ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--- ---
Đề tài: Tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc tại Việt Nam:
Những phương diện tích cực và tiêu cực trong tiếp nhận
Người hướng dẫn
Chủ nhiệm đề tài
:PGS.TS Trần Lê Hoa Tranh
:Phạm Hương Quỳnh
Năm học 2016 - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--- ---
BÁO CÁO
Đề tài: Tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc tại Việt Nam:
Những phương diện tích cực và tiêu cực trong tiếp nhận
Người hướng dẫn
Thành viên:
:PGS.TS Trần Lê Hoa Tranh
Stt
Họ và tên
1 Phạm Hương Quỳnh
2 Trần Thái Ý Linh
3 Nguyễn Thị Thùy Linh
Năm học 2016 - 2017
MSSV
1456020058
1456020066
1456010065
1
LỜI CÁM ƠN
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Văn học trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi để chúng tơi có thể hồn thành đề tài nghiên cứu này.
Chúng tơi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn và sự trân trọng sâu sắc đến cô, PGS.TS.
Trần Lê Hoa Tranh – người đã gợi ý và rất nhiệt tình giúp chúng tơi thực hiện và hồn
thành đề tài nghiên cứu này.
Chúng tơi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các bạn trẻ thuộc khu vực chúng tôi thực
hiện khảo sát đã hợp tác và giúp chúng tơi hồn thành đề tài của mình.
Vì thời gian và kiến thức cịn hạn chế nên khơng thể tránh khỏi những thiếu
sót, vì vậy nhóm chúng tơi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy Cô,
cũng như ý kiến của các bạn sinh viên, nhằm giúp đề tài nghiên cứu của nhóm được
hoàn thiện và đầy đủ hơn. Xin chân thành cám ơn.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2017
2
MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN ................................................................................................................ 1
MỤC LỤC ...................................................................................................................... 2
DẪN NHẬP .................................................................................................................... 4
1. Lí do chọn đề tài ..................................................................................................... 4
2. Sơ lược tình hình nghiên cứu ở trong nước ......................................................... 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................................... 6
4. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................... 6
5. Kết cấu đề tài .......................................................................................................... 6
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG VÀ TIỂU THUYẾT
NGƠN TÌNH TRUNG QUỐC ..................................................................................... 8
1.1. Vài nét về văn hóa đại chúng ............................................................................. 8
1.2. Tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc dưới góc nhìn văn hóa đại chúng ......... 11
1.2.1. Sơ lược về tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc tại Việt Nam........................ 11
1.2.1.1. Khái niệm .............................................................................................. 11
1.2.1.2. Quá trình du nhập vào Việt Nam .......................................................... 12
1.2.2. Đặc trưng của tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc ........................................ 13
1.2.2.1. Người viết là những nhà văn nữ trẻ....................................................... 13
1.2.2.2. Viết về tình yêu ..................................................................................... 18
1.2.2.3. Viết về tình dục ..................................................................................... 20
1.2.2.4. Ngơn ngữ mang phong cách khẩu ngữ, có nhiều đặc điểm của ngôn ngữ
mạng ................................................................................................................... 23
1.2.2.5. Tồn tại và phát triển nhờ vào Internet ................................................... 26
1.3. Phân loại tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc .................................................. 27
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG TIẾP NHẬN NGƠN TÌNH TRUNG QUỐC TẠI
VIỆT NAM ................................................................................................................... 29
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp nhận ngơn tình Trung Quốc tại Việt
Nam............................................................................................................................ 29
2.1.1. Tiểu thuyết ngơn tình đang được phổ biến sâu rộng tại Việt Nam.............. 29
2.1.2. Tiểu thuyết ngơn tình đáp ứng tâm lí của độc giả trẻ Việt Nam ................. 32
2.2. Vấn đề dịch thuật ngơn tình Trung Quốc tại Việt Nam ................................ 37
2.3. Thực trạng tiếp nhận tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc tại Việt Nam
thơng qua khảo sát ................................................................................................... 46
3
CHƯƠNG 3 : NHỮNG PHƯƠNG DIỆN TÍCH CỰC VÀ TIÊU CỰC TRONG
VIỆC TIẾP NHẬN NGƠN TÌNH TRUNG QUỐC TẠI ......................................... 64
3.1. Những phương diện tích cực ............................................................................ 64
3.1.1. Mang tính giải trí cao ................................................................................... 64
3.1.2. Góp phần làm phong phú đời sống văn học đương đại ............................... 66
3.1.3. Mang lại lợi nhuận khổng lồ cho thị trường xuất bản ................................. 68
3.2. Những phương diện tiêu cực ............................................................................ 69
3.2.1. Ngơn tình “đầu độc” tâm hồn độc giả ......................................................... 69
3.2.2. Ảnh hưởng đến phong cách sáng tác của các nhà văn trẻ ........................... 74
3.3. Những gợi ý, kiến nghị cho vấn đề tiếp nhận tiểu thuyết ngơn tình Trung
Quốc tại Việt Nam .................................................................................................... 78
3.3.1. Đề xuất biện pháp đến cơ quan chức năng có thẩm quyền.......................... 79
3.3.2. Đề xuất biện pháp đến gia đình, nhà trường ................................................ 79
3.3.3. Đề xuất biện pháp đến độc giả ..................................................................... 80
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................... 84
PHỤ LỤC ..................................................................................................................... 89
4
DẪN NHẬP
1. Lí do chọn đề tài
Nhà văn M.Gorky từng nói: “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức. Chỉ có kiến
thức mới là con đường sống”. Thật vậy, sách là kho tàng tri thức nhân loại, sách làm
đời sống chúng ta phong phú hơn. Tuy nhiên, để sách thực sự phát huy hết giá trị,
trước tiên nó phải là một cuốn sách ý nghĩa, phù hợp với từng lứa tuổi. Vì vậy, việc
lựa chọn sách cực kỳ quan trọng. Ngày nay, xã hội ngày càng phát triển, các phương
tiện thông tin đại chúng hiện đại như Internet đã tác động không nhỏ đến đời sống mỗi
người, việc lựa chọn sách càng không hề dễ dàng.
Mỗi người tiếp tục với sách theo nhiều phương diện khác nhau, tuy nhiên nó
đều phản ánh văn hóa đọc của mỗi cá thể. Điều này thể hiện ở khả năng lựa chọn sách,
khả năng lĩnh hội kiến thức từ những cuốn sách. Những năm gần đây, xu hướng chọn
sách của giới trẻ đã thay đổi. Một số bạn trẻ không mặn mà với những cuốn sách hàn
lâm mà chuyển sang một thể loại khác là tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc. Đây là
vấn đề đáng lo ngại bởi nó ảnh hưởng khơng nhỏ đến nền văn học đương đại cũng như
bản thân độc giả.
Hiện tại, tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc xuất hiện trên thị trường Việt Nam
và được độc giải trẻ đón nhận “nồng hậu”. Trước tình trạng trên, có nhiều luồng ý
kiến, đánh giá trái chiều. Bên cạnh sự ủng hộ nhiệt tình của các bạn trẻ là nhiều bài
viết, phản hồi không tốt về thể loại tiểu thuyết này. Tuy nhiên, trên thực tế giới
chun mơn vẫn chưa có những nghiên cứu, đánh giá chính thức về vấn đề tiếp nhận
tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc tại Việt Nam. Thiết nghĩ, cần lắm sự vào cuộc
nghiêm túc, những bài nghiên cứu góp phần tạo cơ sở trong việc định hướng và điều
chỉnh thị hiếu thẩm mỹ cho độc giả.
Trên cơ sở nắ m bắt thực tra ̣ng tiế p nhâ ̣n tiể u thuyết ngơn tình Trung Q́ c tại
Viê ̣t Nam, công trình nghiên cứu của chúng tôi sẽ phân tić h và tổ ng hơ ̣p những vấ n đề
tích cực và tiêu cực xung quanh thực tra ̣ng này, qua đó chúng tơi mong ḿ n có thể
góp thêm tiế ng nói trong việc tìm hiểu tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc tại Viê ̣t Nam.
Góp phần tạo bộ lọc tốt cho tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc.
2. Sơ lược tình hình nghiên cứu ở trong nước
Trong vài năm gầ n đây, tru ̣n ngơn tình Trung Quốc xâm nhập vào thị trường
văn ho ̣c Việt Nam mạnh mẽ. Bên cạnh sự ủng hộ của một bộ phận độc giả là các bài
viết, ý kiến lên án loại tiểu thuyết này. Tuy nhiên, tiếng nói chính thức từ giới phê
bình, nhà nghiên cứu là rất hiếm hoi vì cho rằ ng đây là dòng văn chương không chính
thố ng, không đáng đo ̣c.
