Tải bản đầy đủ (.docx) (8 trang)

phan tich bai tho Bep LuaBang Viet

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (118.47 KB, 8 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>Bếp lửa (Bằng Việt)</b>


<i><b>Một bếp lửa chờn vờn sương sớm, </b></i>
<i><b>Một bếp lửa ấp iu nồng đượm, </b></i>


<i><b>Cháu thương bà biết mấy nắng mưa…</b></i>


Chắc hẳn ai đọc lại những câu thơ trên cũng ít nhiều bị khơi gợi lại những kỷ niệm thời thơ ấu, về thuở học trị khơng thể
nào qn. Đó chính là những câu thư mở đầu trong bài thơ “Bếp lửa” của nhà thơ Bằng Việt.


Bài thơ "Bếp lửa" được viết năm 1963, lúc nhà thơ Bằng Việt đang học năm thứ hai tại Đại hoc Tổng hợp quốc gia Kiev
(Ukraina, hồi đó cịn thuộc Liên Xơ). Nhà thơ Bằng Việt kể lại. “Những năm đầu theo học Luật tại đây tôi nhớ nhà kinh
khủng. Tháng 9 ở bên đó trời se se lạnh, buổi sáng sương khói thường bay mờ mờ mặt đất, ngoài cửa sổ, trên các vịm
cây, gợi nhớ cảnh mùa đơng ở q nhà. Mỗi buổi dậy sớm đi học, tôi hay nhớ đến khung cảnh một bếp lửa thân quen, nhớ
lại hình ảnh bà nội lụi cụi dậy sớm nấu nồi xôi, luộc củ khoai củ sắn cho cả nhà”. Trong hoàn cảnh đó nhà thơ Bằng Việt
đột nhiên nhớ lại thói quen bao nhiêu năm ấy của bà, những kỷ niệm ấu thơ như một cuốn phim cứ lần lần hiện lại, từ
những năm nhà còn nhỏ tý, đi tản cư kháng chiến, rồi xa hơn nữa, là thời cả gia đình ơng từ Huế đi ra Bắc, chuyến tàu
gần như cuối cùng còn chạy trước thời tiêu thổ kháng chiến, đi dọc miền Trung dài dăc. Nhà thơ Bằng Việt thú nhận: “Tơi
chẳng nhớ được gì ngồi tiếng hú còi tàu và tiếng chim tu hú kêu khăc khoải. Rồi lại cũng tiếng chim tu hú ấy vẫn kêu
suốt những mùa vài chín dọc những triền sông dọc những bờ đê của cả vùng quê tôi, những năm tôi ở cùng bà”.


Tất cả những suy nghĩ, nỗi ám ảnh đặc trưng của quê hương trên xứ người đó đã tạo nên cảm hứng cho nhà thơ Bằng Việt
viết nên bài thơ “Bếp lửa”. Ơng nói: “Bếp lửa” của tôi được đưa vào giảng dạy trong nhà trường có lẽ cũng bởi nó mang
tính khái quát và tiêu biểu cho một lớp người trong cuộc kháng chiến ngày ấy. Bài thơ như một câu chuyện thật về những
nhân vật có thật, ngơn ngữ khơng cách điệu, mánh khóe mà chỉ nơm na, bình dân, thơng thường, khơng tự nhiên chủ
nghĩa và khác hồn tồn với ngơn ngữ thơ mới lúc bấy giờ, hay nói cho đúng hơn là bài thơ mang hơi thở công nông binh.
Sau khi ra Bắc, cụ thân sinh nhà thơ Bằng Việt thoát ly đi lên Việt Bắc tham gia Kháng chiên, mẹ tham gia hội phụ nữ,
nhà chỉ còn hai anh em, sau một thời kỳ về quê phụ giúp ông bác nhà thơ Bằng Việt chở xe ngựa kiếm sống ni gia đình.
Chi tiết này về sau nhà thơ cũng đưa vào bài thơ "Bếp lửa", mà nhiều bạn cứ tưởng là hư cấu (Bố đi đánh xe, khơ rạc
ngựa gầy). Nói đến câu thơ này bơng nhiên thấy ơng buồn buồn. Ơng giải thích: “Nhiều người sau khi đọc đến câu thơ này
gọi điện cho tơi hỏi ‘ơng có bịa khơng đấy vì nhà ơng là gia đình theo cách mạng làm gì đến nỗi ông cụ đi “đánh xe khô
rạc ngựa gầy”, hay ông giả vờ nghèo, kể khổ để mọi người phải thơng cảm cho gia đình ơng? Tơi khẳng định với họ rằng


