bản chất khách quan của
khách thể nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Theo mức độ phổ biến và phạm vi ứng dụng, phương pháp được chia thành phương
pháp riêng, phương pháp chung và phương pháp phổ biến.
Phương pháp riêng chỉ áp dụng cho từng bộ môn khoa học cụ thể (phương pháp vật
lý học, phương pháp toán học, phương pháp xã hội học, v.v..), phương pháp chung áp dụng
cho nhiều ngành khoa học khác nhau (các phương pháp quan sát, thí nghiệm,
mơ hình hóa…) và phương pháp phổ biến (phương pháp của triết học Mác - Lênin)
được áp dụng cho mọi lĩnh vực khoa học và hoạt động thực tiễn.
2.2.2 Khái niệm phương pháp luận
Phương pháp luận là một hệ thống những quan điểm lý luận, những nguyên tắc xuất
phát có căn cứ khoa học và thực tiễn để chỉ đạo chủ thể trong việc lựa chọn phương pháp
cũng như xác định phạm vi, khả năng ứng dụng phương pháp một cách hợp lí, đạt kết quả
cao nhất.
Phương pháp luận có tính chất thuần túy về mặt lý luận, những vấn đề đặt ra trong đó
nặng về tư duy lý tính; cịn phương pháp lại bao hàm cả lý luận và thực tiễn, trong đó vừa
có tư duy lý tính vừa là kinh nghiệm cảm tính. Mục đích của phương pháp luận khơng phải
để xác định từng phương pháp đơn lẻ, cụ thể mà chủ yếu là để soi rọi những nguyên tắc
chung, có tính hợp lí trong việc xác định, áp dụng phương pháp.
Phương pháp luận cũng được phân chia theo các cấp độ khác nhau: phương pháp luận
9
bộ môn, phương pháp luận khoa học chung và phương pháp luận chung nhất.
Phương pháp luận bộ môn là phương pháp luận của các bộ mơn khoa học cụ thể
(tốn, vật lí, sinh, lịch sử...), đó là những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát để xác
định các phương pháp nhằm giải quyết các nhiệm vụ khoa học thuộc phạm vi nghiên cứu
của từng bộ môn.
Phương pháp luận khoa học chung là những quan điểm, những nguyên tắc chung hơn
phương pháp luận bộ môn, chỉ đạo phương pháp luận của một nhóm ngành khoa học nhất
định. Chẳng hạn, phương pháp luận chung của các ngành khoa học tự nhiên, phương pháp
luận chung của các ngành khoa học xã hội - nhân văn, v.v..
Phương pháp luận chung nhất là phương pháp luận triết học. Nó khái quát những
quan điểm, những nguyên tắc chung nhất làm căn cứ xuất phát cho việc xác định phương
pháp luận chung, phương pháp luận bộ môn và các phương pháp hoạt động nhận thức, hoạt
động thực tiễn.
2.3 Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối với sự phát triển của
khoa học
2.3.1 Triết học là cơ sở để giải thích và định hướng nhận thức và hoạt động của các
khoa học
Chúng ta đều biết rằng, khoa học càng phát triển và nhất là khi khoa học gặp phải
những khó khăn (gặp phải những tình huống có vấn đề) thì dù muốn hay khơng người ta
cũng khơng thể khơng tìm đến triết học. Lịch sử đã cho thấy, những người sáng lập ra cơ
học lượng tử, sáng lập ra những ngành vật lý khác nhau - họ đều là những nhà vật lý học lỗi
lạc của thế kỷ 20 - bản thân họ đều là những người ủng hộ hoặc theo một trường phái triết
học nào đó. Thực tế là càng nghiên cứu về sau và khi họ có được những phát minh làm cơ
sở cho những lý thuyết mới thì quan điểm cũng thay đổi một cách căn bản khi cho rằng:
Khoa học tự nhiên không thể thiếu triết học được. Theo Ăngghen thì: Các nhà khoa học tự
nhiên khơng thể thiếu triết học. Vấn đề ở chỗ họ muốn được dẫn dắt bởi một thứ triết học
đúng đắn hay một thứ triết học hợp thời trang.