Trong bài phỏng vấn “Thị hiếu đọc ở Việt Nam quá kém” của báo
Vietnamnet.vn, PGS.TS Trầ n Lê Hoa Tranh - Trường Đa ̣i ho ̣c Khoa ho ̣c Xã hô ̣i và
Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằ ng:
5
“...nhà nghiên cứu, phê bình khơng nên xa rời văn học đương đại, quay lưng
lại với thứ văn chương ảnh hưởng lên đời sống đương đại và không nên bỏ rơi giới trẻ
cho thị trường... nên có nhiều bài nghiên cứu có tính khoa học và chun nghiệp để
mọi vấn đề được nêu lên một cách khách quan hơn”.
Qua quá trình tìm kiế m thông tin, chúng tôi nhâ ̣n thấ y phầ n lớn đánh giá về thể
loại tiểu thuyết này chỉ là những bài báo, bài trả lời phỏng vấn của mô ̣t số nhà văn,
nhà báo, nhà xuấ t bản,... đươ ̣c đăng trên mô ̣t số trang ma ̣ng, diễn đàn, báo điê ̣n tử như:
Diễn đàn Văn nghệ Công an, Báo Nhân dân, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch,…
Nhưng vấ n đề chỉ dừng ở ý kiế n, nhận xét, đánh giá mang tiń h chủ quan về thể loại
tiể u thuyết này. Có thể dẫn một sớ ví du ̣ như sau:
Trên website của Đài truyền hin
̀ h Viê ̣t Nam VTV (24/05/2015) đăng tải đoa ̣n
phỏng vấn nhà nghiên cứu Ngô Hương Giang (Viê ̣n hàn lâm khoa ho ̣c xã hô ̣i Viê ̣t
Nam) về viê ̣c “Loa ̣i bỏ ngơn tình gây phản cảm” trong chương trin
̀ h “C ̣c số ng
thường ngày” trên kênh VTV1 HD kèm theo bài viết “Sách ngơn tình có nội dung
phản cảm và những tác động tiêu cực”.
Trên trang Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, chuyên mục “Dọc đường văn
học” có bài viế t “Văn học trẻ & nguy cơ ngơn tình hóa” để nói về vấ n đề có hay
khơng hiện tượng “ngơn tình hóa” đang ảnh hưởng đế n các tác giả trẻ Viê ̣t Nam hay
thực sự “lố i viế t ngôn tình” đang chèn ép những lối viế t khác.
Diễn đàn DiendanLeQuyDon.com (11/2015) đặt câu hỏi: “Ba ̣n có suy nghi ̃ gì
về ngôn tin
̀ h?” và ghi nhâ ̣n rấ t nhiều ý kiế n cho rằ ng tiể u thuyế t ngôn tin
̀ h mang tin
́ h
chấ t giải trí và không xấ u.
Trên website Diễn đàn Văn nghệ Cơng an, chun mục “Văn hóa” (07-102015) có bài viết “Truyện ngơn tình Trung Quốc – Một cách nhìn”, TS Hà Thanh Vân
(Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ) có cái nhiǹ khách quan hơn khi đưa ra đánh
giá về tiể u thuyế t ngôn tình, đặc điểm, ngun nhân vì sao ngơn tình hấp dẫn người
đọc từ đó đưa ra lời cảnh báo về tốc độ phát triển chóng mặt của thể loại này, kêu gọi
sự quan tâm và có hướng đi đúng trong cơng tác quản lí dịng văn học này ở Việt
Nam.
Cũng trên website này, chuyên mu ̣c “Đời số ng văn hóa” (26-05-2015) có bài
viế t “Đo ̣c ngôn tiǹ h, công chúng trẻ cần sự đinh
̣ hướng”, PGS.TS Trần Lê Hoa Tranh
- Trường Đa ̣i ho ̣c Khoa ho ̣c Xã hô ̣i và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ
Chí Minh đã chỉ ra nguyên nhân cũng như những hình thức tru ̣n ngơn tình phát triể n
ma ̣nh ở nước ta, từ đó đưa ra giải pháp rằ ng cầ n “…đi ̣nh hướng kỹ càng và xem xét
các mặt của tác phẩm như tính giải trí, tính giáo dục, tính nghệ thuật... Và như vậy,
cũng rất cần sự vào cuộc của các cơ quan truyền thơng, báo chí, định hướng bằng
cách có những mục điểm sách, điểm phim một cách nghiêm túc và chất lượng…”.
Bài viế t “Tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc tại Việt Nam dưới góc nhìn văn
hố đại chúng” ( 12-11-2016) của PGS.TS Trầ n Lê Hoa Tranh trên trang Văn nghê ̣
6
quân đô ̣i cũng đã giải đáp những thắ c mắ c xoay quanh tiể u thuyế t ngôn tin
̀ h dưới góc
nhin
̀ văn hóa đa ̣i chúng.
Trên trang báo An ninh thế giới, chuyên mu ̣c “Kinh tế – Thể thao – Văn hóa”
có bài “Tiểu thuyết ngơn tình Trung Quố c: Rác hay không rác”. Bài viế t đã phân tích
sự phát triển của tiể u thuyế t ngôn tin
̀ h Trung Quốc ta ̣i Viê ̣t Nam, từ đó đưa ra những
đinh
̣ hướng trong viê ̣c tiế p nhận dòng văn ho ̣c này.
Nhìn la ̣i lich
̣ sử vấ n đề nghiên cứu chúng tôi nhâ ̣n thấ y có nhiề u ý kiế n bàn
luâ ̣n, đa phần nhìn nhận khía ca ̣nh tiêu cực của thể loại tiể u thuyế t này. Viê ̣c nghiên
cứu tồn diê ̣n vấ n đề tích cực và tiêu cực trong tiế p nhâ ̣n tiể u thuyế t ngôn tiǹ h Trung
Quố c ta ̣i Việt Nam vẫn chưa đươ ̣c tiế p cận nhiề u. Trên cơ sở kế thừa những người đi
trước, đề tài của chúng tơi chỉ ra những yếu tố tích cực và tiêu cực của tiểu thuyết
ngơn tình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những mặt tích cực và tiêu cực của tiểu thuyết ngơn
tình Trung Quốc tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu vấn đề tiếp nhận
tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc của các bạn trẻ trên khắp 12 tỉnh thành trong cả
nước, cụ thể là các tỉnh: Thái Bình, Nam Định, Hà Nội, Bình Thuận, Phú Yên, Lâm
Đồng, Đà Nẵng, Bình Dương, Cần Thơ, TP.HCM, Vĩnh Long, Cà Mau.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau đây:
Phương pháp phân tích
Phương pháp tổng hợp
Phương pháp điều tra bảng hỏi
5. Kết cấu đề tài
Kết cấu đề tài bao gồm các phần: phần dẫn nhập, phần nội dung, phần kết luận,
tài liệu tham khảo và phụ lục.
Phần dẫn nhập: giới thiệu những vấn đề khái qt về lí do nhóm chúng tơi
chọn đề tài này, những cơng trình nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài, giới
hạn phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu đề tài.
Phần nội dung: gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát về văn hóa đại chúng và tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc
7
Ở chương này chúng tôi sẽ khái quát về văn hóa đại chúng nói chung và một số
hiện tượng văn hóa đại chúng du nhập vào Việt Nam nói riêng. Tiếp đến là bàn về
khái niệm tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc cùng những đặc trưng và phân loại thể
loại tiểu thuyết này. Việc khái quát như thế sẽ giúp người đọc có thể nắm bắt sơ lược
được vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Thực trạng tiếp nhận tiểu thuyết ngôn tình Trung Quốc tại Việt Nam
Chúng tơi sẽ tiến hành thực hiện khảo sát bằng biểu mẫu trên Google Docs đối
với các bạn trẻ thuộc 12 tỉnh, thành phố trên cả nước. Từ đó, thống kê, phân tích dữ
liệu và đưa ra kết luận về các yếu tố, cũng như thực trạng về việc tiếp nhận tiểu ngơn
tình Trung Quốc tại Việt Nam. Qua đó cũng đề cập đến vấn đề dịch thuật tiểu thuyết
ngơn tình tại Việt Nam.
Chương 3: Những phương diện tích cực và tiêu cực trong việc tiếp nhận tiểu
thuyết ngơn tình Trung Quốc tại Việt Nam
Ở chương này, chúng tôi sẽ đưa ra những kết luận về những ảnh hưởng tích
cực, tiêu cực của tiểu thuyết ngơn tình. Qua đó, cũng đưa ra những kiến nghị, đề xuất
nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của thể loại tiểu thuyết này.
Phần kết luận: Tổng hợp toàn bộ nội dung và đưa ra những đánh giá khách quan về
đề tài.
