Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (731.82 KB, 93 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>MỤC TIÊU QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ</b>
<b>TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN</b>
<b>Việt Nam đang trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa</b>
<b>(XHCN). Giống như các nền KTTT truyền thống, sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế là nhằm</b>
<b>hạn chế những tồn tại của KTTT và đi tới mục tiêu cuối cùng: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công</b>
<b>bằng, dân chủ, văn minh. Muốn đạt được điều đó, quản lý nhà nước về kinh tế phải thực hiện được</b>
<b>các mục tiêu cụ thể về thúc đẩy tăng trưởng, thực hiện công bằng xã hội và ổn định kinh tế vĩ mô. </b>
KTTT định hướng XHCN chính là mơ hình kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH. Đây là một kiểu KTTT
mới trong lịch sử phát triển. KTTT định hướng XHCN vừa mang những đặc điểm chung của KTTT hiện đại
(đã và đang tồn tại, phát triển ở các nước trên thế giới) vừa có những đặc điểm riêng phù hợp với điều kiện
và đặc điểm cụ thể của Việt Nam. Xét về bản chất, nó là một mơ hình tổ chức kinh tế vừa tuân theo những
quy luật của KTTT, vừa dựa trên cơ sở và được sự dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của
CNXH ở một đất nước cụ thể.
Trong nền KTTT định hướng XHCN, quản lý nhà nước về kinh tế là một yêu cầu khách quan và phải tuân
thủ các nguyên tắc chung của quản lý nhà nước về kinh tế trong nền KTTT như mọi nước khác. Nhìn
chung, sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế là nhằm mục tiêu hạn chế và khắc phục những tồn tại
của KTTT. Ngoài ra, Nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN còn phải chủ động sử dụng KTTT để
phục vụ cho mục tiêu của CNXH, dẫn dắt nền kinh tế phát triển đi lên XHCN, chứ không để KTTT phát triển
tự phát theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Đảng ta đã chủ trương nhất quán việc xây dựng một Nhà nước của dân, do dân, vì dân, lấy lợi ích chính
đáng của nhân dân làm căn cứ cho toàn bộ hoạt động của Nhà nước và khẳng định mục tiêu cuối cùng của
việc xây dựng nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam chính là thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh. Quản lý nhà nước về kinh tế trong nền KTTT định hướng XHCN cũng phải
hướng tới mục tiêu tổng thể đó thơng qua việc thực hiện các mục tiêu cụ thể dưới đây.
<b>Thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững</b>
Tăng trưởng nhanh và bền vững là mục tiêu hàng đầu đối với mọi quốc gia. Đặc biệt, đây là vấn đề sống
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy ở tất cả các nước (kể cả đang phát triển và phát triển) khu vực tư nhân luôn
là động lực chủ yếu của quá trình tăng trưởng và phát triển bền vững. Một đặc điểm nổi bật của các nền
kinh tế trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi từ mơ hình kinh tế kế hoạch hố tập trung sang kinh tế
theo định hướng thị trường là tình trạng độc quyền và phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, giữa
doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp tư nhân. Vị trí độc quyền của doanh nghiệp hầu hết đều do Nhà
nước quyết định theo phương thức hành chính chứ khơng phải hình thành nhờ hiệu quả kinh doanh thơng
qua q trình tự tích lũy và tập trung tư bản. Trong bối cảnh đó, tự do kinh doanh và bãi bỏ các hàng rào
bảo hộ sẽ là những biện pháp hữu hiệu để hạn chế sự bất công và phi hiệu quả gắn liền với độc quyền.
Để có thể duy trì tăng trưởng bền vững ở mức cao, một điều đặc biệt quan trọng cần nhận thức rõ là, Nhà
nước có vai trị khơng thể thay thế trong việc bảo vệ môi trường. Lý thuyết kinh tế hiện đại đã khẳng định
rằng thất bại của KTTT trong việc bảo vệ môi trường bắt nguồn từ thực tế là sản xuất tư nhân có thể gây ra
tác động tiêu cực đối với mơi trường do chi phí xã hội khơng được phản ánh đầy đủ vào chi phí sản xuất.
Do đó, lượng ơ nhiễm ln có khuynh hướng vượt quá mức “tối ưu” và các nguồn tài nguyên thiên nhiên có
thể bị khai thác cạn kiệt. Khi đó chúng ta khơng thể nói đến tăng trưởng bền vững, và càng khơng thể nói
đến phát triển bền vững.
<b>Thực hiện công bằng xã hội</b>
thành quả tăng trưởng kinh tế chung của đất nước. Đây là vấn đề cốt lõi của nền KTTT định hướng XHCN,
một tiêu chí quan trọng bậc nhất để phân định CNXH và chủ nghĩa tư bản.
Trong quá trình phát triển nền KTTT định hướng XHCN, để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, cần coi
trọng việc đảm bảo công bằng về: Cơ hội làm việc (bình đẳng trong việc sử dụng các nguồn lực phát triển
và các hoạt động làm ăn kinh doanh theo pháp luật); nghĩa vụ và sự đóng góp cho Nhà nước và xã hội theo
pháp luật; hưởng thụ các thành quả phát triển chung của đất nước (thông qua các chế độ phúc lợi công
cộng, dịch vụ cơng, chính sách xã hội...).
Theo lý thuyết, thực hiện mục tiêu cơng bằng xã hội có thể mâu thuẫn với mục tiêu đảm bảo cho nền kinh tế
hoạt động hiệu quả và tăng trưởng nhanh. Lý do cơ bản là để lấy thu nhập của người giàu chuyển cho
người nghèo, Chính phủ phải theo đuổi các chính sách tái phân phối thu nhập. Với các chính sách này,
những người có thu nhập cao phải nộp thuế cao, những người có thu nhập thấp nhận được các khoản
chuyển giao thu nhập. Điều này sẽ làm giảm động lực lao động và gây ra tổn thất xã hội. Do vậy, Nhà nước
phải cân đối giữa những lợi ích thu được từ sự bình đẳng và những thiệt hại do việc bóp méo các động cơ
khuyến khích. Ngồi ra, nhiều nhà kinh tế và hoạch định chính sách cịn tin rằng phân phối không công
bằng là điều kiện cần thiết để tăng tiết kiệm, đầu tư nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, có nhiều lý do cho thấy sự cơng bằng cao hơn ở các nước nghèo như Việt Nam có thể có lợi
cho tăng trưởng.
Theo nhà kinh tế Simon Kuznets (giải thưởng Nobel về Kinh tế năm 1971), bất bình đẳng về phân phối thu
nhập có xu hướng nới rộng trong những giai đoạn đầu của quá trình phát triển (khi lực lượng lao động
chuyển từ ngành nông nghiệp được đặc trưng bởi thu nhập thấp nhưng phân phối tương đối bình đẳng
sang khu vực cơng nghiệp ở các đô thị được đặc trưng bởi thu nhập cao hơn nhưng phân phối ít bình đẳng
hơn) trở nên ổn định trong một giai đoạn; và sau đó thu hẹp dần trong những giai đoạn sau khi nền kinh tế
đã chín muồi. Điều đó hàm ý Việt Nam có thể phải chấp nhận hy sinh ở một mức độ nhất định mục tiêu
phân phối công bằng trong giai đoạn đầu của phát triển, tuy nhiên khi nền kinh tế đã phát triển đến trình độ
cao thì chúng ta có thể đồng thời đạt được cả hai mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững đi cùng với thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
<b>Ổn định kinh tế vĩ mô</b>
ổn định kinh tế vĩ mô hiện được chấp nhận rộng rãi là mơi trường thuận lợi để khuyến khích tiết kiệm và gia
tăng đầu tư, do đó nó là điều kiện cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và vững chắc. Những
kinh nghiệm thành công nhất về phát triển kinh tế ở các quốc gia Đông á cho thấy các yếu tố quan trọng để
duy trì mơi trường kinh tế vĩ mô ổn định bao gồm: Mức thâm hụt ngân sách thấp, tốc độ tăng trưởng tiền tệ
và tín dụng hợp lý, tỷ lệ lạm phát tương đối thấp và các khoản nợ của khu vực công cộng duy trì ở mức có
thể quản lý được, lãi suất thực dương và tránh để đồng nội tệ bị đánh giá cao.
Ngay sau khi thực hiện đổi mới, nước ta đã vấp phải một thách thức lớn: Nền kinh tế bị mất ổn định nghiêm
trọng. Giá cả hàng hoá và dịch vụ bắt đầu tăng với mức độ ngày càng cao và có tính dây chuyền. Giai đoạn
1986-1988 là những năm siêu lạm phát. Năm 1989, Việt Nam đưa ra chương trình ổn định và thực hiện cải
cách cơ cấu với nội dung chủ yếu là tự do hoá giá cả, nới lỏng thương mại với các nước, thắt chặt chính
sách tài chính, áp dụng chính sách lãi suất thực dương và phá giá tiền tệ. Những biện pháp này đã có tác
dụng tức thời trong việc kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, lạm phát cao đã quay trở lại trong hai năm
1990-1991 do thâm hụt ngân sách còn lớn và được tài trợ chủ yếu bằng việc phát hành tiền. Từ năm 1992, Chính
phủ Việt Nam đã thực hiện các chính sách tài khố và tiền tệ thận trọng: Thâm hụt ngân sách giảm dần
xuống mức thấp và đặc biệt là thâm hụt ngân sách hồn tồn khơng được tài trợ bằng phát hành tiền; chính
sách lãi suất thực dương liên tục được duy trì. Những giải pháp này có tác động tích cực trong cuộc đấu
tranh chống lạm phát và Việt Nam đã thực sự thành công trong việc kiềm chế và duy trì lạm phát ở mức
thấp. Từ năm 1999, trước đà tăng trưởng kinh tế chậm lại, chủ trương kích cầu của Đảng và Nhà nước ta
đã có tác động tích cực trong việc phục hồi tăng trưởng kinh tế. Năm 2004, lạm phát lại đột ngột dâng cao
cũng địi hỏi Nhà nước cần có giải pháp thích hợp, vừa góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, vừa thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế dài hạn.
*
**
vừa là điều kiện, vừa là kết quả của tăng trưởng bền vững. Thực tế về tăng trưởng chậm đi liền với bất bình
đẳng xã hội ngày càng cao ở châu Mỹ Latinh là một ví dụ rõ nét phản ánh tính thiếu bền vững trong phát
triển, với nhiều căng thẳng và nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến sự suy giảm hiệu quả và ổn định vĩ mơ trong dài
<b>Thuở nhỏ, trước năm 1945, thỉnh thỏang tơi theo bố mẹ đi xem hội, vào một số đình</b>
<b>chùa. Tôi gặp từng đám người nghèo khổ phải đi ăn mày, ăn xin khách thập phương</b>
<b>đến lễ hội. Người thì mù lồ, người thì tàng tật, khố rách áo ơm, tay xách con, tay</b>
<b>lạy van: “Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại, cứu vớt chúng con. Con cá nó sống vì nước,</b>
<b>con sống vì ơng, vì bà...”. Cứ thế mà kêu xin. Câu “Con cá nó sống vì nước, con sống</b>
<b>vì ơng, vì bà”, cứ hằn sâu trong đầu tơi cho đến ngày sang làm Chủ tịch Phịng</b>
<b>Thương mại trong một thế đứng khơng cịn “tất đất cắm dùi”, nói theo nghĩa bóng</b>
<b>về hồn cảnh tơi lúc đó.</b>
<b>Khi về Bộ Ngoại thương, nhập vào Bộ kinh tế đối ngoại, chẳng được bao lâu, lại</b>
<b>nhập tiếp. Tôi sang làm Viện trương Viện Quản lý kinh tế Trung ương, đồng chí</b>
<b>Cao Văn, quyền Chủ tịch UBND Thành phố Hải Phòng và một số anh chị em đồng</b>
<b>chí thân thiết đến chơi, và nói: “Đến Vụ, Viện là đến ngõ cụt rồi...”. Đó cũng là câu</b>
<b>cửa miệng của mọi người: “Xuống đến chức Vụ, Viện là về vườn”. Tưởng đó là câu</b>
<b>chuyện chia sẻ tấm lòng cho người cùng đường, để khuây khoả nỗi lịng người tri</b>
<b>kỷ, nhưng hóa ra thật. Tơi làm Viện trưởng Quản lý kinh tế Trung ương đang say</b>
<b>sưa với công việc, sắp xếp bộ máy đi vào làm ăn, chuẩn bị dự án xây dựng một Viện</b>
<b>quản lý kinh tế quốc gia, cả về qui mô xây dựng và nội dung nghiên cứu, nhưng chỉ</b>
<b>được 19 tháng 20 ngày thì có quyết định sát nhập vào Bộ Kế hoạch đầu tư. Từ một</b>
<b>Viện ngang Bộ, trực thuộc Chính phủ, nay xếp ngang một Tổng cục trực thuộc Bộ,</b>
<b>địa phương lên đến trung ương. Nhớ lại những cuộc tiễn đưa, khi tôi từ Giám đốc</b>
<b>Sở Thương nghiệp Hải Phịng lên làm Phó chủ tịch UBND thành phố, anh em tiễn</b>
<b>tôi cùng nước mắt lưng trịng. Khi tơi rời ghế Bộ trưởng Bộ kinh tế đối ngoại, cán</b>
<b>bộ công nhân viên đứng trên gác, dưới nhà, vẫy tay chào tôi rưng rưng nước mắt...</b>
<b>Không hiểu họ nghĩ điều gì khi Bộ trưởng phải ra đi mà họ khóc?</b>
<b>Sau mấy ngày tơi được đồng chí Nguyễn Đức Tâm rồi đồng chí Võ Văn Kiệt mời lên</b>
<b>giao nhiệm vụ mới - Chủ tịch Phòng Thương mại và Cơng nghiệp Việt Nam (VCCI).</b>
<b>Khi gặp đồng chí Nguyễn Đức Tâm, tơi đề nghị đưa đồng chí Tạ Cả, Thứ trưởng</b>
<b>Thường trực sang làm Chủ tịch VCCI. Anh Tâm nói: “Phịng tách ra khỏi Bộ</b>
<b>Thương mại, trực thuộc Trung ương. Là một tổ chức mới, có quan hệ quốc tế rộng</b>
<b>lớn, anh nên nhận cho...”</b>
<b>Cũng như lần sang làm Viện trưởng, tơi đề nghị anh tìm cán bộ sở tại, nếu anh Tạ</b>
<b>Cả khơng làm được. Anh Tâm nói ngay: “Tại chỗ làm sao có người?”. Tơi đề nghị</b>
<b>anh xem các đồng chí các ngành trung ương có ai thích hợp thì điều về, nếu khơng</b>
<b>có ai, đề nghị anh cho tơi suy nghĩ ít ngày và xem anh em ở Phịng họ có ưng tơi về</b>
<b>đó khơng...</b>
<b>Mấy hơm sau anh Võ Văn Kiệt lại nhắc tôi về sớm để chuẩn bị Đại hội lần thứ II,</b>
<b>tách Phòng ra khỏi Bộ Thương mại. Các đồng chí Đồn Ngọc Bơng, Phạm Chi Lan,</b>
<b>Tổng Thư ký và Phó Tổng thư ký, chủ động đến nhà tôi báo cáo và xin ý kiến về tổ</b>
<b>chức Đại hội.</b>
<b>Tôi vốn là Bộ trưởng Bộ Ngoại thương, đối với anh chị em Phòng Thương mại tơi</b>
<b>đều quen biết, chỉ hiềm một nỗi mình xuống cấp lại chèn ép anh chị em, họ khơng có</b>
<b>điều kiện thăng tiến, về lâm lý mà nói, chắc anh chị em cũng có suy nghĩ. Nên tơi rất</b>
<b>do dự. Có đồng chí nghĩ tơi cho “Phịng” là bé nhỏ, thực sự nó chỉ là cấp Vụ. Cán bộ</b>
<b>Tơi thì nghĩ khác. Dù to hay bé tôi không quan tâm, miễn là nơi đó khơng ai thích</b>
<b>và khơng muốn làm, khơng có tranh chấp quyền lực. Càng khó tơi càng thích làm,</b>
<b>để thử nghiệm khả năng của mình.</b>
<b>vì nước, Chủ tịch sống vì doanh nghiệp”. Có doanh nghiệp thì Chủ tịch VCCI mới</b>
<b>có chỗ sống. Chủ tịch VCCI sống, thì phải làm vì doanh nghiệp.</b>
<b>Tổ chức Đại hội lần thứ II xong, tôi được bầu làm chủ tịch VCCI. Khi đến nhận</b>
<b>nhiệm vụ tại 33 Bà Triệu, với cái nhà cổ kính, là một trong bốn ngơi nhà cổ kính</b>
<b>nhất Hà Nội được bảo tồn. Có 600 m2<sub> nhà sử dụng cho 3 cơ quan của Bộ ở chung.</sub></b>
<b>Sau VCCI đền bù cho hai cơ quan khác chuyển đi, chỉ còn một cơ quan ở lại là</b>
<b>VCCI. Nhưng cũng quá chật, Chủ tịch VCCI chỉ làm việc trong một phịng 10 m2<sub>,</sub></b>
<b>gần bên hố xí tập thể. Nhà văn Trần Bạch Đằng đến chơi bảo: “Chủ tịch VCCI chỗ</b>
<b>làm việc như thế này không chấp nhận được”. Tôi trả lời: “Anh Tư ạ, anh là nhà</b>
<b>nho, tôi cũng là nhà nho, anh nhớ Khổng Tử đã nói: Quân tử cố cùng...”. Anh Trần</b>
<b>Bạch Đằng nói ngay: “Tiểu nhân cùng tư lạm hĩ”. Cả hai chúng tôi cùng cười. Tơi</b>
<b>nói: “Anh Tư nhớ nhé! Khi tơi có phịng làm rộng và sang, anh đừng chê tôi nhé!”,</b>
<b>anh Trần Bạch Đặng gật gật: “Khơng chê mà cịn khen nữa”.</b>
<b>Phịng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trực thuộc lãnh đạo của Trung ương</b>
<b>Đảng và Chính phủ. Danh nghĩa bên ngồi là Tổ chức phi chính phủ (NGO), nhưng</b>
<b>đặc biệt là VCCI tự lo liệu về ngân sách, không ăn lương của ngân sách Nhà nước,</b>
<b>do đó đối với bên ngồi họ mới cho mình đúng là Tổ chức NGO của Việt Nam. Khi</b>
<b>tôi nhận quyết định về công tác ở VCCI, tơi đã hình dung 3 việc lớn phải làm:</b>
<b>1/ Xây dựng cơ chế cho Phòng mà điều quan </b>
<b>trọng nhất là xây dựng Điều lệ của Phịng, thơng qua Đại hội và được Thủ tướng</b>
<b>Chính phủ phê duyệt. Đồng thời xây dựng bộ máy phù hợp với qui mô, chức năng,</b>
<b>nhiệm vụ của Phòng đúng với điều lệ được duyệt.</b>
<b>2/ Xây dựng cơ sở vật chất cho Phịng, đó là cơ sở cho chủ nghĩa xã hội được thực</b>
<b>hiện ở Phòng, đồng thời bảo đảm ngân sách của Phòng được ổn định, từng bước đi</b>
<b>lên một cách vững bền.</b>
<b>3/ Phải xác lập cho được vai trò của doanh nghiệp trong xã hội, là lực lượng nòng</b>
<b>cốt trong việc xây dựng nền kinh tế đất nước, bảo đảm cho mục tiêu phát triển kinh</b>
<b>tế, xã hội của Đảng được vững chắc.</b>
<b>mại Pháp cách đây khoảng 200 năm, Phòng Thương mại quản lý nhiều trường đại</b>
<b>học kinh tế thương mại nổi tiếng, kinh doanh cả hàng không và nhiều lĩnh vực khác.</b>
<b>Cịn kết nạp hội viên, nơi thì tự nguyện, nơi thì bắt buộc. Như ở Pháp, sau khi được</b>
<b>cấp giấy phép kinh doanh, doanh nghiệp phải đến phòng thương mại sở tại xin làm</b>
<b>hội viên, do sắc lệnh về phòng thương mại qui </b>
<b>định.</b>
<b>Xác lập vai trò doanh nghiệp, doanh nhân trong xã hội</b>
<b>Từ những tình hình trên, với cương vị Chủ tịch VCCI, tôi từng bước đưa vấn đề</b>
<b>này ra bàn bạc trong lãnh đạo VCCI, xác định rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của</b>
<b>VCCI là đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, bảo vệ quyền lợi cho họ,</b>
<b>kết hợp với các Bộ, ngành, địa phương, để tổ chức, xây dựng, đào tạo doanh</b>
<b>nghiệp... tiến tới phát triển doanh nghiệp lớn mạnh, làm lực lượng chủ yếu trong</b>
<b>phát triển kinh tế đất nước.</b>
<b>Để làm rõ vấn đề này tôi đã viết nhiều bài báo với nhiều nội dung khác nhau, nhưng</b>
<b>đều nhằm làm cho xã hội nhận thức, đánh giá đúng vai trị doanh nghiệp. Tơi đã có</b>
<b>các bài: “Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa”; “Làm thế nào để dân giàu, nước</b>
<b>mạnh...” đăng trên báo Nhân dân, báo Diễn đàn doanh nghiệp và nhiều tờ báo khác.</b>
<b>Để có sự xoay chuyển mạnh về tư duy, nhận thức xã hội đối với doanh nghiệp, tôi đã</b>
<b>đề nghị với Thủ tướng Võ Văn Kiệt có cuộc gặp gỡ thân mật, đối thoại với doanh</b>
<b>nghiệp.</b>
<b>Được Thủ tướng đồng ý, ngày 8-2-1995, lần đầu tiên giới doanh nghiệp được gặp</b>
<b>mặt thân mật, trao đổi ý kiến thẳng thắn, dân chủ với Thủ tướng. Các doanh nghiệp</b>
<b>rất phấn khởi. Thủ tướng cũng nắm được tâm tư nguyện vọng của doanh nghiệp, đã</b>
<b>giải quyết kịp thời một số mắc mớ lớn với doanh nghiệp, làm cho khơng khí hồ hởi</b>
<b>cởi mở giữa doanh nghiệp với Thủ tướng, với các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ</b>
<b>quan có quan hệ sống cịn đến sự phát triển kinh tế đất nước, đến quyền lợi của</b>
<b>công nhân, giám đốc xí nghiệp, cơng ty.</b>
<b>vào chương trình soạn thảo luật doanh nghiệp. Hội đồng cố vấn của Phịng cùng</b>
<b>tham gia tích cực như ơng Vũ Quốc Tuấn, ông Nguyễn Văn Trọng, ông Lê Văn</b>
<b>Châu, ông Năm Nghị, bà Nguyễn Thị Hiền v.v... đã tham gia tích cực vào việc soạn</b>
<b>thảo luật doanh nghiệp. Cịn tơi đã có một số buổi đến báo cáo với Ban Thường vụ</b>
<b>Quốc hội và các Uỷ ban của Quốc hội về vấn đề doanh nghiệp, tham gia vào Tiểu</b>
<b>ban chuẩn bị Nghị quyết Trung ương lần thứ 5 khóa 9 về phát triển kinh tế tư nhân,</b>
<b>v.v...</b>
<b>Khi trong Đảng, cũng như ngoài nhân dân đã thấy rõ tầm quan trọng của doanh</b>
<b>nghiệp, Quốc hội đã thảo luận và thông qua luật doanh nghiệp với số phiếu ưng</b>
<b>thuận rất cao, đánh dấu một bước ngoặt về phát triển doanh nghiệp, phát triển kinh</b>
<b>tế của nước ta, góp phần rất quan trọng vào những năm khủng hoảng kinh tế khu</b>
<b>vực Đông Á và Nam Á, giữ được tốc độ tăng trưởng trên dưới 7%. Trong khi các</b>
<b>Kể từ năm 2000 số lượng doanh nghiệp mới đăng ký liên tục tăng nhanh với tốc độ</b>
<b>chưa từng thấy. Cho đến tháng 9-2003 đã có 72.601 doanh nghiệp mới đăng ký</b>
<b>(trong 9 năm 1991 - 1999 có 45.000 doanh nghiệp đăng ký), đưa tổng số doanh</b>
<b>nghiệp đăng ký của khu vực tư nhân ở nước ta lên khoảng 120 ngàn doanh nghiệp.</b>
<b>Số doanh nghiệp đăng ký trung bình hàng năm hiện nay bằng 3,75 lần so với trung</b>
<b>bình hàng năm của thời kỳ 1991 -1999. Số doanh nghiệp mới đăng ký trong 4 năm</b>
<b>(2000- 2003) ước cao gấp 2 lần so với 9 năm trước đây (1991 - 1999).</b>
<b>Trường cán bộ quản lý doanh nghiệp của VCCI mới thành lập được 5 năm </b>
<b>(1999-2004) đã:</b>
<b>- Đào tạo tin học cho 5.150 học viên</b>
<b>- Đào tạo ngoại ngữ cho 2.783 học viên</b>
<b>- Đào tạo kinh tế quản trị 6.782 học viên</b>
<b>- Hợp tác đào tạo cho 1.581 học viên (từ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ).</b>
<b>Hàng năm VCCI còn phối hợp với các ngành, các cấp, các trường... mở các lớp dài</b>
<b>hạn, ngắn hạn, hoặc gửi ra nước ngoài đào tạo. Mỗi năm hàng chục ngàn doanh</b>
<b>nhân được đào tạo theo phương pháp này.</b>
<b>Các hoạt động trên của Phịng có ý nghĩa là những bước chuẩn bị quan trọng về</b>
<b>nhận thức và tâm lý xã hội cho sự ra đời và đi vào thực tiễn của Luật doanh nghiệp.</b>
<b>Để góp phần vào nhận thức kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong khi chờ đợi</b>
<b>những tác phẩm lớn của các nhà lý luận và thực tiễn, tôi viết 4 tiểu luận để giúp các</b>
<b>nhà doanh nghiệp và những ai quan tâm đến sự phát triển kinh tế của đất nước</b>
<b>trong giai đoạn khó khăn phức tạp này, để họ nghiên cứu tham khảo, giúp cho</b>
<b>người quản lý và người thực hiện cùng nhau góp sức vạch ra con đường tiến lên</b>
<b>- Những nguyên tắc vận hành cơ chế thị trường ở Việt Nam.</b>
<b>- Làm thế nào để thực hiện được mục liêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng,</b>
<b>dân chủ văn minh.</b>
<b>- Vai trò then chốt của doanh nghiệp Nhà nước.</b>
<b>- Đảng lãnh đạo kinh tế, đảng viên làm kinh tế trong nền kinh tế thị trường định</b>
<b>hướng xã hội chủ nghĩa.</b>
<b>Bốn tác phẩm trên đã được nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản hàng vạn</b>
<b>cuốn, để các doanh nghiệp, doanh nhân, các nhà nghiên cứu và độc giả ưa thích tìm</b>
<b>đọc.</b>
<b>Để làm rõ vai trị vị trí xã hội của doanh nghiệp, VCCI đã tổ chức nhiều cuộc hội</b>
<b>thảo về chủ đề này ở Trung ương và các địa phương, tổ chức gặp gỡ đối thoại với</b>
<b>các ngành liên quan như: cơng an, tài chính, ngân hàng, hải quan, thuế vụ v.v...</b>
<b>Những cuộc gặp gỡ, hội thảo, đối thoại trên đã giúp cho Doanh nghiệp thấy được</b>
<b>những khuyết điểm tồn tại của mình. Đồng thời làm rõ được vai trò cực kỳ quan</b>
<b>trọng của doanh nghiệp đối với sự phát triển kinh tế, phát triển xã hội, thấy rõ</b>
<b>doanh nghiệp, doanh nhân là con đẻ của xã hội, mọi người có trách nhiệm bảo vệ,</b>
<b>giúp đỡ nó, cùng với doanh nghiệp, doanh nhân và tồn xã hội là một mặt trận tiến</b>
<b>cơng xóa đói giảm nghèo, xây dựng đất nước giàu về vật chất, giàu về tinh thần, về</b>
<b>văn hóa. Như vậy hiện nay đã giảm bỏ rất nhiều rào cản gây khó khăn cho doanh</b>
<b>nghiệp.</b>
<b>Để kinh doanh, buôn bán, sản xuất văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa,</b>
<b>không thể chỉ dựa vào kiến thức học tập của doanh nhân, công nhân viên chức tại</b>
<b>trường, mà cần bổ sung những kiến thức, văn hóa bắt nguồn từ cội rễ dân tộc, kết</b>
<b>hợp với văn hóa, văn minh thời đại. VCCI đã thành lập Trung tâm văn hóa doanh</b>
<b>nhân để bổ sung cho mặt cịn hẫng hụt của doanh nghiệp, doanh nhân.</b>
<b>Như sách kinh điển cách đây 5.000 năm, kinh thi đã nói: “Văn chất bân bần, nhiên</b>
<b>hậu quân tử” (văn hóa và vật chất đầy đủ sẽ có người tử tê). Nếu chỉ có vật chất thơi</b>
<b>thì con người mới thực có một nửa của mình. Đó là phần “con”. Cịn phần “người”</b>
<b>tức là ý thức, tư tưởng chỉ đạo cho phần “con” hành động, phần “người” phải được</b>
<b>học tập, trao dồi những ý tưởng cao đẹp mà tổ tiên đã chắt lọc hàng bao thế kỷ mới</b>
<b>có được, cộng với những nền văn hóa các nước, được hội tụ qua lựa chọn nghiêm</b>
<b>túc, từ bên ngồi bổ sung cho nền văn hóa Việt Nam luôn luôn phong phú và hiện</b>
<b>đại, làm cho “con người” hoàn chỉnh cả về vật chất và tinh thần, để người Việt Nam</b>
<b>làm gì, ở đâu cũng khơng bị lạc hậu với thế giới. Con người Việt Nam luôn ln thể</b>
<b>hiện đạo đức, lương tri của lồi người ở tầm cao.</b>
<b>Luật doanh nghiệp đã xác định vai trò vị trí của doanh nghiệp và doanh nhân. Tầng</b>
<b>lớp doanh nhân có vị trí xứng đáng, góp phần cực kỳ quan trọng vào việc xây dựng</b>
<b>đất nước. Tôi đã nhiều lần viết thành văn bản gửi lên Trung ương Đảng, Quốc hội,</b>
