BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
LỚP DS
------------------------------------
MƠN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN, THỪA KẾ
BÀI TẬP THÁNG THỨ NHẤT (VẤN ĐỀ CHUNG)
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
Tên nhóm:
Danh sách nhóm
MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN, THỪA
KẾ
BÀI TẬP THÁNG THỨ NHẤT (VẤN ĐỀ CHUNG)
MỤC LỤC
VẤN ĐỀ 1: Đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự.
CÂU 1: Những quan hệ nào thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự?
Trả lời:
-
-
Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự là quan hệ nhân thân và tài sản của cá
nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do
ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm.
Cơ sở pháp lý: Điều 1 Bộ luật Dân sự - BLDS năm 2015.
CÂU 2: Quan hệ giữa A và B có thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005 và
BLDS 2015 khơng? Vì sao?
Tình huống: A đe dọa để ép B xác lập một giao dịch dân sự.
Trả lời:
-
Quan hệ giữa A và B thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005 và BLDS 2015.
Cơ sở pháp lý:
• Điều 1 BLDS 2005: Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp
lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ
của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là quan hệ
dân sự).
• Bộ luật Dân sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ
chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích cơng cộng; đảm bảo sự bình đẳng và an
tồn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu
vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
• Điều 1 BLDS 2015: Bộ luật này quy định địa vị pháp lý về cách ứng xử của
cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân,
pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý
chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ
dân sự).
• Khoản 2 Điều 3 BLDS 2015: Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm
dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện, cam kết,
thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, khơng
trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được các
chủ thể khác tôn trọng.
⇒ Như vậy, hành động của A đã vi phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp
luật dân sự và thuộc phạm vi điều chỉnh của luật dân sự.
VẤN ĐỀ 2: Quan hệ dân sự và quan hệ pháp luật dân sự.
CÂU 1: Quan hệ giữa anh Giáp và anh Phú liên quan đến con trâu đực có thuộc
đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự khơng?
Tình huống: Anh Phú thả 9 con trâu đực trong rừng. Ngày 7/5/2004, anh kiểm tra và
thấy thiếu 2 con (1 con đực và 1 con cái). Ngày 17/5/2004, anh Phú đi tìm trâu tại
khu vực trang trại nhà anh Giáp và thấy 2 con trâu của anh còn thiếu. Sau khi trao
đổi, anh Giáp trả lại cho anh Phú con trâu đực nhưng không đồng ý trả con trâu cái
với lý do trâu này là của anh. Tòa án đã xác định con trâu cái cũng là của anh Phú
và buộc anh Giáp trả con trâu này cho anh Phú.
Trả lời:
-
Quan hệ giữa anh Giáp và anh Phú liên quan đến con trâu đực thuộc đối tượng
điều chỉnh của pháp luật dân sự.
Tại Điều 1, BLDS khẳng định “Bộ luật này quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực
pháp lý về cách cư xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và
tài sản của cá nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự
do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ
dân sự)”. Từ quy định này chúng ta thấy pháp luật dân sự không chỉ điều chỉnh
những ứng xử của các chủ thể mà còn điều chỉnh quyền, nghĩa vụ về nhân thân
và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ dân sự.
CÂU 2: Quan hệ tài sản thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự có
những đặc điểm gì?
Trả lời:
-
Những đặc điểm của quan hệ tài sản thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật
dân sự:
Quan hệ tài sản thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự đa dạng và phong
phú.
Quan hệ tài sản thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự mang tính ý chí.
Quan hệ tài sản thuộc đối tượng điều chỉnh luật dân sự mang tính chất hàng
hóa và tiền tệ.
Quan hệ tài sản thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự có tính chất đền
bù tương đương trong trao đổi.
CÂU 3: Cho biết những thành phần của một quan hệ pháp luật dân sự. Những
thành phần này được thể hiện như thế nào trong quan hệ giữa anh Giáp và anh
Phú về con trâu cái?
Trả lời:
-
Thành phần của một quan hệ pháp luật dân sự bao gồm:
1. Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự: là những người tham gia vào quan hệ pháp
luật dân sự, có các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự
mà họ tham gia.