Phụ lục: Gồm biểu mẫu và biểu đồ, các bảng có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
8
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG VÀ TIỂU
THUYẾT NGƠN TÌNH TRUNG QUỐC
1.1. Vài nét về văn hóa đại chúng
Ngày nay, thuật ngữ “văn hóa đại chúng” (Mass culture/ Popular culture) đang
dần trở nên phổ biến ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới, nó có mối quan hệ mật
thiết với sự phát triển của văn hóa tồn cầu nói chung và văn hóa của mỗi quốc gia nói
riêng. “Văn hóa đại chúng là thuật ngữ có nội hàm khá rộng, bao gồm tổng thể các ý
tưởng, quan điểm, thái độ, hành vi lan truyền (meme), hình ảnh và các hiện tượng
khác, những gì được cho có sự đồng tình một cách phổ biến nhưng khơng tn theo
một thủ tục quy định của một nền tư tưởng văn hóa nhất định.”1
“Văn hóa đại chúng” hình thành và phát triển ở phương Tây từ đầu thế kỷ XX
và có xu hướng lan rộng ra tồn cầu vào cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI. “Văn
hóa đại chúng” là văn hóa của đa số người trong xã hội. “Đại chúng” (popular) trong
thuật ngữ này có vai trị quan trọng tạo nên sự khác biệt trong thế đối cực so với văn
hóa bác học hay văn hóa tinh hoa. “Đại chúng” được hiểu là phần lớn người dân trong
xã hội. Trong bối cảnh đi lên của xã hội lồi người, khi vấn đề bình đẳng, dân chủ của
con người trở thành mối quan tâm hàng đầu, thì trong văn hóa vấn đề “đại chúng” lại
ngày càng thể hiện rõ vai trị của nó. “Đại chúng hóa” văn hóa có thể được hiểu như
một kiểu dân chủ trong văn hóa, ở đây “văn hóa đại chúng” sẽ mang tính tự do, cấp
tiến hơn so với văn hóa tinh hoa, hàn lâm hay bác học.
Theo Tiến sĩ Nghệ thuật học người Nga Kirill Razlogov, “văn hoá đại chúng”
thường được định nghĩa như là những sản phẩm văn hoá (theo nghĩa rộng nhất, bao
gồm các tác phẩm nghệ thuật, hàng tiêu dùng và nghệ thuật ẩm thực) được các chuyên
gia sáng tạo và phổ biến với quan điểm cho rằng trên nền tảng thương mại, đông đảo
dân chúng không phân biệt địa vị xã hội, giới tính, tuổi tác, quốc tịch, v.v. sẽ sử dụng
nó. “Văn hố đại chúng” khác với văn hố dân gian... và nó chuẩn bị cho thế giới tiếp
nhận một nền văn hố tồn cầu, tức một nền văn hố sẽ bao qt tồn cầu ở cấp độ lý
tưởng.
Theo Lê Minh Kha trong Lý thuyết văn hoá và văn hoá đại chúng (Cultural
Theory and Popular Culture – John Storey) đã đưa ra 6 định nghĩa khác nhau về văn
hố đại chúng. Trong số đó, nếu xác định bằng cách đối sánh với nền văn hoá cao cấp
(high culture), “văn hố đại chúng” được xem là những gì “sót lại” (left over) sau khi
đã xác định đâu là văn hố cao cấp; nếu nhìn từ quan điểm Tây Âu, “văn hố đại
chúng” là nền văn hố mang tính thương mại sản xuất đại trà cho tiêu thụ đại trà, gắn
liền với văn hoá Mỹ; quan điểm của chủ nghĩa hậu hiện đại xem “văn hố đại chúng”
1
Trích nguồn:
/>
9
như một phản ứng, không thừa nhận ranh giới, sự khác biệt giữa “văn hố cao cấp” và
“văn hố bình dân”.
Học giả Jim Cullen, qua lời giới thiệu cho cuốn Bách khoa thư văn hoá đại
chúng của St.James (St.James Encyclopedia of Popular Culture) đã gọi văn hoá đại
chúng là “nghệ thuật của đời sống thường nhật” (The Art of Everyday Life). Cũng
trong lời giới thiệu này, ông dẫn lời của nhà nghiên cứu lịch sử văn hoá Lawrence
Levine, xem văn hoá đại chúng là “nền văn hoá dân gian của xã hội công nghiệp” (the
folklore of industrial society).
Trong bài viết “Văn hóa thời gian rỗi và văn hóa đại chúng” của PGS.TS Phan
Thị Thu Hiền có đề cập đến khái niệm “văn hóa đại chúng” của Raymond Williams .
Theo Raymond Williams (1921-1988) “văn hóa đại chúng” gồm có 4 nghĩa :
Văn hóa đại chúng bao gồm những hiện tượng, sản phẩm/ dịch vụ văn hóa
được nhiều người ưa thích.
Văn hóa đại chúng là hình thức văn hóa thấp hơn của đa số quần chúng
phân biệt với văn hóa cao hơn của thiểu số tinh hoa.
Văn hóa đại chúng bao gồm những sản phẩm/ dịch vụ văn hóa người ta chủ
ý tạo ra (thường gắn với công nghiệp văn hóa, sản xuất hàng loạt) nhằm
thỏa mãn thị hiếu của số đơng.
Văn hóa đại chúng bao gồm những sản phẩm/ dịch vụ văn hóa mà những
nhóm xã hội (nhất là những nhóm thiểu số) tự tạo nên để đáp ứng cho
những nhu cầu đặc thù của riêng họ (vốn khơng được văn hóa thống lĩnh
thừa nhận quan tâm).
Thêm một hướng tiếp cận khác, theo John Hartley “văn hóa đại chúng”
(popular culture) là văn hóa chung của con người (of people in general), dành cho con
người (for people in general) và nói chung là được con người ưa thích (well liked by
people in general). Tuy nhiên, bên trong định ngữ “popular” (đại chúng) lại mang hơi
hướng tiêu cực, ẩn chứa một thái độ kỳ thị không rõ ràng. Trong bối cảnh giao tiếp
thông thường, “popular” (được nhiều người ưa chuộng) thường được hiểu tương đồng
với nghĩa của “good” (tốt) mang sắc thái tích cực. Nhưng về bản chất từ nguyên,
“popular” không mang sắc thái tiêu cực và cách hiểu trên đã đi ngược lại ý nghĩa ban
đầu của nó. Nguyên khởi, “popular” được dùng để phân biệt số lượng người giữa số
đơng người bình dân (chứ khơng phải chỉ con người nói chung) với những người có
tước vị, quý tộc, giàu có hay có giáo dục (the titled, wealthy or educated classes). Sau
đấy “popular” lại được hiểu tương đồng với các từ mang sắc thái tiêu cực, ngụ ý miệt
thị như gross, base, vile, riffraff, common, low, vulgar, plebein hay cheap. Như vậy
“popular” vốn là thuật ngữ vấp phải khá nhiều tranh luận, tuy nhiên từ lịch sử hình
thành, “popular” đã trở thành một thuật ngữ đa nghĩa với khuynh hướng trọng tâm là:
Sự phổ biến của một thứ gì đó, tức mang tính đại chúng, được đánh giá tích cực hay
10
tiêu cực phụ thuộc vào định hướng để hiểu “the people” (con người) của mỗi người.
Tính đại chúng/ phổ biến của các phương tiện truyền thông đại chúng (mass media)
tạo ra cách hiểu mơ hồ và lại khiến lặp lại các cuộc tranh luận về cái gọi là “phổ biến
là tốt hay xấu” trong cả giới học thuật lẫn công chúng. Cụ thể là các sản phẩm truyền
thông là “tốt vì chúng phổ biến” hay “xấu vì chúng phổ biến”.[4; Tr 12]
“Văn hóa đại chúng” ngày càng đóng vai trị quan trọng trong xã hội hiện đại.
Không thể phủ nhận vai trị của văn hố đại chúng trong việc truyền tải các giá trị văn
hóa cốt lõi của xã hội, nâng cao dân trí của người dân thơng qua giải trí. Văn hóa đại
chúng góp phần đánh giá dân trí, thị hiếu chung của một tầng lớp công chúng nhất
định. Tuy nhiên, sau cùng của những tranh luận, văn hóa đại chúng được biết đến là
thứ văn hóa cịn lại của một sự xác định rõ ràng “văn hóa tinh hoa” (high culture), khi
các sản phẩm văn hóa khơng đạt được quy chuẩn hạn định của “văn hóa tinh hoa”, nó
trở thành “văn hóa đại chúng”. Nói cách khác, “văn hóa đại chúng” được ngầm định là
loại văn hóa cấp thấp (đối cực với “high culture”) phù hợp với thị hiếu phổ thơng của
cơng chúng.