<b>Chính phủ, đưa doanh nhân vào trong 4 giai tầng chủ yếu trong xã hội là: “Cơng,</b>
<b>nơng, trí, doanh nhân”, vấn đề này đang được bàn bạc nghiêm túc trong Trung</b>
<b>ương Đảng và các ngành, các cấp với những tin tức đáng mừng: thuận nhiều hơn</b>
<b>nghịch...</b>
<b>để gắn Luật doanh nghiệp với doanh nhân, tiếp tục phát hiện những điều cần bổ</b>
<b>sung và khắc phục </b>
<b>khi thực hiện Luật doanh nghiệp.</b>
<b>Xây dựng cơ sở vật chất cho VCCI thực hiện xây dựng CNXH tại chỗ</b>
<b>Từ thủa thiếu thời, khi tham gia cách mạng, công tác 5 năm ở quê tôi Hải Dương,</b>
<b>Kim Thành, 36 năm công tác ở Hải Phịng, rồi lên Trung ương, tơi ln ln nghĩ</b>
<b>nước Việt Nam ta nghèo quá. Được giác ngộ cách mạng, làm việc và hiểu dần, tơi</b>
<b>càng thấy thấm thía về ý chí tự lực lự cường của Bác Hồ. Tơi tự liên hệ với bản thân,</b>
<b>đã luôn tự làm để sống, không ỷ lại. Sau này được đào tạo, học tập qua sách vở, và</b>
<b>đi tham quan học hỏi ở bên ngồi, tơi thấy ở Việt Nam thiếu một vế “hành”, nặng về</b>
<b>học văn tự đơn thuần, khi bước vào thực tế đời sống dễ bị động, dựa dẫm, theo lối</b>
<b>cơng chức. Ngay trong gia đình tơi, từ cụ Đốc Khảm, cụ Khóa Thản, đến bố tơi cũng</b>
<b>vậy, đều theo học thuyết Nho giáo. Những gì cụ Tán Thuật, cụ Cử Đức để lại như:</b>
<b>học để hiểu để dạy học và làm thuốc, cứu dân độ thế là rất hay, nhưng khâu phát</b>
<b>triển xã hội bằng kinh tế, các cụ hình như khơng nhắc tới, coi như: “Trời sinh voi,</b>
<b>trời sinh cỏ”, hoặc “Đời cua, cua máy; đời cáy, cáy đào”. Các cụ ít chú ý đến “Tốn,</b>
<b>lý, hóa”, chỉ tập trung vào văn chương. Khi Pháp sang chiếm đóng nước ta; con em,</b>
<b>những tầng lớp khá giả cũng chỉ học và thi vào các trường luật để ra làm quan,</b>
<b>trường y để làm bác sĩ chữa bệnh, hoặc sư phạm, văn chương, lịch sử để đi dạy học.</b>
<b>Còn các ngành nơng nghiệp, cơng nghệ thực hành, ít ai nhập học. Những ngành</b>
<b>quan trọng: cơ khí chế tạo, giao thơng vận tải, hóa, vật lý... thì “mẫu quốc” (đế quốc</b>
<b>Pháp) giữ kín, chỉ mở trường ở chính quốc. Chỉ một số người có ý chí, có tiền, thơng</b>
<b>minh, mới bén mảng sang chính quốc để thụ giáo. Nên tơi suy nghĩ rất nhiều, và nay</b>
<b>vẫn tiếp tục suy nghĩ. Chúng ta giáo dục còn hạn hẹp, giáo điều, nghèo, lại không</b>
<b>quan tâm dạy lý thuyết phát triển và thực hành trong các trường lớp.</b>
<b>Tư tưởng tiến công đã yếu, lý thuyết phát triển, lý luận cơ bản phần nhiều chỉ học</b>
<b>“chay”. Bởi vậy cán bộ ta người khá về lý luận thì tổ chức thực hiện kém, người khá</b>
<b>tổ chức thực hiện lại khơng hiểu lý luận. Có thể nói việc tổ chức thực hiện rất “Tù</b>
<b>mù”, không theo một tư duy hệ thống nhất định, nên kết quả hạn hẹp, lãng phí</b>
<b>nhiều. Khi bng lỏng quản lý thì tham nhũng tràn lan.</b>
<b>cánh sinh, xây dựng CNXH tại chỗ. Cịn “Tiền đâu” ln là thành ngữ “ở đầu mà</b>
<b>ra”.</b>
<b>Tôi bắt đầu nâng cấp nhà 33 Bà Triệu, một ngơi nhà cổ kính và chật hẹp, giống như</b>
<b>con “bọ hung”, trông rất buồn cười. Thế mà khi xin phép cải tạo nâng cấp lên cho</b>
<b>đẹp, đích thân tơi phải đến thuyết trình việc này với một Hội đồng của Viện qui</b>
<b>hoạch thành phố Hà Nội. Tơi nói: “Tơi chỉ làm cho ngôi nhà đẹp thêm và làm đẹp</b>
<b>cho thành phố. Các đồng chí xem bản vẽ thì rõ”. Tơi được thơng qua nhanh chóng</b>
<b>khơng q 90 phút. Về đến cơ quan lại gặp mấy bà người Úc, cơ quan bảo tồn di</b>
<b>tích đến chất vấn: “Các ơng vì ghét Pháp nên muốn xóa bỏ những di tích của Pháp</b>
<b>để lại phải khơng?”.</b>
<b>Tơi trả lời: “Các bà nói đơn giản quá, Việt </b>
<b>Nam là nước có truyền thống văn hóa, biết bảo tồn những cái gì là di sản q giá của</b>
<b>dân tộc mình và của thế giới. Hai bà cứ đợi xem. Khi nhà chúng tôi cải tạo nâng cấp</b>
<b>xong nó sẽ đẹp hơn bây giờ nhiều. Và những cái gì là vẻ đẹp cũ vẫn được giữ</b>
<b>nguyên”. Khi nâng cấp xong, tạp chí kiến trúc của Australia đã đăng một bài và ảnh</b>
<b>cái nhà mới cải tạo nâng cấp, với những lời khen: “Chưa thấy một ngôi nhà cải tạo</b>
<b>nâng cấp lại giữ được dáng cũ và tăng vẻ đẹp như vậy”.</b>
<b>Còn tiền, lấy đâu được 3,6 tỷ để cải tạo nâng cấp ngôi nhà từ 600 m2<sub> sử dụng lên</sub></b>
<b>2.200 m2<sub>, với một đơn nguyên mới, xây áp vào phía sau nhà, làm mất hẳn dáng con</sub></b>
<b>“Bọ hung”, thành một ngôi nhà 4 tầng, tuy nhỏ nhưng vẫn có vẻ bề thế hiên ngang</b>
<b>đứng giữa ngã tư Lý Thường Kiệt và Bà Triệu. Các khách nước ngồi, nhất là Pháp</b>
<b>và Mỹ rất khen, ngơi nhà cổ và đẹp. Ơng Đơ-na-hu, Chủ tịch Phịng Thương mại</b>
<b>Mỹ, có trụ sở rất lớn, đối diện với Nhà trắng, khi ở 33 Bà Triệu ra về, cịn đứng</b>
<b>ngắm nhìn ngơi nhà này khá lâu. Cả hai ông bà đều khen ngơi nhà kiến trúc hài</b>
<b>Lúc đó là năm 1997. Tơi nói lần sau ông bà sang thăm Việt Nam tôi sẽ tiếp ông bà ở</b>
<b>trụ sở mới, to đẹp hơn ngôi nhà này nhiều. Ơng Đơ-na-hu vội hỏi sao lại dời đi. Tơi</b>
<b>trả lời ở đây quá chật hẹp với một Phòng Thương mại quốc gia, không đủ chỗ làm</b>
<b>việc và điều kiện để trang bị phương tiện mới cho cán bộ công nhân viên sử dụng.</b>
<b>Ơng Đơ-na-hu nói ngay: “Khi ơng chuyển đến địa điểm mới, tôi sẽ sang thăm Việt</b>
<b>Nam lần nữa”. Nhưng đến nay ông bà Đô-na-hu chưa sang thăm Việt Nam lần thứ</b>
<b>hai.</b>
<b>đến VCCI xem nơi tiếp đón đồn. Xem xong ơng Đại sứ bảo: “Nơi này khơng đủ</b>
<b>tiêu chuẩn để tiếp đồn Kedenrein Nhật Bản”. Tôi cũng thấy quá chật hẹp, điều</b>
<b>kiện vệ sinh cũng kém, nên đành chuyển chỗ khác, bằng cách thuê phòng khách nhà</b>
<b>Khách Chính phủ, số 12 phố Ngơ Quyền để tiếp đồn Kedenrein Nhật Bản do ơng</b>
<b>Toyoda dẫn đầu. Năm 2001, đồn Kedenrein lại sang thăm Việt Nam do ơng I-mai,</b>
<b>Chủ tịch làm Trưởng đồn và ơng Nacarawa, Tổng thư ký. Họ tới thăm VCCI. Tơi</b>
<b>tiếp đồn ở số 9 Đào Duy Anh. Khi ra về, ơng Nacarawa nói với tôi trụ sở của VCCI</b>
<b>to và đẹp hơn trụ sở của Kedenrein ở Gotenba, dưới chân núi Phú Sĩ, (nơi tơi đã đến</b>
<b>thăm 2 lần). Tơi cảm ơn và nói: “Trụ sở ở Gotenba vẫn đẹp và cổ kính hơn”. Số tiền</b>
<b>có được 3,6 tỷ để nâng cấp ngơi nhà 33 Bà Triệu là do qui tụ được mọi nguồn tiền</b>
<b>hiện có ở Hà Nội, các chi nhánh, nhất là chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh và một</b>
<b>số cơng ty đóng góp. Trước đây do quản lý tài chính chưa có qui chế, mỗi nơi một</b>
<b>cách, đơn vị nào thu nhập được nhiều thì sau lương, lại tiếp tục phân phối hàng</b>
<b>tháng, hàng q, có nơi hàng tuần cho anh em cán bộ cơng nhân. Nơi thì theo thâm</b>
<b>niên, nơi thì theo tổ, nhóm, đơn vị nhỏ thu nhập được thêm cũng chia cho các thành</b>
<b>viên.</b>
<b>ưu). Hàng trăm con người, rồi sẽ lên đến ngàn người, mà quản lý tài chính thế này,</b>
<b>tất có ngày nhịn đói. Từ đó việc quản lý mới đi đúng qui chế đề ra.</b>
<b>Số tiền hàng năm do các nguồn thu được, chi lương, giải quyết phúc lợi, khen</b>
<b>thưởng, hàng năm đều tăng. Nhưng điều quan trọng là phải tích lũy xây dựng cơ sở</b>
<b>vật chất.</b>
<b>Sau khi hoàn thành nâng cấp trụ sở 33 Bà Triệu, Phòng tiếp tục xây dựng nhà 9</b>
<b>tầng mới ở số 79 Bà Triệu; Liên doanh với tỉnh Cao Bằng xây nhà Sao Bắc, số 4 Dã</b>
<b>Tượng, Hà Nội.</b>
<b>Trong lúc đó Phịng chuẩn bị xây trụ sở mới ở số 9 Đào Duy Anh. Xây trụ sở mới</b>
<b>phải chuẩn bị hàng chục tỷ, mới có thể khởi cơng một ngơi nhà có 10.000 m2<sub> sử</sub></b>
<b>dụng. Đất đai đã có, cịn vốn xây dựng phải huy động tồn lực của Phịng, từ các chi</b>
<b>nhánh, các cơng ty, nhất là những cơng ty có thu nhập khá như cơng ty Sở hữu trí</b>
<b>tuệ và chuyển giao cơng nghệ (đồng chí Ngãi) v.v... Mặt khác, Phịng giao cho đồng</b>
<b>chí Phan Đức Thiện và Vũ Tiến Lộc bàn bạc với Cơng ty Toyota, hợp tác xây dựng</b>
<b>bằng góp vốn xây nhà để thuê trong 10 năm, trả tiền trước sáu năm, bằng 1,7 triệu</b>
<b>$US. Tôi vay của một công ty Nhật Bản được 180.000 USD với không lãi suất, vốn</b>
<b>bao giờ trả cũng được. Nếu khó khăn thì cơng ty đó ủng hộ. Với số đơ la và số tiền</b>
<b>Việt Nam có được. Lãnh đạo Phịng quyết định khởi công xây trụ sở mới, số 9 Đào</b>
<b>Duy Anh. Tiến hành khởi công tháng 3-1998. Hàng ngày, trừ những ngày đi công</b>
<b>tác xa, tối nào tôi cũng đến hiện trường bàn bạc với bên B do đồng chí Hưng, Tổng</b>
<b>Giám đốc Công ty VIC (Liên doanh Việt Nam - Cu Ba) và đồng chí Tồn, Phó Tổng</b>
<b>giám đốc phụ trách. Hai đồng chí Hưng và Tồn giỏi về nghề nghiệp, nhiệt tình, có</b>
<b>tấm lịng với VCCI. Cịn tơi và đồng chí Phạm Gia Túc đại diện bên A cùng các</b>
<b>đồng chí bàn bạc giải quyết những ách tắc, bảo đảm giao nhà cho Toyota thuê vào</b>
<b>16 tháng 8 năm 1998, (vì mỗi tháng chậm là mất 30.000 $US và cịn phải bị phạt</b>
<b>nữa). Ngơi nhà cao 8 tầng, diện tích sử dụng là 10.000 m2<sub>. Thời gian thi công chưa</sub></b>
<b>khiêm tốn, nhưng đến trụ sở ở Phi-lip-pin tơi mới thấy nó bé thật. Tơi cũng cảm</b>
<b>thấy vui vui về thành quả do mình và tập thể làm nên.</b>
<b>Nghĩ lại đất nước ta sau 17 năm đổi mới (kể từ Nghị quyết Đại hội 6 năm 1986), với</b>
<b>số vốn nước ngoài đầu tư khoảng 30 tỷ đơ-la Mỹ, cộng với đủ gạo ăn, có xuất khẩu,</b>
<b>dầu khí khai thác bán dầu thơ mua xăng dầu đủ sử dụng trong nước, và những giá</b>
<b>trị gia tăng do trong nước làm ra tích lũy được, trong 17 năm qua chúng ta đã làm</b>
<b>được nhiều việc, có bước tiến quan trọng, được nhân dân trong nước và thế giới</b>
<b>cơng nhận. Nhưng vẫn cịn là một nước nghèo. Tỉ lệ hộ nghèo còn cao, nhất là ở</b>
<b>những vùng sâu, vùng xa, nơng thơn... Nếu được kiểm tốn khách quan, tồn quốc,</b>
<b>thì số thất thóat, mất mát rất lớn...</b>
<b>Giả thiết rằng, mơ hình và cách tính tốn của tơi trình Hội nghị Bộ Chính trị đầu</b>
<b>tháng 2-1988, khơng bị phá bỏ, với cách làm của tơi ở Phịng Thương mại và Công</b>
<b>nghiệp từ 1993-2003, chắc sự phát triển kinh tế của đất nước sẽ có bước tiến xa hơn.</b>
<b>Ở phạm vi tồn quốc nó thuận lợi hơn gấp hàng 100 lần ở Phịng Thương mại và</b>
<b>Cơng nghiệp Việt Nam. Nhất là tệ tham nhũng, bệnh HIV-AIDS, tha hóa biến chất,</b>
<b>xây dựng khơng theo qui hoạch, rất lãng phí... chắc khơng trầm trọng như hiện nay.</b>
<b>Vì có bài bản, có lý luận, tiến hành từng bước theo một hệ thống, mô hình thống</b>
<b>nhất, từ trên xuống dưới, để chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế</b>
<b>thị trường định hướng XHCN. Mơ hình đó cụ thể từng bước đi, ai cũng có thể nhìn</b>
<b>thấy nắm bắt cơng việc mình làm, rất thiết thực. Rất tiếc nó bị phá sản, trong bối</b>
<b>cảnh 12/14 Uỷ viên Bộ Chính trị và Tổng Bí thư sơ bộ kết luận đồng ý và phát biểu</b>
<b>riêng đã đồng ý với đề án tơi trình bày. Đó có phải là “vận” nước, hay “vận” người,</b>
<b>thật tiếc lắm thay. Tác hại này lại chỉ do một Uỷ viên Bộ Chính trị to mồm, ăn nói</b>
<b>“hung hăng”, ln ln coi mình cái gì cũng biết tất cả, lấy nhiệt tình làm đầu</b>
<b>nhưng kiến thức hạn hẹp, với thành phần thợ thủ công (thợ sơn) nên luôn luôn cho</b>
<b>mình là giai cấp cơng nhân lãnh đạo cách mạng để nói, do đó nhiều người nể nang</b>
<b>và cũng nhiều người sợ, phải chiều ý vì cái tính “võ biền” như đồng chí Trường</b>
<b>Chinh nhận xét.</b>
<b>Xây dựng cơ chế và bộ máy tổ chức cán bộ</b>
<b>theo quán tính của 30 năm tồn tại. Tính năng động và đổi mới có hạn, chỉ muốn làm</b>
<b>theo cách cũ. Một số anh chị em nghĩ rằng tôi đã 64 tuổi sang làm Chủ tịch mấy</b>
<b>năm rồi về hưu, cũng không sốt sắng hợp tác làm việc, hoặc chỉ bàn “chùn”, khơng</b>
<b>muốn tìm thêm việc để làm. Đại hội chi bộ có 30 đảng viên, cũng phải th phịng</b>
<b>họp ở khách sạn Hịa Bình, trong một cái kho, có vài cái quạt trần cũ kỹ. Nhưng vẫn</b>
<b>thuê, vẫn họp bình thường. Hai lần đến họp ở đó, tơi thấy rất lạ!</b>
<b>Trước hết là, sau khi Điều lệ Phòng Thương mại được Đại hội lần thứ II thông qua</b>
<b>và được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn, dựa trên cơ sở của điều lệ, tôi cho xây</b>
<b>dựng các qui chế làm việc, quản lý cơ quan, quản lý tài chính... đưa xuống cho cán</b>
<b>bộ cơng nhân viên thảo luận góp ý kiến.</b>
<b>Tơi thành lập các ban nghiệp vụ, bỏ các phòng, thành lập Đảng bộ, đề nghị trực</b>
<b>thuộc Đảng uỷ Khối kinh tế Trung ương, được cấp trên chấp nhận. Khó khăn ban</b>
<b>đầu về tổ chức là thiếu cán bộ. Phải nâng cấp nhanh. Đồng chí Đồn Ngọc Bơng từ</b>
<b>Tổng Thư ký lên Phó Chủ tịch, đồng chí Phạm Chi Lan từ Phó Tống thư ký lên</b>
<b>Tổng Thư ký. Còn cấp phòng cũng được đưa lên cấp trưởng, phó ban. Có đồng chí</b>
<b>phải kiêm nhiệm, chủ yếu là đề bạt từ dưới lên. Còn xin ở các ngành Trung ương về</b>
<b>khoảng 10 đồng chí, bổ sung vào các nơi đang thiếu hụt. Bộ máy đi dần vào ổn định,</b>
<b>hàng năm phát triển dần lên theo khối lượng công việc gia tăng. Về thông tin tuyên</b>
<b>truyền, báo chí, từ một tờ tin, chuyển thành báo tuần, lấy tên là Diễn đàn Doanh</b>
<b>nghiệp từ tháng 10-1993, mỗi tuần ra 4 số. Tiếp đến là Tạp chí VIB Forum cũng ra 4</b>
<b>số/tuần. Thành lập Trường cán bộ quản lý doanh nghiệp, Thư viện, Trung tâm</b>
<b>nghiên cứu phần mềm về quản lý tài chính, thành lập thị trường điện tử, Trung tâm</b>
<b>hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMES), Văn phòng Giới chủ (người sử dụng lao</b>
<b>động) v.v...</b>
<b>Về Đảng và tổ chức quần chúng, luôn luôn phát triển phù hợp với công việc và biên</b>
<b>chế tăng. Đến nay Đảng bộ đã trên 200 đảng viên, dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ cơ</b>
<b>Các đoàn thể như thanh niên, phụ nữ, cơng đồn đều phát triển và làm nòng cốt</b>
<b>trong phong trào thi đua, văn hóa quần chúng, thể dục thể thao, cải thiện đời sống</b>
<b>cho mọi người. Chế độ lương, bảo hiểm xã hội ngày một hồn chỉnh. Lương bình</b>
<b>qn hiện nay là gần 2 triệu đồng/tháng. Bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho mọi</b>
<b>người. Nếu tính từ 1993 khi tách ra khỏi Bộ Thương mại, lương bình quân là</b>
<b>420.000 đồng, thì nay tăng gần 5 lần. Việc đi nghỉ hàng năm cũng bắt đầu cho nhiều</b>
<b>anh chị em đi du lịch nước ngoài như Thái Lan, Trung Quốc... Tính đồn kết trong</b>
<b>Đảng và quần chúng thì thơng qua các hoạt động sơi nổi trong cơng việc và sinh</b>
<b>hoạt văn hóa, thể thao thể dục, tạo điều kiện cho mọi người gặp gỡ, tiếp xúc, giao</b>
<b>lưu kiến thức, văn hóa:. được gần nhau, tạo khơng khí trong cơ quan lúc nào cũng</b>
<b>như ngày hội mà Lénine mong ước: cách mạng là ngày hội của quần chúng.</b>
<b>Trong điều kiện độc lập về ngân sách, không có tài trợ của ngân sách Nhà nước, nên</b>
<b>việc chi tiêu ln phải tiết kiệm, chi tiêu có mục đích, chi tiêu tạo ra giá trị gia tăng</b>
<b>được khuyến khích. Cịn chi tiêu, tiêu phí thì giảm tới mức thấp nhất.</b>
<b>Tơi có ý thức ln ln chuyển “lịng tham khơng đáy” cho công việc quốc gia,</b>
<b>nghĩa là công việc của Phịng, cịn cá nhân là “lịng tham phải có đáy” (nhân dục</b>
<b>hữu nhai). Tôi luôn suy nghĩ việc này sang việc khác, nhằm phát triển doanh nghiệp.</b>
<b>Nhiều anh chị em gặp tơi thường nói là: “ln ln bị giao cơng việc mới”, “Anh em</b>
<b>suy nghĩ không kịp Thủ trưởng”. Quả thật như vậy. Tơi có thói quen khơng bao giờ</b>
<b>làm theo đường mịn, rập khn, mà ln ln sáng tạo, nghĩ ra việc mới, hoặc học</b>
<b>tập kinh nghiệm có hiệu quả của bạn. Còn ngồi chơi xơi nước, tán chuyện tào lao, là</b>
<b>tơi rất sốt ruột, nhất là bới móc chuyện đời tư của người khác...</b>
<b>đứng dưới cờ của Đảng, dám hy sinh quyền lợi cá nhân cho quyền lợi dân tộc, kể cả</b>
<b>tính mạng của mình. Có làm được như vậy mới ln là Đảng bộ vững mạnh, trong</b>
<b>Những cuộc đi công tác nước ngoài và trong nước đáng ghi nhớ!</b>
<b>Thăm quê hương Lénine.</b>
<b>Từ ngày lên công tác ở Trung ương, nhất là thời kỳ làm Bộ trưởng Bộ Ngoại</b>
<b>thương, Bộ trưởng Bộ Kinh tế đối ngoại và Chủ tịch Phòng Thương mại và Công</b>
<b>nghiệp Việt Nam, tôi thỉnh thỏang đi nước ngồi cơng tác. Mỗi cuộc đi, tơi đều đặt</b>
<b>ra cho mình một mục tiêu nhất định. Đi ít nhưng được nhiều, giúp cho suy nghĩ vận</b>
<b>dụng, bổ sung vào kiến thức của mình.</b>
<b>Tháng 3-1987 tơi sang Liên Xơ lần thứ 2, họp khối SEV. Năm đó là năm rét nhất kể</b>
<b>từ sau Đại chiến thứ II. Tôi đến thành phố Léningrad (nay là Sant-Perterburg) rét</b>
<b>xuống âm 38 độ, âm 39 độ. Rét ơi là rét, mặc bao nhiêu quần áo cũng không đủ ấm.</b>
<b>Khi đến viếng đài liệt sĩ vô danh của thành phố, phải chạy, mặc niệm 1, 2 giây, đồng</b>
<b>chí hướng dẫn đã bảo phải vào xe ngay kẻo bị “cóng”. Các đồng chí Liên Xơ nói rét</b>
<b>năm nay bằng rét lúc qn phát xít Hít-le tấn cơng Léningrad, nên nhiều lính Đức</b>
<b>đã chết rét. Trong lúc Liên Xơ rét như vậy thì Việt Nam mùa đơng nóng như mùa</b>
<b>hạ, làm cho nhiều nơi mất mùa, vì chưa có giống lúa mới chịu nóng. Nạn đói năm</b>
<b>1987-1988 ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An trầm trọng, do mất vụ Đơng Xn vì khí</b>
<b>hậu nóng.</b>
<b>Cuối năm 1987, đồng chí Aristov thơi giữ chức Bộ trưởng Ngoại thương. Năm 1989</b>
<b>đồng chí được cử làm Đại sứ Liên Xô tại Phần Lan. Năm 1989 tôi sang thăm Phần</b>
<b>Lan, tơi đến thăm đồng chí Aristov, đồng chí Hồ Huấn Nghiêm, uỷ viên Uỷ ban Kế</b>
<b>hoạch cùng đi trong đoàn với tôi, giúp tôi phiên dịch tiếng Nga.</b>
<b>Tôi đến Đại sứ Liên Xô ở thủ đô Hensinky, hai vợ chồng đồng chí Aristov xuống đón</b>
<b>chúng tơi tại chân cầu thang máy, rất thân tình. Trong hơn 1 giờ đến thăm đồng chí</b>
<b>Thăm quê hương Khổng Tử</b>
<b>Năm 1996 tôi được đồng chí Lý Thụy Hồn, uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị, Chủ</b>
<b>tịch Hội nghị chính trị Hiệp thương Trung Quốc (Hiệp chính) mời sang Bắc Kinh</b>
<b>dự hội thảo: “Trung Quốc và châu Á với thế kỷ 21” do đồng chí Giang Trạch Dân,</b>
<b>Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Cộng hịa Nhân dân Trung hoa; đồng chí Lý Bằng, Thủ</b>
<b>tướng Quốc vụ viện; đồng chí Lý Thụy Hồn, Chủ tịch chính Hiệp hội chủ trì.</b>
<b>Cuộc hội thảo trong 4 ngày. Khách nước ngồi được mời có 19 người gồm các ơng</b>
<b>Lý Quang Diệu, nguyên Thủ tướng Singapore, cựu Thủ tướng Đức Smith, cựu Thủ</b>
<b>tướng Nhật Bản Nakasonê, Kissinger Mỹ, và một số vị khác. Cuộc hội thảo rất</b>
<b>phong phú, có nhiều dự đốn sắc sảo. Có đồn đi rất đơng, như đồn Mỹ tới 40</b>
<b>người. Đồn Việt Nam có 3 người. Sau khi đi dự Hội nghị về, tôi đã báo cáo với Bộ</b>
<b>Chính trị 32 vấn đề mà tơi rút ra từ cuộc hội thảo này.</b>
<b>Kết thúc hội thảo, Thủ tướng Lý Bằng hỏi tơi có đi tham quan địa phương nào để</b>
<b>đồng chí cho thu xếp. Tơi nói: “Tơi là đồ đệ của Khổng Tử, tôi muốn đi thăm quê</b>
<b>hương của Khổng Tử”. Đồng chí cho chuẩn bị ngay. Tơi đề nghị với đồng chí, tơi xin</b>
<b>phép được đi với một số doanh nghiệp Việt Nam và Trung Quốc, mong đồng chí</b>
<b>thơng cảm. Nhưng Thủ tướng Lý Bằng vẫn điện cho tỉnh Sơn Đơng đón tiếp tơi rất</b>
<b>trọng thị.</b>
<b>hàng đứng đón. Tơi nghĩ mình đi hội thảo như mọi lần, có ai đón đưa gì đâu, cứ đến</b>
<b>khách sạn, phát biểu xong là về. Tôi ghé tai hỏi đồng chí Đào Duy Chữ và Vũ Tiến</b>
<b>Lộc: “Bạn đón đồn nào mà sang thế?”. Đồng chí Chữ bảo: “Bạn đón anh đấy!”.</b>
<b>Tơi tưởng đồng chí nói đùa, hóa ra bạn đón tơi thật. Tơi vội sờ tay lên cổ, xem lại</b>
<b>cravate, và quần áo cho chỉnh lề..., các đồng chí tặng hoa, mời vào phịng khánh tiết</b>
<b>của khách sạn giải khát và bạn giới thiệu một vài nét ngắn gọn về cuộc hội thảo</b>
<b>quan trọng này. Tôi đã có bài gửi sang Trung Quốc trước 6 tháng, bạn đã cho dịch</b>
<b>sang tiếng Anh và Trung Quốc. Ngày mai vào hội thảo, tôi chỉ đọc bằng một trong</b>
<b>hai thứ tiếng trên, tùy tôi lựa chọn. Tiếng Anh tôi khá hơn, chắc đọc sẽ lưu lốt. Cịn</b>
<b>tiếng Trung tơi đọc và viết tốt, nhưng nói tiếng phổ thơng rất kém. Nhưng chẳng lẽ</b>
<b>đến Trung Quốc lại đọc tiếng Anh, tơi đành đọc tiếng Trung, dù phát âm khơng</b>
<b>chuẩn thì bạn cũng vui hơn là tôi đọc tiếng Anh. Đọc xong bài phát biểu, đồng chí</b>
<b>Chữ là người giỏi tiếng Trung, bảo tôi: “Riêng anh dũng cảm đọc tiếng Trung là</b>
<b>đáng 10 điểm rồi!”. Cả ba anh em cùng cười.</b>
<b>Tôi đi Tế Nam, thủ phủ tỉnh Sơn Đông, một tỉnh lớn miền Duyên Hải, với 87 triệu</b>
<b>dân, đông dân hơn nước ta, có nền cơng nghiệp phát triển, có bia Thanh Đảo nổi</b>
<b>tiếng, đặc biệt có huyện Khúc Phụ, quê hương Khổng Tử, có núi Thái Sơn, có biển</b>
<b>Bắc Hải. Khi sinh thời Khổng Tử thường dẫn đệ tử lên núi Thái Sơn vừa du ngoạn,</b>
<b>vừa giảng bài cho môn đồ hoặc đi thuyền trên biển... Thành phố Tế Nam cách thủ</b>
<b>đô Bắc Kinh 800 km. Chúng tôi đi bằng máy bay, sau đó đi ơtơ khoảng hơn 70 km</b>
<b>đến huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông thời Xuân Thu, cách đây hơn 2500 năm là hai</b>
<b>nước: “Tề và Lỗ”. Khổng Tử sinh ở nước Lỗ nhỏ, nước Tề lớn và mạnh hơn nước</b>
<b>Lỗ. Nhưng là có đạo, nên nước Tề cũng kiêng nể nước Lỗ.</b>
<b>Đồn chúng tơi đến Tế Nam được tỉnh Sơn Đơng đón tiếp chu đáo. Tối hơm đó đồng</b>
<b>chí Chủ tịch tỉnh Sơn Đơng chiêu đãi chúng tôi.</b>
<b>Hôm sau, chúng tôi đi thăm Khổng Miếu, Khổng Phủ và Khổng Lâm (Khổng miếu</b>
<b>là nơi thờ Đức Khổng Tử, Khổng phủ là gia đình Khổng Tử. Khổng lâm là khu</b>
<b>Khổng miếu xây cao gần bằng Cố cung, chỉ thấp hơn một viên gạch, gọi là: “Kính</b>
<b>Thiên Tử” xây thấp một chút bằng chiều dầy viên gạch.</b>
<b>Toàn huyện Khúc Phụ chỉ có nhà 2 tầng và bắt buộc khơng được xây cao hơn</b>
<b>Khổng miếu.</b>
<b>Nơi đây khách quốc tế đến tham quan, lúc nào cũng có hàng vạn khách du lịch ở</b>
<b>khắp huyện Khúc Phụ. Các nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ, nhà văn, nhà thơ, nhà</b>
<b>báo... đi lại tấp nập, buổi trưa nằm la liệt ở Khổng lâm, Khổng miếu... để suy tư về</b>
<b>một nhà tư tưởng vĩ đại phương Đơng.</b>
<b>Trong Khổng miếu, ngồi tượng của Khổng Tử, đồ cúng tế, trang bị vừa phải như</b>
<b>sinh thời của Ngài, không lộng lẫy như ở Cố cung. Đặc biệt có bức tường giả để giấu</b>
<b>các bộ sách kinh điển như: Tứ Thư, Lục Kinh v.v... của cháu đời thứ 7 của Khổng</b>
<b>Tử, để chống lại chủ trương của Tần Thủy Hoàng là “Đốt sách, giết học trò” (Phần</b>
<b>thư, Khanh nho). Cái hầm giả là bức tường đó nay vẫn cịn. Đến Khổng Lâm, nơi</b>
<b>đặt mộ của Khổng Tử và phu nhân, rồi đến cháu đích tơn là Tử Tư, rồi mới đến Lý</b>
<b>Ngư là con trai của Khổng Tử, thân sinh ra Tử Tư, vì Tử Tư được xếp vào bậc đại</b>
<b>hiền, nên xếp mộ ở trước bố, gần với ông nội là đức Khổng Tử.</b>
<b>Khi Khổng Tử mất, hơn 3000 học trị của ơng, nhất là 72 người hiền, những người</b>
<b>học trò giỏi nhất, đến làm nhà ở bên mộ thầy ba năm. Riêng Tử Cống ở lại 6 năm</b>
<b>mới về. Nhà Tử Cống hiện nay vẫn cịn dấu tích các cây cổ thụ do các ông Tử Lộ,</b>
<b>Tử Cống trồng, đến nay vẫn giữ được. Theo các hướng dẫn viên cho biết: “Nếu</b>
<b>khơng có Thủ tướng Chu Ân Lai tích cực can thiệp và bảo vệ, thì khu di tích lịch sử</b>
<b>vĩ đại này sẽ bị thời kỳ Cách mạng văn hóa ở Trung Quốc phá hết!</b>
<b>Đến nay con cháu của Khổng Tử về ở Bắc Kinh, khơng cịn ai ở Khổng Phủ. Cháu</b>
<b>đời thứ 80 của Khổng Tử đã sang Hà Nội tham quan và vào Văn Miếu thắp hương</b>
<b>cho Khổng Tử. Rõ ràng Khổng Tử là một người thầy tiêu biểu của muôn đời, đã</b>
<b>được UNESCO thừa nhận đúng như trong Khổng Miếu, ở đền chính bức đại tự rất</b>
<b>to viết 4 chữ “Vạn thế sư biểu”.</b>