chẳng việc gì phải bịa hay cách điệu hồn cảnh để xin mọi người thơng cảm cả. Gia đình tơi có gì tơi đã đưa hết vào thơ
rồi.” Nhà thơ kể tiếp: “Bố mẹ tôi ở trong Huế 18 năm và sinh tôi trong ấy. Sau khi cách mạng nổ ra cả nhà chuyển ra Bắc,
tản cư về một vùng quê ở chân núi Ba Vì – Hà Tây. Sau khi cách mạng thành cơng bố tơi chưa có việc gì làm cho dù ơng
là một trí thức ngành luật. May sao trong lúc khó khăn đó bác tơi có cỗ xe ngựa chun chạy tuyến Phùng (Đan Phượng,
Hà Tây) đi Hà Nội nên bố tôi nhận lời mời của bác đi phụ xe kiếm tiền ni gia đình. Những năm đói 1945 – 1946 ấy người
cịn đói nữa huống hồ ngựa nên chuyện tơi nói trong thơ “Bố đi đánh xe, khơ rạc ngựa gầy” khơng có gì là sai hay cường
điệu hoàn cảnh cả”.


Rất nhiều chi tiết, cứ tưởng như ngẫu nhiên, đến khi tập họp lại, tự nhiên lại như những nét chấm phá để hình thành nên
cả một khung cảnh, cả một không gian sống, thậm chí làm nên cái nền chân thật, sinh động cho cả một thời. Từ đó nhà
thơ chỉ cịn có việc dựng nên trên cái nền ấy một hình ảnh xun suốt, hình ảnh đã được điển hình hố và phổ qt hố,
từ bà nội thực của mình trở thành bà nội của bao người khác, thành biểu tượng một người Mẹ hậu phương tận tuỵ, hy
sinh, làm chỗ dựa cho con cháu, làm điểm trụ vững chăc ở phía sau để làm n lịng những người ra tiền tuyến.


“Bếp lửa” sau khi “bay” từ Nga về ngay lập tức được nhà thơ Khương Hữu Dụng chọn đăng trên báo Văn nghệ, số tháng 9
năm 1963. “Bếp lửa” cũng chính là bài thơ đầu tiên ơng đổi bút danh từ Việt Bằng thành Bằng Việt (tên thật của ông là
Nguyễn Việt Bằng) và là bài thơ thứ hai được đăng báo sau bài “Qua Trường Sa” – Báo Văn nghệ năm 1961.


...Nhà thơ suy nghĩ về “Bếp lửa” và hình ảnh người bà: “Đó là những suy ngẫm về cuộc đời nhiều gian khổ nhưng giàu hi
sinh, tần tảo của người bà. Bà là người nhóm lửa, cũng là người giữ cho ngọn lửa ln ấm nóng và tỏa sáng trong mỗi gia
đình. Qua bài thơ này tơi bày tỏ tình cảm u quý, biết ơn của tôi là người cháu đối với bà trong bài thơ chính là biểu hiện
cụ thể của tình u thương, sự gắn bó với gia đình, quê hương, điểm khởi đầu của tình yêu đất nước.:


Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp ui nồng đượm…


Bà khơng chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa - ngọn lửa của sự sống, của niềm tin cho các thế hệ
sau:



Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa, lịng bà ln ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…


Nhà thơ Bằng Việt tâm sự: “Trong cả hai cuộc Kháng chiến, chống Pháp và chống Mỹ, có lẽ vai trị của những người bà,
người mẹ, người chị... như thế là khơng có gì thay thế nổi. Và có thể nói khơng ngoa rằng chính những con người hiền
hoà, nhân hậu, khiêm nhường ấy đã cùng nhau gánh cả cuộc Kháng chiến lên trên đôi vai gầy guộc, bé nhỏ của mình. Tơi
tự hào dù chỉ làm được một chút gì an ủi những năm đằng đẵng vất vả, dài dăc ấy của bà, như tiếng chim tu hú cộng
hưởng với nỗi cô đơn lo toan của bà, gắng làm cho bà đươc nhẹ nhõm hơn, bớt cảm giác cô đơn, lận đận hơn.:
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà


Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa!


Và làm được điều đó, xem như nhà thơ Bằng Việt đã nghĩ, cũng là thể hiện được một chút gì của lịng biết ơn, của sự cảm
thông, gắn kết, tri ân và biết ghi nhận những đóng góp lớn lao, những hy sinh cao cả của lớp người đi trước,những thế hệ
ơng, bà, cha, anh đã qn mình làm nên những kỳ tích vĩ đại từ ngay trong cuộc đời rất bình thường của mình để chúng
ta có được ngày hơm nay. Ơng bồi hồi:


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

Có ngọn khói trăm tàu
Có niềm vui trăm ngả


Nhưng vẫn chẳng khi nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?