Bề nổi của “văn hóa đại chúng” tồn tại ngày nay trên tồn cầu có thể kể đến là
hiện tượng thống trị của các trào lưu văn hóa như phim truyền hình Mỹ, thức ăn nhanh
McDonald, nước uống Coca-Cola, bánh pizza Italia, xì gà la Habana, yoga Ấn Độ,
thời trang Italia, món ăn Nhật Bản hay Trung Hoa, phim truyền hình Hàn Quốc, thời
trang và món ăn Hàn... Ở nhiều quốc gia, nhờ vào tính giải trí cao, “văn hóa đại
chúng” trở thành đối tượng được khai thác giá trị thương mại rất hữu hiệu, là cơng cụ
kiếm tiền cho các doanh nghiệp, tập đồn, quốc gia và cả khu vực, vì vậy có thể thấy
ở các nước này, “văn hóa đại chúng” rất phát triển. Chính nhờ những lợi ích mang lại
từ các sản phẩm văn hóa đại chúng, cho nên “văn hóa đại chúng” ngày càng được ưu
tiên đầu tư phát triển mạnh. Một trong những cách phát triển “văn hóa đại chúng” là
việc gắn chặt nó với các phương tiện truyền thơng đại chúng. Ở khía cạnh khách quan,
“văn hóa đại chúng” và các phương tiện truyền thơng đại chúng có quan hệ tương tác,
phụ thuộc vào nhau để tồn tại.
Các sản phẩm văn hóa đại chúng được sản xuất hàng loạt để tiêu thụ thông qua
các phương tiện truyền thông đại chúng. Đây là dấu hiệu đặc trưng của “văn hóa đại
chúng”. Có nhiều loại phương tiện truyền thơng đại chúng khác nhau hỗ trợ cho sự
tồn tại của các sản phẩm này, nhưng phổ biến nhất là phát thanh, báo chí, truyền hình
và đỉnh cao là internet.
Như vậy, “văn hóa đại chúng” có thể được hiểu là tổng thể các sản phẩm văn
hóa có khả năng thỏa mãn thị hiếu của đại đa số dân chúng. Các sản phẩm văn hóa đại
chúng bao gồm phim ảnh, âm nhạc, văn học, thời trang... Ở đây việc tiếp nhận các sản
phẩm văn hóa này là tự nguyện từ phía cơng chúng. “Văn hóa đại chúng” phải đáp
ứng được hai tiêu chí cơ bản là: hiệu quả tiêu thụ sản phẩm văn hóa và thị hiếu của đại
11
chúng. Từ đây văn hóa đại chúng nổi lên hai đặc tính rõ rệt là “thương mại” và “giải
trí”.
1.2. Tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc dưới góc nhìn văn hóa đại chúng
Những năm gần đây “văn hóa đại chúng” đã ảnh hưởng khơng nhỏ đến Việt
Nam. Nói về nền “văn hóa đại chúng” du nhập vào Việt Nam khơng thể khơng kể đến
hiện tượng văn hóa đại chúng Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan,..Một trong những điều cho
thấy sự du nhập của “văn hóa đại chúng” phương Tây vào Việt Nam là lễ hội
Halloween. Halloween là một lễ kỷ niệm ở một số quốc gia phương Tây, diễn ra vào
ngày 31 tháng 10 hằng năm. Lễ hội này được du nhập vào Việt Nam và được nhiều
bạn trẻ hưởng ứng. Bên cạnh đó, văn hóa phương Đơng cũng dần xâm nhập vào thị
trường nước ta, cụ thể là làn sóng Hallyu (Hàn lưu) xuất hiện trong gần 19 năm trở lại
đây (kể từ khi bộ phim truyền hình dài tập Hoa cúc vàng của Hàn Quốc được chiếu
trên Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1997). Nếu xét riêng về lĩnh
vực văn học nghệ thuật, có thể thấy, trong suốt quá trình hội nhập cho đến nay thì văn
chương nghệ thuật thế giới ồ ạt tràn vào nước ta, một trong số đó là sự du nhập của
tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc.
Tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc cũng đã làm nên một “hiện tượng đọc” rất
đáng quan tâm hiện nay, mà đối tượng chủ yếu là nữ giới. Cụ thể hơn, “hiện tượng
đọc” này còn được biết đến với tên gọi là “trào lưu đọc tiểu thuyết ngơn tình Trung
Quốc”. Theo chúng tơi, nhìn nhận tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc là một hiện tượng
“văn hóa đại chúng” sẽ thấy được những mặt tích cực và tiêu cực trong vấn đề tiếp
nhận ở Việt Nam.
Tiểu thuyết ngôn tình Trung Quốc gắn liền với văn học mạng Trung Quốc, là
một trong những thể loại văn học mạng được u thích nhất. Thể loại này khơng
hướng đến tất cả công chúng trong xã hội mà chỉ giới hạn ở những đối tượng độc giả
nhất định, đặc biệt là giới trẻ hiện nay. Những câu chuyện ăn khách được in thành
sách hay chuyển thể thành phim. Sự cộng sinh giữa văn hóa và truyền thơng này cịn
kéo theo sự phát triển nhanh chóng và rầm rộ của ngành cơng nghiệp in ấn và sản xuất
phim truyền hình, mang lại những khoản thu nhập kếch xù cho các nhà đầu tư.
1.2.1. Sơ lược về tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc tại Việt Nam
1.2.1.1. Khái niệm
Tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc có thể được hiểu là một thể loại hàm chứa
những đặc trưng của “văn học đại chúng” được sáng tác và lan truyền qua mạng
internet.
Về cơ bản, tiểu thuyết ngơn tình vẫn được hiểu là một thể loại tự sự, mà nội
dung chính đã được thể hiện rõ qua tên gọi “ngơn tình” (言情). Ở đây “ngơn” (言) tức
ngơn ngữ, lời nói, tự mình nói ra. “Tình” (情) với bộ tâm (心) - trái tim, được hiểu
12
như lòng yêu mến, quyến luyến giữa nam nữ. Như vậy “ngơn tình” có thể hiểu là thể
loại tiểu thuyết viết về những câu chuyện tình yêu giữa nam và nữ. Và dù là những
câu chuyện vụn vặt, hết sức đời thường nhưng cũng đậm chất lãng mạn. Ngơn tình có
cả cốt truyện hiện đại lẫn cổ xưa, đem đến cho người đọc cảm xúc và ước mơ về một
cuộc sống lãng mạn như trong truyện.
Ở đây, chúng tôi định nghĩa tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc như sau:
Tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc là những sản phẩm văn hóa đại chúng có giá
trị giải trí cao, mang nội dung thể hiện tình yêu lãng mạn của các cặp nhân vật chính
(có thể là nam – nữ, nam – nam, nữ - nữ) vượt mọi không gian, thời gian và định kiến
xã hội. Được xem sản phẩm kinh doanh mang lại lợi nhuận và sự nổi tiếng cho những
người hoặc tổ chức tham gia sáng tạo và lưu hành sản phẩm.
1.2.1.2. Quá trình du nhập vào Việt Nam
Về bản chất, tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc cũng là một loại tiểu thuyết tình
cảm, là một kiểu kế thừa của các dòng tiểu thuyết lâu đời của Trung Quốc như tiểu
thuyết tài tử giai nhân, tiểu thuyết uyên ương hồ điệp, nhưng được nâng cấp để phù
hợp với thời đại, với thị hiếu của độc giả hiện nay. Tiểu thuyết ngôn tình Trung Quốc
chịu ảnh hưởng lớn từ các trào lưu tư tưởng phương Tây mà các tác giả trẻ tiếp nhận
được. Tuy nhiên tiểu thuyết ngơn tình chỉ mang tính chất “ngoại biên” trong nền văn
học Trung Quốc. Sự phát triển của thể loại tiểu thuyết này còn cho thấy sự thay đổi
của những giá trị văn hóa, đạo đức trong xã hội Trung Quốc thời kinh tế thị trường.
Tiểu thuyết ngơn tình xuất hiện ở Trung Quốc từ những năm 90 của thể kỷ XX,
khi việc viết văn trên mạng chỉ được xem là một thú vui của những cá nhân thích viết
lách, được gọi là tác giả mạng. Đặc điểm nổi bật của hiện tượng này là ai cũng có thể
sáng tác và cho lưu hành những sáng tác của mình trên mạng. Đối tượng hướng đến
của các tác giả này là công chúng trẻ, cụ thể hơn là nữ giới. Đa số họ là những người
trẻ tuổi, có trình độ văn hóa phổ thơng, vì vậy ít nhiều các tác phẩm ngơn tình trên
khơng được tác giả trau chuốt, gọt giũa về nội dung lẫn ngôn từ. Ngôn ngữ chủ yếu là
khẩu ngữ, nội dung đa dạng nhưng không được chọn lọc kỹ càng và chủ yếu chỉ là
thỏa mãn thị hiếu độc giả.
Ở Việt Nam tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc được xác định là bắt đầu xuất
hiện từ năm 2003 với bản dịch truyện vừa Xin lỗi, em chỉ là con đĩ của tác giả Tào
Đình. Sau thành cơng của tác phẩm này, hàng loạt các nhà xuất bản trong nước mua
lại bản quyển các sáng tác ngơn tình khác và tạo nên trào lưu đọc mới. Cùng với Tào
Đình có thể nhắc đến tác giả trẻ Trương Duyệt Nhiên với những tác phẩm văn học
linglei mang hơi hướng ngơn tình như Thủy tiên đã cướp chép vàng đi, Mèo đen
khơng ngủ… Tiếp sau đó là những tác phẩm ngơn tình bán chạy có thể kể đến như:
Anh có thích nước Mỹ khơng?, Bên nhau trọn đời, Tình yêu thứ ba, Năm tháng vội
vã… của hàng loạt các tác giả trẻ Tân Di Ổ, Phỉ Ngã Tư Tồn, Đồng Hoa, Minh Hiểu
13
Khê, Diệp Lạc Vô Tâm... những tên tuổi khá nổi tiếng của tiểu thuyết ngơn tình Trung
Quốc.