Như vậy là cùng với sự phát triển của khoa học (nhất là những tình huống có vấn đề),
người ta lại càng phải quan tâm đấn triết học nhiều hơn. Đặc biệt khoảng giữa thế kỷ 19 khi khoa học chưa có những phát minh mang tính thời đại cũng có nghĩa là lúc đó khoa học
tự nhiên gặp khủng hoảng và người ta đã giải thích nó theo những cách khác nhau, cuối
cùng là dẫn đến cách giải thích duy tâm về những thành tựu mới đó. Đây chính là lúc triết
học thể hiện sâu sắc vai trị định hướng của mình.
Sang thế kỷ 20, khoa học đã bùng nổ trên các lĩnh vực, đặc biệt là sinh học. Dường
như tất cả các trường phái đều quan tâm và đều tìm cách giải thích có lợi cho triết học của
mình, đặc biệt là tơn giáo. Có thể nói, sự quan tâm đến khía cạnh phương pháp luận là do
nhu cầu của thực tiễn, đòi hỏi phải giải quyết những vấn đề do cuộc sống đặt ra; do bản thân
sự phát triển của khoa học, khoa học phải giải quyết những vấn đề khó khăn, những tình
huống có vấn đề và liên quan đến cuộc đấu tranh giữa những lập trường triết học khác nhau.
10
Lịch sử cho thấy, một quan niệm về phương pháp luận được thừa nhận là đúng đắn khi
quan niệm đó cho rằng: Phương pháp luận là hệ thống lý luận về phương pháp nghiên cứu,
phương pháp nhận thức và cải tạo hiện thực. Tất cả những lý luận và nguyên lý nào có tác
dụng hướng dẫn, gợi mở, chỉ đạo đều là những lý luận và nguyên lý có ý nghĩa phương
pháp luận. Mọi nguyên lý thế giới quan đều có tác dụng ấy, chúng hợp thành nội dung của
phương pháp luận.
Trên thực tế, chúng ta thấy có nhiều loại thế giới quan và triết học là thế giới quan,
mọi triết học đều là thế giới quan. Dĩ nhiên, đó có thể là thế giới quan khoa học hoặc khơng
khoa học. Song không phải mọi thế giới quan đều là triết học. Triết học là khoa học về các
quy luật chung nhất của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy con người. Bởi vậy,
thế giới quan triết học macxit là sự tổng hợp lý luận của những quan điểm chung nhất về tự
nhiên, xã hội, về con người và về nhận thức.
Bất cứ một ngành khoa học nào cũng có phương pháp của họ. Điều đó có nghĩa
phương pháp luận phải có cấu trúc chung và chúng ta có thể nhìn nhận cấu trúc chỉnh thể ấy
từ 3 bộ phận:
- Những nguyên lý thế giới quan: Đây là bộ phận hết sức quan trọng. Tuy nhiên,
không phải mọi nguyên lý thế giới quan đều được đưa đồng đều vào phương pháp luận của
các khoa học mà chỉ sử dụng những ngun lý thích hợp để có thể thực hiện được nhiệm vụ
chỉ đạo, hướng dẫn, gợi mở tuỳ theo tính chất của từng khoa học hoặc từng nhóm khoa học.
- Lý luận về một hệ thống các phương pháp: Điều này có nghĩa là nói đến lý luận về
một hay nhiều phương pháp có thể dùng chung cho nhiều khoa học. Vấn đề ở đây là phải
làm rõ nội dung của phương pháp đó là gì? quan hệ giữa các phương pháp? phạm vi, khả
năng và nguyên tắc ứng dụng của các phương pháp?
- Lý luận về một phương pháp cụ thể nào đó sẽ được sử dụng ở bộ mơn này hay bộ
mơn khác. Nói cách khác thì đó chính là phương pháp nghiên cứu đặc thù của một môn
khoa học (những nguyên lý và lý thuyết của bản thân khoa học đó hay của các khoa học
khác có vai trị gợi mở, hướng dẫn, chỉ đạo mà khoa học này cần sử dụng hoặc có thể sử
dụng).
Với một cơ cấu như vậy, phương pháp luận của các khoa học cụ thể sẽ bao gồm được
cả cái chung và cả cái riêng, bao gồm được các nguyên lý và phương pháp phổ biến cũng
như các nguyên lý và phương pháp của từng ngành khoa học hay của một nhóm khoa học;
sẽ tránh được xu hướng tuyệt đối hoá một mặt nào đấy; sẽ tránh được quan điểm thực chứng
muốn loại trừ triết học ra khỏi phương pháp luận của khoa học cụ thể.