<b>Phân tích bài Bếp Lửa </b>
<i><b>Một bếp lửa chờn vờn sương sớm</b></i>


<i><b>Một bếp lửa ấp iu nộng đượm</b></i>


<i><b>Cháu thương bà biết mấy nắng mưa</b></i>


<i><b>Ơi kì là và thiêng liêng bếp lửa ! </b></i>
Bếp lửa _ Bằng Việt


Thơ của Bằng Việt thật thiết tha và nồng đượm . Chỉ là 1 tiếng gà mái nhảy ổ cục tác trong nắng
trương , chỉ là 1 bếp luẳ chờn vờn sương sớm ... mà sao tha thiết nghĩa tình thế , mà sao lắng sâu đến
thế Thì ra có khi những điều nhỏ nhoi , giản dị nhất lại ẩn chứa tâm tình , chắt đọng những điều thiêng
liêng , lại hiện hình lên những tình cảm thiết tha , chân thành không thể nao quên . Cứ thế bài thơ Bếp
lửa đã đọng trong lòng ta nhưng dư vị ngọt ngào


Nếu như Tiếng gà trưa đánh thức trong Xuân Quỳnh những kỷ niềm về 1 thời thơ ấu trong tình thương
yêu của bà . Thì với bằng việt lại là hình ảnh bếp lửa, nó là biểu tượng cho sự ấm áp , nồng đượm của
tình bà cháu . Bếp lửa đã khơi gợi nhom len , lan tỏa , tan chảy mãi dòng hồi ức tuổi ấu thơ , thao thức ,
đượm đùa ... Hình ảnh bếp lửa thật giàu ý nghĩa cho nên mở đầu bài thơ chính là mở đầu cho nỗi nhớ
của tác giả . Nỗi nhớ bà , nhớ chính cái bếp lửa thân quen ấy


<i><b>Một bếp lửa chờn vờn sương sớm</b></i>
<i><b>Một bếp lửa ấp iu nộng đượm</b></i>


<i><b>Cháu thương bà biết mấy nắng mưa</b></i>


Những hình ảnh mở đầu vừa thực vừa hư như trong truyện cổ tích . Ngọn lửa nhỏ mờ trong sương sớm
mai 2 hình ảnh lúc ẩn lúc hiện ... tạo nên 1 quãng cãnh trữ tình làm lay động cảm xúc dạt dào của tác
giả . Bếp lửa ! .hình ảnh bếp lửa từ trong sâu thẳm tiềm thức khi ẩn khi hiện , khi mờ trong nỗi nhớ nôn
nao của đứa cháu khi xa cách lâu ngày . Từ "ấp iu" được dúng rất sáng tạo . Đó là kết quả rút gọn và nối
kết của bao từ " ấp lửa , chắt chiu , nâng niu " Đi với động từ này là tính từ " nồng đượm " Những điều
đó đã nói lên rằng bếp lửa đã có 1 linh hồn , trờ thành bếp lửa ủ chứa tình thương của cháu đơi với cuộc
đời lam lũ , trai qua " nắng mưa " của người Bà . Từ đây 2 hình ảnh , 2 nỗi nhớ đan xen nhau thành 2 bệ
phóng cho cảm xúc nhà thơ thăng hoa audition . Rồi tác giả đã vận dụng 6 giác quan để làm sống lai đời
thơ bé cùng sống với người bà chịu thương chịu khó



<i><b>Lên 4 tuổi cháu đã quen mùi khói</b></i>
<i><b>Năm ấy là năm đói mịn đói moỉ</b></i>
<i><b>Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy</b></i>


Từ thị giác " chờn vờn sương sớm" cảm giác " ấp iu nồng đượm" và khứu giác " hum nhèm mắt cháu "
để nói về đoạn đời đói khổ , đói đến mịn ỏi , hình ảnh ngừời bố đi đánh xe về khơ rạc với con ngựa gầy
còm . Tất cả đều hội tụ trong mùi khói hum đên ngẹt thở nao lịng cả tuổi thơ . Đó là 1 vịm trơi cổ tích
nào cao rộng và nhuốm màu lãng mãn trong thời thơ bé , hay nói đúng hơn khói bếp đã bao trùm suốt
khung trời tuổi thơ của tác giả . Ấn tượng về cuộc sóng đói khổ và khói bếp nhà nghèo đã đọng lại và da
diết trong kí ức của nhà thơ " nghĩ bây giờ sống mũi còn cay " Quá khứ tuổi thơ cay cực đã qua rồi mà
dư vị 1 thời thơ bé vẫn ám ảnh Bằng Việt . Nghĩ lại thấy xót thương trong hồi ức về bà ... Tuy chỉ là 1
đoạn thời thơ ấi những thời gian ấy dài lắm những 8 năm