Chủ thể pháp luật dân sự bao gồm cá nhân và pháp nhân.
2. Khách thể quan hệ pháp luật dân sự: có quan điểm cho rằng khách thể là
-
nguyên nhân dẫn đến sự phát sinh quan hệ pháp luật dân sự. Quan điểm khác
cho rằng khách thể là mục đích của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ
pháp luật dân sự.
Khách thể của pháp luật dân sự bao gồm: tài sản là khách thể trong quan hệ
pháp luật về quyền sở hữu, hành vi của các chủ thể là khách thể trong quan
hệ nghĩa vụ và hợp đồng, các giá trị nhân cách là khách thể trong các quan hệ
nhân thân, kết quả của q trình hoạt động sáng tạo ra sản phẩm trí tuệ là
khách thể của quan hệ pháp luật về quyền sở hữu.
Xét trong tình huống tranh chấp giữa anh Giáp và anh Phú về con trâu cái thì:
• Anh Giáp và anh Phú là chủ thể quan hệ pháp luật dân sự.
• Con trâu cái là khách thể quan hệ pháp luật dân sự.
CÂU 4: Cho biết quan hệ pháp luật dân sự có những đặc điểm nào?
Trả lời:
Đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự:
a) Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự rất đa dạng nhưng độc lập với tài sản
và tổ chức: bởi vì quan hệ pháp luật dân sự là các quan hệ nhân thân và quan hệ
tài sản phát sinh thường nhật đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, cho hoạt
động sản xuất và kinh doanh.
Đây là những quan hệ xã hội phát sinh thường nhật trong một phạm vi rất rộng,
đáp ứng nhu cầu của bất cứ trú thôi nào trong xã hội.
-
Biểu hiện của sự đa dạng: chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự bao gồm:
• Cá nhân;
• Pháp luật;
Tổ hợp tác;
Hộ gia đình;
Nhà nước;
- Độc lập về tổ chức: Chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự được độc lập,
khơng lệ thuộc về mặt tổ chức chính trường hợp đổ lỗi trách nhiệm cho nhau.
- Độc lập về tài sản: Có rảnh rẽ, độc lập về tài sản.
b) Địa vị pháp lý của các chủ thể dựa trên cơ sở bình đẳng và khơng phụ thuộc vào
các yếu tố xã hội khác.
- Các chủ thể ln bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý, khơng có sự phân biệt
về thành phần xã hội, tôn giáo, dân tộc, trình độ văn hố, nghề nghiệp…
- Thể hiện của đặc điểm này trong quan hệ pháp luật dân sự:
• Các chủ thể bình đẳng về tài sản: Các bên bình đẳng với nhau, thực hiện
•
•
•
•
quyền và nghĩa vụ bằng tài sản của mình.
Bình đẳng về mặt tổ chức: Các chủ thể không lệ thuộc với nhau về mặt tổ
chức, phải tự chịu trách nhiệm về những thiệt hại do mình gây ra.
c) Lợi ích chủ yếu là lợi ích kinh tế là tiền đề cho các quan hệ pháp luật dân sự.
- Lý do để khẳng định lợi ích chủ yếu là lợi ích kinh tế là tiền đề cho các quan
hệ pháp luật dân sự:
- Thứ nhất là các quan hệ pháp luật dân sự chủ yếu là quan hệ tài sản nên nó
cũng mang các đỉnh điểm là có tính chất hàng hóa, tiền tệ và tính chất đền bù
tương đương nên lợi ích và vật chất là một biểu hiện phổ biến trong quan hệ
dân sự.
- Các bên thiết lập một quan hệ dân sự nhằm một mục đích nhất định, tức là
đều hướng đến một lợi ích nhất định có thể là lợi ích tinh thần thành lợi ích
vật chất từ các quan hệ nhân thân hay quan hệ tài sản.
d) Các biện pháp cưỡng chế đa dạng không chỉ do pháp luật quy định mà có thể các
bên trong quan hệ pháp luật dân sự quy định các biện pháp không trái với pháp luật.
