SINH LÝ SINH
SẢN
ĐẠI CƯƠNG VỀ HỆ
SINH SẢN
Sự khác biệt giữa đực và cái là
tùy thuộc một nhiễm sắc thể
(nhiễm sắc thể Y)
Và một cặp cấu trúc nội tiết
là tinh hoàn ở giống đực- buồng
trứng ở giống cái.
Thời kỳ bào thai, sự biệt hóa
tuyến sinh sản nguyên thủy*
(primitive gonads) thành tinh hoàn
hay buồng trứng là do yếu tố di
truyền quyết định.
Tinh hoàn sau khi hình thành ->
biệt hóa ra cơ quan sinh sản nam
(như ống dẫn tinh, mào tinh,...).
Nếu không có tinh hoàn, cơ quan
sinh sản nữ sẽ hình thành.
Ở cả hai phái, tuyến sinh sản*
(gonads) có hai chức năng: Chức
năng sản xuất giao tử và chức
năng bài tiết các hormon phái
tính.
Androgen là các hormon steroit có
tác động nam hóa
Estrogen là các hormon có tác dụng
làm nữ hóa.
Các hormon này bình thường đều hiện
diện ở cả hai phái.
Tinh hoàn là nơi bài tiết rất nhiều
androgen, chủ yếu là testosteron,
nhưng tinh hoàn cũng sản xuất một ít
estrogen.
Buồng trứng là nơi sản xuất rất
nhiều estrogen và một ít testosteron
Androgen cũng được bài tiết ở vỏ thượng
thận của cả 2 phái và một số androgen
này được biến đổi thành estrogen ở mô mỡ
và các mô khác.
Buồng trứng còn bài tiết progesteron,
relaxin
Progesteron có tác dụng chuẩn bị tử cung
tiếp nhận bào thai.
Đặc biệt trong thời kỳ có thai, buồng trứng
còn bài tiết một hormon polypeptit là relaxin
có tác dụng làm mềm dây chằng khớp
xương mu và cổ tử cung.
Ở cả 2 phái, tuyến sinh sản còn
bài tiết những hormon polypeptit
khác trong đó có inhibin.
Đây là một polypeptit tác dụng ức
chế bài tiết FSH.
Chức năng bài tiết và tạo giao tử
của tuyến sinh sản tùy thuộc vào
sự bài tiết gonadotropin của tiền
yên.
Gonadotropin là từ gọi chung cho hai
hormon là FSH vaø LH.
Các hormon phái tính và inhibin có
tác dụng điều hòa ngược, ức chế
bài tiết gonadotropin.
Phái nam, sự bài tiết gonadotropin
không có tính chu kỳ còn ở
Phái nữ sau dậy thì, các hormon
này được bài tiết tuần tự và như
thế tạo ra chu kỳ kinh nguyệt, sự
mang thai và tạo sữa.
Sự biệt hóa và phát
triển cơ quan sinh sản ở
bào thai
Nhiễm sắc thể phái tính
Phái tính được quyết định về mặt di
truyền bởi 2 nhiễm sắc thể gọi là
nhiễm sắc thể phái tính (sex
chromosomes).
Các nhiễm sắc thể còn lại được gọi là
nhiễm sắc thể cơ thể Ở người nhiễm
sắc thể phái tính được gọi là nhiễm sắc
thể X và Y.
Nhiễm sắc thể Y là điều kiện cần và
đủ để tạo ra tinh hoàn.
Chỉ có một vùng nhỏ trên
nhánh ngắn của nhiễm sắc thể
Y là quyết định sự hình thành tinh
hoàn.
Vùng này được gọi là SDY (sex
determining of the Y chromosome vùng quyết định phái tính của
NST Y)
Chứa một loạt các gen cần để
biệt hóa tinh hoàn, trong đó bao
gồm gen tạo ra chaát MIS (Mullerian
inhibiting substance)
Nhiễm sắc thể Y có kích thước nhỏ
hơn nhiễm sắc thể X.
Vì vậy có giả thuyết cho rằng tinh
trùng Y nhẹ hơn tinh trùng X nên “bơi”
nhanh hơn trong đường sinh sản người
phụ nữ và đến trứng trước.
Điều đó giải thích tại sao dân số loài
người có phái nam hơi nhiều hơn phái
nữ.
Sự hình thành tuyến sinh sản (tinh
hoàn hay buồng trứng)
Trong bào thai, sự phát triển của
tuyến sinh sản bắt đầu bằng sự xuất
hiện 2 gờ sinh sản (genital ridge) ở
gần tuyến thượng thận.