<b>Trong chuyến đi thăm này tôi mới hiểu rõ tại sao Trung Quốc khi tổ chức cưới (và</b>
<b>Việt Nam cũng vậy), dùng chữ “Song hỉ”. Trước đây tôi nghĩ đám cưới là của hai</b>
<b>họ, nhà trai nhà gái, cùng vui nên dùng chữ “Song hỉ”. Chuyến đi Sơn Đơng lần này</b>
<b>tơi mới hiểu ngọn nguồn. Đó là một chuyện ngẫu nhiên, tình cờ và là vận may của</b>
<b>Vương Tể tướng nước Tống. Ông học giỏi nhất vùng, cùng quê với Khổng Tử, sau</b>
<b>này là người học giỏi nhất nước, làm đến chức Tể tướng Trung Quốc.</b>
<b>Chuyện kể rằng: Khi đi Bắc Kinh để thi đình, trên đường xa 800 km, ông đi qua</b>
<b>một vùng trù phú. Ở đấy có một “Phú gia địch quốc” có cơ con gái xinh đẹp. Phú</b>
<b>ơng muốn tìm người tài trong thiên hạ để kén chồng cho con gái. Phú ông cũng là</b>
<b>người học rộng, uyên bác, muốn thử tài trong thiên hạ nên viết một vế câu đối, treo</b>
<b>bên cái đèn lồng tả “Đèn kéo quân”, nội dung:</b>
<b>“Mã tẩu đăng, đăng tẩu mã, đăng tức, mã đình bộ (nghĩa là: </b><i><b>ngựa chạy theo đèn,</b></i>
<i><b>đèn chạy theo ngựa, đèn tắt, ngựa dừng chân</b></i><b>).</b>
<b>Ngài... “tân khoa” Vương An Thạch học giỏi nổi tiếng nhất vùng mà đọc đi, đọc lại</b>
<b>suy nghĩ mãi, cũng không tìm ra được lời hay, ý đẹp, đối đáp lại... Ông đành bàn với</b>
<b>những người phục vụ cùng đi: “Hãy về Kinh thi xong, tính sau”, mặc dù ngài “tân</b>
<b>Khoa” rất luyến tiếc người con gái đẹp, lẫn của cải giàu sang, và tự trách mình học</b>
<b>giỏi, tài cao mà có một vế câu đối... lại khơng đối được, đành đi thẳng.</b>
<b>Đến Bắc Kinh, ơng vào thi rịng rã hàng tháng. Cuối cùng ông đỗ “Tam khôi”, một</b>
<b>Ngài Thám hoa mừng thầm trong bụng là mình gặp may, ơng liền lấy vế câu đối của</b>
<b>“Phú ông” đem đối lại, Vua khen hay, chính thức phê duyệt ơng đỗ Thám Hoa,</b>
<b>đứng thứ ba trong hàng Tam Khôi. Và đứng đầu tiến sĩ khoa đó.</b>
<b>Ơng vinh quy, khơng qn qua nhà “Phú ông” dùng vế câu đối của vua ra để đối lại</b>
<b>câu đối của phú ông. Phú ông rất hài lòng và gả con gái yêu cho quan Tân khoa</b>
<b>Thám hoa Vương An Thạch. Hai vế câu đối trọn vẹn:</b>
<b>Phú ông cho tổ chức đám cưới ngay tại nhà mình. Trong ngày tân hơn, quan Thám</b>
<b>hoa nhận được cờ Tiệp của nhà vua phong cho làm Tể tướng (ngang Thủ tướng),</b>
<b>phải kíp về triều nhận nhiệm vụ</b>
<b>Quan Thám hoa sung sướng, viết hai chữ rất to tặng bố vợ và gửi về gia đình: “Song</b>
<b>hỉ”. Một vận may hiếm có: làm Tể tướng lấy vợ đẹp. Chữ nghĩa thông minh nhất</b>
<b>nước mà phải nhờ 2 vế câu đối của người khác mới thành danh. Thế mới biết làm cả</b>
<b>2 vế câu đối thì dễ, cịn phải đối lại vế câu đối của người khác là khó lắm thay!</b>
<b>Chẳng phải thế mà ngay trong nước ta, đời này lưu truyền đời khác, còn một vế câu</b>
<b>đối vẫn chưa có nhân tài điền vào.</b>
<b>Ở làng Rồng huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương có vế câu đối: “Đình làng Rồng có cây</b>
<b>gỗ rắn, đục ba năm chẳng cắn miệng xà, long lại hồn long...”.</b>
<b>Hay ở làng Bo, Thái Bình có vế câu đối:</b>
<b>Hay hai câu đối của Đoàn Thị Điểm thách Trạng Quỳnh đối:</b>
<b>“da trắng vỗ bì bạch”</b>
<b>“Thằng Quỳnh ngồi trên cây cậy dái đỏ hồng hồng”.</b>
<b>Ngay đến Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, khi sang sứ Trung Quốc, đến</b>
<b>Hữu nghị quan (ngày nay). Người gác cửa quan thấy quan trạng Mạc Đĩnh Chi đến</b>
<b>muộn bèn ra một vế đối, dán ở bên cửa quan và khóa cửa lại:</b>
<b>“Đáo quan trì, quan quan bế, nguyện quan khách quá quan (đến cửa quan chậm,</b>
<b>cửa quan đóng, xin q khách trèo qua mà đi).</b>
<b>Câu đối khó quá, ngay người ra câu đối cũng chẳng đối được. Quan trạng Việt Nam</b>
<b>lấy ngay ý đó viết nốt vế kia dán lên:</b>
<b>“Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh, tiên đối (Ra đối dễ, đối lại khó, xin ngài</b>
<b>đối trước).</b>
<b>Vị gác cửa quan liền mở cửa cho Trạng nguyên Việt Nam sang Trung Quốc và cho</b>
<b>là nhà thông thái nhất của Việt Nam. Chẳng thế mà Mạc Đĩnh Chi sang sứ Trung</b>
<b>Quốc, đời Tống, đời văn hiến thịnh trị mà triều đình Trung Quốc đã tặng Mạc Đĩnh</b>
<b>Chi là Trạng nguyên Trung Quốc.</b>
<b>Trung Đông, nơi cịn ghi lại đậm nét q trình lịch sử tiến bộ của lồi người. Trung</b>
<b>Đơng lúc nào cũng có nhiều sự kiện, nơi tiếp giáp 3 lục địa chủ yếu của Trái đất:</b>
<b>châu Á, châu âu, châu Phi. Và nơi đây từ xa xưa đã xuất hiện nhiều tôn giáo, chỉ sau</b>
<b>đạo Phật của châu Á. Đó cũng là nơi xuất hiện một dân tộc tuy nhỏ bé nhưng khá</b>
<b>thông minh, đã sinh ra chúa Jesu, Marx, Eisntein.v.v... là dân tộc Do Thái, thông</b>
<b>bn bán ở nước ngồi, nhưng hàng năm vẫn gửi về xây dựng đất nước hàng chục</b>
<b>tỷ USD.</b>
<b>Tháng 7-2001, tơi dẫn đồn doanh nghiệp Việt Nam gần 20 người sang thăm Israel.</b>
<b>Đến đây mới thấy ý chí của người Do Thái và sự tranh chấp đất đai phức tạp giữa</b>
<b>Palestin và Israel, cuộc đấu tranh giữa 2 đạo giáo Hồi giáo và Thiên chúa giáo. Nội</b>
<b>bộ Thiên chúa giáo, Do Thái giáo và Tin Lành cũng rất phức tạp. Đến đây mới thấy</b>
<b>hết tính phức tạp của tín ngưỡng, tâm linh, thần quyền.</b>
<b>Sau khi làm việc với Bộ Ngoại giao, Bộ Phát triển Đầu tư, Phịng Thương mại và</b>
<b>Cơng nghiệp Israel, thăm một số xí nghiệp chế biến kim cương, xí nghiệp điện tử,</b>
<b>chế biến điêu khắc các loại hình tượng bằng kim loại của các nghệ nhân nổi tiếng,</b>
<b>thăm nơi trồng rau trên bãi sa mạc thiếu nước ngọt (vì cả nước Israel là sa mạc,</b>
<b>nguyên liệu chỉ có một “biển chết”, biển khơng cịn hoạt động và cạn dần, nước mặn</b>
<b>đến 30 độ bom-bê. Thế mà vẫn tổ chức tắm ở đây, coi như tắm nước muối), đến</b>
<b>thăm 5 ky-but (hợp tác xã) trong tổng số hơn 500 hợp tác xã, với gần 500.000 xã</b>
<b>viên. Hợp tác xã sản xuất kinh doanh rất giỏi, ăn tập thể, ở tập thể. Chúng tôi đã</b>
<b>đến ăn một bữa trưa do hợp tác xã chiêu đãi. ăn do khách tùy chọn, có khoảng hơn</b>
<b>30 món ăn mỗi bữa, và thay đổi ln. Mỗi căn hộ 64 m2<sub> cho gia đình 4 người, có sân</sub></b>
<b>vườn. Hàng năm sau khi chia lãi cho xã viên, mỗi xã viên được thưởng 5.000 USD</b>
<b>để đi du lịch. Đi làm đều có ơ tơ chở đi. Chúng tôi đến thăm một ky-but nuôi cá</b>
<b>cảnh xuất khẩu sang Nhật Bản doanh số 300 triệu USD/năm. Mọi người đi làm việc</b>
<b>đúng giờ và vận hành máy móc, hầu hết là tự động hóa, như tưới nước cho cà chua,</b>
<b>cà tía. Có máy tính cặp vào lá cây, khi cây thiếu nước, máy tự động tưới cho cây.</b>
<b>Cả nước Israel có 3 thành phố lớn, Thủ đô là Ten-a-vip, cảng An- pha và thành phố</b>
<b>Jerusalem cịn đang tranh chấp giữa Palestin và Israel. Đồn chúng tôi nghỉ ở </b>
<b>Ten-a-vip. Cảng An pha là cảng nước sâu. Khi đồn chúng tơi đến xem cảng, thấy hàng</b>
<b>khơng mẫu hạm Mỹ chở đầy máy bay đậu ở cảng này.</b>
<b>Ngày cuối, chúng tôi đến thăm thánh địa Jerusalem. Chúng tơi đến thăm mộ chúa</b>
<b>Jesu, cùng là dấu tích ơng bị đóng đinh câu rút. Mộ ơng và đền thờ ông được quản</b>
<b>lý chặt chẽ. Dù thờ chúa Jesu, nhưng lại chia làm 3 tông phái khác nhau: Thiên</b>
<b>chúa giáo, Do thái và Tin lành. Ba tông phái đều coi mình là theo chính đạo của</b>
<b>chúa Jesu, và đều địi trông coi đền thờ lẫn mộ chúa. Để bảo đảm không thiên vị, ba</b>
<b>phái phải thuê một người theo đạo Hồi cầm chìa khóa trơng coi ngơi mộ và đền thờ</b>
<b>chúa Jesu. Tôi đến đây mới thấy con chiên của Chúa từ khắp thế giới đến đây làm</b>
<b>lễ. Tấm đá Chúa Jesu nằm khi bị đóng đinh câu rút chết, ln ln sạch bóng, vì ai</b>
<b>đến đây cầu Chúa đều cúi sát miệng liếm trên tấm đá, rồi vào đền thờ Chúa đứng</b>
<b>hàng giờ. Người đông nghịt, nhất là ngày chủ nhật. Chúng tôi là khách tham quan</b>
<b>cũng đứng hồi lâu để thấy những gì con chiên của Chúa tưởng nhớ người quá cố,</b>
<b>người đã tử vì đạo, vì hạnh phúc cho dân lành.</b>
<b>Sau khi thăm mộ và đền thờ chúa Jesu, chúng tôi sang đền thờ thánh Mohamad và</b>
<b>bức tường thờ thánh Mohamad, chiếu theo đường thẳng chỉ cách đền thờ chúa Jesu</b>
<b>khoảng 400 mét. Nhưng cách hành hương, lễ bái hai bên khác biệt nhau. Giữa Hồi</b>
<b>giáo và Thiên chúa giáo ln ln kình địch nhau. Mặc dù mục đích của hai vị</b>
<b>Thánh này đều cứu lồi người khỏi khổ đau, khơng cịn đàn áp nhau giữa người và</b>
<b>người. Thế mà do bị kích động của các nhà cầm quyền, cũng như những vị trưởng</b>
<b>lão của 2 tôn giáo, mà các tín đồ khơng hịa hợp được. Hai giáo phái này đều có tổ</b>
<b>chức, và là 2/3 lơn giáo lớn nhất thế giới. Họ đều nhân danh vì mục đích chung cao</b>
<b>cả, là cứu lồi người “khỏi đau khổ”, nên đã có những cuộc chiến tranh đẫm máu,</b>
<b>Tơi bảo đồng chí Vũ Khoa: “Thánh Mohamad được cho là ngài thông minh nhất</b>
<b>thế giới, sao ngài lại không biết tôi đến đây. Tôi chỉ vái ba vái là đủ”.</b>
<b>Chuyện đến thăm thành phố Jerusalem cổ kính, biết bao sự kiện, biết bao cơng</b>
<b>trình xây dựng theo văn hóa Trung Đơng. Nhìn sang dải Gaza, nơi đang có sự tranh</b>
<b>chấp quyết liệt giữa Palestin và Israel thì tơi lại buồn cho Trung Đông, chưa biết</b>
<b>bao giờ đến hồi chấm dứt. Đến hơm nay vẫn cịn quyết liệt, bởi ai cũng muốn hơn, ai</b>
<b>cũng muốn thắng, tuy lẽ phải lúc nào cũng thuộc về kẻ có sức mạnh. Khơng biết đến</b>
<b>bao giờ chân lý thuộc về kẻ yếu?</b>
<b>Tối hôm chia tay, Đại sứ Mensua, đại sứ Israel tại Việt Nam, chiêu đãi tồn đồn tại</b>
<b>gia đình. Đại sứ Mensua là người dân tộc thiểu số, không phải gốc Do Thái. Ông là</b>
<b>Đại tá chuyển sang làm ngoại giao, một người rất q Việt Nam. Tối hơm đó ơng</b>
<b>mời 2 cụ thân sinh và các anh chị em con cháu đến đông đủ, hàng chục người cùng</b>
<b>đến liên hoan với chúng tôi. Bà đại sứ đã sang Việt Nam cùng Đại sứ, nên nấu món</b>
<b>ăn Việt Nam rất giỏi. Chúng tơi được chiêu đãi cả món ăn Israel. Một bữa tiệc rất</b>
<b>thân thiết, đầm ấm như ở chính gia đình mình. Tơi rất nhớ cụ ơng ln ln kể</b>
<b>chuyện gia đình, đất nước, cho chúng tôi nghe, như những người thân ở xa về. Ông</b>
<b>bà Đại sứ Mensua ân cần chăm sóc và dành cả thời gian đưa đồn đi tham quan đất</b>
<b>nước Israel. Ông hay nhắc đến việc Việt Nam tham gia ý kiến với Palestin và Israel</b>
<b>mong họ thương lượng với nhau để hai nước sống hòa thuận. Việt Nam có rất nhiều</b>
<b>kinh nghiệm về vấn đề này.</b>
<b>Thăm Hợp chủng quốc Hoa kỳ</b>
<b>Tháng 9-1994, Đoàn doanh nghiệp Việt Nam gồm 150 nhà doanh nghiệp do tơi làm</b>
<b>trưởng đồn sang thăm Hoa Kỳ, tổ chức triển lãm tại thành phố San Francico tại</b>
<b>trước. Thành phố San Francico từ ông Thị trưởng đến công chức tịa Thị chính đều</b>
<b>giúp đỡ tận tình. Vì là tuần trăng mật, lại là lúc một số người Việt Nam ở Mỹ bị “cú</b>
<b>sốc”, hai bên ký hiệp định bình thường hóa quan hệ, họ tổ chức các nhóm chống đối</b>
<b>đi khắp nơi xuyên tạc cuộc triển lãm, và vận động nhân dân Mỹ tẩy chay. Truyền</b>
<b>đơn, báo chí xuyên tạc cuộc triển lãm được đăng trên một số báo nhỏ địa phương.</b>
<b>Còn các báo lớn đều ca ngợi cuộc triển lãm này. Việc bảo vệ cho cuộc triển lãm cũng</b>
<b>được phía Mỹ tổ chức chu đáo, từ FBI đến an ninh của bang và thành phố cũng</b>
<b>được huy động bảo vệ cho triển lãm.</b>
<b>Ngày khai mạc, lực lượng cảnh sát Mỹ bố trí vịng trong vịng ngồi bảo vệ. Từ sáng</b>
<b>sớm bọn phản động đã thuê 2 máy bay cỡ nhỏ, kéo 2 khẩu hiệu: Đả đảo cộng sản...</b>
<b>bay lượn khắp bầu trời thành phố San Francico suốt buổi sáng. Một khoảnh đồi nhỏ</b>
<b>cách cổng vào nhà triển lãm khoảng 50 mét, có 75 người, đeo băng, khẩu hiệu, cầm</b>
<b>cờ ba que đả đảo triển lãm, đả đảo Dương Kỳ Anh, trưởng ban tổ chức triển lãm.</b>
<b>Tôi sang hôm khai mạc nên họ không biết tên. Đến hôm bế mạc họ mới biết. Họ là</b>
<b>những dân di tản, thất nghiệp, bọn phản động thuê mỗi ngày 75USD, nhưng phải</b>
<b>đóng quĩ của bọn phản động 25USD chỉ cịn 50 USD/ngày. Người nào trơng cũng</b>
<b>gầy cịm, chỉ có vài 3 tên chỉ huy là to béo. Họ bị cảnh sát Mỹ bắt buộc đứng vào</b>
<b>một khu vực có dây chăng chung quanh, ra ngồi vịng dây là cảnh sát đánh ngay,</b>
<b>nên bọn họ chỉ đứng hô đả đảo.</b>
<b>Chỉ được buổi sáng ngày hơm đầu, cịn hơm sau vừa hơ vừa cười, đùa vài phút rồi</b>
<b>thơi. Họ cịn lân la nói chuyện với anh em triển lãm và xin phép được vào triển lãm</b>
<b>mua cơm ăn. Anh em hỏi tôi, tôi bảo: “Cứ cho họ vào mua, nhưng phải có điều kiện</b>
<b>chỉ được đi người không, không được mang biểu ngữ, cờ, khẩu hiệu. Chúng tơi lại</b>
<b>phải điều đình với cảnh sát Mỹ cho phép họ vào. Cảnh sát Mỹ khen ta nhân đạo.</b>
<b>Cịn họ, họ khơng cho vào. Bọn này vào mua nhanh rồi đem ra cho nhau ăn, không</b>
<b>dám làm gì, và phân trần: “Chúng tơi khơng có việc làm, đi làm thuê, họ bảo sao</b>
<b>làm vậy”. Anh em tuyên truyền giáo dục họ và dẫn họ ra khỏi cổng triển lãm, giao</b>
<b>cho cảnh sát Mỹ. Họ lại ra chỗ đứng đã được qui định.</b>
<b>Để bảo vệ an toàn cho triển lãm, chúng tôi được Thị trưởng chỉ thị cho xe Harley</b>
<b>đưa đi, đón về, rất chu đáo. Có 2 xe mô tô loại rất lớn với 2 cảnh sát đưa đi, đưa về.</b>
<b>Từ cổng triển lãm ra đến nơi ơ tơ đỗ, có 4 cảnh sát, cưỡi 4 con ngựa loại rất to đưa</b>
<b>chúng tôi ra xe, giao cho kíp cảnh sát đi xe mơ tơ đưa chúng tôi về nhà nghỉ.</b>
<b>Cuộc triển lãm suôn sẻ, được Bộ Ngoại giao ghi vào báo cáo năm 1999 là 1/10 sự</b>
<b>kiện lớn về đối ngoại. Sau triển lãm tơi đến nói chuyện tại cuộc hội thảo ở thành phố</b>
<b>Seatle, Bang Washington State, giữa Mỹ và Trung Quốc; rồi đoàn đến tham quan</b>
<b>nhà máy sản xuất máy bay Boeing. Lần đầu tiên có đồn Việt Nam đến nhà máy,</b>
<b>ơng Tổng giám đốc tiếp và báo cáo với đồn, cho đoàn quay phim của ta muốn quay</b>
<b>đâu cũng được. Bạn bảo đó là ngoại lệ cho đồn Việt Nam. Đồn chúng tơi được lên</b>
<b>xem chiếc máy bay Boeing 777 đầu tiên đang đóng dở. Bạn giới thiệu đó là loại</b>
<b>Boeing chở khách tối tân nhất. Gần đây ta đã mua loại máy bay này chở khách. Tôi</b>
<b>đã đi 4 lần, thấy nó tối tân và rất tiện nghi. Nhưng chở được ít khách hơn loại</b>
<b>Boeing 747. Rời Washington, chúng tôi đi thăm thành phố New York, thăm thủ đô</b>
<b>Washington, thăm Las Vegas, các thành phố phía nam nước Mỹ. Tơi đã có tất cả 18</b>
<b>cuộc nói chuyện với doanh nghiệp, với nhân dân Mỹ và một số quan chức Mỹ. Cuộc</b>
<b>đi khá vất vả, được cái giao thông ở Mỹ thuận lợi, đi máy bay cũng như đi xe bus ở</b>
<b>ta, cứ 30 phút có một chuyến, khơng đi chuyến trước thì đi chuyến sau, chỉ phải chờ,</b>
<b>Sau 5 năm, 1999 tôi sang Mỹ lần thứ 2 để gặp gỡ các doanh nghiệp Mỹ, do ơng Chủ</b>
<b>lịch Phịng Thương mại Mỹ Dô-na-hu mời sang để giải thích vì sao Hiệp định</b>
<b>Thương mại Việt - Mỹ chậm được ký kết. Tơi cũng làm việc với Phịng Thương mại</b>
<b>Mỹ và một số địa phương. Trong chuyến đi này đồn chúng tơi có 55 người, hầu hết</b>
<b>là doanh nghiệp.</b>
<b>Ở Cuba 3 ngày, sang thăm Canada, ở Toronto 2 ngày, chúng tôi đi đường bộ sang</b>
<b>Mỹ, qua thác Niagra-fall đẹp nhất ở Canada, ngay biên giới với Mỹ. Chúng tôi đi</b>
<b>ôtô về New York. Trên đường đi chúng tôi ghé thăm một làng cổ, người gốc Hà Lan</b>
<b>đã nhập cư vào Mỹ hơn 200 năm, có khoảng 300 gia đình. Những người gốc Hà Lan</b>
<b>này vẫn theo cổ truyền khơng dùng bất cứ cái gì dùng đến điện. Nhà đốt đèn dầu, đi</b>
<b>xe ngựa, không dùng ti vi, radio, ăn mặc áo dân tộc, nhà hầu hết là một tầng, ở vào</b>
<b>một khu vực. Khách đến tham quan nơi đây rất đông. Cảm thấy đến đây như vào</b>
<b>một thung lũng, vì chung quanh đó có nhiều nhà cao tầng. Tôi hỏi người hướng dẫn</b>
<b>viên được trả lời: dân ở đây chỉ đi gần, khoảng 100 km trở về, họ đi xe ngựa, xe đạp,</b>
<b>đi bộ, không đi ôtô, máy bay những phương tiện có liên quan đến điện. Thế giới</b>
<b>thấy lạ, khách du lịch tới tham quan đông, nên họ sống bằng nghề dịch vụ du lịch.</b>
<b>Đến thủ đô Washington, làm việc và dự hội thảo ở trụ sở Phòng Thương mại Mỹ,</b>
<b>đối diện với Nhà trắng. Cuộc hội thảo có khoảng 10 Thượng nghị sĩ và Hạ nghị sĩ</b>
<b>cùng dự. Nhiều vị phát biểu mong muốn sớm có Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ để</b>
<b>quan hệ kinh tế giữa hai nước được toàn diện. Các doanh nghiệp mong muốn sớm</b>
<b>vào Việt Nam đầu tư. Tôi phát biểu một bài và giải đáp những việc cần phải làm để</b>
<b>sớm có Hiệp định song phương về Thương mại giữa 2 nước.</b>
<b>Người Mỹ có tính hay “hợm mình” cái gì cũng muốn hơn người. Tơi nhớ lại dịp họp</b>
<b>các doanh nghiệp, khối ASEAN ở khách san New World năm 2001, Phịng Thương</b>
<b>Những cuộc đi cơng tác địa phương đáng nhớ</b>
<b>Thời kỳ công tác ở Trung ương, tôi đã đi khắp các tỉnh thành phố trong nước, có</b>
<b>tỉnh thành phố tơi đến làm việc nhiều lần. Tỉnh, thành phố nào tơi cũng rất có cảm</b>
<b>tình. Các đồng chí lãnh đạo cũng như các đơn vị tơi đến thăm hoặc làm việc, đều để</b>
<b>lại trong tôi nhiều kỷ niệm không bao giờ quên, những án tượng sâu sắc về con</b>
<b>người và cảnh vật. Đến nay tôi đã về hưu, nhưng các địa phương vẫn quan tâm</b>
<b>thăm hỏi, có tỉnh hàng năm đều có thư mời về thăm, hoặc nghỉ ở những danh lam</b>
<b>thắng cảnh của địa phương, làm cho tôi suy nghĩ, luôn luôn lúc nào cũng thấy trách</b>
<b>nhiệm với đất nước, với nhân dân.</b>
<b>làm việc các đồng chí đề nghị làm cho một đơi để đặt ở nơi có ý nghĩa. Tơi nghĩ đến</b>
<b>đâu cũng viết câu đối thì chẳng hay gì, sinh nhàm chán. Tháng 4-1989 tơi đến thăm</b>
<b>Nghĩa Bình, đến thăm huyện Tây Sơn thờ vua Quang Trung. Tôi xúc động làm một</b>
<b>“</b><i><b>Bát thập tuế khởi sự binh nhung bất tri chiến bại.</b></i>
<i><b>Tam cửu niên băng hà cường tặc do khuất uy linh</b></i><b>”</b>
<b>(Nghĩa là: </b><i><b>năm mười bảy tuổi, khởi binh đánh giặc, khơng biết thua là gì! Ba mươi</b></i>
<i><b>chín tuổi mất, giặc dữ cịn sợ oai nghiêm</b></i><b>).</b>
<b>Trước khi viết chính thức tơi có nhờ cụ Minh nhuận sắc. Cụ Minh bảo tơi bỏ</b>
<b>“Thanh, Xiêm một hữu thất kinh” (quân Thanh quân Xiêm chưa hết sợ) vì nay ta</b>
<b>đã hịa nhập với thế giới, những từ nhắc lại quá khứ, nêu rõ tên, nên bỏ. Cụ thay</b>
<b>vào đó là: “Cường tặc do khuất uy linh”. Tôi đồng ý với cụ Minh.</b>
<b>Tháng 10-1989 tôi lên làm việc với tỉnh Vĩnh Phú, các đồng chí lãnh đạo tỉnh có đề</b>
<b>nghị tơi viết một đơi câu đối ở đền Hùng. Tôi nghĩ ở Nam Bộ tôi đã viết một đơi câu</b>
<b>đối ở lăng cụ Phó Bảng, miền Trung có đơi câu đối ở đền thờ vua Quang Trung, ở</b>
<b>miền Bắc cũng cần có một đơi câu đối của Thầy đồ “Đổi mới” xứ Đông để thờ Tổ.</b>
<b>Tôi viết:</b>
<b>“</b><i><b>Tứ thiên niên Hồng Lạc cố cương giang sơn thế việt</b></i>
<i><b>Lục thập triệu tử tôn cách mạng chế độ nhật tân</b></i><b>”</b>
<b>(Nghĩa là: </b><i><b>bốn nghìn năm Hồng Lạc, sơng núi, bờ cõi vẫn giữ vững, con cháu người</b></i>
<i><b>Việt ở đời đời, chữ “Thế Việt” cịn có nghĩa là Vượt đời...</b></i><b>).</b>
<b>Sáu mươi triệu con cháu làm cách mạng và đang đổi mới, chữ “Nhật tân” trích sách</b>
<b>đại học của Tăng tử “Cẩu nhật tân nhật nhật tân, hựu nhật tân: (đã mới rồi, ngày</b>
<b>ngày càng đổi mới, tiếp tục đổi mới).</b>
<b>đồng chí giỏi thì làm đem đến đây tơi sẽ khắc trên bia đá, cịn chê thì ai chê chẳng</b>
<b>khơng cần nói.</b>
<b>Câu đối ở đền thờ vua Quang Trung, ở Tây Sơn, Bình Định, chắc ở xa, ít người đến</b>
<b>nên chưa thấy có ý kiến gì. Thế mới biết, làm người khó lắm! Cổ nhân đã nói: “Tố</b>
<b>vi nhân nan, tận chỉ bút đầu can” (làm người là khó, viết 4 chữ đó hết giấy mực vẫn</b>
<b>chưa hết khó) và đặt ra 4 câu thơ để nhắn nhủ người đời:</b>
<i><b>Xảo yếm đa lao, chuyết yếm nhàn.</b></i>
<i><b>Thiện hiềm nhu nhược, ác hiềm ngoan</b></i>
<i><b>Phú tao tật đố, bần tao tiện</b></i>
<i><b>Cần viết tham lam, kiệm viết kiên....</b></i>
<b>(Nghĩa là: </b><i><b>Khéo tay chê là vất vả, vụng về chê là lười biếng</b></i>
<i><b>Làm điều thiện, chê là nhu nhược; làm điều ác, bảo là ngoan cố.</b></i>
<i><b>Giàu có bị ghen ghét, nghèo chê là ti tiện.</b></i>
<i><b>Cần mẫn bảo là tham lam, tiết kiệm chê là keo kiệt...</b></i><b>)</b>
<b>Cho nên người đời mới than rằng: “Tối nhân nan”.</b>
<b>Đó là những cuộc đi cơng tác nước ngồi và trong nước mà tơi có nhiều ấn tượng</b>
<b>sâu sắc nhất.</b>
<b>Bất cứ cuộc đi nước ngồi hay trong nước đối với tơi đều rất bổ ích và giữ lại nhiều</b>
<b>kỷ niệm sâu sắc không bao giờ qn, với tình đồng chí, tình bạn bè, tình cán bộ với</b>
<b>nhân dân, như nguồn cổ vũ động viên tơi suốt đời.</b>
<b>Đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn với Hải Phịng</b>
<b>Đồng chí Lê Duẩn trong những năm 1930 đã hoạt động cách mạng ở Hải Phòng và</b>
<b>năm 1931 đồng chí bị thực dân Pháp bắt ở Ngõ Đá, Hải Phịng. Bởi vậy đồng chí Lê</b>
<b>Duẩn có nhiều kỷ niệm với nhân dân và Đảng bộ Hải Phòng.</b>
<b>định thành lập mặt trận phản đế Đông Dương, thay mặt trận Dân chủ, chuyển</b>
<b>hướng cuộc đấu tranh cách mạng sang một thời kỳ mới.</b>
<b>Năm 1940 đồng chí lại bị bắt và bị đày ra Côn Đảo lần thứ hai cho đến khi Cách</b>
<b>mạng tháng Tám 1945 thành công. Đồng chí được Đảng và Chính phủ đón về đất</b>
<b>liền, tham gia cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.</b>
<b>Tôi là bậc hậu sinh, biết tiếng đồng chí Lê Duẩn bắt đầu từ khi tôi bị bắt và đày ra</b>
<b>Côn Đảo, được các đồng chí Nam bộ kể về anh Ba (tên thân mật của đồng chí Lê</b>
<b>Duẩn), tơi mới hiểu anh Ba qua những câu chuyện kể về tài năng và đức độ của anh</b>
<b>trong tù, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở miền Nam. Một con người</b>
<b>thông minh, sáng tạo, đã cùng Trung ương Đảng và Bác Hồ đưa cách mạng ở Nam</b>
<b>Bộ vượt qua bao nhiêu khó khăn của thời kỳ “trứng nước” đến ngày thắng lợi. Anh</b>
<b>đã hoạt động trên mảnh đất đầy gian khổ nơi có nhiều xu hướng chính trị và đạo</b>
<b>giáo phúc tạp, nơi quân Anh rồi đến quân Pháp trở lại xâm chiếm nước ta lần thứ</b>
<b>hai, ngay sau ngày nước ta tuyên bố độc lập 2-9-1945. Với tài trí thơng minh, anh</b>
<b>được quân, dân Nam Bộ gọi là “ông 200 bougies” hoặc “ơng 500 Bougies”. (Sáng</b>
<b>như bóng đèn điện 200-500 nến).</b>
<b>Tơi chỉ được nghe kể thế thơi, cịn con người cụ thể thì mãi đến năm 1957 anh ra</b>
<b>Bắc và xuống Hải Phịng nói chuyện với Hội nghị cán bộ, tơi mới biết anh. Lúc đó</b>
<b>tơi chưa phải là cán bộ chủ chốt của Hải Phịng. Nhưng do muốn tìm hiểu một con</b>
<b>người sẽ kế thừa sự nghiệp của Bác, khi giải lao tôi đến gần anh, hỏi chuyện việc</b>
<b>anh ra miền Bắc gặp nhiều khó khăn ra sao. Anh thân mật kể cho nghe. Chúng tôi</b>
<b>vây quanh và đặt ra nhiều câu hỏi. Anh sẵn sàng trả lời, vừa vui vẻ, vừa thân mật.</b>
<b>Tôi nhận thấy người chuẩn bị thay Bác Hồ, khơng phải chỉ giỏi chống ngoại xâm,</b>
<b>mà có tầm nhìn về kinh tế rất sáng suốt. Từ đó bắt đầu tôi mến anh Ba, và luôn</b>
<b>muốn gợi những ý kiến suy nghĩ của mình để anh Ba giải đáp.</b>
<b>Có một số lần xuống xem hợp tác xã dệt thảm len xuất khẩu ở Thủy Nguyên, một</b>
<b>lần xem hợp tác xã may mặc ở nội thành, một lần xem hợp tác xã nông nghiệp kiêm</b>
<b>làm nghề thủ công ở An Hải, đã cho tôi ấn tượng sâu sắc về tư duy kinh tế của anh</b>
<b>Ba.</b>
<b>Đến hợp tác xã dệt thảm len gia công xuất khẩu, anh hỏi tôi sao lại tập trung khung</b>
<b>dệt cồng kềnh thế này vào một nơi? Sao không để ở từng nhà cho thuận tiện đi lại,</b>
<b>năng suất sẽ cao, không phải làm thêm nhà để khung cửi? Cịn tập trung chỉ là cơ</b>
<b>khí sản xuất theo dây chuyền thì người ta mới tập trung... Đến hợp tác xã may mặc</b>