Các biện pháp cưỡng chế trong quan hệ dân sự có nhiều biện pháp như các
biện pháp mang tính chất tinh thần như xin lỗi, cải chính cơng khai… chủ
yếu nhầm mục đích khắc phục các vấn đề thuộc, về đời sống tinh thần về các
giá trị nhân thân.
CÂU 5: Cho biết những căn cứ làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự. Quan
hệ giữa anh Giáp và anh Phúc về con trâu cái được phát sinh trên căn cứ nào?
Trả lời:
-
Những căn cứ làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự đó là quy phạm pháp luật,
chủ thể và sự kiện pháp lý.
Quan hệ giữa anh Giáp và anh Phúc về con trâu cái phát sinh trên các căn cứ:
• Về chủ thể là anh Giáp và anh Phúc, anh Phúc là chủ sở hũu con trâu cái, anh
Giáp là người đã nuôi con trâu cái trong thời gian nó bị lạc đàn.
•
Sự kiện pháp lý: anh Phúc thả 9 con trâu trong rừng, 07/5/2004 anh kiểm tra
thấy mất 2 con và sau đó anh tìm thấy trâu của mình trong trang trại nhà anh
Giáp. Tuy nhiên anh Giáp chi trả lại con trâu đực cịn con trâu cái thì khơng.
Từ đó làm phát sinh quan hệ giữa anh Phúc và anh Giáp liên quan đến con
trâu cái.
• Quy phạm pháp luật được áp dụng: Điều 242 BLDS 2005 xác lập quyền sở
hữu đối với gia súc bị thất lạc.
VẤN ĐỀ 3: Tuyên bố cá nhân đã chết.
Tóm tắt Quyết định số: 272/2018/QĐST-DS
-
Ngày 07/8/2018, bà Bùi Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Văn C (bà T và
ông C là vợ chồng), nơi cư trú cuối cùng phường Phước Bình, quận 9, Thành
phố Hồ Chí Minh là đã chết. Cuối năm 1985, ơng C bỏ nhà đi biệt tích, khơng
có tin tức, gia đình bà T đã tổ chức tìm kiếm, nhưng vẫn khơng có tin tức gì của
ơng C. Ngày 26/10/2017, Tòa án nhân dân Quận 9 ban hành Thơng báo tìm
kiếm thơng tin về người bị u cầu tuyên bố là đã chết trên các trang Báo Cơng
lý và nhắn tin trên Đài tiếng nói Việt Nam nhưng đến nay vẫn khơng có tin tức
của ơng C. Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị T.
Tóm tắt Quyết định số: 04/2018/QĐST-DS
-
Anh Quản Bá Đ yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Quản Thị K (chị gái anh Đ) là đã
chết. Chị Quản Thị K là chị gái anh Quản Bá Đ đã bỏ nhà đi khỏi địa phương từ
năm 1992 đến nay khơng có tin tức gì. Gia đình anh Đ đã tìm kiếm và thông báo
trên phương tiện thông tin đại chúng nhiều lần, nhưng chị K vẫn khơng về và
cũng khơng có tin tức gì về chị K. Tịa án nhân dân huyện Đông Sơn thụ lý làm
việc, đã ra quyết định thông báo tìm kiếm chị K nhưng vẫn khơng có kết quả.
Do đó, có đủ cơ sở xác định nên Tịa án chấp nhận đơn yêu cầu của anh Quản
Bá Đ.
Tóm tắt Quyết định số 94/2019/QĐST-VDS
-
Bà Phạm Thị K yêu cầu Tòa án tuyên bố cụ Phạm Văn C (bố đẻ của bà Phạm
Thị K) là đã chết. Cụ C đã bỏ nhà ra đi từ khoảng tháng 01 năm 1997, gia đình
khơng nhớ rõ cụ C đi vào ngày nào, từ đó đến nay khơng trở về nhà. Thời điểm
cụ C đi khỏi nhà thì cụ cịn minh mẫn, khơng bệnh tật, ốm đau, tuy nhiên cụ có
tiền sử bị bệnh huyết áp cao. Công an và Ủy ban nhân dân phường Bạch Mai
xác nhận cụ C đã đi khỏi địa phương và không sinh sống tại nơi đăng ký hộ
khẩu thường trú từ năm 1997. Năm 2008 gia đình cụ C đã tìm kiếm nhiều lần
trên các phương tiện thơng tin đại chúng nhưng khơng có kết quả. Q trình giải
quyết đơn của bà K, Tịa án ra Quyết định thơng báo tìm kiếm thơng tin về
người bị u cầu tun bố là đã chết hàng ngày 3 lần, ba ngày liên tiếp nhưng
đến nay khơng có tin tức gì xác thực cụ C còn sống hay đã chết. Tòa án chấp
nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Thị K.
