BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TIẾN CƠNG
TỈ LỆ MỔ LẤY THAI
THEO NHÓM PHÂN LOẠI CỦA ROBSON
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TIẾN CƠNG
TỈ LỆ MỔ LẤY THAI
THEO NHÓM PHÂN LOẠI CỦA ROBSON
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Chuyên ngành: SẢN PHỤ KHOA
Mã số: 60720131
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hồng Hoa
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai cơng bố trong bất kỳ cơng
trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Tiến Công
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
Danh mục chữ viết tắt .............................................................................................
Bảng đối chiếu thuật ngữ anh việt...........................................................................
Danh mục hình và biểu đồ ......................................................................................
Danh mục bảng........................................................................................................
ĐẶT VẤN ĐỀ ....................................................................................................... 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN Y VĂN .................................................................... 4
1.1. Định nghĩa ...................................................................................................... 4
1.2. Sơ lược về mổ lấy thai.................................................................................... 4
1.3. Phương pháp, thời điểm, tai biến của mổ lấy thai.......................................... 5
1.4. Các chỉ định mổ lấy thai................................................................................. 9
1.5. Hình thành bảng phân loại mổ lấy thai ........................................................ 13
1.6. Các bảng phân loại mổ lấy thai thơng dụng ................................................. 15
1.7. Tình hình mổ lấy thai ở Việt Nam và trên Thế giới..................................... 24
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................. 28
2.1. Thiết kế nghiên cứu ...................................................................................... 28
2.3. Cỡ mẫu ......................................................................................................... 29
2.4. Phương pháp tiến hành ................................................................................. 29
2.5. Phương pháp phân tích và sử lý số liệu ....................................................... 36
2.6. Vấn đề y đưc................................................................................................. 36
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ......................................................... 37
3.1. Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu ....................................................... 38
3.2. Tỷ lệ MLT trong nhóm 1 theo nhóm phân loại của Robson tại bệnh viện đa
khoa tỉnh Đắk Lắk. .............................................................................................. 39
3.3. Đặc điểm thai kỳ của nhóm sản phụ nhóm 1 được MLT ............................ 40
3.4. Các chỉ định mổ lấy thai............................................................................... 49
CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN................................................................................ 52
4.1. Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu ....................................................... 53
4.2. Tỷ lệ MLT trong nhóm 1 theo nhóm phân loại của Robson tại bệnh viện đa
khoa tỉnh Đắk Lắk. .............................................................................................. 54
4.3. Đặc điểm thai kỳ của nhóm sản phụ nhóm 1 được MLT ............................ 58
4.4. Nhận xét các chỉ định mổ lấy thai ................................................................ 66
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 71
KIẾN NGHỊ ........................................................................................................ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Tiếng việt
ÂĐ
: Âm đạo
ÂH
: Âm hộ
BN
: Bệnh nhân
BV
: Bệnh viện
BVBMTSS
: Bảo vệ Bà mẹ Trẻ sơ sinh
BVPSTƯ
: Bệnh viện Phụ sản Trung ương
BVĐK
: Bệnh viện Đa khoa
CS
: Cộng sự
CTC
: Cổ tử cung
MLT
: Mổ lấy thai
OVN
: Ối vỡ non
OVS
: Ối vỡ sớm
TC
: Tử cung
TSG
: Tiền sản giật
TTNT
: Thai trình ngưng tiến
SG
: Sản giật
Tiếng Anh
EUA
: Efficient uterine action
ICD
: International Classification Diseases
IUA
: Inefficient uterine action
IUI
: Intrauterine Insemination
IVF
: In Vitro Fertilization
NIH
: National Institutes of Health
WHO
: World Health Organization
BẢNG ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ ANH VIỆT