<b>anh Ba còn chất vấn tôi: Tại sao máy khâu mà cũng vào hợp tác xã, để người ta làm</b>
<b>cá thể có hơn khơng? Những câu hỏi liên quan đến đường lối làm ăn tập thể, tổ chức</b>
<b>hợp tác xã mà anh Ba hỏi như vậy khó trả lời q! Tơi báo cáo anh Ba đó là theo</b>
<b>hướng dẫn chỉ đạo của Trung ương. Anh Ba vặn lại tơi: “Các đồng chí ở cơ sở sát</b>
<b>thực tế, trên không sát, phải đề xuất chứ. Cứ làm mà khơng có ý kiến gì là khơng</b>
<b>được”. Tơi suy nghĩ quá! Nhưng lúc này chỉ nên vâng, dạ, cịn biết nói sao đây, khi</b>
<b>phong trào hợp tác hóa đang lên mạnh. Đến hợp tác xã dệt thảm len xuất khẩu, có</b>
<b>em bé gái 16 tuổi đang dệt thảm, anh Ba hỏi cháu có biết đồng đơ-la là gì không?</b>
<b>Cháu ngớ người ra. Tôi vội thưa với anh, tôi cũng chưa nhìn thấy đồng đơ-la... Anh</b>
<b>Ba phân tích ngay, làm xuất khẩu mà khơng hiểu đồng đơ-la là gì là khơng được.</b>
<b>Khi đến hợp tác xã nơng nghiệp, anh hỏi tơi: “Đồng chí có biết thế nào là sản xuất</b>
<b>lớn không?” Tôi đang ngập ngừng anh Ba nói ngay: “Sản xuất lớn khơng phải là</b>
<b>tập trung vào hợp tác xã để ni, mà mỗi gia đình nông dân nuôi 40-50 con lợn,</b>
<b>hàng trăm con gà thế là sản xuất lớn... Việc gì mà ngồi túm tụm hàng chục người</b>
<b>thế kia thái rau, làm sao có năng suất, có hiệu quả được...”.</b>
<b>anh? Tơi tiếp tục theo rõi và suy nghĩ về cái đầu sáng 500 nến trong chiến tranh</b>
<b>chống Pháp và nay đang chống Mỹ, cái đầu ấy thể hiện trong kinh tế cũng rất sáng</b>
<b>tạo, có lẽ sáng hơn 500 nến nữa.</b>
<b>Đến năm 1979 tơi làm Chủ tịch UBND Thành phố, tơi có điều kiện làm việc trực tiếp</b>
<b>với anh Ba. Trong nhiều buổi đưa anh đi thăm cơ sở sản xuất, anh có nhiều gợi ý rất</b>
<b>sáng, truyền cảm, truyền ý thức tự lực tự cường cho những người đi theo. Câu nói</b>
<b>cửa miệng và đầu tiên khi bắt đầu câu chuyện thường là anh nhắc: Thành phố,</b>
<b>Thành uỷ phải làm gì cho dân, phải hiểu được dân cần gì? Thành uỷ là phải lo cho</b>
<b>dân, mỗi người ăn một năm bao nhiêu thịt, cá, bao nhiêu quả trứng. Thành uỷ phải</b>
<b>biết hàng ngày nhân dân ăn gì? Chứ Thành uỷ cũng chung chung như Trung ương</b>
<b>thì Thành uỷ làm được gì? Hoặc mỗi tỉnh, thành phố, phải coi mình như một nước</b>
<b>nhỏ mà lo toan thay Trung ương. Thế giới có nước người ta chỉ có 1.000 km2<sub> với</sub></b>
<b>mấy trăm nghìn dân, bé hơn Hải Phòng, người ta còn làm giỏi như thế. Thành uỷ</b>
<b>Hải Phòng phải biến thành phố là Hồng kông, Singapore thứ hai... Lần nào anh</b>
<b>Trong những buổi làm việc với anh Ba, sau những ý kiến trực tiếp vào vấn đề chính</b>
<b>xong rồi, anh Ba đều có những suy nghĩ lớn cho đất nước, muốn truyền đạt cho thế</b>
<b>hệ sau, lớp trẻ chúng tơi. Trong các buổi nói chuyện anh rất dân chủ và lắng nghe ý</b>
<b>kiến mọi người. Có những ý kiến anh tranh luận lại, nhưng thái độ cởi mở, thân</b>
<b>thiết, khơng áp đặt.</b>
<b>Có lần tơi làm việc với anh ở Đồ Sơn, khi cơng việc chính đã được ý kiến anh chỉ</b>
<b>đạo, anh nói sang quan hệ giữa nước ta và Trung Quốc. Rồi anh nói văn hóa của ta</b>
<b>cao hơn Trung Quốc, và phê phán Khổng Tử coi thường cả mẹ. Tơi hỏi anh Khổng</b>
<b>Tử nói ở chỗ nào? Anh bảo Khổng Tử nói: “Phụ nhân nan hóa” (người phụ nữ khó</b>
<b>cải hóa). Rồi anh nói văn hóa của ta là: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương”... “Bầu ơi</b>
<b>thương lấy bí cùng”... Cịn Khổng Tử nói: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”, cịn ta</b>
<b>thì “Mình vì mọi người, mọi người vì mình” là cao hơn văn hóa Trung Quốc. Rồi</b>
<b>anh phê bình Mao Trạch Đơng và Khổng Tử cùng là “một giuộc”.</b>
<b>Tơi suy nghĩ tìm câu nói để anh Ba hiểu rõ về triết học của Khổng Tử khác với Mao</b>
<b>Trạch Đông. Khi anh Ba dừng phát biểu, tơi thưa với anh:</b>
<b>- Mao Trạch Đơng phê bình Khổng Tử mạnh mẽ lắm!</b>
<b>Anh Ba đứng dậy hỏi tôi:</b>
<b>- Ở chỗ nào?</b>
<b>Tôi báo cáo tường tận câu chuyện này, trong 7 bài báo trên để anh Ba rõ: “Vấn đề</b>
<b>là khi sinh thời, Lâm Bưu có treo hai chữ đại tự ở giữa nhà mình, hai chữ đó là</b>
<b>“Khắc Kỷ”, ý Lâm Bưu muốn mượn lời Khổng Tử để phê phán Mao Trạch Đông.</b>
<b>Trong sách Luận Ngữ chép, khi học trò giỏi nhất của Khổng Tử là thầy Nhan Hồi</b>
<b>hỏi Khổng Tử, làm thế nào thì làm được điều “Nhân” (</b><i><b>Nhan tử vấn nhân, Khổng Tử</b></i>
<b>Sáng hơm sau tơi ra Đồ Sơn tiếp câu chuyện còn lại về Khổng Tử. Trước khi bàn</b>
<b>đến Khổng Tử, anh Ba lại nhắc tôi những điều suy nghĩ sâu sắc của anh về xây dựng</b>
<b>chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Anh trăn trở nhiều điều của các nước anh em, nhất là</b>
<b>Liên Xô và lý luận về chun chính vơ sản, làm chủ tập thể... Rồi anh dừng lại, bảo</b>
<b>tơi nói tiếp về Khổng Tử. Tôi báo cáo tiếp với anh về nhận thức của tơi đối với</b>
<b>Khổng Tử, Tơi nói: “Khổng Tử sinh ra cách đây 2.500 năm, trong một chế độ phong</b>
<b>kiến tập quyền mạnh ở Trung Quốc, nên Khổng Tử cũng khơng thóat khỏi hệ tư</b>
<b>tưởng đó. Hơn nữa Khổng Tử đã viết ra Kinh Xuân Thu để cai quản đất nước theo</b>
<b>Triết học “Quân quân, Thần thần, Phụ phụ, Tử tử”. Nhưng Khổng Tử là nhà triết</b>
<b>học vĩ đại lấy nhân nghĩa làm đầu, từ bỏ mọi quyền cao chức trọng, đi dạy học để</b>
<b>giáo hóa nhân dân theo triết lý của mình. Cịn sách Luận ngữ gồm 10 tập (đại tồn).</b>
<b>Khổng Tử chỉ nói hai câu là mất lập trường giai cấp, theo quan điểm của ta hiện</b>
<b>nay. Anh Ba hỏi 2 câu đó là gì. Tơi báo cáo anh là: “Phụ nhân nan hóa” như anh đã</b>
<b>phê bình là Khổng Tử coi khinh cả mẹ. Cịn câu thứ hai là: “Dân khả sử vi chi, bất</b>
<b>khả sử tri chỉ” nghĩa là người dân chỉ sai khiến họ làm, cịn khơng sai khiến họ học</b>
<b>được, ý nói chỉ có người quân tử mới dạy bảo cho biết được. Trong điều kiện cách</b>
<b>đây 2.500 năm ta cũng nên thông cảm với Khổng Tử.</b>
<b>(Thờ người chưa xong, làm sao thờ được quỉ thần). Lần thứ hai ông trả lời: “Kính</b>
<b>nhi viễn chi” (Kính nhưng nên xa quỉ thần). Đó là tư tưởng của Khổng Tử có tiến</b>
<b>bộ. Anh Ba đồng ý với tơi. Tơi phân tích thêm triết học của Khổng Tử ảnh hưởng</b>
<b>rất lớn đến Việt Nam, nhất là điều nhân nghĩa. Chính do triết học phương Đông nổi</b>
<b>tiếng ấy nên Nguyễn Trãi lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, đã phá tan quân Minh,</b>
<b>giúp Lê Lợi dựng nên nghiệp lớn. Còn cuộc chiến tranh Mỹ và Việt Nam, sau ta giải</b>
<b>phóng miền Nam khơng có tắm máu như kẻ thù rêu rao, là ta kế thừa điều nhân</b>
<b>nghĩa truyền thống của dân tộc, đã làm cho việc thống nhất đất nước, được nhanh</b>
<b>chóng và ổn định. Tơi nói thêm: “Anh Ba được cả thế giới và trong nước ca ngợi là</b>
<b>nhà chính trị, nhà quân sự và là nhà hiền triết, mới kế thừa sự nghiệp Bác Hồ giao</b>
<b>cho thành công”.</b>
<b>Tôi thấy anh vui lên, không có phản ứng gì, vì tơi cịn e rằng anh cịn thành kiến với</b>
<b>triết học của Khổng Tử. Nhân đó tơi nói ln: “Khổng Tử nói: “Kỷ sở bất dục, vật</b>
<b>thi ư nhân” (nếu ta không muốn, ắt người chẳng ưa, khơng bắt người khác làm điều</b>
<b>mình khơng muốn). Đó là lời nói khun nhủ cho dân trí cịn thấp. Khi dân trí cao</b>
<b>mới có thể làm được “Mình vì nọi người, mọi người vì mình”. Anh Ba khơng nói gì</b>
<b>thêm. Từ những buổi đàm đạo về Khổng Tử với anh Ba, tôi theo rõi thấy anh Ba</b>
<b>không phê phán Khổng Tử nữa và cũng khơng nhắc đến văn hóa ta cao hơn Trung</b>
<b>Quốc.</b>
<b>Năm 1979, khi khởi sự bàn bạc việc khốn sản phẩm trong nơng nghiệp với anh Bùi</b>
<b>Quang Tạo, Bí thư Thành uỷ, chúng tơi bàn nhau kỳ này làm phải có kết quả để giải</b>
<b>quyết vấn đề lương thực cho toàn quốc. Cần phải khẩn trương và thận trọng, tránh</b>
<b>thất bại. Chúng tôi bàn nhau phải thuyết phục được 3 đồng chí chủ chốt trong Bộ</b>
<b>Chính trị mới có thể thành cơng. Trước hết là anh Ba, anh Trường Chinh, anh</b>
<b>Phạm Văn Đồng. Anh Tạo nói với tơi: Khó nhất là anh Trường Chinh, vì anh</b>
<b>Trường Chinh đã phê bình nghiêm khắc tỉnh Vĩnh Phúc, và cũng đã phê bình anh</b>
<b>Tạo ở Quốc hội. Tơi nói với anh Tạo: tôi sẽ chịu trách nhiệm báo cáo với cả 3 anh.</b>
<b>Anh Tạo bảo nếu được như thế thì tốt và bảo tôi: “Anh thân với anh Ba, anh nên</b>
<b>đài mua xe; mỗi người làm việc bằng ba, để cho chủ nhiệm làm nhà xây sân; trâu</b>
<b>xanh ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà v.v... Nghe xong anh Ba đứng dậy nói: “Tơi đồng ý. Làm</b>
<b>ngay, làm ngay, không phải hỏi ai nữa...”, rồi anh phân tích cho tơi nghe về quản lý</b>
<b>kinh tế. Mình từ sản xuất nhỏ đi lên, phải biết cách làm cho hiệu quả. Cứ áp đặt</b>
<b>cách làm của người ta vào nước mình thì khó thành cơng lắm! Giáo điều là rất nguy</b>
<b>hiểm. Tôi mừng quá, xin phép anh ra về, anh còn dặn: “Về bàn với cấp uỷ làm ngay,</b>
<b>tôi sẽ xuống xem...” Tôi về báo cáo với anh Tạo. Anh Tạo vẫn chưa vui, tỏ vẻ vẫn lo</b>
<b>lắng. Anh nói chỗ anh Trường Chinh, nếu phản đối là khó đấy. Tơi nói: “Tơi hiểu...</b>
<b>nhưng được anh Ba đồng ý, ta cứ đem ra Ban Thường vụ và Thành uỷ bàn. Tôi sẽ</b>
<b>báo cáo anh Trường Chinh xem ra sao. Chắc anh Trường Chinh cũng thấy rõ tình</b>
<b>hình nơng nghiệp, sau 15 năm sự việc ở Vĩnh Phúc, tư duy của anh Trường Chinh</b>
<b>chắc cũng có sự thay đổi...”.</b>
<b>Ý kiến anh Ba đã giúp chúng tôi thêm quyết tâm thay đổi cách quản lý trong nông</b>
<b>nghiệp. Anh đã chỉ đạo Ban Bí thư, mặc dù cịn nhiều trở ngại, nhưng tháng 1-1981</b>
<b>anh Lê Thanh Nghị, Thường trực Ban Bí thư đã ký chỉ thị số 100 về khốn sản</b>
<b>phẩm trong nơng nghiệp đến nhóm lao động và xã viên lao động (thực chất là khoán</b>
<b>hộ), mở đầu kỷ nguyên mới trong quản lý kinh tế, không những trong sản xuất nông</b>
<b>nghiệp mà cả trong các lĩnh vực khác, đánh dấu bước đột phá cho thời kỳ đổi mới</b>
<b>của Hải Phịng và cả nước.</b>
<b>Sau vụ lúa khốn đầu tiên, tháng 10-1980, </b>
<b>anh Ba xuống tận hợp tác xã ở Hải Phòng xem kết quả. Anh đến hợp tác xã Trường</b>
<b>Thành, Trường Sơn, các cánh đồng của Thủy Nguyên, An Lão, Kiến Thuỵ... Anh</b>
<b>rất vui, động viên mọi người làm ra thóc gạo đủ ăn, và cịn để xuất khẩu nữa...</b>
<b>Mỗi lần anh về thăm Hải Phịng, tơi có dịp làm việc với anh, càng thấy anh lúc nào</b>
<b>cũng suy nghĩ để tìm ra giải pháp phát triển kinh tế đất nước. Đặc biệt anh chú ý</b>
<b>ra xích mích dân tộc suốt thời kỳ nọ sang thời kỳ kia. Khi xưa giai cấp tư sản</b>
<b>chun chính với vơ sản, nay họ mất quyền lại tìm cách chống chúng ta, phục hồi lại</b>
<b>chun chính tư sản, cứ thế mãi... Ta phải biết giai cấp cơng nhân lãnh đạo để giải</b>
<b>phóng dân tộc, giải phóng cho mọi giai cấp, mọi tầng lớp, làm cho mọi người được</b>
<b>làm chủ đất nước, làm chủ xã hội... Như vậy tầm cao, tầm nhìn của giai cấp cơng</b>
<b>nhân hơn hẳn q khứ. Nên khơng cần nêu “chun chính vơ sản” làm gì. Vấn đề</b>
<b>này có ý nghĩa đồn kết trong nội bộ Đảng, trong toàn dân. Đưa vấn đề “làm chủ</b>
<b>tập thể”, những đồng chí muốn duy trì khẩu hiệu “chun chính vơ sản” cũng dễ</b>
<b>chấp nhận, tạo ra sự nhất trí cao. Cịn dân chủ cho mọi người sẽ thực hiện từng</b>
<b>bước, nó thuận với mọi người, đã được làm chủ tập thể rồi thì dân chủ cho mọi</b>
<b>người là điều tất yếu phải đến. Anh nói đi nói lại rất say sưa như một cuộc giảng bài</b>
<b>được học trị chú ý lắng nghe. Tơi cũng thấy phấn khởi về cách lập luận và lý giải</b>
<b>của anh. Tôi thấy trong tư duy của anh đã chứa đựng nội dung dân chủ rất sâu sắc</b>
<b>và tế nhị.</b>
<b>Trong các buổi đưa anh đi thăm cơ sở, anh kể lại cho tôi nghe những cuộc vận động</b>
<b>nhân dân làm cách mạng. Cùng ở, cùng làm, cùng sống với dân, tôi cảm thấy lúc</b>
<b>nào anh cũng đang sống trong lòng dân. Như câu chuyện mua gia cầm, mua thịt lợn</b>
<b>nghĩa vụ... Tem phiếu phát cho dân, nhưng khơng có hàng bán, con phe tem phiếu</b>
<b>cấu kết với mậu dịch viên xấu tuồn hàng ra ngồi, tơi kể cho anh nghe, và đưa anh</b>
<b>đi xem thực tế ở các cửa hàng. Xem xong anh bảo tơi phải tìm cách quản lý khác.</b>
<b>Tơi đề nghị bỏ nghĩa vụ của nông dân phải bán gia cầm, thịt lợn cho nhà nước; bỏ</b>
<b>tem phiếu... Anh đều nhất trí rất nhanh. Anh nêu những vấn đề phải giải quyết đời</b>
<b>sống cho cán bộ công nhân viên chức, trước hết là nâng cao năng suất chất lượng,</b>
<b>hạ giá thành với việc nâng lương, rất nhiều ý kiến phong phú.</b>
<b>Riêng vấn đề giá, anh có nhiều ý kiến khác tôi. Nhưng qua nhiều lần trao đổi, anh</b>
<b>nhấn mạnh giá trị sử dụng của hàng hóa, cịn tơi nhấn mạnh đến qui luật cung cầu,</b>
<b>sản xuất ra hàng hóa phải tiêu thụ được, nghĩa là chất lượng và giá cả phù hợp với</b>
<b>túi tiền của nhân dân. Cuối cùng anh chấp nhận. Vì giá trị sử dụng cũng nhằm phục</b>
<b>vụ người tiêu dùng, nhưng chỉ một mặt thơi thì lấy gì để tái sản xuất mở rộng xã hội</b>
<b>chủ nghĩa, nên phải chú ý cả cung lẫn cầu. Anh đồng ý. Như vậy anh đã chấp nhận</b>
<b>kinh tế thị trường với quy luật cung cầu.</b>
<b>XHCN, còn biện pháp vẫn hạn hẹp. Tôi nêu nhiều ý kiến đề xuất với anh, nói chung</b>
<b>anh nhất trí, duy chỉ có vấn đề xuất khẩu sắt thép phế liệu để tích lũy, là anh gạt đi</b>
<b>ngay một cách kiên quyết, mặc dù lúc đó Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã cho Hải</b>
<b>Phòng xuất chuyến đầu tiên 2 vạn tấn sắt thép phế liệu.</b>
<b>Tôi phải lấy thực tế để thuyết phục anh. Trong các chuyến thăm cảng, thăm các</b>
<b>đống sắt thép phế liệu, ca nô, sa-lan giải bản, để dọc bờ sông Cấm, từ bến Bính đến</b>
<b>Qn Toan, tơi đưa anh đi xem. Đống sa-lan hỏng chất như đống núi con bên vụng</b>
<b>Quynh bờ sông Cấm. Tôi cho dừng xe, dùng một cây gậy nhỏ, đập vào thành sa-lan</b>
<b>và đống sắt thép phế phẩm, chúng bị oxy hóa gẫy tả tơi, thủng từng lỗ lớn Anh Ba</b>
<b>đứng nhìn và suy nghĩ. Lúc ấy tơi mới nói: “Thép phế liệu lị luyện kim trong nước</b>
<b>dùng rất ít, cứ để sau 6 tháng là oxy hóa mất 50%, vì nó là loại phế phẩm để ngồi</b>
<b>trời, lại bên dịng sơng nước mặn”. Anh Ba hỏi tôi làm thế nào để bảo quản được, để</b>
<b>dùng cho luyện kim lâu dài? Tôi báo cáo anh là khơng có kho nào chứa hết được...</b>
<b>Tơi tiếp tục đưa anh đi xem một số nơi khác. Đến trưa nghỉ ăn cơm, anh hỏi tơi cịn</b>
<b>cách nào bảo quản được khơng? Tơi báo cáo anh chỉ cịn cách xuất khẩu lấy đô la,</b>
<b>hoặc mua vàng gửi vào ngân hàng lấy lãi là có hiệu quả hơn cả. Khi cần tái nhập ta</b>
<b>có ngoại tệ mạnh, nhập sắt thép phế liệu cho luyện kim. Hải Phịng đã thành lập</b>
<b>cơng ty phá dỡ tàu hỏng xuất khẩu, bằng cách mua tàu nước ngồi đem về sơng</b>
<b>Bạch Đằng phá lấy sắt thép, và các loại vật liệu còn tốt ở trên tàu để xuất khẩu, hoặc</b>
<b>bán trong nước lãi rất khá. Anh bảo tôi đưa đi xem. Tôi đưa anh đến cảng Cửa</b>
<b>Cấm, nơi công ty đang phá dỡ các loại tàu, sà-lan nhỏ giải bản, ra Đình Vũ xem</b>
<b>Trong các lần đi xem quai đê lấn biển ở đường 14 Đồ Sơn, đi xem đường xuyên</b>
<b>đảo... anh hay hỏi tôi về nước Nhật.</b>
<b>báo cáo tiếp. Hơm sau đồng chí đó báo cáo phù hợp với nhận định đánh giá của anh</b>
<b>Ba về Mỹ. Anh nói tiếp: cán bộ ta hay nói để chiều ý kiến lãnh đạo, vì ta thường phê</b>
<b>phán cái gì Mỹ cũng xấu cả, anh em sợ mất lập trường phải nói theo. Cịn đây là báo</b>
<b>cáo với lãnh đạo để chuẩn bị làm ăn với Mỹ mà báo cáo thế thì nguy hiểm q!</b>
<b>Sau đó anh nói sẽ có kế hoạch thăm Mỹ sau khi hai nước bình thường quan hệ. Anh</b>
<b>muốn quan hệ với Mỹ lập lại càng sớm càng tốt. Chính ý nghĩ đó nên khi đồng chí</b>
<b>Fidel Castro, Tổng Bí thư Đảng cộng sản Cuba, mấy lần mời anh sang thăm Cuba,</b>
<b>anh chưa đi ngay. Anh đợi sau khi bình thường quan hệ với Mỹ, anh sẽ đi thăm</b>
<b>Cuba và thăm Mỹ cùng một chuyến đi. Vừa có ý nghĩa tạo thế cho Cuba, yêu cầu</b>
<b>Mỹ bỏ cấm vận với Cuba, vừa tạo ra thế và lực Việt Nam - Cuba hợp tác với Mỹ, thì</b>
<b>thuận lợi hơn cho cả hai nước, thay vì việc đi thăm Cuba ngay bây giờ.</b>
<b>Trong những năm cuối đời, đầu thập niên 80, anh xuống Hải Phịng ln, hoặc tơi</b>
<b>lên Hà Nội, đến nhà riêng anh để báo cáo cơng việc của Hải Phịng. Anh bàn với tôi</b>
<b>về nhiều mặt công việc của đất nước. Tôi hết sức suy nghĩ về tư duy của anh. Tư duy</b>
<b>ấy rất rõ về xây dựng kinh tế. Tại sao Bộ Chính trị khơng có tiếng nói chung với</b>
<b>anh? Do Bộ Chính trị khơng hiểu ý anh, trình độ “bất cập” hay do tính bảo thủ q</b>
<b>nặng, khơng dám chống anh, nhưng vẫn luôn luôn làm trái ý tưởng của anh? Qua</b>
<b>một câu dặn dị của đồng chí Đậu Ngọc Xuân, trợ lý lâu năm của anh Ba nói với tơi:</b>
<b>“Anh Ba nói gì với anh, chỉ nên ghi nhớ, nếu làm theo ý kiến anh Ba là trên này “bẻ</b>
<b>ghi” ngay đấy”... Tôi hiểu ý anh Đậu Ngọc Xuân, nên tơi thực hiện ý anh Ba có sự</b>
<b>Một hôm tơi đưa anh đi xem nhà máy đóng tàu Phà Rừng, do Phần Lan giúp ta xây</b>
<b>dựng. Khi đến thăm nhà máy, đồng chí phiên dịch tiếng Anh chưa đến, đồng chí</b>
<b>giám đốc nhà máy dịch cho anh Ba, nói chuyện với chuyên gia Phần Lan. Khi anh</b>
<b>Ba nói đến khai thác nguồn nguyên liệu hải sản, đề nghị Phần Lan giúp đỡ đóng các</b>
<b>loại tàu đánh cá ra biển xa, đồng chí giám đốc báo cáo với anh Ba: “Tôi không đủ từ</b>
<b>tiếng Anh để dịch câu này, đề nghị anh Thành dịch giúp”. Tôi bị động phải dịch, tuy</b>
<b>không hay, nhưng cũng suôn sẻ.</b>
<b>được tiếng nước ngồi là rất tốt, hiểu được người ta nói, dễ thông cảm và hợp tác</b>
<b>mới tốt...”.</b>
<b>Anh biết tôi cũng tù ở Côn Đảo, anh hay kể chuyện đấu tranh trong nhà tù cho tôi</b>
<b>nghe, kể chuyện âm mưu của kẻ thù đối với người cách mạng khi bị chúng bắt. Anh</b>
<b>nói: Thời anh ở tù cịn dễ chịu hơn thời chúng tơi, tra tấn ít hơn, đối xử cũng khá</b>
<b>hơn, sách báo gửi đến Côn Đảo tự do, nhất là báo Pháp, kể cả báo của Đảng cộng</b>
<b>sản Pháp chúng cũng khơng cấm. Viết thư thoải mái. Cịn thời chúng tôi thư viết</b>
<b>giấy rộng, giấy hẹp cũng chỉ được 15 dịng. Trước đó chúng chỉ phát một cái “các”</b>
<b>do chúng in sẵn, mỗi tháng được gửi về nhà một lần, người tù chỉ gạch những chữ</b>
<b>khơng thích hợp, thí dụ: “Sức khoẻ: có hoặc khơng”. người tù gạch đi chữ “có” hoặc</b>
<b>“khơng” theo ý mình. Đi lại, khám xét, phải cởi hết quần áo. Thời các anh, đi lại</b>
<b>Khám nọ sang Khám kia được tự do. Gửi tiếp tế thoải mái, cịn chúng tơi, chúng chỉ</b>
<b>cho gửi 3 loại: đường, sữa, kẹo bánh. Tiền không được nhận tiền mặt, mua gì chúng</b>
<b>mua cho theo quy định: đường, sữa, bánh kẹo giá rất đắt, nên không ai gửi tiền. Tù</b>
<b>nhân gửi thư về gia đình chỉ bảo mua sữa và đường đưa vào ăn chung tất cả. Thực</b>
<b>hiện chủ nghĩa cộng sản”. Anh cịn bảo: “Thời các đồng chí gian khổ hơn chúng</b>
<b>tơi...”.</b>
<b>Anh thường phân tích năng lực, sở trường cán bộ chủ chốt cho tôi nghe, nhất là</b>
<b>từng Uỷ viên Bộ Chính trị đương thời. Anh khiêm tốn nói: “Mình có bao giờ dám</b>
<b>nghĩ thay Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc tài ba lỗi lạc như thế,... ai dám nghĩ</b>
<b>tới... Nên mình phải cố gắng làm trịn nhiệm vụ để thực hiện sự nghiệp Bác để lại”.</b>
<b>Mỗi khi kể đến Bác, thái độ, lời nói của anh bao giờ cũng rất tơn kính. Một vài lần</b>
<b>anh nói: “Tài ba như Bác Hồ, nhưng giáo dục đảng viên quần chúng thi đua, chỉ</b>
<b>động viên tinh thần. Như thế chưa đủ, nhất là nay đã hịa bình trở lại, cần chú ý đến</b>
<b>khen thưởng vật chất thì phong trào mới bền...”.</b>
<b>cho ăn thế! Các đồng chí phải đi lại thực tế đi, mất lập trường lắm...” Anh nói lại</b>
<b>với tôi rất say sưa: “Đấy, chị em đơn giản thế!”</b>
<b>Đối với tơi, anh dặn dị nhiều điều q giá. Tôi tâm niệm làm sao thực hiện được ý</b>
<b>tưởng của anh để lại. Nhưng thật là khó. Khi chuyển đổi nền kinh tế ta đã làm chắp</b>
<b>vá, thiếu một cơ sở lý luận vững chắc để tiến lên chủ nghĩa xã hội, sử dụng kinh tế</b>
<b>thị trường làm phương tiện và hợp tác, hội nhập quốc tế để tạo ra nguồn vốn xây</b>
<b>dựng chủ nghĩa xã hội... Về cuối đời anh Ba, cũng có nhiều ý kiến khác nhau đánh</b>
<b>giá về tư duy kinh tế của anh. Cũng có người cho anh Ba chỉ giỏi chỉ đạo chiến tranh</b>
<b>bảo vệ tổ quốc. Cịn về làm kinh tế thì bảo thủ, nóng vội, khơng thực tế, muốn đốt</b>
<b>cháy giai đoạn.</b>
<b>Tơi là lớp hậu sinh, kém anh 22 tuổi, lại được tiếp cận với anh nhiều, từ thập kỷ 70</b>
<b>cho đến ngày anh qua đời. Tơi khơng dám có những nhận xét gì lớn về anh. Chỉ qua</b>
<b>sự làm việc, và được anh chỉ bảo tận tình, tơi tiếp thu được cái gì thì nói cái đó. Theo</b>
<b>chủ quan của tơi, anh Ba, đồng chí Tổng Bí thư của Đảng là người không chỉ giỏi về</b>
<b>chỉ đạo chiến tranh, đánh thắng đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước, xứng đáng với sự</b>
<b>tin cậy của Bác Hồ và toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Về kinh tế, với sự hạn</b>
<b>hẹp về thời gian nghiên cứu, học tập, tuổi lại cao, mà còn minh mẫn đến thế, tư duy</b>
<b>kinh tế của anh vẫn liên tục đổi mới, tự mình làm phong phú cho kiến thức của</b>
<b>mình, tiếp cận với hiện đại. Theo thiển nghĩ của tơi, nếu chúng ta có một đội ngũ cán</b>
<b>KINH TẾ TRUNG QUỐC NHỮNG NĂM CẢI CÁCH - MỞ CỬA</b>
<b>THÀNH TỰU VÀ NHỮNG BÀI HỌC </b>
Cuộc cải cách mở của của Trung Quốc có một ý nghĩa to lớn, được đánh giá cao trong
nước và trên quốc tế, vì nó đã đem lại cho Trung Quốc những biến đổi lịch sử quan trọng, những
thành tựu rực rỡ về nhiều mặt:
<b>I. NHỮNG BIẾN ĐỔI LỊCH SỬ LỚN LAO</b>
<b>1. Những biến đổi lớn lao về thể chế kinh tế </b>
<i><b>1 1. Từ chế độ công hữu đơn nhất chuyển sang chế độ kinh tế lấy công hữu làm chủ</b></i>
<i><b>thể, kinh tế nhiều loại sở hữu cùng phát triển. </b></i>
Trước cải cách, kinh tế Trung Quốc gần như hồn tồn thuộc sở hữu cơng cộng, chiếm tới
99,1% tổng sản phẩm trong nước vào năm 1978. Cùng với tiến trình cải cách, nhận thức về kinh
tế cơng hữu ngày càng có sự thay đổi sâu sắc, đã tiến tới khẳng định rằng nguồn vốn trong chế
độ công hữu khơng chỉ thể hiện ở số lượng mà cịn ở chất lượng, và quan trọng hơn nữa, ở vai
trò khống chế của Nhà nước, ở vai trò chủ đạo của kinh tế cơng hữu. Với chủ trương nhiều loại
hình kinh tế cùng phát triển, khơng chỉ có các doanh nghiệp cá thể, tư nhân, mà cịn có cả các
doanh nghiệp "3 loại vốn", các doanh nghiệp theo chế độ sở hữu hỗn hợp như chế độ cổ phần
và chế độ hợp tác cổ phần
Kinh tế cá thể và kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển, nên đến cuối năm 1979, số
hộ đăng ký kinh doanh là 29,47 triệu, với 67,91 triệu lao động. Sự lớn mạnh của các loại hình
kinh tế này ngày càng có tác dụng tích cực rõ trong việc đáp ứng địi hỏi về đời sống cho nhân
dân, làm cho đời sống kinh tế xã hội của cả nước thêm sôi động, từ chỗ được coi là sự "bổ sung"
cho kinh tế công hữu, nay các loại hình kinh tế này đã được Quốc hội Trung Quốc dự kiến đưa
vào Hiến pháp sửa đổi, quy định đó “là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường
XHCN” được Nhà nước bảo hộ quyền lợi và lợi ích hợp pháp. Điều đó cho phép các loại hình
kinh tế phi cơng hữu này sẽ còn phát huy được tiềm nàng to lớn của mình trong phát triển kinh
tế.
Các doanh nghiệp ba loại vốn" ở Trung Quốc đã phát triển rất nhanh. Đến cuối năm 1997,
đã có tới 236 ngàn xí nghiệp loại này với số vốn nước ngoài lên tới 30,3 tỷ USD. Điều này khơng
những bổ sung cho nguồn vốn cịn thiếu của Trung Quốc, mà quan trọng hơn, còn đưa vào đất
nước những thứ quý giá hơn, đó là những quan niệm mới và kinh nghiệm quản lý mới.