CÂU 1: Những điểm giống và khác nhau giữa tuyên bố một người mất tích và
tuyên bố một người là đã chết.
Trả lời:
-
Những điểm giống nhau, khác nhau giữa tuyên bố một người mất tích và tun
bố một người đã chết:
• Giống nhau:
Đối tượng yêu cầu Tòa án tuyên một người đã chết hoặc mất tích: Người
có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền u cầu Tịa án tun bố một
người đã chết hoặc mất tích.
Đối tượng có quyền tun bố một người đã chết hoặc mất tích: Tịa án có
quyền tun bố một người mất tích và tun bố một người đã chết.
• Khác nhau:
Về thời hạn tuyên bố một người mất tích: Điều 78 Bộ luật Dân Sự 2005
quy định:
1. Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy
đủ các biện pháp thơng báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố
tụng dân sự nhưng vẫn khơng có tin tức xác thực về việc người đó cịn
sống hay đã chết thì theo u cầu của người có quyền, lợi ích liên
quan, Tịa án có thể tun bố người đó mất tích. Thời hạn hai năm
được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó, nếu khơng
xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ
ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng, nếu
khơng xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này
được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối
cùng.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin
ly hơn thì Tịa án giải quyết cho ly hơn.
Về thời hạn tuyên bố một người đã chết: Điều 81 BLDS 2005 quy định:
1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể u cầu Tịa án ra quyết định
tun bố một người là đã chết trong các trường hợp sau đây:
a) Sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tịa án có
hiệu lực pháp luật mà vẫn khơng có tin tức xác thực là cịn sống.
b) Biệt tích trong chiến tranh sau năm năm, kể từ ngày chiến tranh kết
thúc mà vẫn khơng có tin tức xác thực là còn sống.
c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau một năm, kể từ ngày tai nạn
hoặc thảm họa, thiên tai đó chấm dứt vẫn khơng có tin tức xác thực là
cịn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
d) Biệt tích năm năm liền trở lên và khơng có tin tức xác thực là cịn
sống, thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 78 của bộ
luật này.
CÂU 2: Một người biệt tích và khơng có tin tức xác thực là cịn sống trong thời
hạn bao lâu thì có thể bị Tịa án tun bố là đã chết?
Trả lời:
-
Tùy từng trường hợp, người có quyền, lợi ích liên quan có thể u cầu Tịa án ra
quyết định tun bố là đã chết căn cứ vào Điều 81 BLDS 2005:
• Sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tịa án có hiệu lực
•
pháp luật mà vẫn khơng có tin tức xác thực là cịn sống.
Biệt tích trong chiến tranh sau năm năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà
vẫn khơng có tin tức xác thực là cịn sống.
• Biệt tích năm năm liền trở lên và khơng có tin tức xác thực là cịn sống,thời
hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 78 của bộ luật này.
CÂU 3: Trong các vụ việc trên, cá nhân bị tuyên bố chết biệt tích từ thời điểm
nào? Vì sao?
