TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG
LẦN THỨ XV – SƠN LA 2019
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI
MÔN: NGỮ VĂN – KHỐI: 10
Thời gian: 180 phút
Ngày thi: 27/7/2019
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Câu 1: (8,0 điểm)
Suy nghĩ của anh/chị về bài học mà người mẹ trong câu chuyện dưới đây muốn nhắn gửi tới con trai mình khi bà
nói “bờ vai là bộ phận cơ thể quan trọng nhất của con người”:
Mẹ tôi từng hỏi tôi rằng bộ phận nào là quan trọng nhất trên cơ thể, và qua nhiều năm, tơi đã ln đốn cái này
cái nọ, mỗi lần tơi đều nghĩ mình đã có được câu trả lời chính xác. Khi cịn nhỏ, tơi nghĩ đơi tai hay đơi mắt chính
là bộ phận cơ thể quý giá nhất của con người. Nhưng theo mẹ tôi, câu trả lời của tôi vẫn chưa thỏa đáng vì nhiều
người vẫn có thể sống bình thường và làm được nhiều việc dù họ khiếm thính hay khiếm thị.
Những năm sau này, mẹ hỏi tôi thêm vài lần. Và sau khi tơi trả lời, mẹ vẫn đều nói: “Không phải con ạ. Nhưng
mỗi năm con đều đang trở nên thơng minh hơn rồi đấy”.
Thế rồi năm ngối, ơng tôi mất. Tất cả mọi người đều rất buồn. Ai cũng khóc. Mẹ nhìn tơi khi chúng tơi nói lời
vĩnh biệt ông. Mẹ hỏi: “Con trai, con đã biết bộ phận quan trọng nhất trong cơ thể chúng ta chưa?”. Tơi rất sốc
khi mẹ hỏi tơi vào chính lúc đó, vì vốn tơi vẫn nghĩ đây chỉ là một trị chơi giữa hai mẹ con tôi. Mẹ thấy tôi lúng
túng nên bảo:
- Câu hỏi này rất quan trọng. Nó cho thấy rằng con thực sự hiểu cuộc sống của mình. Với mỗi bộ phận cơ thể mà
con từng trả lời mẹ trước đây, thì mẹ đều nói với con là chưa đúng và cho con một ví dụ để giải thích. Nhưng
hơm nay là thời điểm con cần học được bài học này.
Mẹ nhìn vào mắt tơi theo kiểu mà chỉ một người mẹ mới làm được. Tôi thấy mắt mẹ rất đỏ và nhiều nước mắt.
Rồi mẹ nói:
- Con trai, bộ phận cơ thể quan trọng nhất là bời vai của con đấy…
(Biên tập theo “Trà sữa tâm hồn”, Hoa học trò, 20.7.2018)
Câu 2: (12,0 điểm)
Phải chăng mối quan tâm lớn nhất của văn chương từ xưa đến nay vẫn là đi tìm “con người bên trong con người”
(chữ của nhà văn Nga Fyodor Dostoevsky, 1821 – 1881)?
Từ cảm nhận của anh/chị về hai đoạn trích “Trao duyên” và “Nỗi thương mình” trong Truyện Kiều (Nguyễn Du),
hãy đưa ra ý kiến của mình về câu hỏi nêu trên.
----------Hết----------
TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG
LẦN THỨ XV – SƠN LA 2019
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI
MÔN: NGỮ VĂN – KHỐI: 10
Thời gian: 180 phút
Ngày thi: 27/7/2019
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
HƯỚNG DẪN CHẤM
Câu
Nội dung
Điểm
1 Suy nghĩ của anh/chị về bài học mà người mẹ trong câu chuyện dưới đây muốn nhắn 8,0
gửi tới con trai mình khi bà nói “bờ vai là bộ phận cơ thể quan trọng nhất của con người”.
1. Yêu cầu về kĩ năng
- Nắm chắc các thao tác nghị luận về một vấn đề xã hội.
- Thể hiện được sự tích lũy vốn sống, vận dụng linh hoạt các kiến thức thực tế trong bài viết.
- Bố cục mạch lạc, có cá tính trong hành văn, ít mắc lỗi diễn đạt.
2. Yêu cầu về kiến thức:
2.1. Giải thích:
2,0
- Câu chuyện xoay quanh hành trình đi tìm câu trả lời cho câu hỏi của người mẹ đối với đứa
trẻ: rốt cuộc thì “bộ phận nào quan trọng nhất trong cơ thể” cũng như điều gì quan trọng của
đời người? Và câu trả lời chỉ được đưa ra khi đứa trẻ trưởng thành biết nghĩ về người khác,
và khi con người đối diện với mất mát lớn nhất: bà mẹ mất cha, người cháu mất ơng. Hóa ra
khơng phải mắt, khơng phải đơi tai… mà bờ vai “mới chính là bộ phận quan trọng nhất của
con người”. Nói cách khác bộ phận cơ thể quan trọng nhất không hẳn là bộ phận đem đến
những lợi thế, những sức mạnh cho riêng ta mà thứ ta có thể trao cho cả người khác, làm cho
người khác có thể cũng mạnh mẽ lên hơn, làm cho người khác cảm thấy có thể đặt niềm tin
vào mình.(1,0)
- Từ ngữ cảnh này có thể nói bờ vai, không chỉ là điểm tựa trong cuôc sống mà cịn là biểu
tượng của lịng cảm thơng, an ủi con người, nâng đỡ họ trong những thời điểm khó khăn, khắc
nghiệt nhất trong cuộc sống.(1,0)
2.2. Bình luận và chứng minh:
4,0
2.2.1. Bờ vai là điểm tựa.
2,0
- Bờ vai, điểm tựa là nơi tiếp sức cho con người trong cuộc sống. Cuộc sống là một mối quan
hệ cộng sinh, người nương vào người, đất tôn đất cao lên… Hơn thế nữa, cuộc sống ln chấp
chứa những nghịch cảnh, trong những hồn cảnh thử thách nên con người cũng cần có những
điểm tựa để vượt qua sóng gió, hay vững tâm hơn.
- Có nhiều điểm tựa trong cuộc sống, bên trong và bên ngồi. Đó có thể là những người u
thương gần gũi với con người ngay trong cuộc sống như người ông ốm yếu lại là nguồn yêu
thương của bà mẹ, người cháu; Hoặc có khi đứa con có thể lại là nơi nương tựa của người mẹ
lúc yếu lòng… Và hành trình trưởng thành của một đời người là quá trình đi từ nương tựa vào
bờ vai người khác đến chỗ trở thành nơi dựa cho người khác.
- Tuy nhiên để hiểu ra được ý nghĩa của một bờ vai, một điểm dựa quan trọng thế nào trong
đời người cần rất nhiều trải nghiệm và sự thấu hiểu. Con người chỉ thực sự được nhận ra ý
nghĩa của nó, khi chúng ta mất đi điểm tựa. Đó là khi bà mẹ mất cha, mới thấu hiểu điểm tựa
lớn nhất là người mình u thương. Và chỉ ở khoảng khắc đó, khi người con đủ thấu hiểu sự
2
mất mát, và đủ cảm thông, biết nghĩ về người khác bà mẹ mới cho người con hiểu con có thể
và cần trở thành bờ vai của bà mẹ.
2.2.2 Bờ vai là lịng cảm thơng.
2,0
- Câu chuyện cịn có thơng điệp về sức mạnh của lịng cảm thơng. Bởi trong cuộc sống, ai ròi
cũng phải đối mặt với những mất mát, ai cũng có khoảng khắc yếu đuối, ai cũng có thể có
những nỗi niềm, những tâm sự sâu kín… Sự thơng cảm từ người khác khiến ta có cảm giác
được chia sẻ, được thấu hiểu mà không bị phán xét, được động viên, được đặt niềm tin vào
người khác. Tất cả những điều ấy sẽ giúp con người sớm lấy lại tinh thần, vượt lên nghịch
cảnh, bình tĩnh hơn để sống tiếp.