Với chủ trương đa dạng hoá các loại hình kinh tế như trên, đến cuối năm 1997, tỷ trọng
của các loại hình kinh tế phi cơng hữu trong tổng sản phẩm trong nước đã từ 0,9% vào năm
1978 tăng lên 24,20% còn mức giảm tương ứng của kinh tế công hữu thời gian trên đã từ 99,1%
xuống 75,8%. Tuy nhiên, vai trị chủ thể của kinh tế cơng hữu khơng vì thế mà giảm đi. Được
thực hiện tách rời quyền kinh doanh (của doanh nghiệp) và quyền sở hữu của Nhà nước), được
chuyển từ phương thức quản lý trực tiếp sang phương thức điều tiết gián tiếp, từng bước áp
dụng chế độ xí nghiệp hiện đại, chịu sự dẫn dắt của thị trường, đặc biệt được hoạt động trong
các ngành nghề quan trọng, huyết mạch của nền kinh tế, khu vực kinh tế cơng hữu tuy hiện nay
cịn nhiều khó khăn, nhưng vai trị chủ thể chắc chắn sẽ được củng cố. Về mặt bảo vệ an ninh
đất nước, thoả mãn nhu cầu cơng ích của nhân dân, bảo đảm hài hoà trong phát triển, kinh tế
Nhà nước có một vai trị mà kinh tế phi Nhà nước không thể thay thế. Chủ trương lấy kinh tế
công hữu làm chủ thể, nhiều loại sở hữu cùng) tồn phát triển là một chủ trương phù hợp với tình
hình đất nước, mang lại lợi ích to lớn, do đó sẽ được Trung Quốc duy trì lâu đài
<i><b>1.2. Bước đầu hình thành bộ khung của thể chế kinh tế thị trường XHCN, chức năng</b></i>
Trung Quốc đã thực hiện các biện pháp từ thấp đến cao nhằm chuyển dần vai trò điều tiết
trực tiếp của kế hoạch sang điều tiết gián tiếp thông qua thị trường. Trước hết, đã thu hẹp các
mặt hàng sản xuất theo kế hoạch và do Nhà nước định giá, giảm kế hoạch pháp lệnh, xoá bỏ sự
hạn chế kinh doanh của doanh nghiệp, mở rộng quyền tự mua bán sản phẩm. Đã cải cách chế
độ bán buôn bán lẻ trong thương nghiệp, cho phép kinh tế phi quốc hữu được tham gia buôn
bán, lập ra các chợ bán bn và các trung tâm mậu dịch, hình thành dần thị trường hàng hố,
nối liền thành thị với nơng thơn. Cho đến nay, ở Trung Quốc có chừng 95% hàng tiêu dùng và
80% hàng đầu tư là do quan hệ cung cầu trên thị trường định giá. Hai là đã xây đựng và phát
triển thị trường vốn bằng việc hồn thiện thị trường tín dụng, khơi phục và đẩy mạnh việc hình
thành thì trường cổ phiếu, quốc trái bị ngừng hoạt động đã nhiều năm. Cho đến cuối năm 1998,
đã có 745 cơng ty được đăng ký hoạt động trên hai thị trường chứng khoán Thượng Hải và
Thâm Quyến, tổng giá trị của cố phiếu bán cho nhân dân Trung Quốc - đã tương đương với
22,59% tổng sản phẩm trong nước. Ba là, thị trường lao động được hình thành qua việc cho
phép người lao động nông thôn được di chuyển vào thành phố tìm việc và mở ra các loại cơ sở
giới thiệu làm. Ngoài ra, các thị trường khoa học kỹ thuật, thơng tin, văn hố v.v... cũng phát triển
không ngừng
Điều này thể hiện trước hết trong việc gắn thu nhập với kết quả sản xuất của người lao
động. ở nông thôn, chế độ trách nhiệm khốn đến hộ giạ đình đã xố bỏ cách làm ăn cũ “làm
việc chỉ gào to, phân phối thì đàn đều”; nay người nơng dân làm được nhiều thì hưởng nhiều,
làm ít hưởng ít. ở thành phố, các xí nghiệp đã có quyền tự chủ trong việc sử đụng cơng nhân và
quyền phân phối lợi ích; việc tuyển dụng công nhân và trả lương cho họ là căn cứ vào kết quả
kinh doanh chứ không phải do cấp trên quy định như trong thể chế cũ. Thực hiện chế độ phân
phối theo lao động là việc làm đụng chạm đến lợi ích của nhiều người nhiều tầng lớp, vì vậy là
một q trình rất khó khăn và lâu dài, song điều quan trọng là về cơ bản thể chế phân phối bình
qn kiểu cũ đã bị xố bỏ, nhường chỗ cho một thể chế phân phối mới, có tác dụng kích thích
nhiệt tình sản xuất của người lao động hơn. Mặt khác, đã cho phép và khuyến khích một số
người giầu lên trước nhờ lao động và kinh doanh lành mạnh hợp pháp. Trước đây ở Trung Quốc
<i><b>1.4. Cải cách thể chế kinh tế ớ nông thôn thu được thành tựu to lớn. </b></i>
Nông thôn là nơi tiến hành cải cách thể chế kinh tế trước tiên thông qua việc thực hiện chế
độ trách nhiệm khốn sản lượng đến hộ gia đình. Chế độ này đã giải phóng người nơng dân ra
khỏi sự trói buộc của chế độ cơng hữu hố cưỡng bức khơng hợp quy luật, khơng hợp lịng dân
trước đây. Người lao động ở nông thôn đã được tự chủ trong sản xuất, được hưởng phần lớn
của cải mà họ làm ra, do đó việc thí điểm và mở rộng chế độ khốn sản lượng đến hộ được
nơng dân hoan nghênh, đã huy động được lịng nhiệt tình và tính tích cực sản xuất của họ, và trở
thành sự bảo đảm về mặt thể chế cho sù phát triển ổn định của nông nghiệp Trung Quốc trong
20 năm qua. Để thay thế cho chế độ công xã nhân dân, và để củng cố sự phát triển của nông
nghiệp, Trung Quốc đã chú trọng đến các khâu dịch vụ trước, trong và sau sản xuất, quyết định
lập ra mạng lưới phục vụ xã hội hố ở nơng thơn với chủ thể là các hợp tác xã cung tiêu, tích cực
cung cấp cho nơng dân các dịch vụ tổng hợp về thông tin, vật tư, kỹ thuật. chế biến, sửa chữa
máy móc,v.v....
<i><b>1.5. Tích cực đẩy mạnh cải cách xí nghiệp Nhà nước, xác định mục tiêu cho cuộc cải</b></i>
<i><b>cách </b></i>
nhập kinh doanh, chiếm 49,6% giá trị gia tăng của công nghiệp, 46,9% thuế lợi tức và đóng góp
60% ngân sách Nhà nước. Điều đó cho thấy tuy tỷ lệ của kinh tế Nhà nước có giảm đi, nhưng
vẫn là lực lượng chủ chốt, hoạt động trong các ngành huyết mạch của nền kinh tế quốc dân. Vì
vậy đẩy mạnh cải cách xí nghiệp Nhà nước là việc khơng thể khơng làm. Sau khi đã trải qua các
biện pháp cải cách như nới quyền nhượng lợi, thuế thay lợi nhuận, khoán kinh doanh, cuối cùng
Trung Quốc đã xác định mức tiêu của việc cải cách xí nghiệp Nhà nước là chế độ xí nghiệp hiện
<i><b>1.6. Cố gắng thực hiện cải cách thể chế đầu tư. </b></i>
Trải qua nhiều năm thử nghiệm, hiện nay ở Trung Quốc đã hình thành về cơ bản việc đa
dạng hố các hình thức đầu tư. Trước hết, đã chuyển từ chế độ cấp phát tài chính, sử đụng
khơng phải hồn trả sang chế độ cấp tín đụng, buộc các xí nghiệp phải tự ràng buộc mình, khơng
đầu tư bừa bãi; hai là đẩy mạnh thực hiện chế độ gọi thầu đấu thầu các hạng mục xây dựng, xây
dựng chế độ bình giá các hạng mục; ba là xác định các xí nghiệp là các chủ thể đầu tư trong nền
kinh tế thị trường chứ không phải là các cơ quan chức năng hay cơ quan lãnh đạo; bốn là, thông
qua phát triển thị trường chứng khoán, thu hút rộng rãi đầu tư trực tiếp trong nước và nước
ngồi v.v... Thơng qua các biện pháp này, trong lĩnh vực đầu tư đã xuất hiện nhiều loại chủ thể
đầu tư bao gồm Nhà nước, xí nghiệp, cá nhân và các nhà đầu tư nước ngoài; kênh đầu tư cũng
phong phú đa dạng, từ đầu tư gián tiếp đến trực tiếp, các luồng vốn trong nước và ngoài nước
đổ vào ngày càng tăng.
<i><b>1. 7. Cải cách thể chế ngoại thương theo hướng đa nguyên hoá thành phần kinh</b></i>
<i><b>doanh, mở rộng quyền tự chủ. </b></i>
của thị trường, tự chủ kinh doanh, tự chịu lỗ lãi. Trong lĩnh vực ngoại thương đã hình thành cách
kinh doanh cạnh tranh bình đẳng dưới sự chỉ đạo chung của một chính sách thống nhất
Từ thập kỷ 90 trở lại đây, cuộc cải cách ngoại thương đã đi vào chiều sâu, ngày càng
nghiền xí nghiệp sản xuất, viện nghiên cứu khoa học, công ty vật tư thương nghiệp... cũng được
<b>2. Tiến bước mạnh mẽ trên đường mở cửa và giao lưu kinh tế quốc tế </b>
<i><b>2.1. Ngoại thương phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ. </b></i>
Tính đến cuối năm 1997, Trung Quốc đã có quan hệ bn bán với 227 nước và khu vực
trên thế giới, tăng 177 nước và khu vực so với trước khi thực hiện cải cách mở cửa
Năm 1978, tổng kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc mới đạt 20,6 tỷ USD, đến năm
1984 đã vọt lên 50 tỷ, tăng gấp 2,5 lần năm 1978. Bốn năm sau, năm 1988, tổng kim ngạch
ngoại thương tăng gấp đôi năm 1984, đạt 100 tỷ USD. Năm 1994, ngoại thương Trung Quốc lại
nêu kỷ lục mới, gấp đôi năm 1988, đạt 200 tỷ; năm 1997, con số đạt tới 325,1 tỷ USD. Tính đến
năm đó, mức tăng bình quân hàng năm của kim ngạch ngoại thương Trung Quốc đạt 15,4%
trong thời kỳ mở cửa. Năm 1998, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á,
ngoại thương Trung Quốc giảm nhẹ với mức 0,4% so với năm trước, tổng kim ngạch đạt 324 tỷ
USD, trong đó xuất khẩu đạt 288,8 tỷ USD, tăng 0,5%, nhập khẩu đạt 140,2 tỷ USD, giảm 1,5%.
Như vậy, kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc đã tăng xấp xỉ 15 lần trong 20 năm, đưa
Trung Quốc từ vị trí thứ 32 lên vị trí cường quốc ngoại thương thứ 10 trên thế giới, chỉ sau Mỹ,
Đức, Nhật, Anh, Pháp, Italia, Canađa, Hồng Kông và Hà Lan, từ chỗ chiếm có 0,75% tổng kim
ngạch xuất nhập khẩu của thế giới tới chỗ chiếm tới 3,3%.
có ảnh hưởng quan trọng đối với đời sống kinh tế xã hội của Trung Quốc. Tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu của Trung Quốc đã tương đương với 36% giá trị tổng sản phẩm trong nước. Lượng
Nền ngoại thương của Trung Quốc phát đạt nhanh chóng, giao lưu linh hoạt, khơng cịn
tình trạng gị bó, độc quyền, nhất nhất đều phụ thuộc cơ quan ngoại thương trung ương như
trước. Do cải cách thể chế ngoại thương, chủ thể kinh doanh ngoại thương rất đa dạng Tính đến
cuối năm 1997, cả nước có 16.658 xí nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu các loại, bao gồm 7.628
cơng ty ngoại thương, 7.803 xí nghiệp sản xuất tự kinh doanh ngoại thương, 925 viện nghiên
cứu khoa học, 260 cơ quan vật tư thương nghiệp..., ngồi ra, cịn 2.737 cơ sở buôn bán tiểu
ngạch ở biên giới
<i><b>2.2. Đứng đầu các nước đang phát triển về thu hút vốn đầu tư nước ngồi. </b></i>
Trải qua 20 năm khơng ngừng mở rộng đường đi sâu vào thị trường vốn quốc tế, ngày nay
Trung Quốc trở thành "một mảnh đất đầu tư mầu mỡ” của châu á, thậm chí của thế giới. Từ năm
1979 đến năm 1997, Trung Quốc đã thu hút được một lượng đầu tư từ nước ngoài đạt 348,35 tỷ
USD, trong đó 63% là đầu tư trực tiếp, đạt trên 220 tỷ USD, từ trên 100 nước và khu vực, vào
trên 20 ngành nghề. Năm 1998, dù có cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á, nhưng lượng
đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc vẫn tăng, tuy mức tăng không lớn như mấy năm trước: với
việc phê chuẩn gần 2 vạn hạng mục, Trung Quốc đã ký thêm những hợp đồng mới trị giá 52,1 tỷ
USD, tăng 2% so với năm 1997. Mức sử dụng thực tế là 58,9 tỷ USD, trong đó của đầu tư trực
tiếp là 45,6 tỷ USD, tăng 0,7%. Cho đến nay đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 13% đầu tư của
cả nước. Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi sản xuất ra 14% sản phẩm công nghiệp và
chiếm 47% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Về tín dụng, Trung Quốc được đánh giá là có cơ
cấu vay nợ quốc tế thuộc loại ít rủi ro. Đến cuối năm 1997, số nợ dài hạn và trung hạn của Trung
Quốc chiếm trên 86% tổng số nợ nước ngoài. Nhờ những cố gắng trong việc thu hút vốn nước
ngoài, từ năm 1993 Trung Quốc trở thành nước đứng đầu các nước đang phát triển và đứng thứ
2 trên thế giới - sau Mỹ - về mặt này, và đã giữ được vị thế này 6 năm liên tục
tương đối nghèo nàn và lạc hậu so với miền Đơng. Nguồn đầu tư ngày càng đa ngun hố, từ
<i><b>2.3. Phát triển mạnh mẽ du lịch, “ngành cơng nghiệp khơng có khói" </b></i>
Trước cải cách - mở cửa, Trung Quốc rất hạn chế khách nước ngoài đến thăm. Năm
1978, trên đất nước mênh mông đầy danh lam thắng cảnh và các đi tích lịch sử, văn hố, lại là
quê cha đất tổ của mấy chục triệu Hoa kiều và người Hoa, vậy mà chỉ đón có 1,89 triệu khách du
lịch với thu nhập vẻn vẹn 260 triệu USD. Trải qua gần 20 năm, ngành đu lịch Trung Quốc đã phát
huy tiềm năng to lớn và phong phú của mình, phát triển thành một trong những ngành có nhịp độ
tăng trưởng nhanh nhất. Số người đến thăm Trung Quốc năm 1997 là 57,588 triệu lượt người,
tăng 31 lần so với năm 1978, nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 20%, những con số
tăng trưởng về ngoại hối trong thời gian đó tương ứng là 12,1 tỷ USD, 45 lần và 22,4%. Sự phát
triển này khiến Trung Quốc đã từ một nước kém cỏi về mở cửa du lịch trở thành nước đứng
hàng thứ 8 trên thế giới về thu nhập qua ngành này. Đi đôi với sự phát triển của ngành du lịch,
trong cả nước đã xây đựng và đưa vào hoạt động hơn 5.200 khách sạn với hơn 700 ngàn
phòng, doanh thu đạt trên 80 tỷ NDT (khoảng 10 tỷ USD, ngoài ra hàng năm số khách du lịch
trong nước cũng lên tới hàng chục triệu lượt người).
<i><b>2.4. Việc thầu các cơng trình và đưa người đi lao động ở nước ngồi nhanh chóng</b></i>
<i><b>mở rộng quy mơ. </b></i>
Năm 1997, các cơng trình mà phía Trung Quốc ký nhận thầu với nước ngoài đạt kim
ngạch 8,5 tỷ USD, thực tế hoàn thành được 6,04 tỷ USD, so với năm 1981 tăng 47,7 lần và 48
lần. Kim ngạch hợp đồng ký kết để đưa người đi lao động nước ngoài đạt 2,84 tỷ USD, kim
ngạch đã hoàn thành đạt 2,35 tỷ, so với năm 1981 tăng lên 65 lần và 48,9 lần. Một số công ty
của Trung Quốc có liên quan đến hoạt động đối ngoại như Cơng ty cơng trình xây đựng, Tổng
cơng ty xây dựng cầu đường, Công ty xây dựng luyện kim, Công ty điện lực thủy lợi v.v... đã
đứng vào hàng ngũ 250 công ty đấu thầu quốc tế lớn nhất trên thế giới.
<b>3. Cải cách thúc đẩy phát triển, vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế được</b>
<b>nâng cao</b>
trên thế giới về mặt tổng lượng kinh tế. Cũng thời kỳ này, giá trị sản phẩm trong nước tính theo
đầu người đã tăng từ 379 NDT lên 6079 NDT, trừ nhân tố giá cả, bình quân mỗi năm tăng thực
tế 8,4%. Năm 1998 - một năm rất khơng bình thường đối với Trung Quốc do ảnh hưởng của
cuộc khủng hoảng kinh tế châu á và nạn lụt lớn - nhịp độ tăng trưởng kinh tế tuy có chậm lại đôi
chút, song vẫn đạt mức nhanh nhất thế giới, là 7,8%, tổng sản phẩm trong nước đạt 7955,3 NDT
Giá trị và chỉ số tổng sản phẩm quốc dân của Trung Quốc một số năm gần đây
Năm Giá trị tuyệt đối<sub>(Tỷ NDT) </sub> Bình quân đầu người<sub>(NDT/người) </sub> Chỉ số chung (năm<sub>1 978 = 100) </sub> Chỉ số bình quân<sub>đầu người </sub>
1 978
1985
1 990
1991
1 992
1 993
1 994
1 995
1 996
1997
362,41
898,91
1859,84
2166,25
2665,19
3456,05
4667,00
5749,49
<i>Nguồn tư liệu: Cục thống kê quốc gia (Trung Quốc 20 năm thành tựu huy hoàng. NXB</i>
<i>Thống kê Trung Quốc 1998. </i>
Với nhịp độ tăng trưởng nhanh như vậy, tiềm lực kinh tế - tính theo giá trị tổng sản phẩm
trong nước - thời kỳ 1978 - 1997 đã mở rộng gần 20 lần. Nếu tính theo tỷ giá hốt đối bình qn
của đồng Nhân dân tệ Trung Quốc so với đồng đôla Mỹ năm 1997, thì giá trị tổng sản phẩm
trong nước của Trung Quốc là 902 tỷ USD, đứng sau Mỹ (7819,3 tỷ USD), Nhật Bản (4223,4 tỷ
USD), Đức (2115,4 tỷ USD), Pháp (1393,8 tỷ USD), Anh (1278,4 tỷ USD) và Italia (1146,2 tỷ
USD) có nghĩa là đứng thứ 7 trên thế giới.
Về mặt tổng lượng kinh tế, Trung Quốc đã thu hẹp được khoảng cách với các nước phát
triển chủ yếu trên thế giới. Nhiều loại sản phẩm công nông nghiệp quan trọng, Trung Quốc đứng
hàng đầu về sản lượng. Hai mươi năm qua, ngoài hai mặt hàng là than và vải, Trung Quốc luôn
luôn đứng đầu thế giới về sản lượng, cịn có 8 mặt hàng khác đứng từ hàng thứ 2 đến thứ 16 đã
vươn lên hàng đầu, đó là ngũ cốc, bơng, hạt có đầu, thịt lợn - bị - cừu, thép, quần áo, xi măng,
máy truyền hình; sản lượng điện từ thứ 7 và sản lượng phân hoá học từ thứ 4 đã nâng lên hàng
thứ 2; sản lượng than nguyên khai từ hàng thứ 8 đã lên được hàng thứ 5 trên thế giới.
Nông nghiệp, lĩnh vực sản xuất quan trọng của nền kinh tế quốc dân Trung Quốc 20 năm
qua phát triển nhanh chóng và ổn định. Năm 1997, sản lượng lương thực đạt mức kỷ lục 494,17
triệu tấn, so với 304 triệu tấn của năm 1978 đã tăng hơn 1,5 lần. Năm 1998, đã bị thiên tai nặng
nề, sản lượng một số sản phẩm có giảm sút, song lương thực cũng đạt trên 490 triệu tấn, bơng
đạt 4,4 triệu tấn, cây có đầu 22,92 triệu tấn, thịt đạt 43,55 triệu tấn, thuỷ sản đạt 38,54 triệu tấn.
Bộ mặt kinh tế ở nông thơn Trung Quốc thay đổi rất nhanh chóng nhờ sự vươn lên mạnh
mẽ của đội ngũ các xí nghiệp hương trấn. Từ các xí nghiệp xã đội hình thành từ đầu những năm
50, hoạt động trong ngành chế tạo và sửa chữa máy móc nơng nghiệp, ngành chế biến mỳ, dầu
ăn, ngành vật liệu xây dựng ... theo phương thức tự cung tự cấp ở nơng thơn và được khuyến
cao như điện tử, thông tin v.v... phát triển nhanh chóng. Hiện nay, có khoảng 20% trang thiết bị
cơng nghiệp của Trung Quốc đạt trình độ kỹ thuật tiên tiến của thế giới vào cuối những năm 80,
đầu những năm 90; 50% đạt trình độ kỹ thuật tiên tiến của thế giới đầu những năm 80, còn 30%
đạt trình độ của thế giới cuối những năm 70 trở về trước
3.2. Thị trường phồn vinh, quan hệ cung cầu về cơ bản đã thay đổi từ thị trường phía bán
sang thị trường phía mua. Trước cải cách, Trung Quốc có một nền kinh tế thiếu hụt điển hình,
người dân phải dựa vào việc cung cấp theo tem phiếu, tranh nhau xếp hàng mua thực phẩm,
hàng tiêu đùng sau 20 năm cải cách - mở cửa, sự thay đổi mà người dân cảm thấy sâu sắc nhất
là, đồng thời với việc nâng cao nhanh chóng mức tiêu dùng, sự thiếu thốn đã biến mất, thị
trường phồn vinh, đã dần dần hình thành thị trường phía mua một cách phổ biến. Trung Quốc đã
xây đựng được hệ thống dự trữ lương thực hoàn hảo. Trên các chợ, thực phẩm phong phú,
chủng loại đa dạng, cung cấp đầy đủ cho nhu cầu đời sống vật chất của nhân dân.Theo thông
báo của những ngành có liên quan về tình trạng cung cầu trong nước, thì trong nửa đầu năm
1998, trong số 601 loại hàng hố chủ yếu, có 446 loại cân bằng cung cầu, chiếm 74.2%, có 115
loại vượt cầu, chiếm 25,8%; khơng cịn hàng hố cung khơng kịp cầu nữa. Hiện nay, Trung Quốc
đang phải hạn chế sản xuất một số mặt hàng do cung vượt cầu, như máy điều hoà nhiệt độ, lị vi
sóng, xe đạp...
Mức sống của người Trung Quốc hiện nay đã có chuyển biến lớn từ chỗ đủ về lượng sang
nâng cao về chất. Cái ăn đã giảm đồ thô, tăng đồ tinh, bớt chất bột tăng thịt cá. Đồ dùng cũng
chuyển sang dùng hàng cao cấp, đặc biệt ở thành thị, như máy điều hồ khơng khí, lị vi sóng,
nội thất gia đình, máy tính và bắt đầu chuyển sang xe hơi, căn hộ sang trọng ở nông thôn, ti vi
màu, điện thoại, tủ lạnh... khơng cịn xa lạ với người tiêu dùng
<b>4. Đã hình thành và có những đột phá quan trọng trong lý luận kinh tế thị trường xã</b>
<b>hội chủ nghĩa</b>
Sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc 20 năm qua thu được những thành tựu quan
trọng, bởi vì đã áp dụng những chính sách, biện pháp kinh tế mới, dưới sự chỉ đạo của một loạt
quan điểm mới, lý luận mới về kinh tế thị trường XHCN. Đã có nhiều nhà nghiên cứu tổng kết
vấn đề này, với những phương pháp, cách nhìn và sự đánh giá khác nhau. Song đầy đủ và cô
đọng nhất là sự trình bày và lý giải của ơng Lý Thiết ánh, Uỷ viên Bộ Chính trị, Viện trưởng Viện
Khoa học xã hội Trung Quốc về vấn đề này nhân lễ kỷ niệm 20 năm Hội nghị Trung ương 3 khoá
XI ĐCS Trung Quốc. Bài viết đăng trên tạp chí Cầu thị số 6- 1999, bản dịch toàn văn được đăng
trên tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 3 và số 4 năm 1999, ở đây chỉ xin giới thiệu các đề mục
những đột phá lý luận về kinh tế thị trường XHCH được hình thành trong quá trình cải cách mở
cửa 20 năm qua.
- Lý luận về mục tiêu cải cách thể chế kinh tế
- Lý luận về cải cách chế độ sở hữu
- Lý luận về cải cách nông thôn
- Lý luận về cải cách chế độ xí nghiệp
- Lý luận về hệ thống thị trường
- Lý luận về cải cách thể chế quản lý vĩ mô
- Lý luận về phân phối thu nhập
- Lý luận về mở của đối ngoại
<b>5. Những tồn tại và khó khăn cần tiếp tục giải quyết </b>
cạnh tranh gay gắt và diễn biến phức tạp trong nền kinh tế thế giới, Trung Quốc càng gặp nhiều
5.1. Những vấn đề mới nảy sinh sau khi giải quyết các vấn đề cũ. Sau khi phá bỏ chủ
nghĩa bình quân "ăn cơm nồi to", đã động viên được tính tích cực chủ động của người lao động.
Cơ chế thị trường đi vào nền kinh tế, cả xã hội trở nên năng động và đầy sức sống. Đó là kết quả
quan trọng mà cuộc cải cách đã đem lại. Song đồng thời lại nảy sinh ra một loạt vấn đề mới.
Trước hết là khoảng cách về thu nhập giữa các cá nhân, ngành nghề, và khu vực bị mở rộng.
Nếu như khoảng cách về thu nhập hình thành do sự khác biệt về thái độ lao động, về số lượng
và chất lượng lao động, thì có khoảng cách ấy là hợp lý, cần thiết và khơng thể tránh khỏi. Về
mặt chính sách, chủ trương cho phép một số người, một số vùng giàu lên trước là có lợi cho sự
phát triển kinh tế xã hội do tác dụng kích thích động viên của nó.
Tuy nhiên, trong q trình cải cách đã xuất hiện tình trạng quá chênh lệch về thu nhập
giữa các cá nhân, ngành nghề, khu vực, không tương ứng với sự khác nhau về lao động; đặc
biệt thu nhập do làm ăn phi pháp đẻ ra một lớp người phất lên quá nhanh; nạn tham ô hối lộ lan
tràn, vừa phá hoại sự phát triển bình thường của nền kinh tế, vừa ảnh hưởng đến tính tích cực
của người lao động và sự ổn định xã hội. Đó là vấn đề nghiêm trọng đẻ ra trong cải cách Hai là,
quá trình chuyển đổi nền kinh tế đã tạo ra nạn dư thừa lao động, thất nghiệp, trong điều kiện việc
cải cách thể chế bảo hiểm xã hội trì trệ. Trước đây ở Trung Quốc nạn dư thừa lao động và thất
nghiệp được che dấu bởi chủ nghĩa bình quân và chế độ bao cấp. Thực hiện cải cách, chuyển
đổi kinh tế, những vấn đề này bộc lộ và ngày càng nặng nề. Trung Quốc là nước nghèo, tiến
trình cải cách diễn ra khơng lâu, do đó chế độ bảo hiểm xã hội chưa kiện tồn, chưa có được tác
dụng giảm sức ép của nạn thất nghiệp, giảm sự khốc liệt của nạn dư thừa nhân công. Đây là
thách thức rất lớn đối với Trung Quốc. Vấn đề bảo hiểm ở Trung Quốc, vẫn là khâu yếu, một mặt
do kinh phí không cho phép, mặt khác do hậu quả của thể chế cũ, diện hưởng bảo hiểm quá lớn;
mặt khác nữa, diện hưởng bảo hiểm mấy năm gần đây mở rộng, kết quả của cuộc cải cách xí
nghiệp Nhà nước. Ba là, các vấn đề đạo đức, văn minh tinh thần, giáo đục, phạm tội, chuyển
dịch lao động v.v.. nảy sinh ra trong tiến trình cải cách, có nguy cơ làm băng hoại cơ sở xã hội,
rối loạn đời sống, cũng là những tiêu cực mà Trung Quốc đang phải xử lý.
tiêu điều. Ví dụ nửa đầu năm 1993 khi tổng sản phẩm trong nước tăng trên 15%, đã xuất hiện
tình trạng “4 cao 2 loạn", đó là đầu tư cao, lượng tiền trong lưu thông cao, giá cả cao, nhập khẩu
cao, và thị trường tiền tệ hỗn loạn, trật tự thị trường tư liệu sản xuất hỗn loạn. Nhờ biện pháp
thắt thật tiền tệ, nâng cao lãi suất, các cơn sốt đã giảm dần, nạn lạm phát nhẹ đi, giá cả hạ thấp.
Song sau khi nền kinh tế Trung Quốc "tiếp đất an toàn" từ đầu năm 1996, với mức tăng giá cả
6,1%, thì từ cuối năm 1997 đến nay đã có hiện tượng đình trệ. Năm 1997 giá hàng tiêu dùng chỉ
tăng 2,8%, năm 1998 lại giảm 0,8% so với năm 1997. Hàng hoá ứ thừa tràn ngập trong các kho
khiến Nhà nước phải ngừng sản xuất một số mặt hàng, điều đó một phần do ảnh hưởng của
cuộc khủng hoảng tiền tệ châu á đối với hàng xuất khẩu Trung Quốc, một phần do sản xuất trùng
lặp, việc sử dụng cơng cụ tài chính để điều tiết kém tác dụng.
5.3. Những khó khăn vốn có của Trung Quốc càng nổi bật cùng với q trình hiện đại hố
kinh tế. Đó là những vấn đề nợ tài nguyên, con người, lương thực, điều kiện tự nhiên... Về tài
nguyên, tính theo đầu người, Trung Quốc là nước nghèo. Do đó việc tiết kiệm tài nguyên như
đất, năng lượng cùng các loại tài nguyên khác là vấn đề rất lớn. Việc hạn chế sinh đẻ theo kế
hoạch của Trung Quốc đã thu được kết quả rõ rệt, song những vấn đề về gia đình và xã hội cũng
nảy sinh cùng với việc chỉ cho phép có một con, đồng thời Trung Quốc còn đang đứng trước cửa
ải cần vượt qua là vấn đề xã hội bị lão hố .Trung Quốc là một nước dân đơng, đất ít, sản xuất
lương thực ln ln là vấn đề nóng bỏng vì có liên quan đến sự tồn tại của số dân bằng 1/4 lồi
người. Vậy mà nơng nghiệp Trung Quốc lại chưa phát triển, chưa thoát khỏi cảnh "nhờ trời mới
có miếng ăn" do đầu tư vào cơ sở hạ tầng cịn ít ỏi, khả năng phịng chống thiên tai còn hạn chế.
Theo các nhà khoa học, chất lượng điều kiện tự nhiên của Trung Quốc tương đối thấp, kém ổn
định, bởi vì đây là một quốc gia nhiều thiên tai vào loại nhất thế giới. Mỗi năm Trung Quốc bị thiệt
hại tới 100 tỷ NDT do thiên tai. Cùng với sự phát triển kinh tế, sự phá hoại của con người đối với
môi trường tự nhiên cũng tăng lên. Người ta đã khẳng định, nguyên nhân của nạn lụt lớn năm
1998 không phải chỉ do thiên tai mà còn do nhân hoạ gây ra.
những ảnh hưởng bất lợi đó cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ mang lại cho nền kinh tế Trung
Quốc hai năm vừa qua, như đầu tư nước ngoài giảm, xuất khẩu sụt, giá từ đồng tiền thực tế bị
<b>II. NHỮNG BÀI HỌC CỦA CUỘC CẢI CÁCH THỂ CHẾ KINH TẾ Ở TRUNG QUỐC</b>
Như bên trên đã nói, Trung Quốc khơng phải là nước duy nhất thực hiện cải cách kinh tế,
xoá bỏ thể chế kinh tế kế hoạch tập trung cũ, song nước này đã gặt hái được nhiều thành công
khiến cho các nước khác phải ngưỡng mộ. Viện sỹ Ơ Bơgơmơlốp (Nga) đã nhận xét, có nhiều
người cho rằng các nước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường "nhất định sẽ kéo theo các xung
đột đổ máu hay ít ra là mất mát và thiếu thốn vật chất. Kinh nghiệm của các nước Trung và Đông
Âu, của Nga và các nước SNG khác dường như khẳng định điều đó. Thế nhưng cải cách thị
trường của Trung Quốc đã chứng minh điều ngược lại. Ngay từ những ngày đầu, cải cách của
Trung quốc đã cải thiện về kinh tế và cuộc sống cho nhân dân, và cho đến nay vẫn duy trì tốc độ
tăng trưởng cao”. Vì sao lại như vậy, và có thể rút ra được những bài học gì từ “cuộc cách mạng
thứ hai” này của người Trung Quốc
<i><b>1. Cải cách toàn diện, song phải coi cải cách thể chế kinh tế là trọng điểm </b></i>
Ngay từ đầu, Trung Quốc đã chủ trương cải cách toàn điện. Nhà lãnh đạo Trung Quốc
Đặng Tiểu Bình, người được coi là kiến trúc sư của công cuộc cải cách của Trung Quốc nói: "Cải
cách là tồn diện, bao gồm cải cách thể chế kinh tế, cải cách thể chế chính trị và cải cách các
lĩnh vực tương ứng khác". Trung Quốc tuy chủ trương cải cách toàn diện, song khi thực hiện
phải có trọng điểm để tập trung sức lực. Trọng điểm chính là cải cách thể chế kinh tế. Sở dĩ
Trung Quốc cải cách thành cơng vì trong khi cải cách tất cả các lĩnh vực, họ đã kiên trì coi cải
cách kinh tế làm trọng điểm. Một số quốc gia khác cải cách thất bại, bởi vì cải cách kinh tế chưa
có kết quả gì rõ rệt, đã vội vã chuyển trọng điểm sang lĩnh vực khác, làm cho chính trị không ổn
định, mà cải cách kinh tế cũng bị bng lỏng, kết quả là cả kinh tế lẫn chính trị đều bị rối loạn.