Trả lời:
-
Trong Quyết định số 272/2018/QĐST-DS ngày 27/4/2018 của Tòa án nhân
dân Quận 9 TP. Hồ Chí Minh, ơng C bị Tịa án tun bố chết biệt tích, ngày
chết của ơng C là ngày 01/01/1986. Bà T và ông T xác định ông C bỏ đi cuối
năm 1985, khơng có tin tức, gia đình bà T đã tổ chức tìm kiếm nhưng vẫn
khơng có tin tức gì. Phía Tịa án nhân dân Quận 9 đã ban hành Thơng báo
tìm kiếm về người bị u cầu tuyên bố đã chết số 490/TB-TA trên Báo công
lý số 95 ngày 29/11/2017, số 96 ngày 01/12/2017, số 97 ngày 06/12/2017 và
nhắn tin trên Đài tiếng nói Việt Nam ngày 23, 24, 25/11/2017 nhưng vẫn
khơng có tin tức gì của ông C. Công an phường Phước Bình, Quận 9 không
xác định được ngày, tháng ông C vắng mặt tại địa phương. Đây thuộc trường
hợp không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng của ơng C. Do đó,
ngày chết của ơng C được tính là ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin
tức cuối cùng, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 BLDS năm 2015:
“…nếu khơng xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn
này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng”.
Vào ngày 07/8/2018, bà Bùi Thị T yêu cầu tuyên bố ông Trần Văn C đã chết.
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 71 BLDS năm 2015 thì ơng C thuộc
trường hợp: “…d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và khơng có tin tức xác thực
là còn sống…”. Tòa án đã ra quyết định tuyên bố ông Trần Văn C đã chết,
ngày chết là ngày 01/01/1986.
-
Trong Quyết định số 04/2018/QĐST-DS ngày 19/11/2018 của Tòa án huyện
Đơng Sơn tỉnh Thanh Hóa thì chị K biệt tích từ năm 1992 và được Tòa án
tuyên bố chết ngày 19/11/2018. Vì anh Đ có đầy đủ cơ sở khẳng định chị K
đã biệt tích 05 năm liền và khơng có tin tức xác thực chị K cịn sống. Nên
Tịa án lấy ngày 19/11/2018 là ngày làm căn cứ, phát sinh, thay đổi, chấm
dứt các quan hệ về nhân thân, về tài sản, về hơn nhân gia đình, về thừa kế
của chị K.
-
Trong Quyết định số 94/2019/QĐST-DS ngày 15/11/2019 của Tịa án nhân
dân TP. Hà Nội thì cụ C biệt tích từ năm 1997 và khơng có tin tức xác thực
cụ còn sống hay đã chết. Tòa án đã tuyên bố cụ C đã chết từ ngày 01/5/1997.
Vì căn cứ vào văn bản trả lời của cơ quan Bảo hiểm xã hội TP. Hà Nội có cơ
sở xác định tin tức cuối cùng về cụ C là tháng 4/1997. Nếu xác định được
ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn sẽ được tính từ ngày đầu tiên
của tháng tiếp theo.
CÂU 4: Cho biết tầm quan trọng của việc xác định ngày chết của một cá nhân?
Nêu cơ sở pháp lý và ví dụ minh họa.
Trả lời:
-
-
Xác định thời điểm chết của một người bị Tòa án tuyên bố là đã chết có ý
nghĩa rất quan trọng bởi thời điểm chết của một người là thời điểm phát sinh
sự kiện pháp lý liên quan đến quyền, nghĩa vụ về tài sản của người đó. Đặc
biệt, nó là cơ sở để xác định thời điểm mở thừa kế theo quy định tại Khoản 1
Điều 611 BLDS năm 2015.
Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự 2015.
Ví dụ: ơng Nguyễn Văn A được xác định đi khỏi nhà và khơng có tin tức gì
đến nay từ ngày 09/2/1975, khi có u cầu tun bố ơng A là đã chết thì Tịa
án có các quan điểm khác nhau. Cụ thể:
• Quan điểm thứ nhất: ngày chết của ông A là ngày phát sinh sự kiện ông A đi
-
khỏi nhà, tức là ngày 09/2/1975.
• Quan điểm thứ hai: ngày chết của ông A là ngày quyết định giải quyết của
Tịa án có hiệu lực pháp luật (ví dụ: ngày 30/9/2020 Tịa án ra quyết định
tun bố ơng A là đã chết thì ngày chết của ơng A được xác định là ngày
10/10/2020).
• Quan điểm thứ ba: ngày chết của ông A được xác định là ngày 09/2/1980, sau
-
5 năm kể từ ngày ơng A đi khỏi nhà.