<i><b>Cháu cùng bà nhóm lửa</b></i>


<i><b>Tú hú kêu trên những tầm gần xa</b></i>
<i><b>Khi tu hú kêu bà còn nhớ ko bà</b></i>
<i><b>Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế</b></i>
<i><b>Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế</b></i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

kỷ niệm về gia đình về quê hương yêu thương, về những giây phút vắng bóng mẹ cha , chỉ còn bà .
Cháu ở cùng bà , cháu lớn lên trong sự nuôi dưỡng yêu thương của à


<i><b>Cháu ở cùng bà bà bảo cháu nghe</b></i>
<i><b>Bà dạy cháu làm bà chăm cháu học </b></i>


" Cháu ở cùng bà " từ ngữ thật hay và hàm xúc " bà bảo" " bà dạy" " bà chăm " vai trò của bà trong gia
đình thật to lớn . Năm tháng đã trơi qua , thế mà bà vẫn khó nhọc vất vả nhóm bếp. Ngẫm nghĩ ngọn
luẳ hồng và tiếng chim tu hú gọi bầy , đứa cháu nhỏ bỗng thốt lên câu nói giản dị những dạt dao tình
yêu thương " chim tu hú kêu chi hoài " Câu thơ cảm thàn và câu hỏi tu từ diễn tả nỗi thương nhớ bà da


diết . Cảm xúc cứ trào lên như sóng vỗ


<i><b>Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc.</b></i>
<i><b>Tu hú ơi ! Chẳng đến ở cùng bà</b></i>


<i><b>Kêu chi hòai trên những cánh đồng xa</b></i>


Cháu cảm thông với nỗi nhọc nhằn của bà , cháu đã dần khơn lớn trong vịng tay chở che ấm áp ấy .
Cháu càng lớn càng cảm thấy xót thương cho mảnh đời bất hạnh của tu hú .Cháu muốn tu hú cũng được
sự chăm sóc như bà đối với mình . Kỷ niệm cứ hiện dần lên và trong xúc cảm hình ảnh bà và hình ảnh
bếp lửa đã hòa quyền đồng nhất thành 1 . Trong lòng cháu , 2 hình ảnh như 1 . Tuy 1 mà 2 . Để chỉ còn
hiện lên trong tâm trí người cháu 1 xúc cảm mãnh liệt , 1 cái gì đó rất nồng đượm


<i><b>Bố ở chiến khu , bố cịn việc bố</b></i>
<i><b>Mày có viết thư chớ kể này kể nỏ</b></i>
<i><b>Cứ bảo nhà vẫn được bình yên !</b></i>


Năm ấy giặc đốt nhà bà ! . Cuộc sống bà đã khổ rồi giờ cịn khó khăn thêm . Nhưng vẫn giữ vừng niềm
tin sắc đá . vẫn mang trong mình dịng máu bà mẹ Việt Nam anh hùng . Vẫn quan tâm ko muốn con lo
lắng . Bà đã nén chịu đau thương để con mình chuyên tâm đánh giặc để đem lại hịa bình cho đất nước .
Lúc ấy thì nhà bà có sá gì so với cuộc sống bình yên . Cho nên bà đã dặn cháu không được kể . Đến đây
ta thấy thật cảm động trước hành động cao cả ấy . Chỉ cần ai ai cũng làm theo tấm gương bà thì ngày
hịa bình độc lập khơng cịn q xa vời


<i><b>Lận đận đời bà biết mấy nắng mứa</b></i>
<i><b>Mấy chục năm rồi đến tân bây giờ</b></i>
<i><b>Bà vẫn giữ thói quen dậy sơm </b></i>
<i><b>Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm </b></i>


<i><b>Nhóm niềm u thương khoai sắn ngọt bùi</b></i>


<i><b>Nhóm nồi xơi gạo mới sẻ chung vui</b></i>


<i><b>Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ</b></i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

ấy cao cả quá, vĩ đại quá làm tác giả không thể nào quên.
<i><b>Rồi sớm rồi chiều lại bếp lủa bà nhen</b></i>