Emergency cesarean delivery
MLT cấp cứu
Elective cesarean delivery
MLT chủ động
International Classification Diseases
Phân loại quốc tế về bệnh tật
Maternal request cesarean delivery
MLT theo yêu cầu
National Institutes of Health
Viện y tế quốc gia Hoa Kỳ
The American Congress of obstetricians
Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ
and gynecologists
Royal College of obstetricians and
Hội sản phụ khoa hoàng gia
gynecologists
World Health Organization
Tổ chức y tế Thế giới
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Danh mục hình
Hình 1.1. Phương pháp mổ lấy thai ...................................................................... 7
Hình 1.2. Tình hình áp dụng bảng phân loại Robson ......................................... 26
Danh mục sơ đồ, biểu đồ
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ thu thập số liệu......................................................................... 31
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ thu thập số liệu......................................................................... 37
Biểu đồ 3.1. Đánh giá tỷ lệ sinh thường và MLT nhóm 1 và các nhóm khác .... 40
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ mổ lấy thai trong nhóm 1 ...................................................... 41
Biểu đồ 3.3. Sử dụng Oxytocin ........................................................................... 44
Biểu đồ 4.1. So sánh tỷ lệ MLT giữa các bệnh viện ........................................... 61
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Phân loại MLT theo nguyên nhân ...................................................... 17
Bảng 1.2. Bảng mã ICD-10 các nguyên nhân MLT thường gặp ........................ 19
Bảng 1.3. Phân loại 10 nhóm MLT theo Robson ............................................... 23
Bảng 1.4: Bảng phân loại MLT theo Robson ..................................................... 23
Bảng 2.1. Các biến dùng trong nghiên cứu ......................................................... 32
Bảng 3.1. Đặc điểm dịch tễ nhóm đối tượng tham gia nghiên cứu..................... 38
Bảng 3.2. Tỷ lệ MLT chung, tỷ lệ MLT nhóm 1 và đóng góp của nhóm 1 ....... 39
Bảng 3.3. Tiền sử sản phụ khoa, nội ngoại khoa, kế hoạch hóa gia đình ........... 41
Bảng 3.4. Đặc điểm về tuổi thai, giai đoạn chuyển dạ, ối khi nhập viện............ 42
Bảng 3.5. Đặc điểm các trường truyền Oxytocin................................................ 45
Bảng 3.6. Thời gian truyền Oxytocin.................................................................. 46
Bảng 3.7. Tỷ lệ tai biến trong mổ, và biến chứng sau MLT ............................... 47
Bảng 3.8. Giới tính và trọng lượng trẻ sơ sinh.................................................... 48
Bảng 3.9. Đánh giá sức khỏe trẻ sơ sinh thông qua Apgar ................................. 49
Bảng 3.10. Kết cục mẹ sau mổ ............................................................................ 49
Bảng 3.11. Chỉ định MLT trong các nhóm nguyên nhân ................................... 50
Bảng 3.12. Chỉ định mổ lấy thai theo các nhóm nguyên nhân ........................... 52
Bảng 3.13. Mối liên quan sử dụng Oxytocin đến MLT ...................................... 52
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, MLT đã được áp dụng rộng rãi tại nhiều cơ sở sản khoa từ tuyến
huyện trở lên và tai biến cho mẹ và con đã giảm nhiều nhờ sự tiến bộ không ngừng
của kỹ thuật MLT, thuốc kháng sinh và gây mê hồi sức.
Tỷ lệ MLT trên thế giới tăng nhanh trong vòng 20 năm trở lại đây, đặc biệt
là các nước phát triển. Đây đang trở thành vấn đề sức khỏe toàn cầu. theo các số
liệu gần đây, Ở Hoa kỳ năm 1988 tỷ lện MLT trung bình là 25%, đến 2013 tỷ lệ
MLT tăng lên 32.7%[26]. Năm 1996 Brazil là nước có tỷ lệ MLT cao nhất thế
giới là 36,4% [31], đến năm 2010 tỷ lệ này là 41,3%[47]. Tại Việt Nam, tỷ lệ
MLT ngày càng tăng: tại bệnh viện (BV) Phụ Sản trung ương (PSTƯ) năm 1998
là 34,6%, năm 2008 là 45,3%, [5], [12]; tỷ lệ MLT tại Bệnh viện Từ Dũ năm 2008
là 47,02%, năm 2015 là 46.92%[16]. Sự gia tăng tỷ lệ MLT không những ở những
trường hợp thai kỳ nguy cơ cao mà trong những trường hợp thai kỳ nguy cơ thấp.
Đối với hầu hết các trường hợp mang thai có nguy cơ thấp, mổ lấy thai gây nguy
cơ cao về biến chứng và tử vong cho mẹ hơn sinh âm đạo và nguy cơ biến chứng
nhất định như dị tật bẩm sinh được cho là tăng lên sau mỗi lần mổ lấy thai. Việc
sinh con được coi là nguy cơ thấp nếu người phụ nữ khơng có tiền sử trước đó,
khơng sinh sớm và mang đơn thai[26]. Việc giữ tỷ lệ MLT hợp lý là nhu cầu bức
thiết của các trung tâm sản khoa. Muốn thực hiện được điều này địi hỏi các cơ sở
sản khoa phải có các nghiên cứu nhằm xác định nhóm sản phụ nào tác động nhiều
nhất lên tỷ lệ MLT đồng thời xác định những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ MLT.