- Trong câu chuyện, người con chỉ nhận được câu trả lời từ người mẹ vào ngày gia đình có
chuyện buồn, cũng là khi cậu đã lớn lên. Nên từ đó, có thể thấy, biết cảm thơng là dấu hiệu
của sự trưởng thành: hiểu được nỗi buồn đau của mẹ, của những người thân trong gia đình,
sẵn sàng trở thành điểm tựa để mọi người cùng vượt qua mất mát. Như vậy, không chỉ sự
thông minh mà để thấu hiểu ý nghĩa đời sống, con người còn cần năng lực đồng cảm nữa.
- Thí sinh làm rõ những luận điểm bằng những dẫn chứng cụ thể. Nên khai thác dẫn chứng
theo hướng: nhờ được cảm thông, con người có thể vượt qua được những thời khắc khó khăn
trong cuộc sống như thế nào; nhờ khả năng cảm thông với người khác, con người ta hình
thành được nhân sinh quan rộng rãi, làm cho đời sống mình nói riêng và cuộc sống nói chung
có thêm những điều tốt đẹp như thế nào…
2.3. Mở rộng vấn đề - Bài học nhận thức
2,0
- Thí sinh nên mở rộng vấn đề bằng các câu hỏi:
+ Về điểm tựa: Suy nghĩ thêm về nhận thức của giới trẻ hôm nay về điểm tựa trong cuộc sống.
+ Cảm thông khác thương hại như thế nào? Làm thế nào để hình thành được khả năng cảm
thơng? Làm thế nào ngay trong tình thế khó khăn hay đau khổ mình đang trải qua, mình vẫn
có khả năng đồng cảm được với người khác?
* Lưu ý: Đây là đề bài mở, đáp án chỉ có tính chất gợi ý, thí sinh hồn tồn có thể suy luận
những thơng điệp khác, thí dụ: ý nghĩa của nỗi đau, của sự mất mát. Trường hợp này, suy
nghĩ của thí sinh vẫn được chấp nhận. Giám khảo nên chấm điểm dựa theo mức độ thuyết
phục trong lập luận, lý lẽ và dẫn chứng mà bài viết thí sinh thể hiện.
Phải chăng mối quan tâm lớn nhất của văn chương từ xưa đến nay vẫn là đi tìm “con 12,0
người bên trong con người” (chữ của nhà văn Nga Fyodor Dostoevsky, 1821 – 1881)?
Từ cảm nhận của anh/chị về hai đoạn trích “Trao dun” và “Nỗi thương mình” trong
Truyện Kiều (Nguyễn Du), hãy đưa ra ý kiến của mình về câu hỏi nêu trên.
1. Yêu cầu chung về kĩ năng:
- Biết cách làm một bài nghị luận văn học có sự kết hợp giữa kiến thức lý luận văn học và
cảm thụ tác phẩm văn học.
- Kết cấu bài viết mạch lạc, chặt chẽ, diễn đạt chính xác các thuật ngữ, các tri thức lý luận văn
học. Phân tích dẫn chứng phải làm rõ được vấn đề lý luận được nêu trong đề bài.
- Hạn chế các lỗi diễn đạt.
2. Yêu cầu về kiến thức:
2.1. Giới thiệu vấn đề nghị luận:
1,0
2.2. Giải thích nhận định:
3,0
- Nhận định được nêu trong đề bài bàn đến đặc trưng đối tượng của văn học. Văn học quan
tâm khám phá muôn mặt của đời sống nhưng con người vẫn là đối tượng quan trọng nhất của
nó.
- Văn học muốn khám phá “con người bên trong con người”, tức nó muốn đào sâu vào phần
con người cá nhân, con người với thế giới tinh thần phong phú, con người với phần tự ý thức
sâu sắc. Phần con người ấy chứa đựng những tâm sự, những cảm xúc, những nếm trải riêng
tư, đặc biệt, khơng trùng khít với vẻ bên ngồi, với vai xã hội của nó. Phần con người ấy cũng
dễ mâu thuẫn với nhiều chuẩn mực xã hội đã sẵn có, khơng vừa vặn với những định nghĩa,
những quy luật đã được khái quát trước đó về con người. Nhờ đó, văn học khơng ngừng làm
nhận thức của chúng ta về con người trở nên sâu sắc hơn, phức tạp hơn, sống động hơn.
2.2. Chứng minh
- Thí sinh có thể có những cảm nhận cá nhân về hai trích đoạn nhưng nên làm nổi bật một số
ý tưởng:
+ Với đoạn “Trao duyên”, phần “con người bên trong con người” của Thúy Kiều bộc lộ vào
khoảnh khắc trao kỷ vật cho Thúy Vân. Bởi chính vào khoảnh khắc ấy, Kiều nhận ra hy sinh
tình cho nghĩa khơng phải là điều có thể bù đắp được cho mình. Đó là lúc con người cá nhân,
con người riêng tư của nhân vật trỗi dậy. Từ đây, Nguyễn Du đã miêu tả những nỗi đau đớn
của nhân vật.(3,0)
+ Với đoạn “Nỗi thương mình”, thí sinh cần hiểu tồn bộ đoạn thơ là sự tự ý thức của Thúy
Kiều về số phận tủi nhục, bị vùi dập của mình, là những nỗi đau chỉ nhân vật tự cảm thấy khi
nhận ra mình khơng cịn là mình, cuộc sống này khơng phải là cuộc sống mình muốn
sống.(2,0)
2.3. Đánh giá – mở rộng vấn đề
- Chính sự phát hiện về “con người bên trong con người” ở Thúy Kiều khiến tác phẩm của
Nguyễn Du đột phá so với nguyên tác của Thanh Tâm Tài Nhân, khiến Truyện Kiều có thể
xem là tác phẩm tự sự trung đại đi xa nhất trong việc miêu tả tâm lý con người. Điều này cũng
gắn liền với những đổi mới về nghệ thuật mà ta có thể thấy qua hai đoạn trích: sử dụng độc
thoại nội tâm, miêu tả bằng điểm nhìn bên trong nhân vật.
- Việc khám phá “con người bên trong con người” cũng thể hiện những tư tưởng nhân đạo
mới mẻ của Nguyễn Du.
- Nhìn xa hơn, chính khát vọng tìm kiếm và biểu hiện “con người bên trong con người”, văn
chương vẫn ln có vị trí quan trọng trong đời sống con người, khơng bị thay thế bởi các lĩnh
vực khác trong xã hội trong việc đem đến những nhận thức sâu sắc, phong phú về con người.
----------Hết----------
5,0
2,0
TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG
LẦN THỨ XIII – TUYÊN QUANG
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI
MÔN: NGỮ VĂN – KHỐI: 10
Thời gian: 180 phút
Ngày thi: 29/7/2017
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Câu 1: (8,0 điểm)
“Chúng ta hãy cố gắng để chỉ chết một lần thôi”
(Cantauzene)
Anh/chị suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên?
Câu 2: (12,0 điểm)
GS Trần Đình Sử cho rằng: “Hình tượng nghệ thuật là tiêu điểm sáng tạo của nhà văn, làm cho văn bản ngơn từ
trở thành tác phẩm nghệ thuật”.
(Trích: Trần Đình Sử tuyển tập, tập 2 (2005), NXB Giáo dục, trang 262)
Hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua một tác phẩm văn học lớp 10 mà anh/chị tâm đắc.
----------Hết----------
TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG
LẦN THỨ XIII – TUYÊN QUANG
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI
MÔN: NGỮ VĂN – KHỐI: 10
Thời gian: 180 phút
Ngày thi: 29/7/2017
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
HƯỚNG DẪN CHẤM
A. YÊU CẦU CHUNG
- Giám khảo phải nắm được nội dung trình bày trong bài làm của học sinh để đánh giá chính xác, tránh đếm ý
cho điểm. Vận dụng linh hoạt Hướng dẫn chấm, sử dụng nhiều mức điểm một cách hợp lí, khuyến khích những
bài viết có cảm xúc, sáng tạo.
- Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách nhưng nếu đáp ứng những yêu cầu cơ bản của đề, diễn đạt tốt vẫn cho
đủ điểm.
- Điểm toàn bài thi cho lẻ đến 0,5 điểm.
B. YÊU CẦU CỤ THỂ
Câu
Nội dung
Điểm
1
“Chúng ta hãy cố gắng để chỉ chết một lần thôi”
8,0
(Cantauzene)
Anh/chị suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên?
I. Yêu cầu về kĩ năng: Cần xác định đây là đề nghị luận về một tư tưởng đạo lý. Học sinh có
thể lựa chọn kiểu bài và vận dụng những thao tác lập luận phù hợp, nhuần nhuyễn, huy động
được các dẫn chứng trong đời sống để làm sáng tỏ nội dung đề u cầu. Diễn đạt lưu lốt,
trình bày khoa học, khơng mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
II. Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có nhiều cách trình bày khác nhau, song cần làm rõ những
nội dung cơ bản sau.
1. Giải thích:
1,5
- Theo nghĩa thơng thường, chết là trạng thái cơ thể con người dừng lại mọi hoạt động. Đã
sinh ra trong cõi đời, không ai thốt khỏi cái chết, đó chính là cái “chết một lần” mà không
người nào tránh được.
- Bên cạnh cái chết thể xác ấy, cịn có những cái chết về tinh thần, về thanh danh, chết khi còn
đang sống (khi con người khơng có lý tưởng, ước mơ, chán nản, bng xi trước hồn cảnh
khó khăn, khi tâm hồn vơ cảm, khi đồng loại chối bỏ xa lánh vì có những việc làm trái lương
tâm…)
→ Câu nói khun ta ln nỗi lực cố gắng để không rơi vào những cái chết về tinh thần.
2. Bình luận, chúng minh: Câu nói trên là một ý kiến đúng đắn, tích cực, một lời khuyên bổ 4,5
ích và là phương châm sống cần ghi nhớ đối với chúng ta.
- Sự cố gắng để “chỉ chết một lần thôi”là điều cần thiết đối với tất cả mọi người. Mỗi cá nhân
chỉ một lần được sống nên cần phấn đấu, rèn luyện để cuộc đời có ý nghĩa, khi nhắm mắt xi
tay có thể mỉm cười thanh thản (Dẫn chứng – Phân tích).
- Chết khi cịn đang sống là điều đáng sợ và đáng tiếc, cuộc đồi con người uổng phí, bị xã hội
cười chê khinh bỉ (Dẫn chứng – Phân tích).
3. Bài học nhận thức, hành động.
- Mỗi người cần biết trân trọng cuộc sống hiện tại của mình, cố gắng tạo dựng một cuộc đời
có ích, có ý nghĩa. Muốn “chỉ chết một lần” thì phải khơng ngừng tu dưỡng rèn luyện, mở
rộng trái tim để cho và nhận, u thương, có bản lĩnh vững vàng trước những chơng gai thử
thách của cuộc đời…
- Liên hệ với xã hội hiện nay, phê phán những kẻ “chết trong khi còn đang sống”, sống vô
cảm, buông thả, làm những điều trái lương tâm, vô đạo đức…
- Suy nghĩ của bản thân (HS viết bằng sự trải nghiệm, giàu cảm xúc).
2
2,0
GS Trần Đình Sử cho rằng: “Hình tượng nghệ thuật là tiêu điểm sáng tạo của nhà văn, 12,0
làm cho văn bản ngơn từ trở thành tác phẩm nghệ thuật”.
(Trích: Trần Đình Sử tuyển tập, tập 2 (2005), NXB Giáo dục, trang 262)
Hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua một tác phẩm văn học lớp 10 mà
anh/chị tâm đắc.
I. Yêu cầu về kĩ năng:
- Học sinh biết cách làm bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học, trên cơ sở vận dụng được
kiến thức lí luận, kiến thức đọc hiểu tác phẩm và những thao tác lập luận cần thiết.
- Bố cục bài viết rõ ràng, khoa học, lập luận chặt chẽ, thuyết phục, hành văn trong sáng, giàu
cảm xúc, hình ảnh. Khơng mắc lỗi diễn đạt, lỗi chính tả, trình bày…
II. u cầu về kiến thức: Học sinh có thể giải quyết vấn đề theo nhiều hướng nhưng cần
đảm bảo các ý cơ bản sau:
1. Giải thích:
4,0
* Cắt nghĩa:
1,5
- Hình tượng nghệ thuật: sản phẩm của phương thức chiếm lĩnh, thể hiện và tái tạo hiện thực
theo quy luật của tưởng tượng, hư cấu nghệ thuật.
- Tiêu điểm sáng tạo: nơi tập trung cao độ dụng công nghệ thuật và ý đồ sáng tạo của nhà văn.
➔ Ý kiến đặt ra vấn đề: tầm quan trọng của hình tượng nghệ thuật trong việc tạo nên tác
phẩm văn học.
* Lí giải vì sao?
2,5
- Đặc trưng của văn học:
+ Văn học phản ánh thế giới thơng qua hình tượng nghệ thuật. Nói cách khác, hình tượng
nghệ thuật chính là các khách thể của đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng tượng sáng
tạo trong những tác phẩm nghệ thuật.
+ Chất liệu của văn học là ngơn từ, nhưng là ngơn từ mang tính nghệ thuật. Văn bản ngôn từ
chỉ trở thành tác phẩm khi nó xây dựng được hình tượng nghệ thuật cụ thể, sinh động.
- Đặc trưng của hình tượng:
+ Khơng phải là sự sao chép y nguyên cuộc sống mà là sự tái hiện có chọn lọc, sáng tạo, thơng
qua trí tưởng tượng và tài năng của người nghệ sĩ. Vì thế, hình tượng nghệ thuật vừa có giá
trị cụ thể lại vừa có khả năng khái qt và mang tính đa nghĩa.
+ Hình tượng nghệ thuật là một phương tiện giao tiếp đặc biệt, là một thế giới “biết nói” thơng
qua chi tiết, cảnh vật, con người…, nhà văn truyền cho người đọc cách nhìn, cách nghĩ về
cuộc đời, con người, gợi lên một cách hiểu, một quan niệm về cuộc sống.
➔ Hình tượng nghệ thuật có vai trị đặc biệt quan trọng trong việc tạo nên ý nghĩa, giá trị văn
bản. Làm cho văn bản ngôn từ trở thành tác phẩm nghệ thuật thực sự.
2. Chứng minh:
- HS có thể tùy ý lựa chọn một tác phẩm tâm đắc như: Thuật hoài – Phạm Ngũ Lão, Cảm
Hoài – Đặng Dung, Bạch Đằng giang phú – Trương Hán Siêu, Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi,
Độc Tiểu Thanh Kí – Nguyễn Du…
- Dù chọn tác phẩm nào, HS cũng cần làm rõ những ý sau:
+ Hình tượng nghệ thuật được xây dựng trong tác phẩm là hình tượng nào?
+ Tác giả đã xây dựng hình tượng nghệ thuật ấy như thế nào? Bằng cách nào?
+ Ý nghĩa của hình tượng nghệ thuật?
3. Bàn luận, mở rộng, nâng cao: Ý kiến trên hoàn toàn đúng đặt ra yêu cầu đối với người
sáng tác và độc giả.
- Người sáng tác: Phải có khả năng quan sát, tưởng tượng, sáng tạo để xây dựng hình tượng
song cũng đồng thời phải có tư tưởng, tình cảm, cảm xúc sâu sắc để làm cho hình tượng có
chiều sâu.
- Nhà văn, nhà thơ dụng cơng xây dựng hình tượng nghệ thuật nhưng độc giả cũng phải bồi
đắp tâm hồn, năng lực đọc của mình để cảm nhận và hiểu hình tượng, có như vậy văn bản
ngơn từ mới thực sự có giá trị như một tác phẩm văn học.