Có thể nói, trong chỉnh thể phương pháp luận, phần chung nhất chúng ta thấy được
là những nguyên lý thế giới quan. Vậy câu hỏi đặt ra là tại sao nguyên lý thế giới quan lại
quan trọng như thế? Tại sao thế giới quan lại đóng được vai trị phương pháp luận? Trên
thực tế, chúng ta cần khẳng định rằng: Trong những nguyên lý thế giới quan đã tổng kết,
đúc kết sự hiểu biết chính xác, khoa học và đầy đủ về một đối tượng, về một sự vật, về một
quá trình trong phạm vi cho đến thời điểm đó.
11
Sự hiểu biết của con người không phải là sự bất động, bất biến và chúng ta phải thừa
nhận rằng các nguyên lý thế giới quan phản ánh những gì bản chất nhất, là những cái không
thể thiếu được nhưng tất nhiên nó chưa phải là đầy đủ nhất. Và đây cũng chính là chỗ khác
nhau cơ bản giữa quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng với các quan điểm tuyệt đối hố
một tri thức nào đó. Thực tế là nhận thức của chúng ta khơng bao giờ có giới hạn, không đi
tới cái giới hạn cuối cùng mà chỉ là dần tới cái giới hạn, cái tuyệt đối mà thơi.
Tóm lại, mọi ngun lý thế giới quan sở dĩ đóng được vai trị phương pháp luận là nhờ
trong những nguyên lý đó đã tổng kết, đã đúc kết lại những gì đúng nhất, chính xác nhất,
khoa học nhất về các sự vật, đối tượng, quá trình diễn ra trong thế giới xung quanh ta.
Chúng ta có thể dẫn ra đây những nguyên lý thể giới quan đã cho thấy được vai trị phương
pháp luận của nó:
- Trong tác phẩm "Chống Đuyrinh", Ăngghen đã khẳng định: Thế giới thống nhất ở
tính vật chất của nó chứ khơng phải ở sự tồn tại của nó. Đây là một nguyên lý thế giới quan
đóng vai trị định hướng, gợi mở trong khoa học bởi lẽ khi khẳng định thế giới thống nhất ở
tính vật chất của nó, điều đó có nghĩa đã định hướng, gợi mở cho người ta phải đi tìm các
dạng vật chất khác nhau, đi tìm sự biểu hiện đa dạng của vật chất (từ vật chất vô cơ, vật chất
hữu cơ đến các bậc tổ chức từ thấp đến cao của vật chất...).
- Nguyên lý: Điện tử cũng vô cùng tận như nguyên tử, tự nhiên là vơ tận... (Theo Lê
Nin). Trước đó Ăngghen cũng đã từng khẳng định: Không thể coi nguyên tử là phần tử vật
chất nhỏ nhất... Nguyên lý này đã gợi mở cho các ngành khoa học phát triển, đặc biệt là vật
lý học và sinh học. Đó là một nguyên lý thế giới quan đúng đắn. Nó vĩ đại ở chỗ nhờ đó mà
người ta phát hiện ra rằng: thế giới khơng chỉ vơ tận về phía vĩ mơ mà cịn vơ tận về phía vi
mơ và siêu vi mơ.
Trên đây là một vài ví dụ được dẫn ra để minh chứng một điều rằng: những nguyên lý
thế giới quan hoàn toàn có thể đống vai trị phương pháp luận. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về
phương pháp luận chúng ta cũng nên lưu ý một số điểm sau:
- Triết học không phải là khoa học của mọi khoa học như cách hiểu của chúng ta
trước đây và chúng ta cũng không nên tuyệt đối hố vai trị của triết học. Các loại triết học
khác nhau đều có thể đóng được vai trị phương pháp luận. Chỉ có điều, phương pháp luận
đó đúng hay sai, dẫn người ta đi đến phát minh hay bế tắc. Hay nói một cách khác, mọi
nguyên lý triết học dù khoa học hay khơng khoa học đều có tác dụng định hướng, gợi mở;
chỉ có điều nó định hướng đúng hay sai, chỉ cho người ta đi đúng hoặc đi sai đường. Điều
đó có nghĩa việc chúng ta xác định đúng vai trò của triết học trong điều kiện thế giới đương
đại, trong điều kiện phát triển khoa học kỹ thuật như hiện nay là một việc làm hết sức cần
thiết.