Với mục đích này, rất nhiều hệ thống phân loại khác nhau đã ra đời. Tuy nhiên sự
thiếu vắng các tiêu chuẩn chung trong chăm sóc và điều trị đã gây ra nhiều cản
trở trong việc so sánh các kết quả nghiên cứu.
2
Phân loại MLT của Robson, xuất bản năm 2001, không chú trọng vào chỉ
định MLT, thay vào đó phân loại này dựa trên các đặc điểm riêng của từng sản
phụ giúp phân các sản phụ vào các nhóm, qua đó cho phép đánh giá tỷ lệ MLT
từng nhóm[39]. Hệ thống MLT của Robson ra đời đã được Tổ chức Y tế Thế giới
khuyến khích sử dụng rộng rãi để phân tích tỷ lệ MLT ở các cơ sở sản khoa, các
quốc gia và vùng lãnh thổ, qua đó đánh giá kết cục thai kỳ trong bối cảnh can
thiệp khác nhau giữa các đơn vị[42]. Trong các bệnh viện phụ sản lớn tại Việt
Nam, nghiên cứu đầu tiên của tác giả Lê Quang Thanh thống kê theo nhóm phân
loại của Robson tại bệnh viện Từ Dũ năm 2015, nghiên cứu chỉ ra rằng: Chiến
lược then chốt để có tỷ lệ MLT hợp lý là can thiệp vào nhóm 1 theo phân loại của
Robson (sản phụ con so, đơn thai, ngôi đầu, ≥ 37 tuần, chuyển dạ tự nhiên)[16].
Nghiên cứu gần đây của tác giả Đoàn Vũ Đại Nam tại Bệnh viện Hùng Vương có
tỷ lệ MLT là 47.6%, trong đó nhóm 1 có tỷ lệ MLT là 40.4%, đóng góp vào tỷ lệ
MLT chung là 13.9%, cũng chính là nhóm đáng được quan tâm nhằm có tỷ lệ
MLT hợp lý[11]
Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk được xây dựng từ năm 1924 tại trung tâm
Thành phố Buôn Ma Thuột, từ năm 2013 Bệnh viện đã được công nhận là Bệnh
viện Loại 1 với 1000 giường bệnh. Tỷ lệ MLT tại Bệnh viện đa khoa Đắk Lắk
năm 2009 là 44,5%, năm 2015 là 41,73%. Hiện tại bệnh viện chưa có hệ thống
phân loại mổ lấy thai nào được áp dụng. Vì thế chúng tôi thực hiện nghiên cứu
“Tỷ lệ mổ lấy thai theo nhóm phân loại của Robson tại bệnh viện đa khoa
tỉnh ĐăkLăk” với câu hỏi nghiên cứu là: “Tỷ lệ mổ lấy thai nhóm I theo phân
loại của Robson (nhóm con so, ngôi đầu, ≥ 37 tuần, chuyển dạ tự nhiên) tại
Bệnh viện đa khoa Tỉnh Đắk Lắk là bao nhiêu?” Với mong muốn có thể áp
dụng bảng phân loại MLT của Robson tại bệnh viện sau khi hoàn thành đề tài
nghiên cứu.
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu chính:
Xác định tỷ lệ mổ lấy thai nhóm I theo phân loại của Robson (Con so, đơn
thai, ngôi đầu, ≥ 37 tuần, chuyển dạ tự nhiên) tại Bệnh viện đa khoa Tỉnh Đắk
Lắk
2. Mục tiêu phụ:
- Mô tả đặc điểm chuyển dạ của các trường hợp mổ lấy thai nhóm I theo
phân loại của Robson (Con so, đơn thai, ngôi đầu, ≥ 37 tuần, chuyển dạ tự nhiên)
tại Bệnh viện đa khoa Tỉnh Đắk Lắk.
- Mô tả nguyên nhân mổ lấy thai của các trường hợp mổ lấy thai nhóm I
theo phân loại của Robson (Con so, đơn thai, ngôi đầu, ≥ 37 tuần, chuyển dạ tự
nhiên) và kết cục của mẹ và con tại Bệnh viện đa khoa Tỉnh Đắk Lắk.