----------Hết----------
TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG
LẦN THỨ XII – BẮC GIANG
6,0
2,0
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI
MÔN: NGỮ VĂN – KHỐI: 10
Thời gian: 180 phút
Ngày thi: 31/7/2016
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Câu 1: (8,0 điểm)
Người vá trời lấp bể
Kẻ đắp lũy xây thành
Ta chỉ là chiếc lá
Việc của mình là xanh
(Lá xanh – Nguyễn Sĩ Đại)
Suy nghĩ của anh/chị về vấn đề đặt ra trong bài thơ trên.
Câu 2: (12,0 điểm)
Nói về thơ, Nguyễn Đình Thi cho rằng: Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm
tới cuộc sống.
Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ bằng một tác phẩm thơ trong chương trình Ngữ Văn 10.
----------Hết----------
TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG
LẦN THỨ XII – BẮC GIANG
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI
MÔN: NGỮ VĂN – KHỐI: 10
Thời gian: 180 phút
Ngày thi: 31/7/2016
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
HƯỚNG DẪN CHẤM
Câu
1
Nội dung
Người vá trời lấp bể
Kẻ đắp lũy xây thành
Ta chỉ là chiếc lá
Việc của mình là xanh
(Lá xanh – Nguyễn Sĩ Đại)
Suy nghĩ của anh/chị về vấn đề đặt ra trong bài thơ trên.
1. Yêu cầu về kĩ năng:
Có kĩ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội, lí lẽ rõ ràng, lập luận chặt chẽ, thuyết phục, dẫn
chứng hợp lí. Bài viết đảm bảo kết cấu 3 phần: Mở – Thân – Kết.
2. Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể tự do bày tỏ quan điểm của cá nhân song cần đưa
ra được những lí lẽ thuyết phục.
Sau đây là một số gợi ý:
2.1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận.
2.2. Thân bài
a. Giải thích ý nghĩa bài thơ:
- Vá trời lấp bể, đắp lũy xây thành: cách nói khoa trương để chỉ ước muốn làm những việc to
lớn, phi thường của nhiều người.
- Chiếc lá: sự vật nhỏ bé, bình dị.
- Chỉ là chiếc lá: sự tự nhận thức về bản thân với ước mơ bình dị, khiêm nhường.
- Việc của mình là xanh: ý thức được bổn phận, trách nhiệm của bản thân phải sống có ý
nghĩa, có ích cho đời.
Bài thơ nêu lên một quan niệm sống tích cực, thể hiện ý thức về cái tôi cá nhân: Dù chỉ là một
cá thể nhỏ bé, khơng có những mơ ước phi thường nhưng vẫn muốn được cống hiến phần nhỏ
bé của mình cho cuộc đời.
b. Bàn luận:
Khẳng định đúng đắn, sâu sắc của quan niệm sống trong bài thơ:
- Trong cuộc đời mỗi người đều có quyền có những mơ ước của riêng mình. Có người có
những khát vọng kì vĩ, lớn lao dời non lấp bể, đắp lũy xây thành. Lại có người chỉ mơ ước
bình dị, khiêm nhường chỉ là chiếc lá. Nhưng dù mơ ước lớn lao hay nhỏ bé thì mỗi người
vẫn phải sống có ích cho cuộc đời.
- Ý thức về bản thân một cách đúng đắn là suy nghĩ tích cực. Suy nghĩ ấy khiến con người
khơng tự huyễn hoặc hay ảo tưởng về bản thân; không mơ ước xa vời, phù phiếm. Vì thế mơ
ước ấy dễ trở thành hiện thực, mang đến niềm vui sống cho con người…
(Chứng minh bằng những mơ ước của bản thân và những người xung quanh).
Điểm
8,0
0,5
7,0
1,0
4,0
2
c. Mở rộng
1,0
- Có những cá nhân tự huyễn hoặc về mình, tự cao, tự cho mình làm nên những điều to lớn,
nhưng lại chỉ là sự trống rỗng một cách vô nghĩa…
- Cần phê phán những người tự ti cho mình chỉ là chiếc lá nhỏ bé, thậm chí vô nghĩa giữa
cuộc đời, nên chẳng cần phấn đấu… đã nhỏ bé, càng trở nên mờ nhạt và vô nghĩa hơn…
d. Bài học nhận thức và hành động
1,0
- Dù là ai trong cuộc đời cũng cần có sự tự ý thức về bản thân. Chẳng ai vô nghĩa giữa cuộc
đời. Chỉ có người tự cho là mình vơ nghĩa mà thôi.
- Hãy làm việc, hãy cống hiến bằng sức lực của mình. Hãy ước mơ và phấn đấu biến ước mơ
thành hiện thực…
- Hãy làm cho cuộc sống của mình trở nên có ý nghĩa ở mọi nơi, mọi lúc…
2.3. Kết bài:
0,5
- Khái quát lại vấn đề.
- Liên hệ bản thân.
Nói về thơ, Nguyễn Đình Thi cho rằng: Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của 12,0
tâm hồn khi đụng chạm tới cuộc sống.
Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ bằng một tác phẩm thơ trong
chương trình Ngữ Văn 10.
1. Về kĩ năng:
- Biết cách viết một bài văn nghị luận văn học.
- Thể hiện được những kiến thức lí luận về đặc trưng của thơ, kết hợp tốt giữa lí luận và cảm
thụ.
- Lập luận chặt chẽ, có cảm xúc, khơng mắc các lỗi chính tả, diễn đạt.
2. Về kiến thức:
2.1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận.
0,5
2.2. Thân bài:
10,0
a. Giải thích:
1,5
- Tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn: những tình cảm, cảm xúc nảy nở tự nhiên
trong tâm hồn con người.
- đụng chạm tới cuộc sống: bắt gặp hiện tượng cuộc sống.
➔ Ý kiến trên nói lên được đặc trưng cơ bản của thơ: Thơ là những tình cảm tự nhiên nảy nở
trong tâm hồn khi nhà thơ bắt gặp bức tranh hiện thực đời sống.
b. Bàn luận:
3,0
Khẳng định tính đúng đắn của câu nói
- Thơ là sản phẩm có được từ tình cảm mãnh liệt trong tâm hồn nhà thơ.
- Nhưng những cảm xúc trong thơ dù mãnh liệt đến đâu cũng phải có điểm tựa từ hiện thực
cuộc sống. Nó là những tình cảm, cảm xúc chân thành nhất cất lên từ một hoàn cảnh cụ thể
của đời sống mà nhà thơ là người nếm trải.
- Vì vậy, thơ là tiếng nói của tâm hồn nhà thơ nhưng vẫn là hiện thực đời sống được phản ánh.
c. Vận dụng vào tác phẩm
6,0
- Học sinh có thể chọn một tác phẩm thơ trong chương trình Ngữ văn 10 đạt tới những yêu
cầu mà nhận định nêu ra.
* Học sinh có thể phân tích tác phẩm bằng nhiều cách khác nhau nhưng không được xa rời,
trái lại phải có tác dụng soi tỏ làm rõ cho những vấn đề lí luận.
* Sau đây là một vài gợi ý có tính chất định hướng:
- Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm.
- Phân tích bài thơ để thấy được những biểu hiện của tình cảm, cảm xúc của nhà thơ trước
hiện thực cuộc sống. Những tình cảm, cảm xúc ấy đều mang tính thẩm mĩ và được thể hiện
trong một hình thức nghệ thuật đặc sắc.
- Đánh giá được vị trí của tác giả, tác phẩm trong nền văn học.
d. Đánh giá:
- Thơ là những tình cảm tự nhiên, nảy nở từ đồi sống, nhưng đó phải là những tình cảm mang
tính thẩm mĩ và phải được chuyên chở trong một hình thức nghệ thuật đặc sắc mới có sức lay
động cho thơ.
- Đó là lời nhắc nhở quý giá cho những người muốn trở thành thi sĩ, những người yêu thơ
muốn thâm nhập thế giới bí ẩn của thơ ca.