- Khi nói tới phương pháp luận, chúng ta không thể đồng nhất chủ nghĩa duy vật biện
chứng với phương pháp luận của khoa học tự nhiên và chủ nghĩa duy vật lịch sử với phương
pháp luận của khoa học xã hội. Chúng ta phải nhớ rằng triết học macxit là một khối thép
duy nhất đúc thành..., không nên quá đối lập cái duy vật với cái lịch sử. Mac và Ăngghen đã
12
làm nên một cuộc cách mạng trong triết học - đó là biến chủ nghĩa duy vật thành chủ nghĩa
duy vật biện chứng, biến phép biện chứng thành phép biện chứng duy vật... và chúng ta phải
hiểu nó trong tính chỉnh thể vốn có.
- Theo quan niệm chung hiện nay về phương pháp luận thì có: Phương pháp luận
riêng chỉ áp dụng cho một môn khoa học nhất định; phương pháp luận chung áp dụng cho
một số bộ môn khoa học; phương pháp luận chung nhất áp dụng được cho tất cả các bộ
môn khoa học. Phương pháp luận chung nhất, phổ biến nhất đó là triết học duy vật biện
chứng. Sở dĩ triết học macxit đóng vai trị là phương pháp luận chung nhất là do các nguyên
lý thế giới quan chính là sự đúc kết, tổng kết những gì là cơ bản nhất, sâu sắc nhất, khoa học
nhất về tự nhiên, xã hội và tư duy.
Trong trình độ phương pháp luận, có phương pháp luận chung và phương pháp luận
riêng nhưng không thể thiếu được nguyên lý chung nhất là nguyên lý thế giới quan. Điều đó
cũng có nghĩa chúng ta phải xác định đúng vị thế, vị trí, vai trị của triết học để tránh quay
trở lại triết học tự nhiên.
2.3.2 Nhà khoa học không thể thiểu phương pháp luận triết học sáng suốt dẫn đường
Theo V.I.Lênin, “Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx là thành tựu vĩ đại nhất của tư
tưởng khoa học. Một lý luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn
xộn và tuỳ tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị; lý
luận đó chỉ cho ta thấy rằng, do chỗ lực lượng sản xuất lớn lên, thì từ một hình thức tổ chức
đời sống xã hội này, nảy ra và phát tiển lên như thế nào một hình thức tổ chức đời sống xã
hội khác, cao hơn.
Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học thiếu tư duy triết học sáng suốt dẫn
đường, thì khó có thể xác định tốt những định hướng nghiên cứu đúng đắn, tối ưu để đi tới
những phát minh, sáng chế.
Chúng ta đã và đang trải qua một thời kỳ dài đầy những biến đổi sâu sắc, tồn diện và
nhanh chóng trong mọi lĩnh vực khoa học - công nghệ. Các ngành khoa học tự nhiên, mà
trước hết là vật lý học hiện đại đã và đang phát triển mạnh mẽ. Q trình phân lý và tích
hợp tri thức khoa học diễn ra nhanh chóng đưa đến sự hình thành những ngành khoa học
mới chuyên sâu hay giáp ranh của các ngành khoa học cũ. Tình thế này đã làm cho việc
tổng hợp tri thức khoa học tự nhiên trở thành một vấn đề cấp bách hơn bao giờ hết. Một
trong những hình thức tổng hợp tri thức khoa học tự nhiên là xây dựng bức tranh khoa học
tự nhiên về thế giới.
Trong thực tế, các nhà khoa học đạt tới trình độ cao trong các khoa học chuyên ngành
thường là những người có tư duy triết học sâu sắc. Cho dù họ có thái độ thế nào đi nữa
cũng vẫn bị triết học chi phối. Bức tranh khoa học tự nhiên về thế giới là sản phẩm đặc
trưng cho một giai đoạn lịch sử phát triển nhất định của khoa học tự nhiên, nó có thể được
xem như là mơ hình lý tưởng tổng quát về giới tự nhiên mà đông đảo các nhà khoa học tự
nhiên ở thời đại đó quan niệm. Bức tranh khoa học tự nhiên về thế giới không phải là một
bảng tổng kết các tri thức của các ngành khoa học tự nhiên, lại càng không phải là triết học
13
tự nhiên mà là một chỉnh thể tinh thần mang tính tổng hợp các tri thức cơ bản tự nhiên dựa
trên các giá trị tinh thần của thời đại.