4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN Y VĂN
1.1. ĐỊNH NGHĨA
Mổ lấy thai là phẫu thuật để lấy thai và phần phụ của thai ra khỏi buồng tử
cung qua đường rạch ở thành tử cung và đường rạch ở thành bụng.
Định nghĩa này không bao hàm mở bụng lấy thai trong trường hợp thai trong
ổ bụng và vỡ tử cung khi thai đã nằm trong ổ bụng[3],[ 7].
1.2. SƠ LƯỢC VỀ MỔ LẤY THAI
Theo sử sách của người Ai Cập, MLT đã được đề cập vào những năm 3000
năm trước Công nguyên. Lúc đó MLT chỉ được thực hiện khi người mẹ mới chết
hoặc hấp hối để cứu con. Năm 730 trước Công ngun, Hồng Đế La Mã Popilus
đã cấm chơn sản phụ chết khi chưa được MLT [3].
Năm 1500. Jacob Nufe (Thụy Sỹ) thợ thiến lợn là người đầu tiên thực hiện
rạch bụng vợ lấy con vì đẻ khó sau khi có 12 bà đỡ đã bó tay.
Năm 1610, Tractmasnnn J.(Đức) rạch dọc tử cung (TC) lấy thai không khâu
phục hồi, người mẹ chỉ sống được 25 ngày sau mổ, phẫu thuật này áp dụng khắp
Châu Âu, tỷ lệ tử vong mẹ là 100%. Năm 1974 trường hợp MLT đầu tiên thành
công cứu được cả mẹ và con tại bang Virginia của Hoa Kỳ[3].
Năm 1882, Max Sanger (Đức) giới thiệu phương pháp mổ dọc thân tử cung
để lấy thai có khâu phục hồi cơ tử cung 2 lớp và được gọi là MLT theo phương
pháp cổ điển. Tuy nhiên, tử vong mẹ vẫn cao do viêm phúc mạc và ông đã xuất
bản một cuốn sách “Kỹ thuật mổ lấy thai” gọi là kỹ thuật Sanger [3],[ 38].
5
Năm 1805, Osiander đưa ra phương pháp phẫu thuật rạch dọc đoạn dưới TC
để lấy thai ra nhưng không được chú ý đến [3],[40].
Năm 1926, Beek, Kerr, De Lee chủ chương rạch ngang đoạn dưới TC và
khâu phủ phúc mạc đoạn dưới sau khi khâu cơ TC. Kỹ Thuật này được phổ biến
rộng rãi và thực hành đến tận nửa đầu thế kỷ XX, nhưng MLT vẫn còn hạn chế
so nhiễm khuẩn và yếu kém trong gây mê hồi sức [25], [20], [19].
Năm 1940, Flemming phát minh ra kháng sinh đã làm giảm tỷ lệ nhiễm
khuẩn. Sau đó vào những năm 1950, gây mê hồi sức đã có bước tiến mới trong
việc áp dụng các phương tiện gây mê hiện đại, thuốc tê, thuốc mê mới thì phẫu
thuật MLT thực hiện an toàn hơn, đảm bảo hơn cho mẹ cà con.
Ở Việt Nam, trước năm 1950 do nguy cơ nhiễm khuẩn lớn, chưa có kháng
sinh và hạn chế gây mê nên MLT được áp dụng rất hạn chế. Chỉ sau khi kháng
sinh ra đời, MLT mới được áp dụng rộng rãi.
Năm 1956 phẫu thuật mổ dọc đoạn dưới TC lấy thai được áp dụng đầu tiên
tại khoa sản Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội). Sau đó Đinh Văn Thắng thực hiện mổ
ngang đoạn dưới TC lấy thai tại Bệnh viện Bạch Mai và ngày nay phương pháp
này đang được áp dụng rộng rãi trong toàn quốc[3],[ 4].
1.3. Phương pháp, thời điểm, tai biến của mổ lấy thai
1.3.1. Phương pháp mổ lấy thai
Các phương pháp mổ lấy thai hiện đang được sử dụng chủ yếu là mổ ngang
đoạn dưới tử cung lấy thai và mổ lấy thai theo phương pháp cổ điển.