2.3 Kết bài:
- Khẳng định tính đúng đắn của nhận định.
- Nêu ý nghĩa của nhận định.
0,5
0,5
Lưu ý khi chấm bài:
- Giám khảo cần linh hoạt trong việc vận dụng hướng dẫn chấm.
- Cần khuyến khích những bài làm có tính sáng tạo, lập luận thuyết phục, văn phong sáng rõ…
- Việc chi tiết hóa điểm số của các ý (nếu có) phải đảm bảo khơng sai lệch với tổng điểm của mỗi phần và được
thống nhất trong Hội đồng chấm thi.
----------Hết----------
TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG
LẦN THỨ XI – LẠNG SƠN
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI
MÔN: NGỮ VĂN – KHỐI: 10
Thời gian: 180 phút
Ngày thi: 01/8/2015
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Câu 1: (8,0 điểm)
Anh/chị suy nghĩ gì khi có ý kiến cho rằng:
Phải ln có niềm tin vào lịng tốt của con người nhưng đừng bao giờ ảo tưởng về điều đó.
Câu 2: (12,0 điểm)
Bàn về mối quan hệ giữa tâm và tài của người sáng tác, có người đã mượn một câu thơ trong truyện Kiều của
Nguyễn Du để khẳng định:
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
Anh/chị có đồng ý với ý kiến trên không? Hãy làm sáng tỏ quan điểm của mình qua bài thơ Thu điếu của Nguyễn
Khuyến.
----------Hết----------
TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG
LẦN THỨ XI – LẠNG SƠN
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI
MÔN: NGỮ VĂN – KHỐI: 10
Thời gian: 180 phút
Ngày thi: 01/8/2015
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
HƯỚNG DẪN CHẤM
Câu
Nội dung
Điểm
1 Anh/chị suy nghĩ gì khi có ý kiến cho rằng:
8,0
Phải ln có niềm tin vào lịng tốt của con người nhưng đừng bao giờ ảo tưởng về điều
đó.
1. Về kĩ năng: Biết cách làm bài nghị luận xã hội. Lập luận chặt chẽ, diễn đạt trong sáng,
khơng mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
2. Về kiến thức: Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng luận điểm phải rõ ràng, lí
lẽ và dẫn chứng hợp lí; cần làm rõ được các ý chính sau:
2.1. Giải thích:
2,0
- Giải thích các từ ngữ: lịng tốt, niềm tin, ảo tưởng.
- Câu nói khuyên chúng ta phải có niềm tin vào lòng tốt của con người với thái độ nâng niu,
trân trọng, coi đó như một điều tốt đẹp của cuộc sống. Nhưng câu nói cũng khun chúng ta
khơng được ảo tưởng về lòng tốt một cách thiếu hiểu biết.
2.2. Bàn luận: Nhận định trên giúp ta có hiểu biết và hành xử đúng đắn với mọi người xung 4,0
quanh bằng một thái độ sống chủ động và có hiểu biết, để vừa có niềm tin vào cuộc sống, vừa
tỉnh táo tránh xa những điều xấu.
- Phải ln có niềm tin vào lịng tốt của con người:
+ Vì lịng tốt là có thực. Hơn nữa, nếu nghi ngờ lịng tốt của người chân thành với ta sẽ khiến
họ tổn thương.
+ Vì niềm tin vào lòng tốt của người khác sẽ làm ta trở nên tốt đẹp hơn, tránh sự ích kỷ, nghi
kị.
- Nhưng đừng bao giờ ảo tưởng về lòng tốt:
+ Khơng ai có thể tốt mãi với ta (do nhiều ngun nhân và điều kiện), và khơng phải ai cũng
có lòng tốt và sẵn sàng mang lòng tốt ra để đối đãi với mọi người (do những mục đích và động
cơ khơng tốt đẹp).
+ Do đó, nếu ảo tưởng sẽ khiến ta mê muôi, mù quáng, lầm đường lạc lối trong suy nghĩ và
hành động, thậm chí gánh hậu quả.
2.3. Liên hệ, bài học
2,0
- Phải đón nhận lịng tốt của người khác bằng thái độ trân trọng, không nghi ngờ vô cớ.
- Đối xử với người khác bằng cái tâm của mình là một cách để tìm thấy người tốt.
2 Bàn về mối quan hệ giữa tâm và tài của người sáng tác, có người đã mượn một câu thơ 12,0
trong truyện Kiều của Nguyễn Du để khẳng định:
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
Anh/chị có đồng ý với ý kiến trên không? Hãy làm sáng tỏ quan điểm của mình qua bài
thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến.
1. Yêu cầu chung: Hiểu đúng đắn vấn đề, nắm được cách làm bài văn nghị luận văn học, bài
viết nêu được ý kiến riêng, có sức thuyết phục.
2. Yêu cầu cụ thể: Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo
các yêu cầu sau:
2.1. Giải thích
- Tâm: tấm lịng của nhà văn với con người và với cuộc đời (nhân đạo, nhân ái), tấm lịng,
nhiệt huyết với nghề nghiệp (lí tưởng nghề nghiệp, ý thức cao về những giá trị của văn
chương).
- Tài: năng khiếu, tố chất văn chương, khả năng sáng tạo của người nghệ sĩ.
→ Ý kiến đề cao cái tâm của nhà văn, nhưng lại có phần xem nhẹ cái tài.
2.2. Bình luận: Thực chất cái tâm và cái tài đều quan trọng và có mói quan hệ chặt chẽ trong
q trình sáng tác của người nghệ sĩ.
- Vai trị, ý nghĩa của cái tâm, cái tài:
+ Cái tâm: làm cho người nghệ sĩ gắn bó với con người, cuộc đời; có tình cảm cao đẹp, tư
tưởng sâu sắc, đúng đắn; có niềm đam mê sáng tạo vì con người và cuộc đời.
+ Cái tài: giúp người nghệ sĩ lựa chọn được những phương tiện hình thức phù hợp nhất để thể
hiện tình cảm, tư tưởng của mình; làm cho tác phẩm có sức lơi cuốn, hấp dẫn với người đọc.
- Mối quan hệ giữa cái tâm và cái tài của người nghệ sĩ trong sáng tác:
+ Cái tâm định hướng và ni dưỡng cái tài. Nếu khơng có cái tâm người nghệ sĩ chỉ tạo ra
những xác chữ nằm bất động.
+ Cái tài giúp cho cái tâm tỏa sáng. Nếu khơng có cái tài tư tưởng, tình cảm của người nghệ
sĩ khó đến được với người đọc.
2.3. Chứng minh: Thu điếu là tác phẩm thể hiện rõ cái tâm và cái tài của nhà thơ Nguyễn
Khuyến:
- Cái tâm trong Thu điếu:
+ Một tâm hồn nghệ sĩ gắn bó với thiên nhiên, cảm nhận hết sức tinh tế, độc đáo về vẻ đẹp
thiên nhiên làng quê Việt Nam.
+ Niềm tâm sự sâu kín của một nhà nho yêu nước, hết lịng với mảnh đất q hương, ơm trong
lịng nỗi u uất chất chứa day dứt vì trách nhiệm đối với đất nước, non sông.
- Cái tài trong Thu điếu:
+ Sử dụng ngơn ngữ thuần Việt, giàu sức gợi và tính tạo hình; nghệ thuật đốil dùng từ vận
hiểm hóc.
+ Hình ảnh thơ mang màu sắc nông thôn mộc mạc, biểu hiện hồn Việt trong cảnh vật và cảnh
sinh hoạt.
+ Bút pháp: Chấm phá, tả cảnh ngụ tình, lấy động tả tĩnh.
→ Cái tâm làm cho Nguyễn Khuyến có tình cảm sâu xa với làng quê đất Việt; cái tài giúp
ông tìm đến một hình thức phù hợp, độc đáo, làm nổi bật một bức tranh thu mang đậm bản
sắc dân tộc và hồn thu xứ sở.