<i><b>Một ngọn luẳ lịng bà ln ủ sẳn</b></i>


<i><b>Một ngọn luẳ chứa niềm tin dai dẳng....</b></i>


Một lần nữa qua lời thơ của tác giả ta đã cảm nhận được sự khó nhọc của người bà khi ngày ngày , sớm
chiều nhen bếp lửa . Tại sao bà có thể nhẫn nại hi sinh đến như vậy ! Do trong lịng bà ln có 1 ngọn
lửa niềm tin ủ sẳn . Ngọn luẳ của niềm tin đất nước sẽ hịa bình độc lập , cuộc sống sẽ được nâng cao ,
khơng cịn viễn cảnh đói nghèo nữa , đất nước sẽ thống nhất với nhau , người thân và gia đình sẽ khơng
cịn chịu cảnh thoát li nữa mà sẽ về sum họp cùng bà lúc cuối đời . Là ngọn luẳ của niềm tin đứa cháu
mình sau này sẽ nên người , sẽ noi gương được cha mẹ , sẽ nhận ra được sự khó nhọc của bà trong cơng
việc ni dạy cháu tù đó người cháu có thể quyết tâm học thành tài để xây dựng đất nước tươi đẹp hơn ,
giàu đẹp hơn . Bà luôn mong cháu sẽ cống hiến mãi không nguôi cho tổ quốc giống như Thanh Hải trong
mùa xuân nho nhỏ


<i><b>1 mùa xuân nho nhỏ</b></i>
<i><b> lặng lẽ dâng cho đời</b></i>
<i><b>dù là tuổi 20 </b></i>


<i><b>dù là khi tóc bạc</b></i>


Nếu bài thơ dừng lại ở đây thì đã có thể xem là 1 áng thơ hay lắm rồi . Vỡi nhưng cảm xúc của đứa cháu
khi nhớ về bà , nhớ về quãng đời cơ cục cùng bà nhóm lửa , nhớ về cơng lao dạy dỗ của bà .... qua
những vần thơ giản dị mà thắm thía , với những điệp ngữ và từ ngữ được vận dụng 1 cách rất linh hoạt


sáng tạo . Nhưng đến đây dòng tâm niệm của tác giả vẫn chưa nguôi . Vẫn thốt lên những câu thơ lay
động tâm hồn


<i><b>Giờ cháu đã đi xa</b></i>


<i><b>Có lửa trăm nha, niềm vui trăm ngả</b></i>
<i><b>Những vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhỏ</b></i>
<i><b>Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?</b></i>


Dù cho tác giả đã hòan thành nguyện ước của bà . Đã là 1 con người thành đạt , sống có ích cho xa
hổi .Đã sống trong 1 điều kiện đầy đủ tiện nghi" có lửa trăm nhà niềm vui trăm ngả " Nhưng lòng tác giả
vẫn luống hướng về cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người . Bằng Việt sẽ mãi mãi không quên cái bếp
lửa bà nhem , công lao dương dục . Tác giả luôn ln tự hỏi với lịng : bà bây giờ sống thế nào ? có khỏe
mạnh khơng ? bà nhóm bếp lên chưa ? Chắc chắn rồi sẽ có 1 ngày tác giả quay về nơi chôn rau cắt rồn
của mình để chăm sóc người bà thân iu trong những phút cúng cùi


Comment: Đây kà 1 bài thơ dạt dào cảm xúc . Tác giả đã khéo léo sủ dụng các biện pháp nghệ thuật
đặc sắc , cách gieo vần , láy điệp từ và những hình ảnh có sức thuyết phục cao và những liên tưởng độc
đáo tạo nên giá trị cho bài thơ. Ta cảm nhận được ở đây tám lòng biết ơn sâu nặng , nhớ nhung da diết ,
tâm chân tình của nhà thơ đối với người bà yêu dấu ( mở rộng) Đặc biệt qua 2 khổ cuối này ta đã hiểu
thêm được ngun do vì sao tác giả lại có tình thương yêu vô bờ đối với quê hương như vậy ? . Do công
lao trời biển của bà mà chắc hẳn rất ít 1 sánh được . Khâm phục , cảm động , bất giác ta có thể thốt lên
rằng " Ôi bà thật là con người vĩ đại "


Đọc bài thơ thêm một lần nữa , chúng ta cảm thấy trong lòng lại trao dâng niêm cảm xúc . Bài thơ đã
khơi dậy cho chúng ta 1 tình cảm cao đẹp đối với gia đình , quê hương và xã hội . Càng suy ngẫm ,
thấm từng lời thơ của bằng việt ta càng hiểu thế nào là nỗi nhớ quê hương . Ôi! làm sao có thể quên cho
được


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

Monday, 26. November 2007, 10:22:15



Giúp các em ôn thi THPT môn Ngữ văn.