6
1.3.1.1. Mổ ngang đoạn dưới tử cung lấy thai:
Đường vào có thể là đường trắng giữa dưới rốn vệ hoặc đường ngang trên
xương vệ. Mở phúc mạc tử cung ở phần phúc mạc của đoạn dưới, dùng ngón tay
đẩy bàng quang xuống ra khỏi mặt trước của đoạn dưới. Dùng dao mổ rạch ngang
một đoạn dài 3cm ở đoạn dưới tử cung, sau đó dùng kéo mở rộng đường rạch sang
2 bên thành một đường vòng cung dài khoảng 10cm, hướng lên trên. Giai đoạn
tiếp theo là giai đoạn khó nhất: lấy thai, vì phải lấy thật nhanh và khơng để rách
thêm đoạn dưới tử cung, tùy theo ngôi đầu, mông, hay ngang sẽ lấy xe bằng đầu,
mông hay chân. Tiếp theo sẽ sổ nhau và khâu cơ tử cung một lớp hay hai lớp tùy
tác giả[1].
Hình 1.1. Phương pháp mổ lấy thai
1.3.1.2. Mổ lấy thai theo phương pháp cổ điển:
Ưu điểm của phương pháp này là mổ nhanh, không sợ chạm 2 động mạch tử
cung và lấy thai dễ. Khuyết điểm của phương pháp này là chảy máu nhiều, dễ
7
viêm dính trong giai đoạn hậu phẫu, thường được chỉ định khi mổ nhau tiền đạo
ở mặt trước tử cung hoặc ngôi ngang.
Kỹ thuật: Sau khi vào bụng, lấy 2 góc tử cung (nơi bám của dây chằng trịn)
làm điểm chuẩn để rạch một đường dọc giữa mặt trước thân tử cung, dùng kéo cắt
tiếp theo đường chuẩn đã rạch. Tìm chân thai nhi và bắt qua vết mổ, sau đó khâu
lại cơ tử cung nhiều lớp[1].
1.3.2. Thời điểm mổ lấy thai
MLT có thể chia làm 3 nhóm:
- MLT cấp cứu: MLT được tiến hành ngay lập tức nhằm đảm bảo sự an toàn của
mẹ và con đang bị đe dọa trong những trường hợp: sa dây rốn, suy thai, nhau tiền
đạo trung tâm chảy máu nhiều hoặc khi chuyển dạ bất thường.
- MLT chủ động: MLT có thể có hoặc khơng có chỉ định y khoa, được chỉ định
trước khi vào chuyển dạ.
- MLT theo yêu cầu: MLT trước khi vào chuyển dạ theo yêu cầu của sản phụ khi
khơng có chỉ định y khoa.
Nguy cơ của MLT theo yêu cầu làm tăng thời gian nằm viện, tăng nguy cơ
suy hô hấp ở trẻ sơ sinh, tăng các biến chứng ở thai kì tiếp theo như vỡ tử cung,
nhau bám bất thường, thậm chí cắt tử cung. Lợi ích ngắn hạn của MLT theo yêu
cầu là giảm nguy cơ băng huyết sau sinh, nguy cơ truyền máu, giảm các biến
chứng của phẫu thuật và giảm tỷ lệ tiểu không tự chủ trong 1 năm đầu sau sinh.
Sau khi cân nhắc lợi ích và nguy cơ, ACOG 13 đã kết luận sinh ngả âm đạo an
toàn hơn mổ lấy thai khi khơng có các chỉ định y khoa liên quan đến mẹ và
thai[32].
8
Trong y văn quốc tế, thuật ngữ chủ động được dùng chung cho nhiều trường
hợp gồm MLT trước chuyển dạ hoặc MLT khi khơng có chỉ định y khoa hoặc
MLT được yêu cầu bởi sản phụ. Berghella và cộng sự (2011) đã khuyến cáo không
nên sử dụng thuật ngữ “elective” cho mổ lấy thai[14].
1.3.3. Tai biến của mổ lấy thai
* Tai biến gần:
- Chảy máu do phạm vào động mạch tử cung, đờ tử cung, rách thêm đoạn
dưới khi mổ lấy thai.
- Nhiễm trùng: Nhiễm trùng vết mổ, nhiễm trùng ối gây viêm phúc mạc có
thể dẫn đến cắt tử cung trong hậu phẫu.
- Tai biến do phạm phải các cơ quan kế cận như: ruột, bàng quang, đường
tiết niệu, dò bàng quang – tử cung, bàng quang – âm đạo…
- Các tai biến do gây mê hồi sức.
* Tai biến xa:
- Sẹo trên thân tử cung có thể nứt (vỡ) trong những thai kỳ sau, tỷ lệ này 1 –
2% với vết mổ dọc thân khi chưa vào chuyển dạ, 0,5 – 1% với mổ ngang đoạn
dưới tử cung.