2.4. Đánh giá, mở rộng, nâng cao
- Ý kiến trên là đúng nhưng chưa toàn diện. Để tác phẩm có sức sống lâu bền thì người nghệ
sĩ phải trau dồi cả tâm lẫn tài.
- Người tiếp nhận cũng phải bồi đắp tư tưởng, tình cảm và tri thức để có cái nhìn đúng đắn
khi tiếp nhận tác phẩm văn chương.
2,0
3,0
5,0
2,0
- Nhờ có tấm lịng và tài năng, tác gia Nguyễn Khuyến đã tạo được dấu ấn trong bài thơ Thu
điếu nói riêng, trong sự nghiệp thơ ca nói chung.
* Lưu ý:
- Trên đây chỉ là những gợi ý có tính chất định hướng, giám khảo cần thảo luận kĩ về yêu cầu nội dung và biểu
điểm để bổ sung cho hồn chỉnh trước khi chấm.
- Cần khuyến khích những tìm tịi, sáng tạo riêng cả trong nội dung và hình thức của bài làm.
----------Hết----------
TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG
LẦN THỨ X – QUẢNG NINH
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI
MÔN: NGỮ VĂN – KHỐI: 10
Thời gian: 180 phút
Ngày thi: 01/8/2014
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Câu 1: (8,0 điểm)
Trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến cho rằng:
Một hành động thiết thực hơn ngàn mơ ước hão huyền.
Câu 2: (12,0 điểm)
“Nguyễn Du – một trái tim lớn, một nghệ sĩ lớn” (Hồi Thanh).
Hãy trình bày cách hiểu của anh/chị về ý kiến trên và làm sáng tỏ qua đoạn trích Trao duyên (Truyện Kiều –
Nguyễn Du).
----------Hết----------
TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG
LẦN THỨ X – QUẢNG NINH
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI
MÔN: NGỮ VĂN – KHỐI: 10
Thời gian: 180 phút
Ngày thi: 01/8/2014
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
HƯỚNG DẪN CHẤM
Câu
Nội dung
Điểm
1 Trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến cho rằng:
8,0
Một hành động thiết thực hơn ngàn mơ ước hão huyền.
A. Yêu cầu chung
- Thí sinh viết đúng kiểu bài nghị luận xã hội. Biết vận dụng kết hợp các phương thức biểu
đạt và các thao tác lập luận, huy động được dẫn chứng từ thực tế đời sống và trải nghiệm của
bản thân để làm sáng tỏ vấn đề.
- Bố cục rõ ràng, mạch lạc; lập luận chặt chẽ, sắc sảo; lí lẽ thuyết phục. Hành văn lưu lốt,
trong sáng, chuẩn xác, giàu cảm xúc.
- Trình bày bài sạch đẹp, khoa học.
B. Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể trình bày bài viết theo nhiều cách khác nhau, nhưng
cần đảm bảo một số nội dung cơ bản sau:
1. Giải thích ý kiến:
2,0
- Mơ ước hão huyền là mong muốn những điều tốt đẹp, nhưng viển vông, không có cơ sở
thực tế; vì vậy khó trở thành hiện thực.
- Hành động thiết thực là những việc làm cụ thể có tác dụng, ý nghĩa thực sự với bản thân,
với mọi người và cuộc sống.
- Cách nói có sự đối lập giữa “một” và “ngàn” cùng từ so sánh “hơn” thể hiện rõ khuynh
hướng đánh giá của ý kiến.
- Cả câu nói đề cao hành động thiết thực và phê phán mơ ước viển vông.
2. Bàn luận:
5,0
- Hành động thiết thực có tầm quan trọng trong cuộc sống:
+ Sống là phải có những hành động thiết thực. Đó là những hành động cụ thể, tạo ra những
sản phẩm vật chất, tinh thần phục vụ cho lợi ích thiết thực của con người; góp phần thúc đẩy
xã hội phát triển, tạo nên một cuộc sống tốt đẹp cho bản thân và mọi người.
+ Người có hành động thiết thực là người ý thức sâu sắc về sự sống; có tình yêu và tinh thần
trách nhiệm với cuộc đời chung. Từ những hành động thiết thực, con người tích lũy được kinh
nghiệm sống để trưởng thành hơn và có bản lĩnh vững vàng trước mọi thử thách.
+ Nếu chỉ có mơ ước hão huyền mà khơng có hành động thiết thực thì mơ ước cũng chỉ là
sng, mơ ước khơng bao giờ trở thành hiện thực, khơng đem lại lợi ích thiết thực cho cuộc
sống và con người.
- Tuy nhiên, mơ ước cũng có ý nghĩa nhất định của nó:
+ Mơ ước giúp con người định hướng tạo dựng tương lai và có động lực hành động để biến
ước mơ thành hiện thực. Nếu chỉ có hành động thiết thực mà khơng biết ước mơ thì dễ trở
thành người thiển cận và thực dụng.
2
+ Mơ ước tạo nguồn sức mạnh tinh thần to lớn, giúp con người nỗ lực phấn đấu, vượt qua trở
ngại. Mơ ước cao đẹp thơi thúc con người có những hành động cao đẹp, thêm yêu cuộc sống
và tin vào tương lai. Song mơ ước không nên hão huyền và xa rời thực tế.
(Trong quá trình bàn luận, học sinh cần huy động dẫn chứng từ thực tế cuộc sống, hoặc trải
nghiệm của bản thân để minh họa).
3. Bài học nhận thức và hành động:
- Cần nhận thức đúng về vai trò quan trọng của hành động thiết thực và ý nghĩa sâu sắc của
mơ ước; mối quan hệ tích cực giữa hành động thiết thực và mơ ước cao đẹp của con người.
- Từ đó có những hành động cụ thể, biến mơ ước thành hiện thực.
(Lưu ý: Khi trình bày quan điểm của mình, thí sinh cần có thái độ chân thành, nghiêm túc,
trên tinh thần xây dựng, lập luận thuyết phục).
C. Biểu điểm
- Điểm 7 – 8: Viết đúng kiểu bài nghị luận xã hội; trình bày đầy đủ các nội dung đã nêu một
cách sâu sắc, thuyết phục; văn phong chuẩn xác, biểu cảm; có thể mắc một vài lỗi nhỏ về
chính tả và dùng từ.
- Điểm 5 – 6: Viết đúng kiểu bài nghị luận xã hội; trình bày được hầu hết các ý đã nêu, nhưng
chưa sâu sắc, mắc một số lỗi nhỏ về diễn đạt và chính tả.
- Điểm 3 – 4: Bài viết tỏ ra hiểu chưa thật thấu đáo vấn đề, trình bày được khoảng một nửa
yêu cầu về kiến thức, cịn mắc lỗi về diễn đạt và chính tả.
- Điểm 1 – 2: Bài viết tỏ ra chưa hiểu rõ vấn đề, lúng túng trong cách giải quyết, mắc nhiều
lỗi diễn đạt và chính tả.
- Điểm 0: Bài viết lạc đề, hiểu sai vấn đề hoặc khơng viết gì.
“Nguyễn Du – một trái tim lớn, một nghệ sĩ lớn” (Hồi Thanh).
Hãy trình bày cách hiểu của anh/chị về ý kiến trên và làm sáng tỏ qua đoạn trích Trao
duyên (Truyện Kiều – Nguyễn Du).
A. Yêu cầu chung
- Cần xác định đây là kiểu bài nghị luận văn học, có nhiệm vụ giải thích và làm sáng tỏ vấn
đề qua phân tích một đoạn trích cụ thể.
- Vận dụng nhuần nhuyễn các thao tác nghị luận và phương thức biểu đạt.
- Bố cục rõ ràng; lập luận chặt chẽ; hành văn lưu lốt, trong sáng, giàu cảm xúc, khơng mắc
các lỗi chính tả và diễn tả.
- Trình bày bài sạch đẹp, khoa học.
B. Yêu cầu về kiến thức Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần
đáp ứng được một số nội dung cơ bản sau:
1. Giải thích:
- Trái tim lớn: Tấm lịng giàu u thương của Nguyễn Du với con người, với cuộc đời.