<i><b>2. Kiên trì về lựa chọn thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa thay thế cho thể</b></i>
<i><b>chế kinh tế kế hoạch truyền thống. </b></i>
Thực hiện cải cách - mở cửa, những người lãnh đạo Trung Quốc đã lựa chọn thể chế kinh
tế thị trường, nền kinh tế được thúc đẩy và phồn vinh, được nhân dân tiếp nhận. Quá trình lựa
chọn và tiếp nhận thể chế kinh tế thị trường ở Trung Quốc có thể chia làm 4 giai đoạn:
khiến nơng nghiệp nhanh chóng phục hồi và phát triển, tạo ra sức thuyết phục để đông đảo
người dân tiếp nhận cuộc cải cách theo hướng thị trường
- Năm 1984, Hội nghị Trung ương 3 khoá XII xác nhận kinh tế XHCN là kinh tế hàng hố
có kế hoạch. Nhận thức của mọi người đã được nâng lên, hiểu rõ hơn về vấn đề phát triển kinh
tế hàng hố là giai đoạn khơng thể bỏ qua.
- Năm 1987, Đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XITI đưa ra mơ hình "Nhà nước điều tiết thị
trường, thị trường dẫn dắt xí nghiệp” đã làm nổi bật tác dụng của thị trường và có thể coi đó là
giai đoạn quá độ từ thuyết kinh tế hàng hoá XHCN sang thuyết kinh tế thị trường XHCN.
Đầu năm 1992, trong bài nói chuyện khi đi thăm các tỉnh phía Nam, Đặng Tiểu Bình đã
nêu ra ý kiến: "Kinh tế kế hoạch không phải là CNXH, chủ nghĩa tư bản cũng có kế hoạch; kinh tế
thị trường khơng phải là CNTB, chủ nghĩa xã hội cũng có thị trường". ý kiến đó một lần nữa giải
phóng tư tưởng cho cán bộ và nhân dân Trung Quốc. Đại hội Đảng lần thứ XIV lại đề ra "lấy xây
dựng nền kinh tế thị trường XHCN làm mục tiêu của cải cách thể chế kinh tế “, cuộc cải cách
theo hướng thị trường hoá càng được thúc đẩy nhanh chóng. Thể chế kinh tế mới đã có vai trị
ưu thế trong vận hành kinh tế
<i><b>3. Kiên trì sách lược cải cách kiểu tiến dần từng bước. </b></i>
Ngay tứ khi mới bắt đầu cải cách, Trung Quốc đã xác định không dùng phương án cải
cách kiểu "bùng nổ", mà đã kiên trì phương án "dị đá qua sơng", áp dụng phương châm trước
dể sau khó, tiến dần từng bước, giảm bớt rủi ro. Thực tiễn chứng minh cách làm này là phù hợp
với Trung Quốc, mang lại kết quả rõ rệt, tránh được những va chạm xã hội lớn và sự phân hoá
hai cực quá nhanh như đã xẩy ra ở Liên Xô cũ và các nước Đông âu do thực hiện "liệu pháp
Cải cách theo phương thức tiến dần của Trung Quốc thể hiện ở mấy phương diện quan
trọng sau:
- Sau khi cải cách ở nông thôn thu được những kết quả thực tế mới mở rộng ra thành phố,
đến năm 1984 cuộc cải cách mới lấy thành phố làm trung tâm.
- Trong việc xây dựng hệ thống thị trường, thì trước hết phát triển thị trường hàng hoá tiêu
dùng rồi đến hàng hố tư liệu sản xuất, sau đó mới chú ý phát triển thị trường các yếu tố sản
xuất như thị trường vốn, sức lao động, kỹ thuật, thông tin v.v..
- Cải cách giá cả, được coi là mấu chốt, quan hệ đến sự thành bại của toàn bộ cải cách
thể chế kinh tế, vì vậy đã được tiến hành rất thận trọng, kết hợp giữa điều chỉnh và thả lỏng, điều
chỉnh trước, thả lỏng sau, sau đó mới gắn với giá cả của thị trường quốc tế. Trọng nền kinh tế kế
hoạch, mọi sản phẩm đều không được thể hiện chính xác giá cả của nó; cuộc cải cách giá trước
hết thực hiện thị trường hoá giá cả các hàng hoá hiện vật và các địch vụ, rồi dần dần thực hiện
thị trường hoá giá các yếu tố sản xuất
- Về kế hoạch hoá các khâu sản xuất, lưu thơng, giá cả..., thì trước hết cho phép một phần
tồn tại ngoài kế hoạch, rồi dần dần mở rộng ra; phần theo kế hoạch thì thu hẹp lại dần. Khi điều
kiện đã chín muồi thì thực hiện sự điều tiết của thị trường. Việc từng bước hợp nhất chế độ hai
giá của tư liệu sản xuất là ví dụ nổi bật về sự quá độ yên ổn từ thể chế cũ sang thể chế mới một
cách tiệm tiến
- Trong mở cửa đối ngoại, mở đầu là xây dựng các đặc khu kinh tế, các thành phố ven
biển, sau đó dần dần mở cửa sâu vào nội địa, và đến nay mới hình thành cục diện mở cửa ra
mọi hướng, mọi cấp độ.
<i><b>4. Xử lý đúng đắn quan hệ biện chứng giữa cải cách, phát triển và ổn định. </b></i>
Thứ hai, phải giữ cho mức độ tăng hàng năm của vật giá bán lẻ ở mức được 10%. Tình
hình Trung Quốc một số năm cho thấy, một khi giá cả tăng trên 10% là nhân dân đã kêu ca, bất
bình, là có tới 20% cư dân ở thành phố bị hạ thấp thu nhập, do đó ảnh hưởng đến sự ổn định
kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, nếu giá cả xuống thấp q cũng khơng phải là điềm lành, nó chứng tỏ
nền kinh tế đã bị ép giảm quá mức độ, hàng hố đã thừa, sản xuất sút kém, khơng có lợi cho sự
hoạt động bình thường của nền kinh tế và sự linh hoạt của thị trường
Thứ ba, việc thực hiện các biện pháp cải cách cần tính tốn đầy đủ đến sự ổn định về tiêu
dùng của người dân. Có rất nhiều lĩnh vực cần cải cách có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của
người dân như vấn đề nhà ở, chữa bệnh, bảo hiểm, dưỡng lão, giáo dục, lao động tiền lương...
Thực hiện những cải cách này, đặc biệt là thực hiện dồn dập rất để vượt quá sức chịu đựng của
người dân, làm cho họ không dám tiêu dùng hoặc tiêu dùng ít, dẫn đến chỗ thị trường tiêu điều,
ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ hàng hoá.
Thứ tư, giữ vững chủ trương cùng giầu có, đề phịng và giảm bớt mức chênh lệch quá lớn
giữa các cá nhân, các đơn vị, các địa phương. Từ khi cải cách, giữa các tầng lớp dân cư và các
địa phương, giữa thành thị và nông thôn đều có hiện tượng chênh lệch thu nhập tăng lên, vấn đề
phân phối không công bằng ngày càng bộc lộ và nổi cộm. Chính sách của Chính phủ Trung
Quốc ln luôn theo hướng thu nhỏ khoảng cách chênh lệch. Biện pháp đánh thuế thu nhập, kết
nghĩa giữa tỉnh giàu với tỉnh nghèo, trích ngân sách để xố đói giảm nghèo.... đã có tác dụng tất
trong việc giữ gìn ổn định và xã hội.
<i><b>5. Kết hợp chặt chẽ giữa cải cách trong nước với mở cửa ra thế giới. </b></i>
Trung Quốc coi cải cách và mở cửa là hai mặt của một chỉnh thể. Sự kết hợp giữa hai mặt
này là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến thành công của cải cách
các nước tư bản phát triển. Trong q trình đó, Trung Quốc đã có chọn lọc để không tiếp thu
những mặt không tốt của các nước này.
<i>Tóm lại,</i> những bài học rút ra từ q trình cải cách khơng chỉ giúp ích cho sự phát triển tiếp
theo của Trung Quốc trên con đường tiến vào thế kỷ mới mà cịn có giá trị tham khảo bổ ích cho
các quốc gia đang có hướng phát triển tương tự
Nhandan.org.vn, cập nhật 18 giờ 4 - 17-11-2003
Hội thảo lý luận với chủ đề: "Chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường - kinh nghiệm của Trung
Quốc, kinh nghiệm của Việt Nam" vừa được tổ chức tại Bắc Kinh, Trung Quốc. Tại hội thảo, đại
diện hai nước đã trình bày 20 bản báo cáo khoa học (Việt Nam: chín, Trung Quốc: 11). Chúng tôi
xin lược thuật giới thiệu cùng bạn đọc một số nội dung chính được đề cập trong các ý kiến phát
biểu tham luận cùng các bài viết gửi tới Hội thảo.
Phát triển kinh tế thị trường XHCN (Trung Quốc) và kinh tế thị trường định hướng XHCN (Việt
Nam) là yêu cầu tất yếu, là bước đột phá về tư duy lý luận của hai Ðảng
Theo báo cáo đề dẫn của đồng chí Lưu Vân Sơn, Trung Quốc chính thức khởi xướng cải cách,
mở cửa từ Hội nghị T.Ư 3 (khóa XI - 1978). Hội nghị đã đề ra quyết sách chiến lược chuyển từ
tình trạng kinh tế bị kìm hãm do các mặt trái của cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cải cách,
mở cửa bằng thể chế kinh tế định hướng thị trường. Cuộc cải cách bắt đầu từ nông thôn, thực
hiện chế độ khốn hộ gia đình, cho phép nơng dân được hưởng quyền tự chủ sản xuất lớn hơn.
Chính sách này tác động mạnh mẽ tinh thần tích cực của nông dân. Công cuộc cải cách được
Ðại hội XII của Ðảng (1982) chủ trương tiếp tục đẩy mạnh. Ðại hội khẳng định xây dựng CNXH
đặc sắc Trung Quốc và nêu nguyên tắc: "Kinh tế kế hoạch là chính, điều tiết thị trường là phụ".
Hội nghị T.Ư 3 (khóa XII) quyết định cải cách thể chế kinh tế, chỉ rõ kinh tế hàng hóa trong việc
phát triển kinh tế - xã hội. Ðại hội XIII (1987) xác định mơ hình quản lý kinh tế: "Nhà nước điều
hành thị trường, thị trường hướng dẫn doanh nghiệp", làm cho cuộc cải cách kinh tế tiến thêm
một bước quan trọng. Tại Ðại hội XIV (1992), Trung ương Ðảng trình bày Báo cáo chính trị về lý
Với chủ đề "Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam; quan niệm và giải pháp" báo cáo
đề dẫn của đồng chí Nguyễn Phú Trọng, nêu ba luận điểm lớn trả lời cho câu hỏi vì sao Việt
Nam lựa chọn mơ hình kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN và khẳng định:
nhiều thành phần với những hình thức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết hợp lợi ích cá
nhân, tập thể và xã hội; chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con người, có nhận thức mới về
chính sách xã hội. Ðại hội VI là một cột mốc đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức
của Ðảng Cộng sản Việt Nam về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Ðó là kết quả
của cả một q trình tìm tịi, thử nghiệm, suy tư, đấu tranh tư tưởng rất gian khổ, kết tinh trí tuệ
và cơng sức của tồn Ðảng, toàn dân trong nhiều năm.
Hội nghị T.Ư 6 (tháng 3-1989) khóa VI, phát triển thêm một bước, đưa ra quan điểm phát triển
nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên CNXH, coi "chính sách kinh tế
nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH".
Ðến Ðại hội VII (tháng 6-1991), Ðảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nói rõ hơn chủ trương này và
khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đường đi lên CNXH của Việt Nam. Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH của Ðảng khẳng định: "Phát triển nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước". Ðại hội VIII của Ðảng (tháng 6-1996) đưa ra một kết luận mới rất quan
trọng: "Sản xuất hàng hóa khơng đối lập với CNXH mà là thành tựu phát triển của nền văn minh
Sự phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam và KTTT XHCN ở Trung Quốc đều là tất yếu
khách quan, và do lợi ích sống cịn của chế độ XHCN quy định, phù hợp với tình hình mỗi nước.
Ðồng chí Lưu Vân Sơn, dẫn lời đồng chí Giang Trạch Dân khẳng định rằng, KTTT XHCN ở
Trung Quốc không phải là "Vẽ rắn thêm chân" mà thật sự là "vẽ rồng, điểm mắt".
Từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN (Trung Quốc) và từng bước xây dựng
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN (Việt Nam)
Ðây là nội dung quan trọng thứ hai mà cuộc hội thảo lý luận giữa Ðảng Cộng sản Trung Quốc và
Ðảng ta đặt ra. Giáo sư Hàn Bảo Giang, Chủ nhiệm phịng vi mơ, Ban kinh tế học, Trường Ðảng
T.Ư Ðảng Cộng sản Trung Quốc trong tham luận về quá trình thể chế kinh tế Trung Quốc chuyển
sang thị trường hóa và những vấn đề tồn tại trong thể chế hiện hành. Tiêu chuẩn đánh giá cải
cách, phải xem "có lợi cho phát triển lực lượng sản xuất XHCN hay khơng; có lợi cho tăng cường
sức mạnh tổng hợp của Nhà nước XHCN hay khơng, có lợi cho nâng cao mức sống của nhân
dân hay không".
Qua 24 năm cải cách theo hướng thị trường hóa (từ năm 1978 đến nay), sự đổi mới của thể chế
kinh tế Trung Quốc đã có những tiến triển mang tính đột phá, bước đầu hình thành bộ khung cơ
bản của thể chế KTTT XHCN.
Việc từng bước xây dựng nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, một số bài viết lý giải đó là
Về chế độ kinh tế cơ bản, chế độ phân phối
Ðồng chí Vương Thiên Nghĩa, Giáo sư, Chủ nhiệm Phịng nghiên cứu chính sách, Ban Kinh tế
học, Trường Ðảng T.Ư ÐCS Trung Quốc cho biết: Ðại hội XVI của Ðảng Cộng sản Trung Quốc
nhấn mạnh chế độ kinh tế cơ bản của Trung Quốc là lấy chế độ công hữu làm chủ thể, kinh tế
nhiều loại sở hữu cùng phát triển, nhấn mạnh tiếp tục điều chỉnh bố cục và kết cấu kinh tế quốc
hữu, cải cách thể chế quản lý tài sản quốc hữu là nhiệm vụ quan trọng của đi sâu cải cách thể
chế kinh tế. Lý giải và nắm bắt chế độ kinh tế cơ bản và cải cách kinh tế quốc hữu là một mặt
quan trọng trong lý giải và nắm bắt cải cách thể chế kinh tế và diễn biến cơ cấu kinh tế xã hội
Trung Quốc. Lấy chế độ công hữu làm chủ thể, không phải là lấy kinh tế quốc hữu làm chủ thể.
Từ khi cải cách, mở cửa đến nay, kết cấu chế độ sở hữu của Trung Quốc đã có thay đổi quan
trọng, chế độ cơng hữu xuất hiện nhiều hình thức đa dạng, nó vừa bao gồm kinh tế quốc hữu và
kinh tế tập thể, cũng bao gồm cả thành phần quốc hữu và thành phần tập thể trong kinh tế hỗn
hợp. Lấy chế độ cơng hữu làm chủ thể, là nói chung cả nền kinh tế quốc dân, và cũng không yêu
cầu mỗi ngành, mỗi khu vực, mỗi doanh nghiệp đều phải lấy chế độ công hữu làm chủ thể. Lấy
chế độ công hữu làm chủ thể, mấu chốt là khả năng kiểm soát kinh tế quốc hữu đối với kinh tế
quốc dân, khả năng kiểm soát của kinh tế quốc hữu đối với kinh tế quốc dân là cơ sở và đảm
bảo cho địa vị chủ thể của nền kinh tế công hữu. Ðối với kinh tế phi cơng hữu, Chính phủ Trung
độ phân phối. Về cơ chế quản lý kinh tế, từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, căn bản không
sử dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ, quan hệ thị trường; đã chuyển sang từng bước thực hiện cơ
chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Về quan hệ phân phối, từ
chỗ xác định chỉ có một nguyên tắc của CNXH là phân phối theo lao động, đã chuyển sang thực
hiện nhiều hình thức phân phối, phù hợp với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định
hướng XHCN, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời
phân phối dựa trên mức đóng góp của các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và phân
phối thông qua phúc lợi xã hội; đi liền với chính sách điều tiết thu nhập, thực hiện bảo hiểm xã
hội cho người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế.
Phát triển kinh tế đi đơi với phát triển văn hóa, xã hội, giải quyết mối quan hệ giữa cải cách, đổi
mới, ổn định và phát triển
Quan điểm của Trung Quốc được nêu trong các tham luận là, việc xây dựng thể chế KTTT
XHCN liên quan các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. Ðó là một cơng trình tổng thể phức tạp,
cũng là sự đổi mới xã hội sâu sắc. Các tham luận của Ðoàn Việt Nam cũng nêu rõ chủ trương
của Ðảng ta: tăng trưởng kinh tế đi đơi với phát triển văn hóa, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã
hội, coi đó là nội dung rất quan trọng của định hướng XHCN, bảo đảm tính ưu việt của chế độ xã
hội mới, nhằm tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển sản xuất, thực hiện sự bình đẳng và điều tiết
các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu chính đáng, giữ vững mơi trường ổn định
chính trị, xã hội.
Chung quanh vấn đề phát triển kinh tế gắn với phát triển văn hóa xã hội, thực hiện tiến bộ, công
bằng xã hội, một số bài viết của các nhà khoa học Trung Quốc phân tích sâu chính sách phân
phối thu nhập của Trung Quốc gồm sáu giai đoạn, từ Hội nghị T.Ư 3 khóa XI của Ðảng Cộng sản
Trung Quốc tháng 12-1978 đến Ðại hội XVI của Ðảng, tháng 11-2002. Từ việc khắc phục chủ
thì ngồi phân phối theo lao động, phân phối theo vốn và nguồn lực khác vào sản xuất là hết sức
cần thiết để thúc đẩy sản xuất, tăng trưởng kinh tế, phải được coi là cơng bằng. Ðây chính là
quan niệm mới về sự thực hiện công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam.
Nhưng khi nền KTTT có sự tăng trưởng khá thì cũng là khi mặt tiêu cực của nó tác động tương
đối mạnh đến các mặt của đời sống xã hội. Tăng trưởng kinh tế nhanh trong điều kiện cơ chế thị
trường đã làm cho bảng giá trị của xã hội, trong một số trường hợp, biến động theo chiều hướng
tiêu cực. Bất công xã hội có nguy cơ tăng lên. Những hành vi phản văn hóa, những biểu hiện của
lối sống thực dụng, quay lưng lại với những giá trị truyền thống... cũng nảy sinh trong đời sống
xã hội. Ðã xuất hiện và nảy sinh mâu thuẫn giữa sự tăng trưởng kinh tế với phân phối các giá trị
vật chất cũng như giá trị tinh thần do tăng trưởng kinh tế đem lại. Trong số các vấn đề xã hội cần
quan tâm thì công bằng xã hội là một trong những vấn đề đáng lưu tâm nhất. Kinh tế càng tăng
trưởng thì vấn đề công bằng xã hội càng được đặt ra một cách bức xúc, vì thế Ðảng và Nhà
Rút kinh nghiệm từ những bài học đắt giá trong việc hoạch định chính sách phát triển của các
nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam đã chủ trương coi con người vừa là mục tiêu, vừa
là động lực của sự phát triển xã hội; không chờ tới khi kinh tế phát triển cao rồi mới thực hiện các
chính sách về công bằng xã hội, mà ngay từ khi bắt đầu tiến hành đổi mới đã phải kết hợp các
nhiệm vụ kinh tế với các nhiệm vụ xã hội; giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới chính sách kinh
tế với đổi mới chính sách xã hội, coi đó là một phương thức để thực hiện cơng bằng xã hội.
Thực tiễn trên đã chứng tỏ rằng khi có chính sách xã hội đúng đắn đi liền với chính sách tăng
trưởng kinh tế thì có thể khắc phục được những mặt tiêu cực của KTTT mà không làm mất đi
tính năng động và hiệu quả của bản thân cơ chế thị trường. Ðó chính là ngun nhân đã khiến
cho cộng đồng quốc tế đánh giá cao kết quả của việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam".
Từ thực tiễn cải cách, đổi mới của mình, nhiều tham luận của Ðồn Trung Quốc nhấn mạnh kinh
nghiệm quý trong phát triển nền KTTT, đó là phải luôn luôn giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa
"cải cách, phát triển, ổn định". "Cải cách là động lực, phát triển là mục tiêu, ổn định là tiền đề".
Ðồng chí Lưu Vân Sơn đã phân tích sâu sắc bài học kinh nghiệm này: "Cải cách, phát triển và ổn
định như là ba quân cờ chiến lược gắn bó khăng khít với nhau trên bàn cờ xây dựng hiện đại
hóa của Trung Quốc, mỗi nước cờ đều đi đúng chỗ và thúc đẩy lẫn nhau thì sẽ làm sống cả ván
cờ. Nếu nước cờ nào đi khơng đúng chỗ, thì hai nước cờ khác cũng sẽ sa vào cảnh khó khăn, sẽ
có thể làm hỏng cả ván cờ. Cải cách, phát triển và ổn định có mối liên hệ bên trong khơng thể
tách rời nhau, cải cách là động lực, phát triển là mục đích, ổn định là tiền đề. Trung Quốc giải
quyết vấn đề gì đều phải dựa vào sự phát triển của bản thân mình, cần phải kiên trì lấy xây dựng
kinh tế làm trung tâm, coi phát triển là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Ðảng trong việc cầm
quyền và chấn hưng đất nước, nắm bắt mọi cơ hội, đẩy nhanh bước phát triển. Cải cách là con
đường tất yếu để xây dựng và hoàn thiện thể chế KTTT XHCN, cần phải đẩy mạnh cải cách về
các mặt một cách tồn diện, kiên quyết xóa bỏ tệ nạn mang tính thể chế ảnh hưởng đến sự phát
triển. Ổn định là trên hết, khơng có mơi trường chính trị - xã hội ổn định thì khó có thể nói đến
những thứ khác, và quy hoạch cải cách và phát triển dù tốt đến mấy cũng khó thực hiện được.
Chúng tơi căn cứ vào tình hình cụ thể của từng thời kỳ khác nhau, nắm bắt tồn cục, dày cơng
Sự lãnh đạo của Ðảng và vai trò quản lý của Nhà nước
Ðây là vấn đề được nhiều tham luận đề cập. Ðoàn Trung Quốc đã thể hiện phân tích chủ trương
thực hiện hiệp thương chính trị do Ðảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo, "Chính trị thơng suốt,
nhân dân hịa thuận", "quyết khơng thực hiện chế độ đa đảng và tam quyền phân lập", "quyết
không làm tư hữu hóa". Ðảng Cộng sản Trung Quốc ln luôn là hạt nhân lãnh đạo của sự
nghiệp XHCN đặc sắc Trung Quốc... đại diện cho lợi ích căn bản của đông đảo nhân dân Trung
Quốc. Phát triển KTTT vừa mang lại sức sống mới cho việc xây dựng bản thân của Ðảng Cộng
sản Trung Quốc, đồng thời cũng khiến Ðảng đứng trước những thách thức gay go. Việc phát
triển KTTT đặt việc xây dựng Ðảng vào môi trường mới và phức tạp. Ðảng phải cải cách phương
thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền, chủ yếu là phải quản lý đất nước theo pháp luật và
xử lý tốt mối quan hệ giữa Ðảng với chính quyền. Sự phân hóa về lợi ích xã hội đòi hỏi Ðảng
phải điều hòa tốt mối quan hệ lợi ích giữa các nhóm có lợi ích khác nhau; về vấn đề đảng viên
nảy sinh tư tưởng mơ hồ trong môi trường KTTT như dao động niềm tin, sùng bái hàng hóa...
đặc biệt là hiện tượng tham nhũng tương đối nghiêm trọng đã xuất hiện trong Ðảng. Hàng loạt
vấn đề đặt ra yêu cầu Ðảng phải có biện pháp lãnh đạo, ngăn chặn sự tác động của những mặt
trái do KTTT gây ra.
Khẳng định vai trò lãnh đạo của Ðảng, sự quản lý của Nhà nước đối với nền KTTT định hướng
XHCN ở Việt Nam, các tham luận của Ðoàn Việt Nam cho rằng: đây là vấn đề có tính ngun
tắc, định hướng cho sự phát triển của nền kinh tế này. Ðảng lãnh đạo bằng chủ trương, đường
lối, Nhà nước quản lý bằng pháp luật, chính sách, bằng các cơng cụ quản lý vĩ mô. Trong báo
cáo đề dẫn của Ðồn Việt Nam do đồng chí Nguyễn Phú Trọng trình bày nhấn mạnh thêm:
"Càng đi sâu vào KTTT, thực hiện dân chủ hóa xã hội, mở rộng hợp tác quốc tế càng phải tăng
Bằng lý luận và thực tiễn, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hữu Nghĩa, Ủy viên T.Ư Ðảng, Phó Chủ tịch
Thường trực Hội đồng lý luận T.Ư đã phân tích vai trị lãnh đạo của Ðảng và quản lý của Nhà
nước trong quá trình phát triển KTTT định hướng XHCN. Ðồng chí chỉ rõ bản chất nền KTTT,
nhất là các mặt trái của nó và khẳng định: "Tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng và vai trò quản lý
của Nhà nước chính là tăng cường sự tác động của chính trị XHCN đối với KTTT để thúc đẩy
KTTT phát triển đúng định hướng XHCN; ngược lại, sự phát triển của KTTT sẽ buộc Ðảng phải
tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nhất là đổi mới phương thức lãnh đạo, còn Nhà nước phải đổi mới tổ
chức và phương thức hoạt động, phải cải cách hành chính cho phù hợp với yêu cầu, quy luật
của KTTT.
Như vậy, trong quan niệm của Ðảng Cộng sản Việt Nam và thực tiễn "phát triển nền KTTT định
hướng xã hội chủ nghĩa" ở Việt Nam vừa qua đã phản ánh sinh động tư tưởng biện chứng rất
quan trọng của Lê-nin - tư tưởng về sự tự giác kết hợp các mặt đối lập biện chứng: chủ nghĩa xã
hội và KTTT, những mặt đối lập tưởng chừng không thể kết hợp được như "đất với trời", như
"nước với lửa". Vấn đề còn lại là ở chỗ kết hợp như thế nào để tạo ra những "âm thanh du
dương êm tai" chứ khơng phải những "điệu nhạc chói tai" như V.I.Lê-nin từng ví von một cách
hình ảnh. Vai trị lãnh đạo của Ðảng Cộng sản và quản lý của Nhà nước XHCN là nhân tố có ý
nghĩa quyết định của sự kết hợp đó".
Thực hiện sự lãnh đạo của Ðảng và sự quản lý của Nhà nước sẽ hạn chế được tính tự phát và
bảo đảm định hướng XHCN cho sự phát triển của nền KTTT, thực hiện hài hịa giữa chính trị và
KTTT, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.
Một số vấn đề bức xúc đặt ra phải giải quyết
Trong các tham luận, cả Trung Quốc và Việt Nam đều nêu những kết quả, thành tựu của nền
KTTT nhưng cũng thấy rõ những mặt tiêu cực của nó, song chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn
chặn. Ðó là những vấn đề tham nhũng, lãng phí và nhiều biểu hiện tiêu cực khác cịn nhức nhối.
Kết thúc bản báo cáo đề dẫn của Ðoàn Việt Nam, đồng chí Nguyễn Phú Trọng cũng chỉ rõ: Phát
triển KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình tất yếu phù hợp với quy luật thời đại và
đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Tuy nhiên, đây là sự nghiệp vơ cùng khó khăn, phức
tạp, lâu dài, bởi lẽ nó rất mới mẻ, chưa có tiền lệ, phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Riêng về
mặt lý luận cũng cịn khơng ít vấn đề phải tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu, tổng kết, làm sáng tỏ.
Chẳng hạn như: các vấn đề về chế độ sở hữu và các thành phần kinh tế; về lao động và bóc lột;
về quản lý doanh nghiệp Nhà nước ra sao để nó đóng được vai trò chủ đạo; làm thế nào để thực
hiện được cơng bằng xã hội trong điều kiện kinh tế cịn thấp kém; vấn đề bản chất giai cấp công
nhân của Ðảng trong điều kiện phát triển kinh tế nhiều thành phần; các giải pháp tăng cường sức
mạnh và hiệu lực của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, chống quan liêu, tham nhũng, v.v...
Thấy rõ những vấn đề tồn tại trong thể chế hiện hành, Giáo sư Hàn Bảo Giang, Chủ nhiệm
phịng vi mơ, Ban Kinh tế học, Trường Ðảng T.Ư Ðảng Cộng sản Trung Quốc khẳng định:
"Trước hết, chức năng quản lý cơng cộng của chính quyền lẫn lộn không rõ ràng với chức năng
của người sở hữu tài sản Nhà nước, thể chế KTTT quá ưu tiên cho doanh nghiệp quốc hữu và
chính quyền can thiệp quá mức đã làm đảo lộn cơ chế phân phối tài nguyên bằng thị trường, làm
giảm hiệu quả phân phối tài nguyên, cản trở kinh tế tăng trưởng, làm tổn hại đến an ninh kinh tế
Kết thúc hội thảo cả Trung Quốc và Việt Nam đều thấy rõ hơn ý nghĩa sâu sắc của vấn đề mà hội
thảo đưa ra và cả hai bên đều học tập được lẫn nhau những kinh nghiệm quý báu trong việc
thực hiện nền KTTT XHCN, hay KTTT định hướng XHCN.
Ban xây dựng đảng
BÁO NHÂN DÂN
---
---Một số quan điểm về phân phối cần quán triệt khi cải cách tien lương
<b>Phân phối là một khâu quan trọng trong quá </b>
<b>trình tái sản xuất và là một trong ba mặt của </b>
<b>hệ thống quan hệ sản xuất, có liên quan trực </b>
<b>tiếp đến lợi ích kinh tế của các tổ chức, các chủ thể và các cá nhân trong xã hội. </b>
<b>Phân phối vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, vừa là </b>
<b>thước đo mức độ phù hợp giữa sản xuất và tiêu dùng. Vì vậy mà từ lâu, nó đã trở </b>
<b>thành vấn đề nhạy cảm, chi phối sự vận động của các quá trình kinh tế – xã hội, </b>
<b>nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, mơ hình mới mẻ, </b>
<b>chưa có tiền lệ trong lịch sử. </b>
Xuất phát từ vai trò quan trọng của phân phối, Đảng ta hết sức
quan tâm đến việc cải tiến, từng bước hoàn thiện quan hệ phân phối.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “Kinh tế thị
Như vậy có thể hiểu, cơ chế phân phối thu nhập ở nước ta bao gồm
các nguyên tắc phân phối của kinh tế thị trường (chịu ảnh hưởng của quy
luật giá trị) và nguyên tắc phân phối của CNXH (chịu ảnh hưởng của quy
luật kinh tế cơ bản và quy luật phát triển có kế hoạch và cân đối nền
KTQD). Mặt khác, cơ chế phân phối bao gồm quá trình phân phối lần đầu
và phân phối lại.
<b>1. Phân phối theo kết quả lao động và phân phối theo lao động:</b>
Phân phối theo lao động tức là dùng thước đo số lượng, chất lượng
lao động để đo mức độ cống hiến và hưởng thụ của người lao động.
Còn phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là phân
phối dựa trên mức độ đạt được của lao động về chất lượng và năng suất
lao động, hoặc dựa vào hiệu quả kinh tế, tức là lợi ích kinh tế đưa lại
so với chi phí bỏ ra. Trong hiệu quả kinh tế có hiệu quả lao động. Hiệu
quả lao động là so sánh giữa kết quả đạt được và khả năng của bản thân
người lao động.