- Lạc nội mạc tử cung: do kỹ thuật mổ.
- Dính ruột, tắc ruột[1].
* Về phía con:
- Bị chấn thương trong phẫu thuật, hít phải nước ối, sang chấn khi lấy thai.
9
- Tai biến do ảnh hưởng thuốc mê.
Ngày nay MLT là một kỹ thuật rất phổ biến. Tuy nhiên vẫn có những nguy
hiểm nhất định và dù sao cũng ảnh hưởng đến tương lai sản khoa của người mẹ.
Vì vậy cần cân nhắc kỹ những chỉ định mổ lấy thai để có sự an tồn tuyệt đối cho
mẹ và con.
1.4. CÁC CHỈ ĐỊNH MỔ LẤY THAI
1.4.1. Chỉ định mổ lấy thai chủ động
- Khung chậu bất thường
+ Khung chậu hẹp tồn
+ Khung chậu méo khi đo hình trám Michaelis khơng cân đối
+ Khung chậu hình phễu là rỗng eo trên, hẹp eo dưới[17].
- Đường xuống của thai nhi bị cản trở
+ U tiền đạo là khối u nằm trong tiểu khung làm cho ngôi không lọt hoặc
không xuống được.
+ Nhau tiền đạo trung tâm, bán trung tâm.
- Tử cung có vết mổ cũ
+ Vết mổ ở TC cung trước khi có thai lần này như: Sẹo mổ bóc nhân xơ tử
cung, sẹo mổ tạo hình tử cung….
+ Vết mổ lần trước là vết mổ dọc thân tử cung
- Chỉ định mổ lấy thai lần trước đến nay vẫn còn tồn tại như khung chậu hẹp,
dị tật khung chậu……
10
- Vết mổ cũ lấy thai ≥ 2 lần
- Vết mổ cũ lấy thai có một bất thường trong thai kỳ lần này hay trong chuyển
dạ[17].
- Nguyên nhân về phía mẹ
+ Các bệnh tim ở giai đoạn mất bù trừ.
+ Bệnh tăng huyết áp, tai biến mạch não, tiền sản giật và sản giật.
+ ÂĐ chít hẹp bẩm sinh hoặc bị rách trong các lần đẻ trước.
+ Bảo tồn kết quả chỉnh hình phụ khoa: tiền sử mổ treo tử cung do sa sinh
dục, sa bàng quang, làm lại ÂĐ – TSM.
+ Các dị dạng sinh dục: TC đôi, TC 2 sừng[18].
- Nguyên nhân về phía thai và phía phần phụ
+ Thai suy mãn tính, hết ối…
+ Thai to, khơng tương xứng với khung chậu, khơng có khả năng lọt qua eo
trên phải MLT [18].
1.4.2. Các chỉ định mổ lấy thai trong quá trình chuyển dạ
- Chảy máu
+ Nhau tiền đạo
+ Nhau bong non thể trung bình và thể nặng
- Dọa vỡ tử cung
11
Những trường hợp chuyển dạ lâu, ngôi chưa lọt hoặc trong những trường hợp
dùng oxytocin không đúng chỉ định hoặc q liều lượng sẽ làm cho dưới TC phình
to có nguy cơ vỡ, thai bình thường hoặc thai đã suy nhưng không thể lấy thai bằng
thủ thuật đường âm đạo sẽ MLT.
- Vỡ tử cung
+ Vỡ tử cung tự nhiên trong thời kỳ thai nghén thường xảy ra những sản phụ
có sẹo mổ cũ, đặc biệt là sẹo mổ ở thân tử cung.
+ Vỡ tử cung trong chuyển dạ thường do bất tương xứng thai – khung chậu,
sản phụ đẻ nhiều lần, vết mổ cũ ở tử cung, ngôi bất thường…
+ Khi vỡ tử cung phải MLT càng sớm càng tốt để cứu mẹ và thai nhi.
- Sa dây rốn
- Chỉ định về phía thai
+ Thai to: Thai to đều trọng lượng thai >3500g không tương xứng với khung
chậu, loại trừ thai to một phần.
+ Các ngôi bất thường: Ngôi mặt cằm ngang, cằm sau, ngôi trán. Con so ngôi
ngang, ngôi ngang không đủ điều kiện nội xoay thai. MLT mang tính dự phịng
ngơi mơng.