Ở đây chúng tơi cho rằng tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc thuộc về “văn hóa
đại chúng” (hay văn hóa phổ thơng), là văn học ngồi luồng khơng thuộc phạm trù
văn học chính thống. Bởi cơ bản, muốn trở thành văn học chính thống thì cần phải đạt
đến những chuẩn mực nhất định, khơng phải sáng tác nào cũng đáp ứng được các
chuẩn mực của văn học. Hình thức tổ chức của ngơn ngữ trong văn học là dùng ngôn
từ để diễn đạt ngôn từ, nói cách khác một trong những đặc trưng quan trọng của văn
học là ngôn từ nghệ thuật. Ngôn từ mới là chất liệu xây dựng hình tượng nghệ thuật
chứ không phải là ngôn ngữ mà cụ thể là khẩu ngữ. Về bản chất ngôn ngữ là một hiện
tượng xã hội, là tổng thể các yếu tố của phương tiện giao tiếp, là cơ sở của ngôn từ.
Nội dung chủ yếu của các sáng tác này là đề tài tình yêu, tuy nhiên vấn đề đáng quan
tâm là sự đan xen quá nhiều những yếu tố như bạo lực, tình dục,... những yếu tố này
không những ngày càng tăng lên mà cịn có xu hướng chiếm lĩnh trong hầu hết các
sáng tác, vấn đề mà văn học đích thực sẽ hạn chế hoặc gạt bỏ.
1.2.2. Đặc trưng của tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc
Tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc được sáng tạo và tiêu thụ bởi một cộng đồng
độc giả đặc biệt cho nên ngơn tình cũng mang những nét đặc trưng riêng.
1.2.2.1. Người viết là những nhà văn nữ trẻ
Hiện tượng văn hóa đại chúng này đã sản sinh ra một số lượng lớn các sáng tác
với hàng loạt tên tuổi được đơng đảo bạn đọc ngơn tình biết đến. Hiện nay, người ta
có thể phân số lượng các tác giả ngơn tình ra làm nhiều nhóm cụ thể được nêu trong
Bảng 1.1:
Bảng 1.1. Nhóm tác giả ngơn tình nổi tiếng
Nhóm tác giả
Tác giả
tiêu biểu
“Tứ đại thiên Tả
Văn
hậu”
Năm
sinh
Tình
Giới
tính
Nữ
Tác phẩm xuất bản: Bộ Liệt hỏa thanh
xuân (được chuyển thể thành phim), Bộ
Đơng bang liệt truyền (1995), Bảy con
sói Tiểu Đơng bang
Nữ
Tình u say đắm ngược thời gian
(1993); Hơn lên ngươi tâm (1993), Lên
nhầm kiệu hoa gả chồng như ý (1995),
Nam Đế (2007), Đoạt xá phúc tinh xá
đáo (2015)
Nữ
Y hương tấn ảnh hệ liệt, Phượng huyết
(Tả Tình Văn,
Tịch Quyên,
Cổ
Linh, Tịch
Đường Tuyên) Quyên
“Tứ tiểu thiên Mị
Ngữ 198X
Tác phẩm
14
hậu”:
trường ca hệ liệt, Đế vương nghiệp…
Giả
“Nồng
nàn
thiên hậu”: Mị Đồng Hoa
Ngữ Giả;
1980
Nữ
Các tác phẩm được chuyển thể thành
phim: Bộ bộ kinh tâm, Đại Mạc, Bí mật
bị thời gian vùi lấp,...
“Nhiên
tình Phỉ
Ngã
198X
thiên
hậu”: Tư Tồn
Đồng Hoa;
Nữ
Thiên sơn mộ tuyết, Khơng kịp nói yêu
em...
Nữ
Tỏa cầm quyển, Tỏa đàn kinh, Tỏa tâm
ngọc, Vô thi, Thái thốc giác vũ, Quân
thiên vũ, Cổ tẩy trưng vũ, Nam lữ vũ
vũ…
Nữ
Anh có thích nước Mỹ khơng? (chuyển
thể thành phim), Bình minh và Hồng
hơn (2007), Hóa ra anh vẫn ở đây, Gửi
thời thanh xuân sẽ qua của chúng ta
(chuyển thể thành phim), Ánh trăng
khơng hiểu lịng tơi (2008), Cho anh
nhìn về em, Phù thế phù thành (2011),
Hóa ra anh vẫn ở đây (tái bản), Thực
tâm giả (2012), Ngày đã hứa (2014),
Chúng ta (2015)
Nữ
Bên Nhau Trọn Đời (chuyển thể thành
phim điện ảnh), Yêu em từ cái nhìn đầu
tiên (đạt giải tác giả xuất sắc nhất tại
Liên hoan văn học mạng Trung Quốc
năm 2010), Sam Sam đến rồi (chuyển
thể thành phim truyền hình), Tơi như
ánh dương rực rỡ, u em từ cái nhìn
đầu tiên (chuyển thể thành phim),...
“Bi tình thiên
hậu”: Phỉ Ngã
Tư Tồn;
Đằng Bình
198X
“Hiệp
tình
thiên
hậu”:
Đằng Bình.
Tân Di Ổ
“Lục tiểu cơng
chúa”: Tân Di
Ổ, Cố Mạn,
Mậu Quyên,
Kim Tử, Lý
Hâm,Tự
Cố Mạn
Khương.
1981
1981
Kim Tử
198X
Nữ
Mộng Đại Thanh, Đêm Thượng Hải,
Tôi không phải tinh anh, Thủy mặc sơn
hà...
Lý Hâm
198X
Nữ
Độc bộ thiên hạ, Tú lệ giang sơn, Tuân
quân ý, Một nghìn lẻ một chiếc lá, Bỉ
15
ngạn hóa, Mê thương...
“Bát Tiểu Linh
Lung”:
Thương
Nguyệt, Mộc
Nhiên Thiên
Sơn,
Minh
Hiểu Khê, Mễ
Lan, u Chu,
Đường
Thất
Cơng Tử, Mị
Mị Miêu, Ái
Ba Thụ Đích
Ngư
Thương
Nguyệt
1979
Minh Hiểu
198X
Khê
Đường
Thất Cơng 198X
Tử
“Tam thập nhị Trang
tiểu đương gia” Trang
Nữ
Huyết Vi, Thính Tuyết Lâu, Thất dạ
tuyết…
Nữ
Các cuốn sách đã xuất bản tại Việt
Nam: Bong bóng mùa hè (3 tập 2009)- được chuyển thể thành phim, Sẽ
có thiên thần thay anh yêu em (2010),
Dư vị trà chiều (2010), Liệt hỏa như ca
(2010), Thiếu nữ toàn phong (2011)được chuyển thể thành phim…
Nam
Những tác phẩm của Đường Thất Công
Tử được Quảng Văn phát hành tại Việt
Nam: Thập lý đào hoa (Đạo diễn Lý
quốc Lập chuyển thể thành phim),
Chẩn thượng thư, Thập lý đào hoa...
Nữ
Mưa nhỏ hồng trần, Mạn mạn thanh la,
Vĩnh dạ...
Nữ
Thủy tiên đã cưỡi chép vàng đi, Anh
đào xa tít tắp, Mèo đen khơng ngủ...
Nữ
Xin lỗi em chỉ là con đĩ, Anh có thích
nước Mỹ không?, Yêu anh hơn cả tử
thần, Thiên thần sa ngã...
Nữ
Các tác phẩm được cải biên thành phim
truyền hình: Hãy nhắm mắt khi anh
đến, Nếu ốc sên có tình u, Truy tìm ký
ức và Thời gian tươi đẹp...
1980
Nữ
Thái Tử phi thăng chức ký (được
chuyển thể thành phim), Nữ tặc Giang
Bắc, Bản sắc thục nữ....
Cố
Tây
1986
Tước
Nữ
Bức thư bị lãng quên, Nơi nào đông
ấm, Nơi nào hạ mát, All in love...
Một số tác giả khác:
Trương
Duyệt
Nhiên
Tào Đình
Đinh Mặc
Tiên
Chanh
1982
1985
198X
16
Lục Xu
1991
Nữ
Tình yêu quan trọng đến vậy sao, Câu
chuyện mà anh khơng biết, Tình u chỉ
là vậy...
Ức Cẩm
1986
Nữ
Có cần lấy chồng khơng, Anh trai xấu
xa, Chúng mình lấy nhau đi...