- Nghệ sĩ lớn: Tài năng nghệ thuật lỗi lạc của đại thi hào.
- Ý kiến của Hoài Thanh khẳng định hai yếu tố làm nên thành công của Nguyễn Du trong
sáng tác văn chương là tâm và tài, nhấn mạnh hơn “tâm” – Trái tim, tấm lòng.
2. Chứng minh: Trái tim lớn, nghệ sĩ lớn qua đoạn trích “Trao duyên”:
2.1. Tài năng của Nguyễn Du qua đoạn trích “Trao duyên”
- Nhà thơ đã sáng tạo một tình huống bi kịch đầy éo le để thể hiện tình yêu và nỗi đau của
nhân vật – đó là bi kịch tình u tan vỡ.
1,0
12,0
2,0
8,0
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc (qua đối thoại, độc thoại…) đã khắc họa
được một cách chân thực, sống động đời sống nội tâm, tính cách nhân vật, tạo ấn tượng sâu
sắc cho người đọc.
- Cách sử dụng ngôn ngữ phong phú, giàu sức biểu cảm với những từ ngữ thuần Việt, lối nói
dân gian, biện pháp tu từ… thực sự đạt đến trình độ cổ điển.
- Vận dụng tài tình thể thơ lục bát với giọng điều trầm lắng, xót xa.
2.2. Tấm lịng u thương của Nguyễn Du qua đoạn trích “Trao duyên”
- Nhà thơ đã thể hiện sự thương cảm, đồng cảm sâu sắc với bi kịch của con người, đặc biệt là
người phụ nữ tài hoa bạc mệnh.
- Thái độ của Nguyễn Du: đồng tình với khát khao tình yêu, hạnh phúc của tuổi trẻ; ngợi ca
vẻ đẹp phẩm chất của Thúy Kiều (vị tha, nhân hậu, tinh tế) là biểu hiện tinh thần nhân văn
cao đẹp.
- Tác giả lên án xã hội vơ nhân đạo đã vùi dập tình u, hanh phúc của con người.
2.3. Tóm lại
- Đoạn tích “Trao duyên” là sự kết hợp hài hòa tuyệt vời của tình yêu lớn và tài năng lớn ở
Nguyễn Du.
- Sự kết hợp ấy đã tạo nên giá trị tư tưởng nhân đạo, nhân văn sâu sắc và giá trị nghệ thuật
độc đáo cho đoạn trích, góp phần làm nên thành công của tác phẩm “Truyện Kiều”.
3. Bàn luận:
- Mối quan hệ giữa tài và tâm của người nghệ sĩ: Tình cảm là gốc, là cốt lõi của thơ ca. Tài
năng tạo nên sức lay động của tình cảm, khiến tình cảm của nhà thơ đến được với trái tim
người đọc. Sự kết hợp của trái tim lớn và nghệ sĩ lớn, của tâm và tài làm nên sức hấp dẫn, vẻ
đẹp và sức sống lâu bền của tác phẩm.
- Bài học với người sáng tác và người tiếp nhận: Cần nhận thức rõ mối quan hệ gắn bó giữa
tâm và tài. Người nghệ sĩ nâng cao ý thức trau dồi tài năng, tình cảm; bạn đọc biết đánh giá
đúng tài năng, tư tưởng, tình cảm của tác giả thể hiện qua tác phẩm.
C. Biểu điểm
- Điểm 11 – 12: Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên, bài viết sâu sắc, độc đáo; diễn đạt lưu loát,
câu văn giàu hình ảnh, cảm xúc; có thể mắc một vài lỗi nhỏ về chính tả và dùng từ.
- Điểm 9 – 10: Nội dung tương đối đầy đủ, có thể cịn thiếu một vài ý nhỏ; bố cục rõ ràng;
diễn đạt trơi chảy, câu văn có hình ảnh, cảm xúc. Mắc một số lỗi nhỏ về chính tả, dùng từ,
viết câu.
- Điểm 7 – 8: Bài làm đáp ứng khoảng 2/3 nội dung cơ bản của đáp án. Văn chưa hay nhưng
rõ ý. Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, viết câu.
- Điểm 5 – 6: Bài làm đáp ứng khoảng 1/2 nội dung cơ bản của đáp án. Mắc nhiều lỗi hành
văn, chính tả.
- Điểm 3 – 4: Hiểu và trình bày vấn đề cịn sơ sài, kết cấu khơng rõ ràng, cịn mắc nhiều lỗi
diễn đạt.
- Điểm 1 – 2: Khơng hiểu đề, khơng có kĩ năng nghị luận, mắc quá nhiều lỗi diễn đạt.
- Điểm 0: Lạc đề hồn tồn hoặc khơng viết gì.
2,0
Lưu ý:
- Giám khảo cần vận dụng đáp án một cách linh hoạt để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh đếm ý cho
điểm một cách máy móc.
- Khuyến khích những bài làm hay, có chất văn chương, có ý tưởng sáng tạo, mới lạ…
- Điểm bài là tổng điểm của hai câu, lẻ đến 0,5.
----------Hết----------
TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG
LẦN THỨ IX – HỊA BÌNH
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI
MÔN: NGỮ VĂN – KHỐI: 10
Thời gian: 180 phút
Ngày thi: 02/8/2013
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Câu 1: (8,0 điểm)
Viết một bài văn nghị luận có nhan đề: CON LẬT ĐẬT.
Câu 2: (12,0 điểm)
Trong bài tiểu luận “Mấy ý nghĩ về thơ”, Nguyễn Đình Thi viết:
“Điều kì diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ, ngồi cái nghĩa của nó, ngồi cơng dụng gọi tên sự vật, bỗng tự phá
tung, mở rộng ra, gọi đến xung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh khơng ngờ, tỏa ra xung quanh nó một
vùng sáng động đậy…”
Bằng vốn kiến thức về thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, anh/chị hãy bình luận nhận định trên.
----------Hết----------
TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG
LẦN THỨ IX – HỊA BÌNH
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI
MÔN: NGỮ VĂN – KHỐI: 10
Thời gian: 180 phút
Ngày thi: 02/8/2013
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
HƯỚNG DẪN CHẤM
Câu
Nội dung
Điểm
1 Viết một bài văn nghị luận có nhan đề: CON LẬT ĐẬT.
8,0
A. Yêu cầu chung
- Thí sinh được tự do lựa chọn các kiểu bài và thao tác lập văn bản, nhưng phải phù hợp và
nhuần nhuyễn.
- Thí sinh được tự do huy động các chất liệu thuộc tri thức sách vở, tri thức đời sống và những
trải nghiệm của riêng mình… Tuy nhiên, vẫn phải xác định rõ vấn đề thuộc phạm vi nghị luận
xã hội chứ không phải nghị luận văn học.
- Hành văn lưu loát, trong sáng, giàu cảm xúc.
B. Nội dung cần đạt
- Đây là NLXH dạng mở, có thể nêu những ý kiến riêng và trình bày theo nhiều cách khác
nhau, nhưng cần hợp lý, chặt chẽ, thuyết phục.
- Cụ thể, bài làm cần đảm bảo những ý cơ bản sau:
1. Giải thích:
2,0
- Lật đật: Là thứ đồ chơi dân gian quen thuộc với trẻ em nhiều nước trên thế giới, trong đó có
Việt Nam.
- Đặc điểm nổi bật của lật đật là có bộ phận giữ thăng bằng rất tốt nên dù có bị tác động thế
nào cũng ln tự mình trở lại tư thế thẳng đứng.
2. Phân tích, bình luận
4,0
- Dù chỉ là một món đồ chơi nhưng lật đật lại gợi cho chúng ta nhièu bài học sâu sắc:
+ Con lật đật ln tự mình đứng thẳng dù có bị lật qua lật lại cho ta bài học về ý chí mạnh
mẽ, vươn lên. Điều này cũng vô cùng quan trọng bởi trong cuộc sống con người luôn phải
đối mặt với những khó khăn, thất bại, ln mạnh mẽ, khơng cúi đầu trước bất kì hồn cảnh
nào sẽ giúp ta đi đến thành cơng.