Mặc dù việc xây dựng bức tranh khoa học tự nhiên về thế giới là công việc của các
nhà khoa học tự nhiên, nhưng bức tranh khoa học tự nhiên về thế giới không thể được xây
dựng thuần túy từ các thành tựu của các ngành khoa học tự nhiên được. Bức tranh khoa
học tự nhiên về thế giới là một công trình sáng tạo khoa học vượt ra ngồi khn khổ của
bản thân khoa học tự nhiên, nó địi hỏi phải dựa trên tính gợi mở của những ý tưởng và
phong thái tư duy triết học nói riêng, của những giá trị phải gắn liền với- những nhu cầu và
khả năng hoạt động thực tiễn của thời đại đó. Nếu khơng thỏa mãn những địi hỏi cơ bản
như thế thì nó khơng cịn mang bản tính khoa học, mà ngược lại, nó bộc lộ tính tư biện,
tính giáo điều, thậm chí, cịn có thể đầy vẻ thần bí nữa. Lênin từng nói: “Coi thường phép
biện chứng, coi thường quy luật, coi thường logic khách quan… không tránh khỏi dẫn tới
sai lầm trong bản thân lĩnh vực chuyên sâu”.
Trong giai đoạn hiện nay, việc nghiên cứu bức tranh khoa học tự nhiên về thế giới là
rất cần thiết. Đối với các ngành khoa học tự nhiên, nó góp phần làm sáng tỏ những khả
năng và triển vọng phát triển của các ngành khoa học tự nhiên, tạo tiền đề để xây dựng
những lý thuyết chuyên sâu, vạch ra những mối liên hệ để xây dựng những ngành khoa học
giáp ranh... Đối với triết học và thế giới quan thời đại, nó trực tiếp góp phần xây dựng cơ
sở khoa học vững chắc cho triết học và thế giới quan thời đại, nó củng cố mối liên minh
giữa các nhà khoa học tự nhiên hiện đại và các nhà triết học duy vật biện chứng... Cịn đối
với thực tiễn và văn hóa, nó trang bị cho con người những công cụ tinh thần để hoạch định
các chiến lược lâu dài ứng xử với thế giới xung quanh, chỉ rõ tính chế ước của thực tiễn
sinh động và văn hóa ổn định đến tư duy khoa học của thời đại.
14
3 KẾT LUẬN
Từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể thấy triết học có vai trị rất quan trọng
đối với hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, mà hơn hết là nó có vai trị to lớn đối
với sự phát triển của khoa học, đặc biệt là về mặt thế giới quan và phương pháp luận.
Như chúng ta đã biết, trong bối cảnh tồn cầu hóa hiện nay, khi mà những biến động
về kinh tế, xã hội và cả tự nhiên đang diễn ra mạnh mẽ, cuộc cách mạng cơng nghiệp 4.0
có tác động sâu sắc đến đời sống con người thì thế giới quan và phương pháp luận của triết
học có vai trị hết sức to lớn, nó định hướng cho con người nói chung và các nhà khoa học
trên thế giới nói riêng có được những cái nhìn và hướng đi đúng đắn.
Triết học Mác – Lênin trang bị cho con người hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy
luật làm công cụ nhận thức khoa học; giúp con người phát triển tư duy khoa học, đó là tư
duy ở cấp độ phạm trù, quy luật.
Đối với Việt Nam, triết học duy vật biện chứng đã và đang đóng vai trị vơ cùng quan
trọng trong sự nghiệp đổi mới đất nước. Với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất
của con người về thế giới, về vị trí, vai trị của con người trong thế giới đó, triết học đóng
vai trị là hạt nhân lý luận của thế giới quan. Triết học giữ vai trị định hướng cho q trình
củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử. Trang bị
thế giới quan đúng đắn mới chỉ là một mặt của triết học Mác - Lênin. Đảng ta xác định:
“Phát triển khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển
nhanh và bền vững”
15
4 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Bộ giáo dục và đào tạo (2019), Giáo trình Triết học Mác – Lênin, Nhà xuất bản
chính trị quốc gia.
[2]. PGS.TS.Nguyễn Lương Bằng, Bài giảng Vai trị của khoa học, cơng nghệ trong
sự phát triển của xã hội.
[3]. PGS.TS.Nguyễn Lương Bằng, Bài giảng Mối quan hệ giữa Triết học và các khoa
học.