Nữ
Gần như vậy, xa đến thế (2011), Nơi
cuối con đường (2012), Mưa gió
thoảng qua, tơi u em (2011)…
Tinh
Khơng
Lam Hề
1984
Nếu nói đến thành cơng về mặt thương mại thì phải nhắc đến : Đồng Hoa, Đinh
Mặc, Phỉ Ngã Tư Tồn, Cố Mạn, Diệp Lạc Vô Tâm, Tân Di Ổ, Minh Hiểu Khê,… Đa
số họ đều là các tác giả ăn khách với những tác phẩm “best-seller” đình đám.
Phần lớn các tác giả ngơn tình đều rất trẻ (sinh trong khoảng những năm 19801990 trở về sau), bắt đầu sáng tác khi chỉ ngồi 20 tuổi nhưng số lượng các sáng tác
được cơng bố thì khơng hề ít. Theo thống kê tại các trang mạng như: Fahasha.com,
wikipedia,…có nhiều ấn bản được phát hành từ vài chục đến vài trăm ngàn bản như:
Thương Nguyệt với sáng tác Thất dạ tuyết bán hơn 80.000 bản trong 10
ngày đầu tiên ra mắt.
Cố Mạn, với sáng tác Bên nhau trọn đời, sau khi được xuất bản đã bán
được 300.000 bản trong vòng 3 năm.
Phỉ Ngã Tư Tồn là tác giả dẫn đầu dòng tiểu thuyết tình cảm Trung
Quốc. Ra mắt 8 năm, xuất bản 20 tác phẩm, 2 bộ tiểu thuyết đã được
chuyển thể thành phim điện ảnh, 11 bộ khác liên tiếp được dựng thành
phim truyền hình, bao gồm hai bộ phim ăn khách năm 2011 là Thiên sơn
mộ tuyết, Khơng kịp nói yêu em.
Đồng Hoa với các tác phẩm đã xuất bản: Bộ Bộ Kinh Tâm (Tháng 4 năm
2006, tái bản Tháng 6 năm 2006, tái bản lần 2: Tháng 2 năm 2009), Đại
Mạc Dao (Tháng 11 năm 2006, tái bản: Tháng 3 năm 2012), Vân Trung
Ca (Tập 1: Tháng 9 năm 2007, Tập 2 + Bookmark, Poster của Eno:
Tháng 2 năm 2008, Tập 3 + Bookmark, Poster của Eno: Tháng 4 năm
2008), Bí Mật Bị Thời Gian Vùi Lấp (Tháng 12 năm 2008), Chúng ta
không thể quay lại thời niên thiếu đó (Poster Tháng 1 năm 2010), Từng
hứa hẹn (Tháng 2 năm 2011), Từng hứa hẹn – thương (Tháng 5 năm
2011 + Bookmark).
Đây thật sự là những con số đáng mơ ước của những người viết sách.
17
Tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc tạo ra lượng độc giả và tác giả khá chuyên
biệt. Đó hầu hết là sáng tác của các tác giả nữ, viết về tình yêu và dành cho phụ nữ.
Với những thành công riêng của mình, tiểu thuyết ngơn tình Trung Quốc trở thành
“mảnh đất màu mỡ” để các tác giả nữ khai thác, thể hiện khả năng.
Các tác giả này thường đề cao yếu tố tự truyện trong các sáng tác của mình.
Trong các tập tiểu thuyết ngơn tình, hầu hết đều là những trải nghiệm cảm xúc thực tế
của bản thân hoặc tình huống cuộc sống,... Tác giả thường xem mình là nhân vật trung
tâm của câu chuyện.
Một số truyện ngơn tình viết về tình dục một cách rất táo bạo. Các tác giả này
coi tình dục như là điểm mấu chốt trong tác phẩm của mình, và xoay quanh nó là tình
u, quan hệ xã hội…
Thêm vào đó, các tác giả trẻ thường chọn cho mình lối hành văn đơn giản, văn
phong dễ viết, dễ đọc, phá bỏ những khuôn mẫu của dịng văn học chính thống. Các
sáng tác này dễ đi vào lịng độc giả nhằm lơi cuốn và nhắm trúng đối tượng độc giả có
trình độ văn hóa ngang tầm các sáng tác. Các tác giả trẻ viết rất đều đặn, giữ vững
phong độ, ra sách liên tục và đi kèm với mỗi lần ra sách là cả một chiến dịch quảng
cáo rầm rộ.
Một thế hệ các tác giả nữ 8X của dịng tiểu thuyết ngơn tình này đã khẳng định
được tiếng nói của mình trên các trang web, blog cá nhân, facebook… Internet trở
thành phương tiện quảng bá sáng tác mới của các tác giả trẻ này, nó còn là cầu nối
giữa tác giả và độc giả. Các tác giả trẻ này thường xây dựng cho mình mơt hình tượng
cá nhân long lanh như những nhân vật trong phim thần tượng qua các kênh mạng xã
hội như facebook, blog cá nhân… Họ nhanh chóng trở thành “mỹ nhân viết truyện”,
“hot girl mạng xã hội” thu hút đông đảo người hâm mộ, trước hết là hâm mộ hình ảnh
cá nhân của các nhân vật này, và sau đó là đổ xô đi mua các sáng tác của thần tượng.
Đây cũng là nguyên nhân quan trọng đưa đến những con số ấn bản đáng mơ ước.
Tuy nhiên, phần lớn các sáng tác này đều bị nghi ngờ về chất lượng, giá trị
chiều sâu của nó. Bởi hầu hết các tác giả viết ngơn tình đều khơng có chun mơn về
văn chương (Đồng Hoa- nhân viên ngân hàng, Đằng Bình- tốt nghiệp đại học Luật, Cố
Mạn- tốt nghiệp đại học Kiểm toán Nam Kinh, Thương Nguyệt- kiến trúc sư, Minh
Hiểu Khê- Quản trị Kinh tế thương mại Quốc tế và một số lượng khơng nhỏ cịn là
sinh viên, học sinh,...) thường thì nội dung được truyền tải là kinh nghiệm bản thân,
nhưng khơng hẳn hàng loạt các kinh nghiệm đó đều là cần thiết và hữu ích.
Trong hoạt động sản xuất văn hóa đương đại, tương tự các hiện tượng văn hóa
nhanh chóng nổi tiếng nhưng lại tồn tại ngắn ngủi, các tác giả nữ 8X này chấp nhận
việc tồn tại chớp nhống, nhanh chóng nổi tiếng bởi các tác phẩm không được kiểm
18
định chất lượng nghiêm ngặt, chỉ hướng tới việc thu về những khoảng thu nhập lớn,
rồi chấp nhận nhanh chóng chìm lắng.
1.2.2.2. Viết về tình u
Tiểu thuyết ngơn tình là hành trình tìm kiếm tình u đích thực của các nhân
vật chính. Tình u trở thành đề tài nổi bật và là dịng chảy xun suốt trong các sáng
tác ngơn tình. Đó có thể là những câu chuyện hết sức vụn vặt, đời thường nhưng ngầm
khẳng định một tình yêu nồng nhiệt, đậm sâu của nhân vật. Cốt truyện được xây dựng
theo lối đơn tuyến, đa tuyến hoặc đan xen nhiều quãng thời gian.
Nhân vật trong các sáng tác này thường là những cặp đôi trai tài - gái sắc.
Tuyến nhân vật chính ln đảm bảo đúng quan niệm về tình u và hơn nhân truyền
thống giữa nam và nữ trai tài - gái sắc. Nữ chính tuy xinh đẹp, đáng u nhưng đơi khi
lại ngốc nghếch. Và chính sự ngốc nghếch này thường dẫn đến những tình huống rắc
rối, phiền tối trong mối quan hệ với nam chính. Nam chính ngơn tình thường là
những anh chàng tài giỏi, đẹp trai, giàu có và si tình (cịn gọi là “sối ca”). Biểu hiện
của các nhân vật này luôn ở mức đáng mơ ước về sự cư xử đẹp, lịch thiệp, hoặc chứa
đựng sự mâu thuẫn theo cách thu hút người khác như “tính cách lạnh lùng, cá biệt là
thơ lỗ nhưng u sâu đậm và chung thủy”, “ít nói nhưng quan tâm từng chi tiết nhỏ
khiến người khác mềm tim”… Đây thật sự là mẫu bạn trai lý tưởng mà bất cứ cơ gái
nào cũng mơ ước. Những hình tượng phù hợp với các tiêu chí này thường xuất hiện
trong ngơn tình là: hồng đế, ngun thủ quốc gia, đại tướng quân đội, sát thủ chuyên
nghiệp, minh chủ võ lâm, đại ma đầu, ơng trùm…
Thơng thường tuyến nhân vật chính thường được tác giả xây dựng hoàn hảo về
cả ngoại hình lẫn tính cách. Đặc điểm này được thể hiện thơng qua một số mơ-típ xa
rời thực tế do tác giả hư cấu và phóng đại lên thành hình mẫu lý tưởng:
Nhân vật có IQ siêu cao nhưng EQ lại là mức âm, hành động khờ dại. Ở mơtíp này được thể hiện qua một số tác phẩm như Hãy nhắm mắt khi anh đến của
Đinh Mặc với hình tượng nhân vật là giáo sư Bạc Cận Ngôn với IQ siêu cao,
giải quyết tất cả các vụ án hốc búa, đấu tranh với những tên tội phạm nguy
hiểm, biến thái nhưng lại vô cùng ngờ nghệch trong cách cư xử và thể hiện tình
cảm với nữ chính Giản Dao, thậm chí vị giáo sư này lại đi ghen tng với
chính con ruột của mình trong phần ngoại truyện. Hay trong Nếu ốc sên có tình
u nhân vật Hứa Hủ cũng là một người có mơ-típ như trên.