Xin trân trọng giới thiệu bài viết về Bếp lửa do cô Lê Thị Kiều Nga (giáo viên trường THCS Colette, quận 3,TP Hồ Chí
Minh) cung cấp.


Trong cuộc đời, ai cũng có riêng cho mình những kỉ niệm của một thời ấu thơ hồn nhiên, trong sáng. Những kỉ niệm ấy
là những điều thiêng liêng, thân thiết nhất, nó có sức mạnh phi thường nâng đỡ con người suốt hành trình dài và rộng
của cuộc đời. Bằng Việt cũng có riêng ơng một kỉ niệm, đó chính là những tháng năm sống bên bà, cùng bà nhóm lên
cái bếp lửa thân thương. Không chỉ thế, điều in đậm trong tâm trí của Bằng Việt cịn là tình cảm sâu đậm của hai bà
cháu. Chúng ta có thể cảm nhận điều đó qua bài thơ “Bếp lửa” của ơng.


Trong cuộc đời, ai cũng có riêng cho mình những kỉ niệm của một thời ấu thơ hồn nhiên, trong sáng. Những kỉ niệm ấy
là những điều thiêng liêng, thân thiết nhất, nó có sức mạnh phi thường nâng đỡ con người suốt hành trình dài và rộng
của cuộc đời. Bằng Việt cũng có riêng ơng một kỉ niệm, đó chính là những tháng năm sống bên bà, cùng bà nhóm lên
cái bếp lửa thân thương. Khơng chỉ thế, điều in đậm trong tâm trí của Bằng Việt cịn là tình cảm sâu đậm của hai bà
cháu. Chúng ta có thể cảm nhận điều đó qua bài thơ “Bếp lửa” của ông.


Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trương thành trong kháng chiến chống Mĩ. Bài thơ “ Bếp lưả” được ông sáng tác năm
1963 lúc 19 tuổi và đang đi du học ở Liên Xô. Bài thơ đã gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà
cháu, đồng thời thể hiện lịng kính u, trân trọng và biết ơn của người cháu với bà, với gia đình, quê hương, đất
nước.


Tình cảm và những kỉ niệm về bà được khơi gợi từ hình ảnh bếp lửa. Ở nơi đất khách quê người, bắt gặp hình ảnh
bếp lửa, tác giả chợt nhớ về người bà:


“ Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm


Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”



</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

Khổ thơ tiếp theo là dòng hồi tưởng cùa tác giả về những kỉ niệm của những năm tháng sống bên cạnh bà. Lời thơ
giản dị như lời kể, như những câu văn xi, như thủ thỉ, tâm tình, tác giả như đang kể lại cho người đọc nghe về câu
chuyện cổ tích tuổi thơ mình. Nếu như trong câu chuyện cồ tích của những bạn cùng lứa khác có bá tiên, có phép
màu thí trong câu chuyện của băng Việt có bà và bếp lửa. Trong những năm đói khổ, người bà đã gắn bó bên tác giả,
chính bà là người xua tan bớt đi cái khơng khí ghê rợn của nạn đói 1945 trong tâm trí đứa cháu. Cháu lúc nào cũng
được bà chở che, bà dẫu có đói cũng để cháu thiếu bữa ăn nào, bà đi mót từng củ khoai, đào từng củ sắn đểâ cháu
ăn cho khỏi đói:


“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mịn đói mỏi
Bố đi đánh xe khơ rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi cịn cay!”


Chính “mùi khói” đã xua đi cái mùi tử khí trên khắp các ngõ ngách. Cũng chính cái mùi khói ấy đã quện lại và bám lấy
tâm hồn đứa trẻ. Dù cho tháng năm có trơi qua, những kí ức ấy cũng sẽ để lại ít nhiều ấn tượng trong lòng đứa cháu
để rồi khi nghĩ lại lại thấy “sống mũi cịn cay”. Là mùi khói làm cay mắt người người cháu hay chính là tấm lịng của
người bà làm đứa cháu không cầm được nước mắt?


“ Tám năm rịng cháu cùng bà nhóm bếp
Tu hú kêu trên những cách đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!”