Do đó, xác định đúng hay sai thời điểm chết của người bị tuyên bố là đã chết
sẽ dẫn đến việc Tòa án giải quyết vụ án thừa kế đúng hay sai.
CÂU 5: Tòa án xác định ngày chết của các cá nhân bị tuyên bố chết là ngày
nào? Đoạn nào của Quyết định trên cho câu trả lời?
Trả lời:
-
-
-
“Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39,
Điều 370, Điều 372 và Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ
điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71 và Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ
nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí, Tịa án”.
“Chấp nhận yêu cầu của bà T: Tuyên bố ông Trần Văn C; nơi cư trú cuối cùng:
phường Phước Bình, Quận 9, Thành Phố Hồ Chí Minh là đã chết của ông Trần
Văn C là ngày 01/01/1986”.
Về việc xác định ngày chết của ông C, bà T và ông T xác định ông C bỏ đi cuối
năm 1985, công an phường Bình Phước, Quận 9 khơng xác định được ngày
tháng ông C vắng mặt tại địa phương. Do đó, ngày chết của ơng C được tính là
ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng. Như vậy ngày chết
của ông C là ngày 01/01/1986.
CÂU 6: Đối với hoàn cảnh như trong các quyết định trên, pháp luật nước ngoài
xác định ngày chết là ngày nào?
Trả lời:
-
Đối với hoàn cảnh như trong các quyết định trên, pháp luật nước ngoài xác định
ngày chết cũng gần giống với Việt Nam, như ở Pháp:
•
Trong trường hợp khơng xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng và
hoàn cảnh xảy ra vụ việc đó của người mất tích thì việc xác định ngày chết
của một cá nhân tính từ thời điểm sau 7 năm kể từ ngày không nhận được tin
tức của người đó.
• Trường hợp khơng thể chính thức xác định được địa điểm, ngày và giờ chết
nhưng biết được hoàn cảnh xảy ra vụ việc thì việc tuyên bố ngày chết của
một cá nhân tính từ thời điểm quyết định tuyên bố đã chết của Tịa án có
hiệu lực.
• Trường hợp xác định được ngày tháng có tin tức cuối cùng của người mất
tích thì ngày tun bố chết được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo
tháng có tin tức cuối cùng.
CÂU 7: Suy nghĩ của anh chị về việc Tòa án xác định ngày chết trong các quyết
định trên.
Trả lời:
-
Quyết định số 272/2018/QĐST-DS:
Ông Trần Văn C bỏ đi cuối năm 1985, Công an không xác định được ngày tháng
ông C vắng mặt tại địa phương. Thuộc trường hợp khơng xác định được ngày tháng
có tin tức cuối cùng của ơng C, do đó ngày chết của ơng C được tính là ngày đầu
tiên của năm tiếp theo theo năm có tin tức cuối cùng. Như vậy ngày chết của ơng C
là ngày 01/01/1986. Tịa án đã xác định ngày mất của ông C là ngày đầu tiên của
năm tiếp theo kể từ ngày có tin tức cuối cùng của ơng C
-
Quyết định số 04/2018/QĐST-DS:
Tịa án xác định chị Quản Thị K sinh năm 1969 đã chết ngày 19/11/2018. Như vậy
Tòa án đã xác định ngày chị K chết cũng chính là ngày Quyết định có hiệu lực.
-
Quyết định số 94/2019/QĐST-VDS:
Cụ Phạm Văn C xác định rời đi khoảng tháng 1/1997. Bên cạnh đó Bảo hiểm xã hội
quận H có cơng văn nội dung thể hiện từ tháng 5/1997 đến tháng 1/1999 ơng Phạm
Văn C khơng cịn lĩnh lương hưu tại nơi cư trú nên từ tháng 2/1999 Bảo hiểm xã hội
Quân H đã tạm dừng in danh sách trả lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng
tháng cho ông Phạm Văn C. Như vậy việc chi trả lương cho cụ C được thực hiện
đến hết tháng 4/1997. Như vậy vì khơng xác định được ngày có tin tức cuối cùng
nên dựa vào tháng có tin tức cuối cùng để xác định ngày chết, Tòa án xác nhận ngày
chết của cụ C là ngày 01/5/1997, ngày đầu tiên của tháng tiếp theo kể từ tháng có
tin tức cuối cùng.