Nhân vật có xuất thân tầm cỡ, giàu có, địa vị cao trong xã hội khi tuổi đời còn
rất trẻ. Ở tác phẩm Chỉ muốn có được tình u của em -Mặc Khê thì nhân vật
Anh Bồi tuổi khoảng ba mươi nhưng là tổng tài của một tập đồn lớn, có nhiều
chi nhánh trên thế giới. Hay như trong tác phẩm Mãi mãi là bao xa của Diệp
Lạc Vơ Tâm, nam chính Dương Lam Hàng tuổi chỉ mới 27 nhưng đã mang
danh giáo sư.
19
Nhân vật chính được rất nhiều người theo đuổi. Đặc sản của thể loại tiểu thuyết
ngơn tình chính là các mối tình tay ba, tay tư, với cách miêu tả nhân vật nam
chính một cách hồn hảo như vậy thì thử hỏi có cơ gái nào khơng mê mệt, do
đó trong một tác phẩm thường bắt gặp việc rất nhiều cô gái cùng yêu một
chàng trai, ngược lại với một nữ chính yếu đuối kiên cường cùng với sự xinh
đẹp thì tất nhiên cũng có nhiều chàng trai bên cạnh. (Một số tác phẩm có mơtíp trên như Cho Anh nhìn về phía em, Bên nhau trọn đời, Truy tìm ký ức, Bộ
bộ kinh tâm…)
Nhân vật xun khơng từ thế giới này đến thế giới khác, hoặc kiểu nhân vật
chết đi rồi trở về thời điểm vài năm trước nhưng vẫn mang trí nhớ của hiện tại.
Chẳng hạn như ở tác phẩm Bộ bộ kinh tâm của Đồng Hoa, nữ chính Nhược Hi
sau khi gặp tai nạn đã xuyên không từ thời hiện đại về thời nhà Thanh. Còn ở
tác phẩm Con dâu nhà giàu của Thập Tam Xn, nữ chính Chu Thiến sau khi
bị tại nạn hơn mê linh hồn lại nhập vào thể xác của Tống Thiệu Lâm nhưng vẫn
giữ trí nhớ của bản thân.
Mơ-típ chung của hầu hết các sáng tác ngơn tình là: gặp gỡ- yêu nhau- hiểu
lầm- chia tay- giải quyết hiểu lầm- đồn tụ. Cặp đơi nhân vật chính gặp gỡ u nhau,
có thể là u từ cái nhìn đầu tiên, hoặc là sau nhiều lần xích mích nhưng rồi lại giành
tình cảm yêu mến cho đối phương. Câu chuyện được thắt nút ở những hiểu lầm tréo
ngoe. Sau nhiều biến cố như gia đình ngăn cấm, người thứ ba chen ngang hay sự khác
nhau trong quan niệm sống dẫn đến hiểu lầm khiến họ xa rời nhau. Nhưng trong thời
gian chia tay này họ lại nhận ra rằng tình cảm giành cho nhau quá lớn, và thông qua
một vài diễn biến mọi mâu thuẫn được gỡ bỏ, hai người lại bên nhau hạnh phúc. Cuối
truyện ln là một cái kết có hậu. Mơ-típ này thể hiện rất rõ qua tập Bên nhau trọn đời
của Cố Mạn. Câu chuyện kể về tình yêu thủy chung của nam chính Hà Dĩ Thâm và nữ
chính Triệu Mặc Sênh. Bắt đầu là gặp gỡ. Ngày đầu tiên bước chân vào trường Đại
học, Mặc Sênh - cô tiểu thư nhà giàu, mê nhiếp ảnh đã vô tình gặp và có thiện cảm với
chàng sinh viên năm thứ 2 khoa Luật, Hà Dĩ Thâm qua tấm ảnh cơ chụp trộm anh. Từ
đó Mặc Sênh liên tục tấn công, mạnh dạn theo đuổi Dĩ Thâm khiến Dĩ Thâm từ cảm
thấy cô thật phiền phức đã thay đổi và thích cơ từ lúc nào. Tiếp đến là dần u nhau.
Hai người cùng trải qua nhưng ngày tháng yêu đương ngọt ngào tại trường Đại học.
Để thêm gia vị cho tình u, tác giả khơng ngần ngại cho nhân vật của mình trải qua
khơng biết bao nhiêu là sóng gió. Cứ ngỡ hạnh phúc đã có thể nắm bắt trong tay, vậy
mà biến cố xảy đến, Mặc Sênh bỏ đi Mỹ khơng một lời từ biệt. Trong khi đó, ở quê
nhà, Dĩ Thâm chìm đắm trong nỗi nhớ Mặc Sênh. Anh từ một sinh viên ngoan ngoãn,
kết quả học tập rất tốt lại trở nên hư hỏng. Ngày tháng cứ thế trôi đi, hai con người
sống ở hai nửa cầu của trái đất ấy, tưởng như không bao giờ gặp lại. Bảy năm sau,
Mặc Sênh trở về Trung Quốc. Họ gặp nhau và chính cả hai cũng khơng ngờ rằng, tình
yêu của họ, vượt qua bảy năm xa cách, vẫn có thể nồng đậm như thuở ban đầu. Cịn ở
tập Đừng nói với anh ấy tơi vẫn cịn u của Lục Xu, viết về mối tình của Trần Tử
20
Hàn và Vương Y Bối, họ yêu nhau từ cấp ba, Y Bối vì thi rớt nên phải học trễ hơn
một năm so với Tử Hàn, dần dần nhân sinh quan của họ ngày càng khác nhau, Tử Hàn
chỉ muốn tập trung cho cơng việc, cịn Y Bối chưa trải nghiệm được cuộc sống nên chỉ
muốn Tử Hàn ở bên cạnh mình, rồi những cuộc hiểu lầm, cãi vả ngày càng nhiều đến
mức không thể cứu vãn, họ chia tay nhau. Và sau nhiều năm gặp lại, tình cảm vẫn cịn
nhen nhóm ngày nào lại bùng cháy, họ nhận ra đâu là vấn đề của cả hai, giải quyết
những mâu thuẫn mà ngày xưa không giải quyết được, để sau đó cuối cùng họ lại về
bên nhau.
Tình u được thể hiện qua những trang tiểu thuyết ngơn tình thường rất táo
bạo, nồng nhiệt. Cho dù nhân vật được đặt trong bối cảnh nào thì cốt truyện vẫn nhấn
mạnh vào tình u. Đặc biệt, quan điểm tình u trong ngơn tình khơng dừng lại ở sự
thu hút bởi vẻ bề ngồi, không phải địa vị xã hội, tiền tài danh vọng mà là sự đồng
điệu trong tâm hồn, vượt mọi ranh giới để đến với nhau… Sự giải thoát nhân vật khỏi
những định kiến truyền thống ấy khiến tình yêu trong ngơn tình càng thêm đẹp đẽ.
1.2.2.3. Viết về tình dục
Một số tiểu thuyết ngơn tình thường xuất hiện những “cảnh H”. “H” ở đây ở
đây có thể hiểu là viết tắt của “hot”, “cảnh H” mang nghĩa là cảnh nóng, những chi tiết
chỉ dành cho đối tượng độc giả trên 18 tuổi (gọi tắt là 18+). Hoặc theo một giả định
khác “H” có thể là viết tắt của “Hentai” (変態) và nghĩa của từ này được hiểu theo
nghĩa tiếng Việt là “biến thái” (tình dục lệch lạc).
“H” thơng thường xuất hiện trong các tình huống sau:
Tự nguyện: Trải qua bao sóng gió, phong ba, qua những dằng dặc gian nan cuối
cùng hai nhân vật chính cùng về chung một nhà. Kết thúc có hậu là một đám cưới
hạnh phúc và sau đó tác giả mới viết về cảnh “phịng the” của cặp đơi nhân vật này.
Viết về tình u thế nên tác giả không thể nào quay lưng với cái giai đoạn kết tinh của
tình yêu khi nhân vật chính thuộc về nhau được. Thơng thường những “cảnh H” trong
trường hợp này không được miêu tả cụ thể.