Đây là 2 tuyến sinh sản nguyên thủy
dần dần phát triển thành một vùng
vỏ cấp 2 và một vùng tủy cấp 2
Khi bào thai được 6 tuần tuổi, cấu trúc
này ở cả 2 phái đều giống nhau.
Đến tuần thứ 7, 8, bào thai được di truyền là
nam (genetic male) thì phần tủy sẽ phát triển
thành tinh hoàn còn phần vỏ sẽ thoái
triển.
Lúc này tế bào Leydig và tế bào Sertoli
tiết ra testosteron và chất ức chế ống Muller
(Mullerian inhibiting substance, MIS).
Bào thai di truyền là nam, sau khi tinh hoàn
hình thành, tế bào Leydig sẽ bài tiết
testosteron còn tế bào Sertoli bài tiết MIS
MIS làm teo ống Muller bằng cơ chế apoptosis
còn testosteron làm ống Wolf phát triển
thành mào tinh và ống dẫn tinh.
Nếu bào thai được di truyền là nữ thì phần
vỏ sẽ phát triển thành buồng trứng còn
phần tủy sẽ thoái triển.
Sự biệt hoá tuyến sinh
sản
Tuần thứ bảy, bào thai có các
đường sinh sản (genital ducts)
của cả nữ lẫn nam là ống Muller
và ống Wolf.
Đây là những ống sinh sản
nguyên thủy.
Ở bào thai nữ hệ thống ống
Muller sẽ phát triển thành ống
dẫn trứng và tử cung.
Còn ở bào thai nam ống Wolf sẽ
phát triển thành maøo tinh vaø
Cơ quan sinh sản ngoài
Đến tuần thứ 8 các cơ quan này
của cả 2 phái đều giống nhau
Sau đó khe sinh niệu (urogenital
slit) biến mất, hình thành nên cơ
quan sinh sản ngoài của phái
nam,
Hay khe sinh niệu vẫn còn tạo
nên cơ quan sinh sản ngoài của
phái nữ.
Sự biệt hoá cơ quan Sinh Dục ngoài
tượng dậy thì
Tuyến sinh sản của trẻ con vẫn
có khả năng đáp ứng với
gonadotropin.
Tuyến yên của chúng cũng có
chứa các hormon này. Và vùng
dưới đồi cũng có GnRH.
Tuy nhiên không hiểu sao vào giai
đoạn này tuyến yên không bài
tiết gonadotropin.
Ở khỉ con nếu chích liên tiếp
GnRH để tạo những xung nồng độ
trong máu (pulsatile injection) kinh
nguyệt sẽ xuất hiện.
Ngoài ra nhận thấy ở bào thai,
GnRH được bài tiết dưới dạng
xung.
Vậy từ lúc mới sinh cho đến lúc
dậy thì, có một cơ chế thần kinh
ngăn không cho GnRH bài tiết
dưới dạng xung như ở người lớn.
Tuổi dậy thì không có tính cố
định.
Ở châu Âu và Hoa Kỳ, người ta
nhận thấy trong vòng 175 năm
qua tuổi dậy thì đang giảm đi với
tốc độ 1-3 tháng trong mỗi 10
năm.
Tuổi dậy thì của phái nữ là 8 –
13 và ở phái nam là 9 –14 tuổi.
Mãn kinh (menopause)
Về già, buồng trứng phụ nữ càng
ít đáp ứng với gonadotropin
Số lượng nang noãn nguyên thủy
giảm rất nhanh, buồng trứng không
còn tiết nhiều progesteron và 17b
estradiol.
Do tác dụng điều khiển ngược của
estrogen và progesteron giảm đi nên
lượng LH và FSH bài tiết gia tăng
45-55 tuổi, kinh nguyệt thất thường
rồi ngừng hẳn.
Trung bình là 52ø.
Lúc mãn kinh là do thiếu estrogen :
Cảm giác nóng, chạy từ thân
người lên mặt (vascular flushing).
Tính khí thay đổi (emotional lability).
Mô bì âm đạo bị mỏng đi và mất
khả năng xuất tiết.
Vú teo lại.
Đặc biệt là mô xương bị mất
càng lúc càng nhiều và tăng nguy cơ
bệnh mạch vành.
SINH SẢN NAM
Tinh hoàn nằm trong bìu. Nơi đây có
nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ trung tâm
của cơ thể từ 1 -2 độ
80% tinh hoàn của người lớn là ống
sinh tinh, 20% còn lại là mô liên kết.
Thành ống sinh tinh là nơi tinh trùng
được tạo ra.
Màng ngăn máu - tinh hoàn
(blood-testis-barrier)