+ Thai q ngày sinh: Khi chẩn đốn chắc chắn là thai già tháng cần phải
đình chỉ thai nghén. Nếu lượng nước ối cịn nhiều thì gây chuyển dạ sinh bằng
cách truyền nhỏ giọt tĩnh mạch oxytocin và theo dõi chuyển dạ bằng máy
moniterring, nếu có biểu hiện bất thường phải MLT[6], [17]. Nếu nước ối khơng
cịn hoặc ối xanh bẩn biểu hiện của suy thai hoặc thai kém phát triển đều phải
MLT[29].
12
+ Đa thai
- Chỉ định về phía mẹ
+ Tử cung có sẹo mổ cũ
+ Con so lớn tuổi
+ Tình trạng bệnh lý của mẹ: Bệnh lý toàn thân ảnh hưởng đến cơ năng của
người mẹ: Tim mạch, thiếu máu nặng, tiểu đường không được theo dõi[27]. Các
bệnh lý tại chỗ của người mẹ: Dị dạng sinh dục, rò niệu dục đã mổ, herpes sinh
dục, papilloma sinh dục nặng…[36].
- Chỉ định bất thường xảy ra khi theo dõi chuyển dạ
+ Đẻ khó do CTC khơng tiến triển: CTC có sẹo cũ xấu, khoét chóp hay cắt
cụt CTC.
+ Đẻ khó do nguyên nhân cơ học: Bất tương xứng giữa thai nhi và khung
chậu.
+ Đẻ khó do nguyên nhân động lực: Do rối loạn cơn co TC không điều chỉnh
được bằng thuốc.
+ Thai suy cấp trong chuyển dạ: Phải MLT ngay nếu chưa đủ điều kiện để
lấy thai ra ngay bằng thủ thuật qua đường âm đạo[13], [21], [25],[41].
- Lý do xã hội: Đó là những chỉ định mà ngun nhân khơng phải là yếu tố về
chun mơn gây đẻ khó mà việc MLT ở đây do những lý do về mặt xã hội liên
quan đến sản phụ và gia đình sản phụ[8], [17].
13
1.5. HÌNH THÀNH BẢNG PHÂN LOẠI MỔ LẤY THAI
Tỷ lệ MLT ngày càng tăng, duy trì tỷ lệ MLT phù hợp luôn là chủ đề gây
tranh cãi. Tỷ lệ MLT nên được xem xét cùng các yếu tố dịch tễ, địa cư nhằm có
cái nhìn chính xác. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ MLT như thai kì nguy
cơ cao hay nguy cơ thấp, quá trình theo dõi chuyển dạ, khả năng của cơ sở y tế,
các yếu tổ xã hội như tâm lý sản phụ cùng gia đình, tâm lý sợ trách nhiệm của bác
sĩ. Do đó tỷ lệ MLT chung khơng cho thấy được sự ảnh hưởng, khác biệt của từng
yếu tố. Hiểu biết sâu sắc về tình hình MLT, hậu quả cũng như lợi ích của nó sẽ
giúp phát triển hệ thống chăm sóc y tế, đồng thời giúp trao đổi, học tập các đơn
vị khác trong nước và quốc tế.
Sản phụ luôn chọn phương pháp sinh an toàn nhất cho bản thân và thai, do
đó bác sĩ cần chuẩn hố kiến thức để đảm bảo có thể giúp sản phụ có lựa chọn
đúng đắn. Đa số phụ nữ không muốn phẫu thuật tuy nhiên có một số lượng nhất
định sản phụ muốn lựa chọn MLT. Sản phụ u cầu MLT vì khơng muốn chịu
đựng cuộc chuyển dạ hoặc không muốn sinh ngã âm đạo. Sản phụ con so yêu cầu
MLT vì họ lo lắng những thứ sắp xảy ra. Sản phụ con rạ lo lắng vì những thứ đã
xảy ra. Các hướng dẫn quốc tế cho rằng, sản phụ có thể lựa chọn cách sinh của
mình.
MLT được xem như phương pháp bảo vệ cả bà mẹ và trẻ sơ sinh khỏi những
bất lợi và bác sĩ sản khoa có nhiệm vụ cung cấp những bằng chứng y khoa, đảm
bảo cung cấp những dịch vụ tốt nhất cho sản phụ.