“Cháu cùng bà nhóm lửa”, nhóm lên ngọn lửa củasự sống và của tìng yêu bà cháy bỏng của một cậu bé hồn nhiên,
trong trắng như một trang giấy.Chính hình ảnh bếp lửa q hương, bếp lửa của tình bà cháu đó đã gợi nên một liên
tưởng khác, một hồi ức khác trong tâm trí thi sĩ thuở nhỏ. Đó là tiếng chim tu hú kêu. Tiếng tu hú kêu như giục giã lúa
mau chín, người nơng dân mau thốt khỏi cái đói, và dường như đó cũng là một chiếc đồng hồ của đứa cháu để nhắc


bà rằng: “Bà ơi, đến giờ bà kể chuyện cho cháu nghe rồi đấy!”. Từ “tu hú” được điệp lại ba lấn làm cho âm điệu cấu
thơ thêm bồi hồi tha thiết, làm cho người đọc cảm thấy như tiếng tu hú đang từ xa vọng về trong tiềm thức của tác
giả.Tiếng “tu hú” lúc mơ hà, lúc văng vẳng từ nững cánh đồng xa lâng lâng lòng người cháu xa xứ. Tiiếng chim tu hú
khắc khoải làm cho dòng kỉ niệm của đứa cháu trải dài hơ, rộng hơn trong cái không gian xa thẳng của nỗi nhớ
thương.


Nếu như trong những năm đói kém của nạn đói 1945, bà là người gắn bó với tác giả nhất, yêu thương tác giả nhất thì
trong tám năm rịng của cuộc kháng chiến chống Mĩ, tình cảm bà cháu ấy lại càng sâu đậm:


“Mẹ cùng cha bận công tác không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà


Kêu chi hoài trên những cách đồng xa”


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

Bằng Việt, người bà vừa là cha, vừalà mẹ, vừa là cách chim, là một cành hoa của riêng ông. Cho nên, tình bà cháu là
vơ cùng thiêng liêng và q giá đối với ông. Trong những tháng năm sống bên cạnh bà, bà không chỉ chăm lo cho
cháu từng miếng ăn, giấc ngủ mà còn là người thầy đầu tiên của cháu. Bà dạy cho cháu những chữ cái, những phép
tính đầu tiên. Khơng chỉ thế, bà cịn dạy cháu những bài học quý giá về cách sống, đạo làm người. Nững bài học đó
sẽ là hành trang mang theo suốt quãng đời còn lại của cháu. Người bà và tình cảm mà bà dành cho cháu đã thất sự
một chỗ dựa vững chắc về cả vật chất lẫn tinh thần cho đứa cháu be ùbỏng. Cho nên khi bây giờ nghĩ về bà, nhà thơ
càng thương bà hơn vì cháu đã đi rồi, bà sẽ ở với ai, ai sẽ người cùng bà nhóm lửa, ai sẽ cùng bà chia sẻ những câu
chuyện những ngày ở Huế,... Thi sĩ bổng tự hỏi lòng mình: “Tu hú ơi, chẳng đến ở cùng bà?”. Một lời than thở thể hiện
nỗi nhớ mong bà sâu sắc của đứa cháu nơi xứ ngươi. Chỉ trong một khổ thơ mà hai từ “bà”, “cháu” đã được nhắc đi
nhắc lại nhiều lấn gợi lên hình ảnh hai bà cháu sóng đơi, gắn bó, quấn qúit khơng rời.


Chiến tranh, một danh từ bình thườnh nhưng sức lột tả của nó thì khốc liệt vơ cùng, nó đã gây ra đau khổ cho bao
người, bao nhà. Và hai bà cháu trong bài thơ cũng trở thành một nạn nhân của chiến tranh: gia đình bị chia cắt, nhà bị


giặc đốt cháy rụi...


“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở vế lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lếu tranh
Vẫng vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:
“ Bố ở chiến khu bố còn việc bố


Mày viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình n!’


Cuộc sống càng khó khăn, cảnh ngộ càng ngặt ngèo, nghị lứccủa bà càng bền vững, tấm lòng ủa bà càng mênh
mơng. Qua đó, ta thấy hiện lên một người bà cần cù, nhẫn nại và giàu đức hi sinh. Dù cho ngôi nhà, túp lều tranh của
hai bà cháu đã bị đốt nhẵn, nơi nương thân của hai bà cháu nay đã khong còn, bà dù có đau khổ thế nào cũng khơng
dám nói ra vì sợ làm đứa cháu bé bong của mình lo buồn. Bà cứng rắn, dắt cháu vượt qua mọi khó khăn, bà khơng
đứa con đang bận việc nước phải lo lắng chuyện nhà. Điều đó ta có thể thấy rõ qua lới dặn của bà: “Mày có viết thư
chớ kể này kể nọ / Cứ bảo nhà vẫn đươc bình n!”. Lới dăn của bà nơm na giản dị nhưng chất chứa biết bao tình.
Gian khổ, thiếu thốn, bao nỗi nhớ thương con bà đều phải nén vào trong lòng để yên lòng người nơi tiền tuyến. Hình
ảnh người bà khơng chỉ cịn là người bà của riêng cháu mà còn là một biểu tượng rõ nét cho nhữnh người phụ nữa
Việt Nam giàu đức hi sinh, thương con qúy cháu.