Chiếm đoạt: Trường hợp này diễn ra theo diễn biến tâm lý nhân vật nam,
thường thì khi nhân vật sợ mất người mình yêu nên phải chiếm đoạt, mà cụ thể là thân
xác của người ấy. Để thể hiện tình yêu các nhân vật nam chính sẵn sàng cưỡng đoạt
người mình yêu. Hoặc có nhiều trường hợp là khi dục vọng nổi lên mà không thể
kiềm chế được cũng dần đến chiếm đoạt. Tuy nhiên sau khi bị chiếm đoạt thì diễn
biến tiếp theo của truyện cũng là một kết thúc có hậu cho cả hai. Thường thì “cảnh H”
trong trường hợp này được miêu tả khá kỹ lưỡng.
Lầm lạc may mắn: Đây là một dạng khá phổ biến trong ngơn tình. Khi hai nhân
vật rơi vào hồn cảnh khơng quen biết nhau nhưng vì một sự tình cờ bất ngờ nào đấy
nhân vật nữ sẽ trao thân cho đối phương. Kết truyện họ sẽ yêu nhau và chung sống
hạnh phúc. Tình huống này có thể thấy trong tập Vượt qua lơi trì của Diệp Lạc Vơ
21
Tâm (truyện xuất bản với tên gọi Gió mang ký ức thổi thành những cánh hoa). Đó là
câu chuyện tình yêu của cô gái Tô Mộc Mộc. Từ năm 16 đã khổ sở, lận đận, Mộc Mộc
sắp đặt một kế hoạch ngồi tù thay cho mẹ nuôi, dàn xếp để che giấu sự thật cái chết
của ba nuôi. Bộ não non nớt của cô lần đầu suy nghĩ thấu đáo và sâu sắc tới vậy. Để
có tiền chi trả cho luật sư và để làm giả chứng cứ ngoại phạm cho mẹ, Mộc Mộc kiên
trì chơi piano trong quán bar Lạc Nhật. Cơ muốn tìm một người đàn ơng có thể cho
mình 2 thứ: năm vạn tiền mặt và đêm đầu tiên. Thật ra muốn có hai thứ này khơng
khó, chỉ việc tùy tiện tìm một gã chơi gái nào đó là sẽ chu tồn, nhưng Tơ Mộc Mộc
hy vọng có thể cùng với người ấy, chính là người đàn ông mỗi đêm đều ngồi nơi góc
khuất nghe tiếng đàn của cô. Giữa chốn phồn hoa bát nháo này, một tiếng dương cầm
giống như giai điệu mềm mại giữa ồn ào chợ búa. Trong Lạc Nhật, không ai chú ý tới
tiếng đàn của cơ, duy chỉ có người con trai kia, anh ta là Trác Siêu Việt. Để rồi cô
quyết đinh trao thân cho Trác Siêu Việt ngay lần đầu tiên họ gặp nhau.
Ở ngơn tình tình dục được miêu tả một cách trực diện và thẳng thắn, không che
đậy, ngại ngùng. Tình dục là yếu tố hút người đọc quan trọng trong hầu hết các sáng
tác ngơn tình.
Một đoạn miêu tả cảnh h trong tác phẩm Người phiên dịch của Kỷ Viện Viện:
“Không hiểu do tự nguyện hay cám dỗ ? Từ lúc đó ngọn lửa trong tơi bừng
cháy. Tôi cởi áo của cô, rồi hôn lên cổ, lên xương bả vai của cô. Ngực cô tuy không
lớn nhưng căng tròn kiêu sa. Phi chỉ đặt tay lên cổ tơi, nhìn theo động tác của tơi. Tơi
cảm nhận hơi thở cơ gấp gáp dần. Các ngón tay tơi từ trên đầu của cô trượt xuống
dưới, qua vùng bụng, mở cúc váy, lướt qua nội y tiến vào vùng êm mượt của cơ.
Đột nhiên cơ nắm lấy tay tơi, nhìn tơi khơng nói, sau đó lại nhìn cơ thể mình.
Chắc cô ấy sợ. Mà cô sợ thật. Tôi rụt tay về, chúng tôi tạm ngưng trong giây lát.
Tôi chầm chậm cởi hết trang phục của cô, bế cô lên đặt trên giường. Sau đó tơi
cởi áo chồng tắm ra. Khi thân thể tôi từ từ sáp lại gần cô, cô bỗng ngồi bật dậy, đẩy
vai tôi: “Để em ngắm anh một chút”. Tay và ánh mắt của Phi nhẹ lướt qua cơ thể tơi,
sau đó cơ bỗng tiến lại gần rồi ngậm lấy đầu ngực tôi. Khi ấy, con người tôi bị ngọn
lửa dục vọng thiêu đốt, cuối cùng tôi quyết định kết thúc khúc dạo đầu lãng mạn này.
Tôi nơn nóng đi vào cơ, dùng sức đẩy sâu vào trong cô. Nơi ấy của Phi đã ẩm ướt, êm
mượt sau những rung động. Cuối cùng tôi đã thành công trong sự phấn khích cực đại.
Tơi cảm thấy có thứ dịch lỏng âm ấm chảy xuống, đó là máu của Phi. Cái ngàn vàng
của Phi, là sự thật không thể tranh cãi. Khuôn mặt trẻ trung xinh đẹp của cô dường
như đau đớn nhưng đơi mắt mèo thì vẫn nhìn thẳng vào tơi. Nhìn sâu vào trong mắt
tơi, nhìn sâu vào tận linh hồn, khi tôi đạt tới đỉnh để giải phóng.”
(Trích Người phiên dịch – Kỷ Viện Viện)
22
Vốn dĩ tình u ln gắn liền với những khám phá tình dục. Tình dục là một
vấn đề tự nhiên, mang tính bản năng tồn tại trong sâu thẳm tâm hồn của bản thân con
người. Nó được các tác giả ngơn tình miêu tả và khơi gợi ra như một sự thoả mãn của
thân xác:
“Tay hắn chuyển đến giữa hai chân cô, nhẹ nhàng vuốt ve...
Cô mẫn cảm không thể chịu nổi run rẩy, dịng nóng trong người như trào ra,
thấm ướt đầu ngón tay hắn, mà cảm giác thẹn thùng làm cơ cảm thấy khó khăn, muốn
trốn lại khơng có đường trốn. Lý trí cùng tình cảm va chạm, một loại khối cảm kì lạ
tác động vào thần kinh. An Dĩ Phong nói đúng, càng mâu thuẫn, càng có một sức hấp
dẫn mãnh liệt.
Cô một bên hô không cần, lại ở môi hắn, thưởng thức cơ thể ngày một nóng
cháy. Trời đất như điên đảo, cơ thể như trầm ln, trong lúc đó, cơ bắt đầu hùa theo
hắn, càng khơng ngừng rên rỉ.
Cuối cùng, cơ nhìn thấy trước mắt mơ hồ, thầm suy nghĩ, như vậy rốt cuộc là
cảm giác gì? Là đau khổ, hay là sung sướng?"
(Trích Đồng lang cộng hôn – Diệp Lạc Vô Tâm)
Đáng quan tâm, trong một số sáng tác ngơn tình cịn chứa đựng nội dung về
loạn luân. Ở đây loạn luân bao hàm ý nghĩa đạo đức là những hành động nhục dục của
hai người có quan hệ máu mủ. Theo quan niệm đạo đức của văn hóa Á Đơng, nền tảng
gia đình gắn với các mối quan hệ huyết thống đã quy định đặc tính tơn nghiêm của
quan hệ tình dục, theo đó tình dục loạn ln là khơng thể chấp nhận được. Thế nhưng
vấn đề này trong ngơn tình lại được các tác giả nữ nhìn nhận hồn tồn khác. Tam
Chưởng Quầy mơ tả tình u giữa chị gái Lạc Tích Tuyết và em trai Lạc Thiên Uy
qua những “cảnh H” vơ cùng táo bạo:
“Lạc Thiên Uy đưa tay vịng thật chắc hơng của cơ, đem thân thể Lạc Tích
Tuyết cố định trong thân thể hắn, không cho cô lộn xộn. Lửa nóng từ đơi mơi mỏng
hơn lên đơi mơi đỏ mọng, lưỡi không ngừng liếm mút hai cánh môi non mềm của cơ, tỉ
mỉ mà hơn, miêu tả hình dáng đôi môi đẹp đẽ của cô, cuồng quyến mà mạnh mẽ, mang
theo nồng nàn lưu luyến.
Đây là nụ hôn đầu tiên của bọn họ, hắn muốn cô vĩnh viễn nhớ nụ hơn này,
khơng cho phép cơ có một chút trốn tránh hay phản khán nào. Hắn say mê mà hôn cô,
đầu lưỡi không ngừng trêu chọc, liều chết theo đuổi cái lưỡi đang trốn tránh của cô,
cùng cô quấn chặt chẽ (…).
Lạc Thiên Uy ôm cô thật chặt vào trong ngực, không để ý tới kháng nghị cùng
gào thét của cơ, bàn tay hắn nóng bỏng mà chạy dọc khắp người cô vuốt ve, môi