Hệ thống phân loại trong y khoa đã được sử dụng nhiều năm. Dựa trên cơ sở
xác định các khái niệm khác nhau sẽ có các chỉ số khác nhau. Sự sắp xếp các chỉ
số khác nhau vào từng nhóm chuyên biệt giúp định rõ đặc điểm, đặc trưng hay
chất lượng của từng nhóm. Trong y khoa sự phát triển của hệ thống dữ liệu rất
14
quan trọng, thông tin, dữ kiện cần được tổ chức, sắp xếp lại để tăng hiệu quả sử
dụng, giúp phát triển hệ thống chăm sóc sức khoẻ và sự sắp xếp này được thể hiện
thông qua các bảng phân loại.
Mỗi hệ thống phân loại trong y khoa đều có mục đích riêng ban đầu do đó
khơng thể thiết kế một hệ thống phân loại phù hợp cho mọi mục đích. Cần phân
biệt sự khác nhau giữa phân loại và bảng mã. Bảng mã chỉ là những kí tự đơn
thuần, hoặc chữ số, sử dụng với mục đích xác định, lựa chọn, ví dụ bảng mã ICD10. Bảng mã thường ít gây chú ý hơn bảng phân loại đối với các bác sĩ lâm sàng,
một ví dụ về hệ thống phân loại trong y khoa rất quan trọng là bảng phân loại giai
đoạn ung thư.
Các nhóm chính là phần quan trọng nhất của bảng phân loại, dó đó điều quan
trọng là các nhóm chính trong bảng phân loại đủ mạnh để không thể bị thay đổi
theo thời gian. Khi một bảng phân loại đã được quyết định, sự thay đổi các thành
phần đặc biệt là các nhóm chính gây ra nhiều bất lợi vì khi đó rất khó khăn để so
sánh với các dữ kiện được thu thập theo bảng phân loại cũ trước đó.
Một bảng phân loại thành cơng được xác định bằng thời gian tồn tại bao lâu,
phụ thuộc vào độ hữu ích của nó. Bất kì sự thay đổi nào đều có thể gây ra các bất
lợi khơng mong muốn, tuy nhiên có thể giảm xuống băng cách thay đổi ở các cấp
độ thấp hơn, tránh can thiệp vào nhóm chính..
Cuối cùng hệ thống phân loại phải đơn giản, dễ hiểu, đầy đủ và các nhóm
phải có liên quan đến lâm sàng, điều này rất quan trọng để các bác sĩ lâm sàng
chấp nhận và sử dụng bảng phân loại[39].
15
1.6. CÁC BẢNG PHÂN LOẠI MLT THÔNG DỤNG [45]
Khi xem xét lại các nghiên cứu, rất ít tài liệu tuân theo chặt chẽ các nguyên
tắc chính của việc lập bảng phân loại như đã nêu trên. Đa số viết về kiểm định
MLT và các yếu tố liên quan, cũng như sự thay đổi trong tỷ lệ MLT do đó hầu hết
các nghiên cứu về tình hình MLT đều khơng sử dụng bảng phân loại.
Hầu hết MLT liên quan đến 4 chỉ định: VMC, ngơi mơng, sinh khó, suy thai.
Tuy nhiên một vấn đề quan trọng trong phân tích dữ liệu là một trường hợp MLT
có thể có nhiều chỉ định chồng chéo lên nhau. Đây là một vấn đề thường gặp ở
nhiều nơi khi dùng các chỉ định mổ để phân tích tỷ lệ MLT. Dựa vào sự đồng
thuần của các bác sĩ sản khoa, một mơ hình chuẩn được thiết lập bằng cách kết
hợp nhiều chẩn đoán khi sinh thành một chẩn đoán duy nhất phù hợp lâm sàng.
1.6.1. Phân loại MLT theo nguyên nhân:
Bảng 1.1: Phân loại mổ lấy thai theo nguyên nhân
Nhóm
Chỉ định
1
Khi có VMC trước đó, thì gắn chẩn đốn VMC.
2
Khi có ngơi mơng kèm theo đẻ khó hoặc suy thai thì gắn cho chẩn đốn
ngơi mơng (ghi nhận rằng ngơi mơng là lí do của đẻ khó và suy thai).
3
Những trường hợp sinh khó và suy thai thường được gắn chẩn đốn sinh
khó (sinh khó có thể là ngun nhân gây suy thai)
4
Chẩn đốn suy thai đơn thuần khi khơng có 3 chẩn đốn trên kèm theo.
5
Trường hợp khơng rơi vào 4 nhóm trên được xếp vào nhóm khác.