+ Con lật đật dù có bị tác động thế nào cũng luôn tự đứng vững nhờ bộ phận giữ thăng bằng
giúp ta nhận ra trong cuộc sống này mỗi người cần rèn luyện để có bản lĩnh sống vững vàng.
Khi có bản lĩnh sống vững vàng con người sẽ vượt qua mọi cám dỗ, thử thách để luôn được
là chính mình.
(Học sinh cần kết hợp lí lẽ, dẫn chứng để làm sáng tỏ các bài học)
3. Liên hệ, rút ra bài học cho mọi người.
2,0
- Hãy luôn mạnh mẽ, sẵn sàng đối diện với khó khăn thử thách, biết chấp nhận thất bại để đi
đến thành công.
- Mỗi người cần rèn luyện cho mình bản lĩnh sống vững vàng để có thể tự tin, chủ động trong
cuộc sống vốn có nhiều khó khăn, bất trắc.
- Những bài học từ chú lật đật khơng chỉ có ý nghĩa với mỗi cá nhân mà cịn có ý nghĩa cho
cả cộng đồng, dân tộc.
2
C. Thang điểm
- Điểm 7 – 8: Bài viết đáp ứng tốt các yêu cầu trên. Hành văn có cảm xúc, lí luận thuyết
phục…
- Điểm 5 – 6: Bài viết đáp ứng được những ý cơ bản, không mắc lỗi diễn đạt, vi phạm yêu
cầu về kĩ năng nhưng không đáng kể.
- Điểm 3 – 4: Bài viết chỉ trình bày được một nửa yêu cầu về kiến thức, vi phạm nhiều yêu
cầu về kĩ năng.
- Điểm 1 – 2: Bài viết chưa hiểu rõ vấn đề hoặc không biết cách lập luận, vi phạm nghiêm
trọng yêu cầu về kĩ năng.
- Điểm 0: Khơng viết gì hoặc viết sai lệch hoàn toàn.
* Ghi chú: Tùy vào bài viết mà người chấm linh hoạt cho điểm.
Trong bài tiểu luận “Mấy ý nghĩ về thơ”, Nguyễn Đình Thi viết:
12,0
“Điều kì diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ, ngoài cái nghĩa của nó, ngồi cơng dụng gọi
tên sự vật, bỗng tự phá tung, mở rộng ra, gọi đến xung quanh nó những cảm xúc, những
hình ảnh khơng ngờ, tỏa ra xung quanh nó một vùng sáng động đậy…”
Bằng vốn kiến thức về thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, anh/chị hãy bình luận nhận định
trên.
A. Yêu cầu chung
- Biết cách làm một bài văn nghị luận tổng hợp.
- Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, thuyết phục.
- Hành văn trong sáng, giàu cảm xúc, hình ảnh, khơng mắc lỗi diễn đạt.
B. Nội dung cần đạt Bài làm có thể có nhiều cách trình bày khác nhau nhưng cần đáp ứng
được một số ý kiến cơ bản sau:
1. Giải thích ý kiến:
3,0
- Đây là nhận định bàn về đặc trưng ngôn từ của thơ ca:
+ “mỗi tiếng, mỗi chữ, ngoài cái nghĩa của nó, ngồi cơng dụng gọi tên sự vật”: đề cập đến
nghĩa gốc, nghĩa đen, nghĩa sự việc của ngôn từ. Đây là lớp nghĩa đầu tiên mà người đọc tiếp
nhận được khi đọc các tác phẩm thi ca.
+ “bỗng tự phá tung, mở rộng ra, gọi đến xung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh
khơng ngờ, tỏa ra xung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy…”: đề cập đến nghĩa bóng,
nghĩa phái sinh, nghĩa hàm ẩn của ngơn từ, khả năng gợi mở những cảm xúc, hình ảnh và cả
những ám ảnh trong tâm trí độc giả của ngôn từ thơ ca.
→ Nhận định nhấn mạnh ngôn từ hàm súc, giàu sức gợi, đa nghĩa chính là “điều kì diệu của
thơ”.
- Lí giải ngun nhân:
+ Xuất phát từ đặc trưng của văn học: Văn học là nghệ thuật ngơn từ. Muốn xây dựng được
hình tượng ẩn chứa những bức thông điệp ý nghĩa gửi tới người đọc, nhà văn phải nhờ tới
ngơn từ. Ngơn từ văn học có những chuẩn mực riêng chịu sự quy định của tính hình tượng và
tính tổ chức với những u cầu cơ bản như: Trong sáng, chính xác; Hàm súc, cơ động; Giàu
tính biểu cảm và đa nghĩa.
+ Xuất phát từ đặc trưng của thể loại thơ: Thơ là thể loại trữ tình đặc biệt trong văn chương
nghệ thuật. Thể hiện cảm xúc mãnh liệt trực tiếp của người nghệ sĩ trong một dung lượng câu
chữ ngắn gọn nên tính hàm súc, gợi tình, gợi cảm, đa nghĩa là u cầu, địi hỏi tất yêu của
ngôn ngữ thi ca.
+ Xuất phát từ quá trình tiếp nhận văn học: Tùy vào từng bối cảnh thời đại, văn hóa, vốn hiểu
biết, vốn sống, cảm xúc,… mà mỗi người đọc lại có những khám phá, lí giải riêng về ý nghĩa
của ngơn từ thơ ca.
2. Chứng minh, bình luận qua các tác phẩm thơ ca Nguyễn Trãi, Nguyễn Du
Học sinh có thể thoải mái lựa chọn phạm vi dẫn chứng song lưu ý chỉ xoay quanh các tác
phẩm thơ ca của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du. Dẫn chứng đưa ra phải thể hiện rõ đặc trưng hàm
súc, cô động, đa nghĩa, giàu gợi hình, gợi cảm, gợi liên tưởng, tưởng tượng của ngơn ngữ thơ.
Khuyến khích những dẫn chứng mới, lạ, đặc sắc, những phát hiện, nhận định sâu sắc về ngôn
ngữ thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du nói riêng và ngơn ngữ thi ca nói chung.
3. Bình luận, mở rộng
- Khẳng định nhận định trên rất đúng đắn, sâu sắc không chỉ với thơ ca Nguyễn Trãi, Nguyễn
Du, thơ ca trung đại Việt nam nói riêng mà cịn đúng với thơ ca ở mọi thời đại, mọi dân tộc.
(liên hệ mở rộng ca dao, thơ hiện đại Việt Nam, thơ Đường…)
- Nhận định đưa đến một bài học bổ ích cho người sáng tác và người tiếp nhận thi ca.
C. Thang điểm
- Điểm 11 – 12: đáp ứng đầy đủ các yêu cầu tren, bài viết sâu sắc độc đáo, diễn đạt lưu lốt,
câu văn giàu hình ảnh, cảm xúc.
- Điểm 8 – 10: Nội dung đầy đủ, có thể cịn thiếu một vài ý nhỏ, bố cục rõ ràng, diễn đạt trơi
chảy, câu văn có hình ảnh, cảm xúc.
- Điểm 5 -7: Bài làm còn thiếu ý. Văn chưa hay nhưng rõ ý. Mắc khơng q 7 lỗi chính tả,
dùng từ, viết câu.
- Điểm 3 – 4: Trình bày ý cịn sơ sài, kết cấu khơng rõ ràng, cịn nhièu lỗi diễn đạt (>7 lỗi).
- Điểm 1 – 2: Không hiểu đề, khơng có kĩ năng nghị luận, mắc q nhiều lỗi diễn đạt.
7,0
2,0
Lưu ý: Giám khảo vận dụng linh hoạt biểu điểm. Có thể thưởng điểm cho những bài viết có sáng tạo nếu điểm
tồn bài chưa đạt tối đa. Điểm cho lẻ đến 0,5
----------Hết----------