⇒ Như vậy cùng là những quyết định tuyên bố một người đã chết nhưng lại có
cách xác định ngày chết khác nhau. Có thể thấy rõ các quy định pháp luật về
vấn đề này chưa được thống nhất.
VẤN ĐỀ 4: Tổ hợp tác.
CÂU 1: Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về tổ hợp tác và suy
nghĩ của anh/chị về những điểm mới này.
Trả lời:
-
Theo khoản 2 Điều 74 BLDS 2015: Mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành
lập pháp nhân trừ trường hợp luật có quy định khác.
-
Theo khoản 1 Điều 111 BLDS 2005 Tổ hợp tác.
1. Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của
ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng
góp tài sản, cơng sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng
lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự.
Tổ hợp tác có đủ điều kiện để trở thành pháp nhân theo quy định của pháp
luật thì đăng ký hoạt động với tư cách pháp nhân tại cơ quan nhà nước có
thẩm quyền.
Theo điều 101 BLDS 2015 Chủ thể trong quan hệ dân sự có sự tham gia của
hội gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác khơng có tư cách pháp nhân.
1. Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác khơng có tư cách pháp
nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác,
tổ chức khác khơng có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực
hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập,
thực hiện giao dịch dân sự. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải
thơng báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết.
Trường hợp thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác khơng có tư
cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên khác ủy
quyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ dân sự do
mình xác lập, thực hiện.
2. Việc xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử
dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật đất đai.
Về chủ thể trong quan hệ dân sự của tổ hợp tác:
•
BLDS 2015 khơng quy định tổ hợp tác là chủ thể của quan hệ pháp luật dân
sự, chỉ có cá nhân và pháp nhân mới là chủ thể (khoản 2 Điều 74 BLDS). Vì
vậy tổ hợp tác khơng phải là pháp nhân và cũng khơng có tư cách pháp nhân.
•
BLDS 2005 để được xem là pháp nhân khi đáp ứng đủ điều kiện và đăng ký
pháp lý theo luật quy định.
•
BLDS 2015 khơng quy định số thành viên tối thiểu của tổ hợp tác. BLDS
2005 yêu cầu “ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực
hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là
chủ thể trong các quan hệ dân sự” (khoản 1 Điều 111 BLDS 2005).
Về người đại diện của tổ hợp tác:
•
Điều 85 BLDS 2015 Đại diện của pháp nhân: “Đại diện của pháp nhân có
thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền...”, ở đây người
đại diện của pháp nhân chỉ là đại diện khi được các thành viên khác ủy quyền
và chỉ có quyền thực hiện giao dịch khi được các thành viên khác ủy quyền.
Việc ủy quyền phải phù hợp với quy định của pháp luật.
•
Theo Điều 113 BLDS 2005 Đại diện tổ hợp tác: “1. Đại diện của tổ hợp tác
trong các giao dịch dân sự là tổ trưởng do các tổ viên cử ra. Tổ trưởng tổ
hợp tác có thể ủy quyền cho tổ viên thực hiện một số công việc nhất định cần
thiết cho tổ. 2. Giao dịch dân sự do người đại diện của tổ hợp tác xác lập,
thực hiện vì mục đích hoạt động của tổ hợp tác theo quyết định của đa số tổ
viên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả tổ hợp tác”. với BLDS 2005
người đại diện là tổ trưởng của tổ hợp tác do thành viên bầu ra. Mọi hoạt
động được quyết định theo đa số. Tổ trưởng tổ hợp tác có quyền ủy quyền
cho các thành viên khác.
Nhận thấy rõ sự khác biệt giữa hai Bộ luật về Tổ hợp tác. Việc loại bỏ hoàn
toàn tư cách pháp nhân của Tổ hợp tác là hợp lý vì:
o
Sẽ dễ dàng hợp trong việc nhận diện pháp nhân.
o
Những quy định, cách thức thành lập cũng như hoạt động của Tổ hợp
tác cũng không phù hợp với quy định của pháp nhân.