Như vậy, nếu xét về bản chất thì phân phối theo kết quả lao động
thuộc phạm trù phân phối theo lao động. Tuy nhiên, mức độ phạm vi có
khác nhau:
Trước hết phân phối theo lao động, theo quan niệm cũ, chịu sự chi
phối hoàn toàn của quy luật kinh tế dưới CNXH. Tức là, sản xuất theo kế
dưới hình thái giá trị sẽ thu hẹp dần. Hơn nữa, dưới CNXH khơng có mâu
thuẫn về lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Ngược lại, phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế
chịu ảnh hưởng của quy luật giá trị tức là phải trao đổi ngang giá. Lao
động chỉ được trả công khi được xã hội thừa nhận (tức là sản phẩm được
xã hội thừa nhận). Nếu sản xuất có hiệu quả thì phát triển, sản xuất
kém phải đóng cửa. Điều đó đã đẩy mạnh cạnh tranh, tạo động lực của sự
phát triển.
Vấn đề đặt ra là phải đánh giá được hiệu quả lao động. Trong cải
cách tiền lương tới đây, rất cần thiết phải mở rộng hơn nữa quyền tự
chủ của các chủ doanh nghiệp trong phân phối thu nhập. Bảo đảm nguyên
tắc người làm nhiều (năng suất cao, chất lượng và hiệu quả tốt) được
hưởng nhiều, người làm ít hưởng ít…
Có ý kiến cho rằng, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì
đương nhiên người lao động được nhận khoản thu nhập tương đương giá cả
sức lao động của mình thơng qua thoả thuận với chủ doanh nghiệp. Còn
kết quả lao động hay hiệu quả kinh tế là do hoạt động của nhà quản lý
mà không liên quan tới người lao động. Tức là, thu nhập của người lao
động không phụ thuộc vào kết quả lao động, mà phụ thuộc vào thoả thuận
2 bên. Chúng tơi cho rằng điều đó đúng nhưng khơng đủ. Đúng vì nó gắn
với kinh tế thị trường, nhưng chưa đầy đủ ở chỗ chưa gắn thu nhập với
tinh thần trách nhiệm của người lao động. Mặt khác, về phương diện quản
<b>2. Phân phối theo mức độ đóng góp các nguồn lực:</b>
Đây là vấn đề có tính ngun tắc trong nền kinh tế thị trường.
Muốn có thu nhập thì phải bán các yếu tố sản xuất thuộc quyền sở hữu
của mình như vốn, lao động, đất đai, công nghệ, kỹ thuật…Vận dụng vào
điều kiện Việt Nam, Đảng ta chủ trương thúc đẩy sự hình thành, phát
triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng XHCN,
đặc biệt quan tâm các thị trường quan trọng nhưng hiện chưa có, hoặc
cịn sơ khai như thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường
bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ… nhằm hình thành và phát
triển thị trường các yếu tố sản xuất.
Khi phân phối theo nguồn lực đóng góp thì mọi thành viên đều tham
gia quản lý. Nhờ đó, hiệu quả quản lý sẽ cao hơn, người ta sẽ tìm cách
để doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. Có thể nói, đây là chìa khố quan
trọng thúc đẩy sản xuất, nhất là trong các lĩnh vực độc quyền. Chúng
tơi cho rằng, cần đẩy mạnh tiến trình cổ phần hố, vừa làm vừa rút kinh
nghiệm, khơng cầu tồn.
<b>3. Phân phối thơng qua quỹ phúc lợi:</b>
Như đã phân tích, cơ chế phân phối trong nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN chịu ảnh hưởng của 2 loại quy luật kinh tế. Xuất phát
từ thực tế khách quan dưới CNXH tồn tại đan xen 2 hình thức sở hữu chủ
Ta biết rằng, phần giá trị thặng dư (m) khơng phải hồn tồn là
của chủ doanh nghiệp (kể cả các doanh nghiệp tư bản ngày nay). Mà trong
đó có một phần trích lại để phân phối lại cho người lao động thông qua
các phúc lợi xã hội. Thường thì phần lợi nhuận sau thuế được các doanh
nghiệp trích một phần làm quỹ phúc lợi theo quy định thống nhất của Nhà
nước.
Phân phối thông qua quỹ phúc lợi còn thể hiện ở chỗ điều tiết thu
nhập. Đánh thuế thu nhập của những người có thu nhập cao hỗ trợ người
nghèo. Đầu tư cơ sở hạ tầng để phát triển nông thôn, rút dần khoảng
cách nông thôn, thành thị.
Đảng ta đã đề ra các giải pháp: Thực hiện chương trình xố đói
giảm nghèo thơng qua những biện pháp cụ thể, sát với tình hình từng địa
phương, sớm đạt mục tiêu khơng cịn hộ đói, giảm mạnh hộ nghèo, tiếp tục
tăng nguồn vốn xố đói giảm nghèo, mở rộng các hình thức tín dụng, trợ
giúp người nghèo sản xuất kinh doanh. Có chính sách trợ giá nơng sản,
phát triển việc làm và nghề phụ, nhằm tăng thu nhập của các hộ nông
dân. Thực hiện các chính sách xã hội, bảo đảm an tồn cuộc sống mọi
thành viên cộng đồng, bao gồm BHXH đối với người lao động thuộc các
thành phần kinh tế, phải cứu trợ xã hội những người gặp rủi ro bất
hạnh.
<b>Góp phần đổi mới tư duy về thể chế kinh tế thị trường </b>
<b>định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam</b>
<i>Ngày 21/12/2004. Cập nhật lúc 14h<sub> 0' </sub></i>
<b>Qua gần 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, tư duy về kinh tế thị trường (KTTT) ở </b>
<b>nước ta đã từng bước được hình thành và phát triển, phát huy hiệu quả trong hoạt động thực tiễn</b>
<b>đời sống xã hội. </b>
Trước đổi mới, Việt Nam đã áp dụng cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ theo mơ hình của Liên Xơ và
các nước Đơng Âu. Trong mơ hình này, sở hữu tư nhân và cá nhân bị coi nhẹ, lấy mục tiêu phát triển
quan hệ sản xuất là chủ yếu; xây dựng nền kinh tế hầu như khép kín, khơng tham gia tích cực vào phân
cơng lao động quốc tế, khơng coi trọng đúng mức vai trị của các ngành dịch vụ, không chú trọng phát
triển quan hệ hàng hóa tiền tệ,và các yếu tố thị trường trong nền kinh tế. Trong thời kỳ đổi mới, quan
điểm, nhận thức về KTTT đã được dần dần đổi mới, hoàn thiện qua các nhiệm kỳ đại hội Đảng.
Đại hội VI của Đảng đã khẳng định: quá trình chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn của nước ta là q
trình chuyển hóa nền kinh tế cịn mang nhiều tính chất tự túc, tự cấp thành nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần; khẳng định sự cần thiết của quan hệ hàng hóa - tiền tệ dưới CNXH, coi tính kế hoạch là đặc
trưng số một, sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa - tiền tệ là đặc trưng thứ hai của cơ chế quản lý kinh
tế mới.
Đại hội VII của Đảng tiến thêm một bước về nhận thức lý luận, xác định: ''Cơ chế vận hành nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác''.
Trên cơ sở tổng kết 10 năm đổi mới, tại Đại hội VIII Đảng ta đã khẳng định: sản xuất hàng hóa khơng đối
lập với CNXH, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan; và chủ trương
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,
theo định hướng XHCN. Đến Đại hội IX, Đảng ta mới chính thức đưa ra khái niệm ''kinh tế thị trường định
Sự khẳng định của Nghị quyết Đại hội IX về xây dựng nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là một
bước phát triển về nhận thức lý luận so với quan niệm về ''nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trướng có sự quản lý của Nhà nước'' được nêu ra tại Đại hội VIII. Đặc trưng cơ bản
thuộc về bản chất của nền KTTT định hướng XHCN dược thể hiện ở mục tiêu ''độc lập dân tộc gắn liền
với CNXH”; xây dựng một đất nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nền
KTTT định hướng XHCN được cấu thành từ nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn
tại trong thể thống nhất, trong đó cơng hữu ngày càng trở thành nền tảng vững chắc, tăng trưởng kinh tế
gắn liền hữu cơ với đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội trong từng bước phát triển; lấy phân phối thu
nhập theo hiệu quả kinh doanh và năng suất lao động là chính, đồng thời kết hợp với các hình thức phân
phối thu nhập theo vốn, tài sản trí tuệ và phúc lợi xã hội. Xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do
dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Trong nền KTTT định hướng XHCN, Nhà nước có vai trị quan trọng trong việc giữ vững định hướng
phát triển, tạo các tiền đề để xây dựng, phát triển các loại hình thị trường, thúc đẩy quá trình CNH, HĐH
đất nước, thực hiện chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Hiện nay, nước ta đang ở giai đoạn đầu của quá trình xây dựng nền KTTT định hướng XHCN, nên Nhà
nước phải ngày càng thoát ly khỏi các hoạt động kinh doanh, nhưng vai trò kinh tế của nhà nước ngày
càng quan trọng trong việc đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Nhà nước
khơng chỉ có vai trị làm cho thị trường hoạt động hiệu quả, mà còn phải sử dụng KTTT phục vụ cho mục
tiêu của CNXH. Điều này đòi hỏi Nhà nước phải làm tốt chức năng quản lý nền kinh tế, thể hiện qua các
nội dung sau:
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo một môi trường kinh
tế vĩ mô ổn định.
- Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần dựa trên nhiều hình thức sở hữu,
tạo ta một mơi trường khuyến khích cạnh tranh và một sân chơi bình đẳng cho mọi doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế, trong việc đào tạo và sử dụng các nguồn lực cho các hoạt động sản xuất, kinh
doanh.
- Tạo môi trường thuận lợi cho sự hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị thị trường như thị trường
tài chính, thị trường hàng hóa và dịch vụ, thị trường lao động, thị trường quyền sử dụng đất...nhằm giải
phóng lực lượng sản xuất và thực hiện vai trò tổ chức, quản lý để cho các loại thị trường này hoạt động
theo các quy luật vốn có.
- Cung ứng hàng hóa cơng cộng, những hàng hóa và dịch vụ mà thị trường cung ứng không đầy đủ, đặc
biệt là kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội. - Cung cấp các dịnh vụ xã hội, tăng chi tiêu cho giáo dục, y tế và
các địch vụ xã hội khác, đồng thời phải đảm bảo cho mọi ngưới được bình đẳng trong việc tiếp cận các
dịch vụ đó.
- Cung cấp một khung pháp lý đầy đủ, đồng bộ, nhất quán, minh bạch và vững chắc; không chỉ là một hệ
thống luật lệ và quy định, mà còn bao hàm các định chế cần thiết để thực hiện và cưỡng chế việc thi
hành pháp luật và giải quyết tranh chấp như tòa án và các cơ quan cưỡng chế thi hành luật.
- Kiểm tra, giám sát và điều chỉnh nhằm kịp thời phát hiện và xử lý những sai sót, ách tắc, đổ vỡ, những
khó khăn, vướng mắc cũng như những cơ hội phát triển kinh tế nhằm đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động
hiệu quả và theo đúng định hướng XHCN.
Tuy nhiên, so với mục tiêu và yêu cầu đặt ra, sự phát triền thể chế KTTT ở Việt Nam cịn có những hạn
chế như:
- Nhận thức lý luận về KTTT định hướng XHCN còn chậm so với thực tiễn phát triển, nhiều vấn đề thực
tiễn đặt ra còn chưa được tổng kết, giải quyết kịp thời. Do vậy, hành động còn thiếu nhất quán, bất cập,
làm cho quá trình phát triển của KTTT bị chậm trễ.
- Mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và hoạt động của doanh nghiệp chưa được giải
quyết hiệu quả, làm giảm hiệu lực quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Mối quan hệ giữa vai trò của Nhà nước,
doanh nghiệp và thị trường, nhất là về mặt lợi ích kinh tế, chưa được xử lý tốt, chưa phát huy được tính
năng động của Nhà nước cũng như vai trò thúc đẩy của thị trường, đặc biệt là vai trò lực lượng xung kích
của doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế.
- Thể chế KTTT - kể cả hệ thống pháp luật và chính sách của Nhà nước - mặc dù đã dần được hình
thành, song cịn chậm, thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán và nhiều mặt chưa phù hợp, gây cản trở, làm méo
mó q trình vận hành của cơ chế thị trường. Hiệu lực quản lý nhà nước còn hạn chế, nhất là trong điều
hành nền kinh tế cịn nặng tính hành chính, quan liêu; phân định chức năng chưa rõ ràng, nhiều khi cịn
có xu hướng bng lỏng chức năng của Nhà nước trong điều tiết KTTT, mặt khác lại duy trì quá lâu sự
độc quyền trong một số lĩnh vực, độc quyền Nhà nước biến thành độc quyền của doanh nghiệp.
Cho đến nay, chúng ta chưa xây dựng được chiến lược tổng thể về hội nhập kinh tế quốc tế, do vậy các
ngành, địa phương và doanh nghiệp còn lúng túng trong việc xác định nội dung, bước đi hội nhập của
mình.
- Tăng trường kinh tế vẫn chủ yếu tăng về lượng còn chất lượng và hiệu quả nền kinh tế thì chưa tương
xứng với đầu tư; khoảng cách phát triển của Việt Nam với các nước trong khu vực chưa được rút ngắn;
sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và sản phẩm chậm được cải thiện, nhất là trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Mặc dù có dấu hiệu phục hồi trong những năm gần đây, nhưng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngồi vẫn có xu hướng giảm sút nghiêm trọng trong cơ cấu đầu tư của xã hội.
- Một số yêu cầu chủ yếu của KTTT như tự do hóa giá cả, tạo mơi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các
thành phần kinh tế, bỏ dần hàng rào bảo hộ đối với doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp nhà
nước,... còn chậm được đáp ứng.
tế. Tình trạng đầu tư chưa theo tín hiệu của thị trường cịn phổ biến, nhiều dự án đầu tư vẫn theo chỉ
định cấp phát, dấn ấn của mơ hình kế hoạch tập trung, cơ chế xin cho vẫn còn tồn tại. Doanh nghiệp,
nhất là doanh nghiệp nhà nước, được xác định là lực lượng chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế, song
- Cải cách thể chế còn chậm, nhất là thủ tục hành chính; các loại thị trường lao động, tiền tệ, chứng
khốn chậm được hình thành, phát triển. Các cơng cụ quản lý nhà nước như quy hoạch, kế hoạch chưa
phát huy được vai trị tích cực dẫn đến tình trạng đầu tư tràn lan, theo phong trào (mía đường, hệ thống
cầu cảng, sản xuất bia...).
Cơ chế thị trường hoạt động kém hiệu quả, quá trình tự do hóa kinh tế diễn ra chậm chạp một phần do
sự chi phối quá mức của Nhà nước vào quá trình sản xuất kinh doanh, mặt khác do duy trì quá lâu quan
hệ kinh tế phi thị trường giữa Nhà nước và doanh nghiệp; các nguyên tắc thị trường còn bị vi phạm. Thể
chế kinh tế, hệ thống luật pháp còn nhiều khác biệt, chưa đồng bộ ảnh hướng tới q trình xây dựng, thể
chế hồn thiện KTTT định hướng XHCN Việt Nam.
- Phát triển kinh tế chưa chú trọng đầy đủ đến giải quyết các vấn đề xã hội. Tình trạng thất nghiệp, tệ nạn
xã hội có chiều hướng gia tăng. Khoảng cách giàu nghèo tăng nhanh ảnh hưởng đến sự ổn định và phát
triển. Mơi trường sinh thái có nguy cơ bị hủy hoại, ảnh hướng lâu dài trực tiếp đến sự phát triển kinh tế-
xã hội.
Trong thời gian tới, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, cần tiểp tục đổi mới tư duy lý luận về nền KTTT định
hướng XHCN ở Việt Nam. Phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam phải đảm bảo tôn trọng
các nguyên tắc của KTTT, phát triển bền vững trên cơ sở chú trọng kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế, giải
quyết các vấn đề xã hội và gìn giữ, bảo vệ môi trường. Đồng thời, xác định hợp lý các vai trò lãnh đạo
của Đảng, quản lý của Nhà nước và làm chủ của nhân dân, đảm bảo định hướng XHCN trong phát triển
KTTT.
Theo hướng này, cần phân định rõ chức năng, mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và doanh nghiệp.
Nhà nước chủ yếu điều hành kinh tế vĩ mô bằng cơ chế, chính sách, các cơng cụ kinh tế như chiến lược,
kế hoạch, chính sách tài chính, tiền tệ và các lực lượng vật chất khác, giảm thiểu các biện pháp hành
Xây dựng cơ cấu kinh tế dựa trên lợi thế cạnh tranh, lợi thế so sánh của đất nước, đồng thới hình thành
và phát triển đồng bộ các loại hình thị trường, nhất là thị trường các yếu tố sản xuất (lao động, vốn, đất
đai, khoa học cơng nghệ), thị trường hàng hóa, dịch vụ, đẩy nhanh q trình thị trường hóa nền kinh tế.
Doanh nghiệp nhà nước cần nâng cao khả năng cạnh tranh, đi đầu trong hội nhập kinh tế quốc tế. Muốn
vậy, phải triệt để xóa bỏ bao cấp, chấm dứt tình trạng kéo dài thời gian bảo hộ cho doanh nghiệp nhà
nước, kiên quyết chống độc quyền doanh nghiệp theo hướng sớm ban hành Luật Cạnh tranh và chống
độc quyền; thực hiện sự bình đẳng thật sự, trên thực tế giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế.
Cần sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật theo hướng minh bạch, cơng khai,
tạo ra mơi trường kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh cho mọi thành viên tham gia thị trường.
Chú ý tạo môi trường tâm lý xã hội thuận lợi cho việc khuyến khích, tạo điều kiện cho phát triển khu vực
kinh tế tư nhân, khắc phục tư tưởng kỳ thị, phải coi kinh tế tư nhân như một động lực phát triển của kinh
tế dân tộc trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Thật sự coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ
phận cấu thành của KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, được khuyến khích phát triển lâu dài, bình
đẳng với các thành phần kinh tế khác.
Đẩy mạnh cải cách thể chế, tăng cường hiệu lực của bộ máy hành chính nhà nước, trước hết là cải cách
thủ tục hành chính; kiên quyết chống tham nhũng; tiến hành cải cách tiền lương; đổi mới cơ chế đào tạo
và sử dụng nhân tài; nâng cao trách nhiệm, trình độ của bộ máy cơng chức để đáp ứng được yêu cầu
ngày càng cao của quá trình chuyển sang KTTT và hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
<b>Trích:</b>
N cịn có một thắc mắc như vầy nữa. Hơm trước trên tivi có dựng lại vở kịch từ hồi xửa hồi xưa
(khoảng 1985) lúc cịn thời kì bao cấp là “Tơi và chúng ta”, ( nghe nói hồi xưa cịn có vở “Nhân danh
cơng lý” cũng hay lắm) N thì khơng phân biệt được CNXH khác gì với cộng sản nhưng thích cái khơng
khí trong kịch lắm, nhớ hồi nhỏ cũng từng rất thích khơng khí trong truyện của những truyện thiếu
hn
PhướcHạnh
<b>Trích: </b>
PS : Rảnh chị sẽ bàn thêm về CNXH Nguđ nhé.
Hồng
<b>Trích: </b>
Phc Hạnh,
hình như các nước Tây Âu trừ tụi Anh Quốc ra là áp dụng CHNX cả phai khơng? vì được biết bên Âu
Chau đi làm đống thuế nhiều, và những phúc lợi xã họi được hưỡng chung..như y tế ,..đi làm ít giờ
hơn bên MỸ và nghi nhiều hơn bên MỸ. Nói thật ra, MỸ Nhật mới đúng cái định nghĩa về Tư Bản/
Hoang
VC
<b>Trích:</b>
Hello Nguyễn,
Well, con đường tiên lên XHCN như em cũng thấy rồi, rất là đơn giản và dể hiểu. Trên lý thuyết nghe
rất hay nhưng thực tế khi thực hành áp dụng thì chẳng thật tế chút nào.
Cho một ví dụ, trong cuộc sống mổi người trong chúng ta đều noi gương theo cách sống và cách học
tập của một người nào đó, có thể là ba hay má, có thể là anh hay chị trong gia đình, có thể là những
danh nhân vĩ đại như Phật Thích Ca, Chúa Jesus, Thánh Gandi, Mother Teresa, vv...Nói tóm lại
chúng ta look up to a role model để bắt chước theo cái hay của người khác để mà học hỏi.
Tiến lên XHCN thì như em biết rồi đó, cha của thuyết XHCN cũng phải từ bỏ nó nói chi tới "con".
Nhìn vào tất cả những đất nước trên thế giới thì chỉ thấy một vài nước XHCN và những nước này
được liệt kê vào nhũng nước đói kém nhất thế giới. XHCN thất bại bởi vì một lý do chính sau đây.
Cái bản tính căn bản của con người là tham lam, ích kỷ, hại nhân, ai cũng tham lam, cho nên cái gì
của "cơng" hay của "chung" đều bị người ta lạm dụng ăn xài, xử dụng. Cái gì của mình thì mình cưng
nó lắm, cịn của người khác mình khơng có để ý tới. Cho nên mấy cái vụ hợp tác xã, hãng xưởng của
nhà nước ở VN bây giờ làm ăn thua lổ cũng là vì lý do này. Mấy cái vụ giám đốc này "dám đốc" kia
hối lộ, thụt két nhà nước xảy ra như cơm bửa.
Nhìn vào biểu tượng "cây búa" và "lưởi liềm" có thể thấy được sự lạc hâu liền là VN mình chưa có
thích nghi với hồn cảnh thay đổi của thế giới. Thời buổi này "con trâu đi trước, cái cày đi sau" làm
sao mà phát triển nổi. Lúa cũng phải cắt bằng máy, đóng đinh cũng đóng bằng máy luôn như vậy
công việc mới suông sẻ trơi chảy nhanh lẹ.
Nhìn vào VN, những sản phẩm xuất khẩu đều là ngũ cốc như gạo, đường, cá, thịt, rau cải,
vv....Những sản phẩm này chỉ đem một số lợi nhuận rất là nhỏ cho một quốc gia, nhưng ngược lại số
nhân công và công suất phải đặt vào rất nhiều. Hảy tượng tượng một cái máy vi tính (computer)
nhập vào VN, trung bình khoảng 500 đơ la thì thử hỏi coi một cái computer có thể trao đổi biết bao
nhiêu tấn gạo.
Đất nước VN hiện nay giống như "con rồng" đang nằm mơ, chưa thức dậy nổi. Những con rồng Á
Châu đả "tỉnh thức và cất cánh" bay lên từ bao lâu rồi không biết bao giờ VN mới tỉnh giấc và bay
lên?
VC
hn
Logged
hn
<b>chulun7</b>
<b>Class of </b>
<b>1989</b>
Jr member
Giới tính:
Posts: 55
Thanh Ða in
my heart!
<b>Re:XHCN - mơ hình xã hội lý tương?</b>
« <b>Reply #1 on:</b> Jul 01, 2003, 05:32:35 AM »
Hi all,
Theo CL nghĩ thì XHCN đã khơng cịn tồn tại vì "chỉ có lý thuyết nhưng khơng
thực tế ". Lich sữ đả chứng minh được "hiệu wã" cũa XHCN rội Hiện gì cịn bao
nhiêu nước cịn "trung thành" với XHCN. LiênXo và khối châu âu đã tẫy chay
XHCN rội Trung Quốc cũng dần thay đổi . Chĩ còn VN mình thơi, chẵng wa cịn
những nhà "kì cựu" lãnh đạo thụi Nhũng tư tưỡng của giới trẽ hiện nay sẻ
đánh đổ XHCN ỡ VN. Nói chung XHCN sẻ dần dần biết mất .
CL
Logged
<b>solgokou</b>
<b>Class of </b>
<b>1996</b>
Full member
Giới tính:
Posts: 159
Tam Vu
Power
<b>Re:XHCN - mơ hình xã hội lý tương?</b>
« <b>Reply #2 on:</b> Jul 01, 2003, 09:46:04 AM »
nếu Gokou khơng lầm thì XHCN dường như là cái tuyệt đỉnh cuối cùng, khi
CN tư bản đạt tới đỉnh cao nhất của nó sẽ có thể tiến lên XHCN.. Liên Xô, VN,
không đi đúng theo tiến trình phát triển của XHCN mà cắt giai đoạn, bỏ qua tư
bản mà đi bằng con đường gọi là " Quá độ lên XHCN" (??) nhưng không thể
thực hiện được, chính vì thế mà LX và khối Đơng Âu đã sụp đổ... US có thể nói
là nước giàu mạnh nhất về kinh tế trên thế giới, cũng đang có xu hướng tiến
tới những cái mà XHCN mơ tưởng..
có thể nói học thuyết XHCN là impossible để thực hiện vì nó chỉ có thể làm
được khi cái tự giác và hiểu biết của tất cả mọi người đạt đến một trình độ
nhất định nào đó.. đồng thời con người phải bỏ được lịng tham cá nhân,
nhưng chuyện đó khơng bao giờ xảy ra vì bất cứ ai cũng phải có tham vọng
Logged
PLUR
peace, love, unity & respect
<b>solgokou</b>
<b>Class of </b>
<b>1996</b>
Full member
Giới tính:
Posts: 159
Tam Vu
Power
<b>Re:XHCN - mơ hình xã hội lý tương?</b>
« <b>Reply #3 on:</b> Jul 01, 2003, 09:49:41 AM »
<b>vấn đề này hơi sensivtive, nên xin bà con nếu có bàn luận hay cho ý </b>
<b>kiến nên giữ cái khách quan, đừng nên đi sâu vào đánh giá hay CHỈ </b>
<b>TRÍCH (especially VN và TQ) nếu khơng rất có nguy cơ cái thread này </b>
<b>admin lại phải can thiệp vào </b>
Logged
PLUR
peace, love, unity & respect
<b>lt</b>
<b>Trường </b>
<b>khác</b>
TÐ
Gold member
Giới tính:
Posts: 801
Tơi u tiếng
nước tơi...
<b>Re:XHCN - mơ hình xã hội lý tương?</b>
« <b>Reply #4 on:</b> Jul 01, 2003, 11:38:48 AM »
<b>Trích: </b>
Hơm trước trên tivi có dựng lại vở kịch từ hồi xửa hồi xưa (khoảng 1985) lúc cịn
thời kì bao cấp là “Tơi và chúng ta”, ( nghe nói hồi xưa cịn có vở “Nhân danh cơng
lý” cũng hay lắm)
Kịch do Lưu Quang Vũ viết "Tôi và chúng ta", "Nhân danh cơng lý " hay là vì
vào thời kỳ đó ơng Nguyễn Văn Linh khuyến khích phong trào "phê và tự
phê" "nói thẳng, nói thật" làm người dân trong nước, đặc biệt là một số trí
thức cũ vui mừng. Nhưng, sau đó lại khép lại phong trào này, một số diễn
viên kịch của nhà hát kịch Hà Nội cũng bị "bầm dập" (Trần Vân, nam diễn
viên chính trong cả hai vở kịch, rất tiếc là TV cũng chết sau khi Lưu Quang Vũ
<b>Trích:</b>
N thì khơng phân biệt được CNXH khác gì với cộng sản
<b>Trích:</b>
mọi người tiên đốn là 3 nước XHCN cịn lại sẽ phải thay đổi chế độ trong một tương
lai gần..
còn nước Cuba thì sao? Fidel Castro tồn tại cũng mấy chục năm nay, và sinh
tồn trong cả thời chiến tranh lạnh và chỉ cách Mỹ có 30 miles đường biển.
Theo lt thì chính bản thân thuyết này khơng xấu nhưng những người thực
hiện đã say mê vào quyền thế, hào quang mà đi lạc đường; và cái gì quá lý
tưởng thì cũng khơng thể tồn tại được. Trong một xã hội phải có nhiều giai
cấp để có sự đấu tranh sinh tồn giống như thiên nhiên (phải có sơng, núi,
rừng, động vật mạnh và yếu)---> phải xoay chuyển. Một xã hội văn minh
phải có đủ ngành nghề và khuyến khích phát triển mọi hướng và phù hợp với
địa hình đất nước. Và cũng giống như mọi thời đại, những trí thức là những
người khó cai trị nhất cho nên Socrates cũng bị hại thời xa xưa; và những gì
mình thấy rõ nhất là ở Trung Quốc (Tần Thủy Hoàng, Mao Trạch Đông, Thiên
An Môn (1989)), Việt Nam (Nhân văn giai phẩm ). TQ thì khó nói lắm vì từ
Mao Trạch Đơng tới Đặng Tiểu Bình chỉ khác về sự phát triển kinh tế mà thơi
cịn chính sách trị nước cũng giống y chang. VN cũng theo quỹ đạo của Liên
Xô và TQ. Nếu bây giờ mà TQ thay đổi hồn tồn thì chắc chắn 100% VN
cũng sẽ thay đổi .
Logged
“Tell me, and I forget
Teach me, and I may remember
Involve me, and I learn”
Benjamin Franklin
<b>LơTơMơ</b>
<b>Class of </b>
<b>1990</b>
Sr member
Giới tính:
Posts: 305
Ngu Đảng
<b>Re:XHCN - mơ hình xã hội lý tương?</b>
« <b>Reply #5 on:</b> Jul 01, 2003, 04:33:07 PM »
XHCN là đỉnh cao của trí tuệ! Người Cộng Sản chân chính thì đi đúng hướng
theo XHCN để tiến lên CNXH! CNXH thì khơng thể áp đặt vào một quốc gia
riêng lẽ, mà phải có sự hoạt động rộng rãi của tất cả mọi người. Buồn thay ...
chả có ma nào hiểu được! Chả có mấy ai coi tuồng "Tôi Và Chúng Ta" nên
CNXH không thành cơng! Người có "đỉnh cao trí tuệ" thì dạo này lo ... "cơm
nước" nhiều quá nên không rảnh để đưa đất nước tiến tới CNXH! Thơi thì
mạnh ai nấy lo, đừng có mà lơi thơi, nếu khơng sẽ được giáo dục để có ý thức
XHCN!
Logged
Thinking for Nothing 'cause Nothing for Thinking - Porky Pig
<b>epiphyllum</b>
<b>Trường khác</b>
Jr member
Giới tính:
<b>Re:XHCN - mơ hình xã hội lý tương?</b>
« <b>Reply #6 on:</b> Jul 01, 2003, 11:50:36 PM »
<b>Trích: </b>
Posts: 100
Vài điểm khác nhau căn bản giữa XHCN & CSCN, theo quan điểm cộng sản.
1. Về mức độ
CNCS cực đoan hơn CNXH. Marx cho rằng có thể tiến thẳng từ CNTB lên
CNCS. Cịn theo Lenin, CNXH là giai đoạn cần có sau tư bản, là nền tảng để
tiến lên CNCS khi người lao động cịn chưa đạt đến trình độ tự giác.
2. Về phương thức phân bố tài sản
CNXH - làm theo năng lực, hưởng theo lao động
CNCS - làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu
3. Khi cần giành chính quyền
CNXH - theo lý thuyết cộng sản thì có thể thơng qua bạo lực cách mạng nếu
CNCS - nếu khơng q độ từ CNXH thì thơng qua bạo lực cách mạng
4. Quyền sở hữu cơ sở sản xuất
CNXH - chính quyền nắm một phần
CNCS - mọi cơ sở sản xuất đều là cơng hữu
<b>Trích: </b>
nếu Gokou khơng lầm thì XHCN dường như là cái tuyệt đỉnh cuối cùng, khi CN tư
bản đạt tới đỉnh cao nhất của nó sẽ có thể tiến lên XHCN..
Theo quan điểm cộng sản, CSCN chứ không phải XHCN là đỉnh điểm, như đã
nói ở trên.
<b>Trích:</b>
Liên Xơ, VN, khơng đi đúng theo tiến trình phát triển của XHCN mà cắt giai đoạn,
bỏ qua tư bản mà đi bằng con đường gọi là " Quá độ lên XHCN" (??)
Để tiến lên XHCN hoặc CSCN, cần qua thời kỳ gọi là bước quá độ. Theo lý
thuyết, có thể quá độ lên XHCN từ TBCN hoặc quá độ lên XHCN từ giai đoạn
tiểu nông hoặc tiền tư bản, đốt cháy giai đoạn TBCN như VN & LX muốn làm.
Hoàng Nguyễn & Gokou, những điều trên là những điều epi nhớ được, khi
nào có thì giờ kiếm được nguồn xác minh thì sẽ đăng lên TD để các bạn kiểm
chứng. Các bạn cũng có thể vào các trang sau đây để tìm hiểu thêm,
www.marxists.org
www.cpv.org.vn
Logged
<b>Re:XHCN - mơ hình xã hội lý tương?</b>
« <b>Reply #7 on:</b> Jul 01, 2003, 11:55:40 PM »
trùi, seo mình có thể wên được Cuba dzị ta.. chắc tại dạo nì đọc văn lỡn mợn
wá nên wên mí chiện căn bản.. kee kee.. thiệt tình..
Logged
PLUR
<b>PH</b>
<b>Class of 1993</b>
Gold member
Giới tính:
Posts: 1710
Nè, coi chừng tớ "xì
chum" một cái bi
giờ !