Kết thúc khổ thơ, Bằng Việt đã nâng hình ảnh bếp lửa trở thành hình ảnh ngọn, một ngọn lửa:
“Một ngọn lửa lịng bà ln ủ sẵn,


Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”.


Hình ảnh ngọn lửa toả sáng trong câu thơ, nó có sức truyền cảm mạnh mẽ. Ngọn lửa của tình yên thương, ngọn lửa
của niềm tin, ngọn lửa ấm nồng như tình bà cháu, ngọn lửa đỏ hồng si sáng cho con đường đứa cháu. Bà luôn nhắc
cháu rằng: nơi nào có ngọn lửa, nơi đó có bà, bà sẽ ln ở cạnh cháu.



Những dịng thơ cuối bài cũng chính là những suy ngẫm về bà và bếp lửa mà nhà thớ muốn gởi tới bạn đọc, qua đó
cũng là nh74ngbài học sâu sắc từ cơng việc nhó, lửa tưởng chừng đơn giản:


“ Nhóm bếp lửa ấp iu, nồng đượm”


Một lấn nữa, hình ảnh bếp lửa “ ấp iu”, “nồng đượm” đã được nhắc lại ở cuối bài thơ như một lần nữa khẳng định lại
cái tình cảm sâu sắc của hai bà cháu.


“Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi”


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

nhau, những năm tháng mà hai bà cháu mình cùng chia nhau từng củ sắn, củ mì.
“Nhóm nồi xơi gạo mới sẻ chung vui”


“Nồi xôi gạo mới sẻ chung vui” của bà hay là lời răng dạy cháu ln phải mở lịng ra với mọi người xung quanh, phải
gắn bó với xóm làng, đừng bao giờ có một lối sống ích kỉ.


“Nhóm dậy cả những tâm tinh tuổi nhỏ”.


Bà khơng chỉ là người chăm lo cho cháu đấy đủ về vật chất mà c2n là người làm cho tuổi thơ của cháu thêm đẹp.
th6m huyền ảo như trong truyện. Người bà có trái tim nhân hậu, người bà kì diệu đã nhóm dậy, khơi dậy, giáo dục và
thức tỉnh tâm hồn đứa cháu để mai này cháu khôn lớn thành người. Người bà kì diệu như vậy ấy, rất giản dị nhưng có
một sức mạnh kì diệu tứ trái tim, ta có thể bắt gặp người bà như vậy trong “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh:


“Tiếng gà trưa


Mang bao nhiêu hạnh phúc
Đêm cháu về nằm mơ
Giấc ngủ hồng sắc trứng.”


Suốt dọc bài thơ, mười lấn xuất hiện hình ảnh bếp lửa là mười lần tác giả nhắc tới bà.Âm điệu những dịng thơ nhanh


mạnh như tình cảm dâng trào lớp lớp sóng vỗ vao bãi biễn xanh thẳm lòng bà. Người bà đã là, đang là và sẽ mãi mãi
là người quan trọng nhất đối với cháu dù ở bất kì phương trời nào. Bà đã trờ thành một người không thể thiếu trong
trái tim cháu.


Giờ đây, khi đang ở xa bà nửa vòng trái đất, Bằng Việt vẫn ln hướng lịng mình về bà:
“Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu


Có lưả trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”


Xa vịng tay chăm chút cuả bà để đến vơí chân trơì mới, chính tình cảm cuả hai bà chẳ đã sươỉ ấm lịng tác giả trong
cái m đơng lạnh giá cuả nước Nga. Đứa cháu nhỏ cuả bà ngàu xưa giờ đã trưởng thành nhưng trong lịng vần ln
đinh ninh nhớ về góc bếp, nới nắng mưa hai bà cháu có nhau. Đưá cháu sẽ khơng bao giờ qn và chẳng thể nào
qn được vì đó chính là nguồn cội, là nơi mà tuổi thơ cuả đưá chaú đã được ni dưỡng để lớn lên từ đó.


</div>

<!--links-->
Phân tích bài thơ bếp lửa của Bằng Việt - văn mẫu
  • 4
  • 1
  • 5
  • ×