<b>Re:XHCN - mơ hình xã hội lý tương?</b>
« <b>Reply #8 on:</b> Jul 02, 2003, 09:11:31 AM »
Cám ơn epiphylum nhiều (cái tên chi mà rắc rối quá đi ), rất đầy đủ
và dễ hiểu làm cho H cuñg giải tỏa nhưđg thắc mắc bấy lâu
<b>Trích:</b>
Theo lt thì chính bản thân thuyết này không xấu nhưng những người thực
hiện đã say mê vào quyền thế, hào quang mà đi lạc đường; và cái gì quá lý
tưởng thì cũng không thể tồn tại được.
Lang thang theo Khổng Tử hén KT cho rằng thành hay bại là do
người cầm quyền chứ khơng phải do chính thể. Cịn H thì cho rằng một
học thuyết sai sẽ dâđ đến nhưñg thất bại và lầm than.
Thật ra Đảng Cộng Sản lúc đầu được lập ra để dâñ dắt giai cấp cơng
nơng làm "chun chính cách mạng" chỉ là provisoire. Sau này nó sẽ tự
thủ tiêu để đến một thể chế khơng có chính phủ. Tuy nhiên thực tế lại
khách hẳn, khơng có Đảng CS nào khi nắm chính quyền lại chịu bỏ cái
thế độc quyền của mình để theo đúng chủ nghiã Macle. Như vậy thì
ngay từ đầu đã có thể nói chính học thuyết này đã khơng tưởng và
thiếu tính khoa học vì đi trái với bản chất con người.
Đó là chưa bàn tới nền kinh tế chỉ huy đã gây nên nhưđg căn bệnh
thành tích, dối trá , báo cáo láo như thế nào.
Từ XH cộng sản nguyên thủy, phong kiến cho đến tư bản, tâ't cả đều
tiến trình theo dịng lịch sử , là một tất yếu khách quan. Chỉ có CNCS
là do một hai người nào đó "sáng tạo" nến rồi ép buộc nhiều dân tộc
vào con đường quanh co khúc khủyu này. Chợt nhớ đến một câu đối
của một member K93 (Hợp thì phải)
"Đường Bác đi bi đát , sao Bác đi??"
Không ngạc nhiên khi nhiều nhà cầm quyền vâñ dùng học thuyết này
Logged
Ngày nào em bé tí teo
Sao giờ em cũng...tí teo thế này !
<b>ThanhDa91</b>
<b>Class of </b>
<b>1991</b>
Gold member
Giới tính:
Posts: 644
<b>Re:XHCN - mơ hình xã hội lý tương?</b>
« <b>Reply #9 on:</b> Jul 02, 2003, 09:27:23 AM »
Theo VC nghĩ mấy cái vụ tư tưởng này dựa theo cái thuyết Evolution của
Darwin và dựa theo cái thuyến Dịch học mà nói là một sự biến thiên "biến
động" của thiên nhiên, của một tư tưởng đại đồng, của nhân loại . Khi nhìn
vào một sự việc VC thích nhìn một khung hình tổng quát hơn.
Actions Speak
Louder Than
Words
kiến, thuộc địa mới có thuyết CNXH va CNCS. Và con người lúc nào cũng mơ
ước được tư do, tự trị hơn. Nói chung VC nhìn sự một sự kiến giống như một
Nhìn vào quá khứ hiện tại để đốn tương lai . Có lẻ mơ hình xã hội tương lai
sẽ khơng cịn ở trung tâm nũa (centralize) mà nó sẽ trở thành một xã hội "tự
trị" and more individualize.
VC
Logged
The goal of the highest education is TOLERANT.
---Do not critize, give SOLUTIONS.
---Be smart but not IGNORANT
<b>Thanh Tat </b>
<b>Trinh</b>
<b>Class of </b>
<b>1986</b>
Newbie
Giới tính:
Posts: 45
Thanh Ða in
my heart!
<b>Re:XHCN - mơ hình xã hội lý tương?</b>
Chào các bạn,
Khi cịn ở VN, vào bậc Trung học, tơi cũng như các bạn được nhồi nhét và
brainwash về cái CNCS và XHCN thuyết ấy.Và khi vào đại hoc ở Sài Gòn, một
lần nữa bọn sinh viên năm 1& 2 lại bị nhồi sọ thêm 1 cách cặn kẻ hơn và ở 1
trình độ cao hơn. Rồi rời VN đến xứ tự do được học hỏi trong trường lớp cộng
với kinh nghiệm trong thực tế...Với 1 quá trình hoc hỏi và kinh nghiệm ấy, tơi
xin chia xẻ những gì tơi hiểu cùng các bạn.
CNCS hay XHCN là 1 học thuyết Vơ Thần và Duy Vật. Nó đúng hơn là 1 tôn
giáo hư ảo, 1 cái bánh vẽ khơng tưởng góp nhặt thâu tóm những lý luận rời
rạc phản khoa học và đi trái ngược với bản chất của con người (Duy vật và Nhị
nguyên). Nó giống như 1 thứ thuốc phiện làm con người mê mãi tôn sùng cá
nhân và tự hào dân tộc vốn có của con người để che đi cái bản chất ngu dốt
và nghèo tư tưởng bên trong và cái xấu xa của sự chuyên quyền và độc trị của
thành fần lãnh đạo. CNCS và XHCN đưa ra cái thuyết chung chung ở các tôn
giáo là Thế giới đại đồng và không giai cấp... không người giàu kẻ nghèo...để
ru 1 giấc mơ không tưởng thiếu khoa hoc(ảnh hưởng đa fần là cho giai cấp
công nhân và nơng dân những ngi ít có kinhnghiêm và nhân chúng khoa
hoc thế giói rộng lớn bên ngồi) Hơn thế nữa "thuyết" ấy căn bản xây dựng
trên thuyết Duy Vât...mà con người là vật duy tâm và nhị ngun ln có mâu
thuẩn nội tại và tiềm tàng cái xâu và tốt ( Tham/không tham, Vị ngã/ vị nhân,
Ích kỉ/bác ái...) 1 con người và 1 xã hội có tốt hơn thì fải có ngững cái đối lập
kiểm soát lẫn nhau hầu giảm thiểu cái mặt xấu mà fát huy cái tốt cho chính
bản thân họ và cho xã hội mọi người chung quanh nhờ. Chứ cứ bưng bít...độc
Đảng trị, độc Đảng hành thì làm sao mà kiểm soát được!! và tất nhiên lạm
quyền tham nhũng tàn bạo sẽ xảy ra vì khơng gì kiềm chế và cái "nguyên"
xấu cái ác trong nội tại con người bộc phát và con người và xã hộ sẽ điêu đứng
Thời gian ở đây rất có han...Tơi tính viết vài dịng góp ý chia xẽ..nhưng lại viết
wá dài!!! Sorry nhé
nước VN ta...Thật xót xa!
T3
Logged
<b>TT</b>
<b>Class of </b>
<b>1989</b>
Gold
member
Giới tính:
Posts: 1065
Giờ đây, anh
là nhà thơ
bất đắc dĩ!
<b>Re:XHCN - mơ hình xã hội lý tương?</b>
« <b>Reply #11 on:</b> Jul 02, 2003, 02:04:12 PM »
Chào các bạn,
Mình có mấy ý kiến nhỏ thế này:
- Nói chung, các bạn khá đồng tình cho rằng CNXH khơng phải là một mơ hình
xã hội lý tưởng. Những khiếm khuyết của nó được thể hiện rất rõ ở Việt Nam
trước đây (Cụ thể hơn là trước năm 1986). Hiện nay ở Việt Nam người ta dùng
một khái niệm mới là CNXH kiểu mới với những đặc điểm có thể nói là khắc
phục rất nhiều những khiếm khuyết trước kia (trên lý thuyết). Vậy chúng ta có
thể bàn (thậm chí kỳ vọng) gì về CNXH kiểu mới này.
- CNXH kiểu cũ không chứng tở được sự ưu việt trong tất cả các hình thái xã
hội hiện tại. Vậy phải chăng là Chủ nghĩa tư bản ưu việt nhất? Và nếu vậy thì,
mơ hình nào là phù hợp với Việt Nam (Mỹ, Nhật, Thụy Điển...?).
- Theo các ban, Việt Nam nên đi theo con đường nào nếu cả CNTB và CNXH
kiểu mới đều chứng tỏ hoặc đều tiềm ẩn sự bế tắc?
Thân mến,
Logged
Đất nước từng trải nhiều, nên đất nước chẳng đăm chiêu,
Nụ cười các lão nông vẫn nụ cười quảng đại,
Đất nước chẳng đăm chiêu vì đất nước nhiều từng trải,
Vai áo sờn không chịu gánh thần linh
(Thơ Bằng Việt)
<b>Thanh Tat </b>
<b>Trinh</b>
<b>Class of </b>
<b>1986</b>
Thanh Ða in
my heart!
<b>Re:XHCN - mơ hình xã hội lý tương?</b>
« <b>Reply #12 on:</b> Jul 03, 2003, 09:21:38 AM »
Chào bạn,
Những cải tổ và điều chỉnh XHCN hay CSCN chỉ là cách làm lấm liếm che đậy
mị dân mà thơi và để níu kéo quyền lực độc tôn của kẻ thống trị...Chủ thuyết
ấy đã sai từ căn bản cội nguồn thì
cho dù cải cách gì đi nữa nó vẫn khơng đem đến cái nền tảng căn bản sống
cho con người và xã hội đất nước đó...
Ngày nay CNCS hay CNXH chỉ cịn là từ ngữ chiêu bài hay những tấm bình
phong trơ trẻn biện luận cho 1 chủ nghĩa độc tài. Có 1 chủ nghĩa tàn bạo độc
tài ( ta nói ta làm gì cũng đúng...!!!) nào mà đem lại lợi ích cho người dân
khơng... Khộng Nó chỉ phục vụ cho kẻ thống quyền và đàn áp người dân để
củng cố cái ngai vị độc tôn béo bở đó!
"cải tổ" đó đã phản bội lại cái thuyết chun chính VƠ SẢN của CNCS rồi..vây
thì 1 cách rõ ràng mọi người và chính họ đã vơ hình xác nhận CNCS và CNXH
đã là vơ vọng và bùa mê không sao hiện thực được!!! Vây thì hãy quăng cái
chiêu bài mị dân ấy xuống và đi theo tiến trình phát triển tất yếu của nhân
loai như các nước tiên tiên trên thế giới khác đang đi từ Âu sang Á!!!
Khơng có 1 cái thuyết nào là TUYỆT ĐỐI lý tưởng cả. Thế giới loài người
chúng ta sống là trên 1 cái "TƯƠNG ĐỐI" Còn chủ nghĩa Cộng Sản và CNXH lại
dệt mộng xây trên cái "TUYỆT ĐỐI".
Nó mới nghe qua thì "tồn mỹ, tồn đức , thập thập tồn" nhưng nó lại qn
là xây dựng và duy trì thuyết ấy trên con người chứ không fảo là thần
thánh..."TUYỆT ĐỐI" khơng thể có trên con người bằng xương bằng thịt!!!
Vài dịng góp ý tham khảo. Hy vọng 1 ngày mai sáng lạng hơn cho nước Việt
mến yêu của chúng ta!
T3
Logged
<b>lt</b>
<b>Trường </b>
<b>khác</b>
TÐ
Gold member
Giới tính:
Posts: 801
Tơi u tiếng
nước tơi...
<b>Re:XHCN - mơ hình xã hội lý tương?</b>
« <b>Reply #13 on:</b> Jul 03, 2003, 09:53:43 AM »
<b>Trích từ: Phước Hạnh viết ngày Jul 02, 2003, 09:11:31 AM </b>
Lang thang theo Khổng Tử hén KT cho rằng thành hay bại là do người cầm
quyền chứ khơng phải do chính thể. Cịn H thì cho rằng một học thuyết sai sẽ dâđ
đến nhưđg thất bại và lầm than.
Hổng biết có phải theo thuyết Khổng Tử hông nữa, nhưng lt vẫn tin vào: <b>"Tu </b>
<b>thân. Tề gia. Trị quốc. Bình thiên hạ "</b> (Mặc dù lịch sử hiện đại chứng
minh hổng phải dzậy gần đây nhất vụ Bill Clinton
<b>Trích: </b>
Nhìn vào q khứ hiện tại để đốn tương lai . Có lẻ mơ hình xã hội tương lai sẽ
khơng cịn ở trung tâm nũa (centralize) mà nó sẽ trở thành một xã hội "tự trị" and
more individualize.
VC
Xã hội tự trị thì đã có từ hồi xa xưa rồi, thời Socrates lận
Như vậy là con người văn minh là đi một dzòng rồi trở lại chỗ cũ và nhận ra
những gì mới bắt đầu là tốt đẹp nhất.
Cho lt hỏi, CNXH và CNCS tiếng Anh là gì? Karl Marx, Lenin là cha đẻ của chủ
thuyết nào? lt có đọc một cuốn sách sử về VN do người Mỹ viết thì nói là HCM
theo chủ thuyết "Communisism" nhưng có viết lại một chút ít để hợp với tình
hình đất nước.
“Tell me, and I forget
Teach me, and I may remember
Involve me, and I learn”
Benjamin Franklin
<b>PH</b>
<b>Class of 1993</b>
Gold member
Giới tính:
Posts: 1710
Nè, coi chừng tớ "xì
chum" một cái bi
giờ !
<b>Re:XHCN - mơ hình xã hội lý tương?</b>
« <b>Reply #14 on:</b> Jul 03, 2003, 12:45:06 PM »
<b>Trích: </b>
Mình có mấy ý kiến nhỏ thế này:
- Nói chung, các bạn khá đồng tình cho rằng CNXH khơng phải là một mơ
- CNXH kiểu cũ khơng chứng tở được sự ưu việt trong tất cả các hình thái xã
hội hiện tại. Vậy phải chăng là Chủ nghĩa tư bản ưu việt nhất? Và nếu vậy
thì, mơ hình nào là phù hợp với Việt Nam (Mỹ, Nhật, Thụy Điển...?).
- Theo các ban, Việt Nam nên đi theo con đường nào nếu cả CNTB và CNXH
kiểu mới đều chứng tỏ hoặc đều tiềm ẩn sự bế tắc
Anh Quang Thanh ra mấy cau hỏi hay lắm. Làm H phải ngồi hệ thống
lại từng mảng kiến thức rơi rụng để thử trả lời các câu hỏi hóc búa này.
Trước hết là điểm lại vài "điển hình" kinh tế :
_Mỹ : tư bản gộc. Nhà nước ít can thiệp vào thị trường so với các nước
công nghiệp phát triển khác. Public assistance vào giáo dục, health
care, trợ cấp thất nghiệp cũng limited.
_Thụy Điển : The Capitalist Welfare State. Cuñg là tư bản nhưng chỉ về
phương diện private ownership cịn nhà nước thì đóng một vai trò lớn
trong việc phân phối thu nhập. Khoảng cách giàu nghéo ít.
_Các con rồng Châu Á : phát triển nhờ vào đẩy mạnh xuất khẩu và
free trade.
Tất cả các mơ hình trên đều có nhưđg hạn chế của nó. Tất cả đều có
thời "hồng kim" và sau đó đều khơng thốt khỏi suy thối. (Đó là điều
VN nên theo mơ hình nào??
Vì vậy mà nhất cử nhất động chính phủ Vn đều theo TQ vì khá lúng
túng trong việc đưa nền kinh tế thị trường vào quỹ đạo. Trong lúc này
việc khoảng cách giàu ngh giưã thành thị và nơng thôn, giưã người
và người là không thể tránh khỏi. Đẩy mạnh xuất khẩu, tư nhân hóa
các doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích đầu tư nước ngồi là những
việc Vn nên làm đồng thời với cải tổ chính sách NN, dẹp tham nhg...
(Úi, sao nói giống mấy báo Đảng thế này ). Thật ra H thấy tồn là
hơ khẩu hiệu thơi chứ việc họ cải tổ bộ máy NN là chuyện hông dám
mơ...Nhưng nếu chính phủ khơng thay đổi thì mơ ước Vn ra khỏi đói
nghèo vẫn chỉ là ước mơ !
Gửi bạn T3,
<b>Trích:</b>
Dảng CS copy 1 phần rất nhỏ nguyên tắc của CN Tư bản (Ví dụ như cho "tư doanh" kinh tài, các trường tư
cạnh tranh với trường công , lại cho kẻ lãnh đạo ra làm kinh tế) thì người dân như có 1 chút "ánh sáng".
Thứ "ánh sáng " đó khơng fải là bản chất của CNCS hay XHCN mà vay mượn chủa CNTB. Hơn nữa cái mà
CNCS và CNXH nêu lên như là 1 trọng điểm cho chủ thuyết của họ LÀ PHÁ BỎ TƯ QUYỀN TƯ LỢI, PHÁ BỎ
GIAI CẤP, GIAI CẤP TRÍ THỨC VÀ CÁC NHÀ TƯ BẢN CON BN LÀ BỌN HÚY MÁU DÂN QUA VIỆC LÀM CỦA
NHỮNG NGƯỜI LÀM CƠNG CHO HỌ...v.v
T có vài điều trao đổi lại với bạn:
- Hiện nay nếu theo đúng những gì mà Marx đã phân tích, dự báo và trên cơ sở thực tiễn ở
Việt Nam (mặc dù thực tiễn này có thể còn chưa nhanh, chưa mạnh như một số người chúng
Nhưng cũng phải thấy rằng không mù quáng áp dụng tất tần tật, bê nguyên xi CNTB kiểu Mỹ
hay bất cứ kiển nào khác vào Việt Nam được. Về điểm này T đồng ý với Hạnh. Chúng ta có
quá nhiều bài học cay đắng. Di sản đó cịn đè nặng lên đất nước ta, mỗi gia đình và từng cá
nhân chúng ta.
- Nói chính xác hơn, theo kinh điển Marx, "<b>Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái </b>
<b>khả năng đang chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ</b>
<b>quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác. </b>Đây là CNCS (chứ
không phải CNXH: CHXH phát triển ở trình độ thấp hơn so với CNCS). Như vậy CNCS khơng
xóa bỏ sở hữu cá nhân!Nhưng cũng cần phải thấy là còn rất lâu mới đạt được điều này. Tuy
thế, điều này cũng cho ta thấy nhiều gợi mở, chắng hạn khi mối quan hệ là "hợp tác" chứ
không phải là "nô dịch" (xin các bạn đọc các tác phẩm của Hugo va Dicken để tìm hiểu về sự
nơ dịch con người lao động của CNTB ngun thủy) thì chẳng có lý do gì để xóa bỏ quyền sở
hữu tư bản tư nhân.
- CNCS phá bỏ tình trạng giai cấp của một thiểu số thống trị đại đa số nhân dân (các giai cấp
đông người khác), nhằm xây đựng 1 xã hội không giai cấp. Như vậy điều này là rất nhân văn.
Cịn rất lâu đấy! Khơng thể mong ngày 1 ngày 2 đâu. Hầu như tất cả chúng ta thuộc về cái đại
đa số nhân dân đó.
lãnh đạo chính trị.
Trên hết, T rất chia xẻ với 3T về những trăn trở về 1 ngày mai tươi sáng cho Việt Nam. Âu
cũng là mong ước chung của chúng ta.
Thân mến,
<b>Thread: </b>KẾ HOẠC HÓA TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở
NƯỚC TA
<b>acia</b> - 11/8/2002 at 05:09
KẾ HOẠCH HÓA
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở NƯỚC TA
Vũ Văn Phúc *
1. Quan niệm về vai trị nhà nước, kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN.
Nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế thấy rằng: một trong những nội dung quan trọng
mà các nhà kinh tế bàn đến là vai trò của nhân tố thị trường và nhân tố Nhà nước trong điều
hành quản lý nền kinh tế. Bởi lẽ, vấn đề nhà nước và thị trường là mối quan tâm hàng đầu
của nhiều nhà nghiên cứu kinh tế trong nhiều thập kỷ qua, không những ở nước ta mà ở cả
nhiều nước trên thế giới, vì muốn tìm tịi mơ hình quản lý kinh tế vĩ mơ thích hợp và có hiệu
quả hơn.
Đối với một nền kinh tế đặc thù như nước ta: nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì
giải quyết mối quan hệ giữa thị trường và nhà nước trong điều tiết, quản lý nền kinh tế cũng
còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn phải nghiên cứu. Chẳng hạn như :
Thứ nhất, Sử dụng cơ chế thị trường đến đâu và như thế nào để phát huy được mặt tích cực
và hạn chế mặt tiêu cực của nó.
Thứ hai, Với chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước thì kế hoạch hóa được sử dụng như là
một trong những cơng cụ quản lý kinh tế vĩ mô như thế nào để đạt được tăng trưởng lâu bền
và đảm bảo được định hướng XHCN.
Ngày nay, kế hoạch hóa (KHH) được hiểu theo nghĩa rộng nhất bao gồm toàn bộ các hành vi
can thiệp một cách có chủ định của Nhà nước vào nền kinh tế để đạt được những mục tiêu đã
đề ra.
thị trường (KTTT).
Quan niệm về Nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN khác hẳn trong nền kinh tế tập
trung - bao cấp: nếu trước đây Nhà nước là cho phép và quyết định (theo cơ chế xin - cho),
thì ngày nay là Nhà nước tạo khung khổ pháp luật để mọi công dân tự do kinh doanh theo
pháp luật và hỗ trợ giúp đỡ, đồng thời giám sát để doanh nghiệp và dân doanh hoạt động sản
xuất - kinh doanh có hiệu quả.
Kế hoạch hóa trong nền KTTT định hướng XHCN cũng khác với KHH trước đây: nếu trước
đây kế hoạch chỉ giới hạn trong phạm vi khu vực kinh tế nhà nước, thì bây giờ kế hoạch phải
bao hàm tổng thể nền kinh tế quốc dân với nhiều thành phần kinh tế và phải nhấn mạnh đến
vấn đề quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội v.v...
Nhìn nhận kế hoạch hóa với tư cách là một chức năng cơ bản của quản lý kinh tế, thị trường
với tư cách là một lĩnh vực hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội thì mối quan hệ giữa kế
hoạch và thị trường có thể hiểu theo cách thị trường vừa là đối tượng, vừa là cơ sở của kế
hoạch hóa. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần 6, khóa VI khẳng định: "Trong nền
kinh tế hàng hóa có kế hoạch, thị trường vừa là một cơng cụ vừa là một đối tượng của kế
Sự phát triển nền kinh tế hiện nay lệ thuộc rất nhiều vào những yếu tố môi trường, chứ không
chỉ lệ thuộc vào sự điều hành và mong muốn của Chính phủ. Ví dụ như mơi trường khu vực,
mơi trường quốc tế, môi trường địa kinh tế, môi trường thiên nhiên v.v... Vì thế, các mục tiêu
trong kế hoạch chỉ mang tính dự báo, tính định hướng và kế hoạch khơng bao gồm kế hoạch
sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp.
Thứ ba, Thị trường là khách quan, kế hoạch là sản phẩm chủ quan của Nhà nước, của ngành,
của địa phương... Vậy thì xử lý mối quan hệ giữa cái khách quan và cái chủ quan ở đây như
thế nào cho phù hợp trong một cơ chế để phát huy tác dụng cao nhất ?
Nói tạo "một sân chơi bình đẳng" cho các chủ thể kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác
nhau, vậy Nhà nước điều khiển "sân chơi" đó như thế nào để vừa không hạn chế sự thi thố tài
năng của các chủ thể kinh doanh, lại vừa không làm chệch hướng XHCN của nền kinh tế,
đảm bảo sự thỏa đáng giữa tăng trưởng, phát triển kinh tế với công bằng xã hội ?
Nhìn nhận kế hoạch hóa và thị trường với tư cách là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mơ của nhà
nước, thì thực chất của vấn đề KHH và cơ chế thị trường được coi là sự kết hợp giữa điều
khiển trực tiếp bằng kế hoạch hóa và điều khiển gián tiếp thơng qua cơ chế thị trường đối với
các hoạt động trên thị trường cũng như đối với các hoạt động kinh tế trong xã hội.
lý kinh tế vĩ mô quan trọng của Nhà nước nhằm đạt tăng trưởng lâu bền và đảm bảo định
hướng XHCN. Vì thế đổi mới công tác kế hoạch từ tư duy, quan điểm định hướng, nội dung,
quy trình lập và điều hành cho đến cơ cấu tổ chức và cách thức chỉ đạo kế hoạch là một nội
dung cơ bản của q trình đổi mới cơng tác kế hoạch. Bản chất, nội dung của kế hoạch hóa
hồn tồn phụ thuộc vào vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường.
Trong cơ chế thị trường TBCN, sự can thiệp của Nhà nước ln mang tính chất tư sản và
trong khuôn khổ của chế độ tư sản với mục đích nhằm bảo đảm mơi trường kinh tế - xã hội
Cơ chế vận hành nền KTTT định hướng XHCN là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN. Cơ chế đó đảm bảo tính hướng dẫn, điều khiển nền kinh
tế nhiều thành phần hướng tới đích XHCN theo phương châm: nhà nước điều tiết vĩ mô, thị
trường hướng dẫn doanh nghiệp. Cơ chế đó thể hiện ở các mặt cơ bản: Một là, nhà nước
XHCN là nhân tố đóng vai trò "nhân vật trung tâm" và điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Hai là, cơ
chế thị trường (CCTT) là nhân tố trung tâm của nền kinh tế, đóng vai trị "trung gian" giữa
nhà nước và doanh nghiệp.
(còn tiếp)
<b>acia</b> - 11/8/2002 at 05:10
Trong nền KTTT vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, sự quản lý
can thiệp vĩ mô của Nhà nước phải thích hợp với yêu cầu của các quy luật kinh tế thị trường.
Nhà nước phải sử dụng chủ yếu các công cụ, biện pháp kinh tế, luật pháp, quy hoạch, kế
hoạch định hướng, chính sách kinh tế - xã hội và khả năng, sức mạnh kinh tế của Nhà nước
để tác động tới thị trường, điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp cho phù hợp.
làm hàng giả. Cũng vì mục tiêu lợi nhuận mà các nhà sản xuất, kinh doanh khơng làm những
ngành nghề ít lợi nhuận. Để hạn chế những khuyết tật đó, địi hỏi Nhà nước phải quản lý nền
KTTT. Nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường bằng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch định
hướng, bằng các cơng cụ, chính sách, biện pháp kinh tế... CCTT chịu sự tác động rất mạnh
của các quy luật kinh tế thị trường, do đó sự can thiệp vĩ mô của nhà nước phải phù hợp với
yêu cầu của các quy luật kinh tế thị trường.
Tình hình đó đặt ra cho nền KTTT định hướng XHCN phải xử lý hài hòa 3 vấn đề sau đây:
Một là, giải quyết tốt vấn đề lợi nhuận với vấn đề xã hội, sao cho vừa đảm bảo cho các chủ
thể KTTT có được lợi nhuận cao, vừa tạo được điều kiện chính trị - xã hội bình thường cho
sự phát triển kinh tế. Hai là, kết hợp những nguyên tắc phân phối của CNXH và nguyên tắc
của KTTT, như: phân phối theo lao động, theo vốn, theo tài năng, phân phối qua quỹ phúc
lợi xã hội... Trong đó, nguyên tắc phân phối theo lao động là chính. Thứ ba, điều tiết phân
phối thu nhập, một mặt, địi hỏi nhà nước phải có chính sách sao cho giảm bớt khoảng cách
chênh lệch giữa lớp người giàu và lớp người nghèo...; mặt khác, phải có chính sách, biện
pháp nâng cao thu nhập chính đáng của người giàu, người nghèo và của tồn xã hội.
hợp điều hòa quy hoạch của chính quyền cấp dưới trực tiếp. Quy hoạch sử dụng đất, đặc biệt
là quy hoạch đô thị là nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước và các cấp chính quyền. Việc quy
hoạch đô thị cần được tiến hành một cách công khai và ổn định, hạn chế các hiện tượng tiêu
cực hoặc lạm dụng để đầu cơ trong thị trường bất động sản. Quy hoạch tổng thể ngành được
áp dụng cho những ngành mang tính chiến lược và tính hệ thống tồn quốc (điện, giao thơng,
bưu chính viễn thơng) có tính đến sự tham gia của các thành phần kinh tế và những biện pháp
khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia thực hiện quy hoạch. Quy hoạch phát triển của
các ngành khác có sản phẩm và dịch vụ mang tính thương mại, phụ thuộc vào biến động thị
trường trong nước và thế giới, tiến bộ khoa học kỹ thuật chỉ nên dừng ở mức độ định hướng,
dự báo, hạn chế tối đa việc sử dụng nguồn ngân sách để đầu tư cho các dự án ở những lĩnh
vực này. Cần có quy chế công bố công khai các quy hoạch để các thành phần kinh tế đóng
góp ý kiến, tham khảo và tích cực thực hiện.
(cịn nữa)
<b>acia</b> - 11/8/2002 at 05:11
Xu thế phân cấp trong quản lý ngày càng tỏ ra có hiệu quả trong thực tế. Cần phân cấp quản
lý nhà nước theo nguyên tắc "những hoạt động gắn liền với quyền lợi người dân do chính
Việc xác định mục tiêu trong lập kế hoạch ở cả Trung ương lẫn địa phương theo kiểu năm
sau phải cao hơn năm trước, mục tiêu nào cũng đều muốn đạt mức cao trong khi tiềm lực có
hạn cần được thay đổi một cách cơ bản. Kế hoạch phải căn cứ vào hiện thực, phân tích quan
hệ cung - cầu và khả năng cạnh tranh trên thị trường (trong nước và quốc tế) để tính tốc độ
tăng trưởng, từ đó xác định mục tiêu. Việc xác định các mục tiêu phải đi kèm với xác định
thứ tự ưu tiên giữa các mục tiêu, nghĩa là phải có sự "trả giá", có khi phải hạ thấp yêu cầu
mục tiêu này cho việc đạt mục tiêu khác cao hơn.
Việt Nam đã gia nhập ASEAN, AFTA, ký kết Hiệp định Thương mại với Mỹ, q trình tồn
cầu hóa đang ngày càng gia tăng trên toàn thế giới, sự liên kết giữa thị trường trong nước và
thị trường thế giới ngày càng gắn bó, nền kinh tế tri thức và cuộc cách mạng khoa học công
nghệ đã tạo ra sức ép ngày càng cao đối với mọi quốc gia, mọi doanh nghiệp. Việc nhận thức
đầy đủ những vấn đề này sẽ buộc những nhà hoạch định chính sách phải đặt ra những mục
tiêu kế hoạch trong bối cảnh chung, trong môi trường "động" và "mở cửa". Không chấp nhận
những thách thức này, chắc chắn nền kinh tế sẽ không tránh khỏi nguy cơ tụt hậu, dẫn đến
bất ổn định trong xã hội.
các hoạt động xã hội hóa ở các lĩnh vực giáo dục, y tế,... đã làm giảm đáng kể gánh nặng cho
ngân sách nhà nước).
Việc xây dựng Chiến lược kinh tế - xã hội do Hội đồng Nghiên cứu chiến lược thực hiện,
dưới sự lãnh đạo của Đảng; chiến lược có thời hạn 10-15 năm nhưng được điều chỉnh vào
giữa kỳ; dự thảo chiến lược được công bố công khai và được các tầng lớp xã hội, đặc biệt là
các nhà trí thức và quản lý tham gia đóng góp ý kiến. Mục tiêu chiến lược khơng được mang
tính chủ quan, duy ý chí, những mâu thuẫn giữa các mục tiêu cần được phân tích và xử lý
thơng qua việc xác định thứ tự ưu tiên giữa các mục tiêu nhằm đưa ra những biện pháp cụ thể
cho từng thời kỳ. Nội dung chiến lược phải đảm bảo tính hệ thống, tính đồng bộ giữa các
Xây dựng kế hoạch định hướng phát triển 5 năm. Kế hoạch 5 năm cụ thể hóa chiến lược. Kế
hoạch 5 năm xác định một số chỉ tiêu cơ bản định hướng cho sự phát triển của đất nước, xác
định những lĩnh vực mà nền kinh tế sẽ ưu tiên tập trung phát triển, xác định nguyên tắc hoạch
định và xây dựng chính sách cụ thể để toàn bộ nền kinh tế phát triển theo hướng đã định. Do
nội dung kế hoạch ngày càng có tính định hướng, dự báo cao nên vai trò của kế hoạch 5 năm
ngày càng quan trọng.
Một trong những cơ sở quan trọng cho việc lập kế hoạch 5 năm là những dự báo phát triển về
khả năng biến động của những yếu tố quốc tế, xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, của tiến
bộ khoa học và công nghệ trên thế giới, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của một số ngành
chủ chốt trên thị trường Việt Nam cũng như trên thị trường quốc tế. Kế hoạch 5 năm cần tập
trung nguồn lực vào một số ít mục tiêu quan trọng của thời kỳ, những mục tiêu khác có thể
chỉ cần đạt đến một mức độ tối thiểu cần thiết.
Nội dung của kế hoạch 5 năm bao gồm một số chương trình trọng điểm của Nhà nước và
quan trọng hơn cả là một hệ thống cơ chế chính sách. Chính vì vậy, việc xây dựng kế hoạch 5
năm cần được thực hiện theo một quy trình mới với sự phối hợp chặt chẽ và phân công cụ thể
giữa các cấp, giữa các bộ và có sự tham gia của các tầng lớp và tổ chức trong xã hội.
Hệ thống kế hoạch 5 năm của toàn nền kinh tế bao gồm kế hoạch cấp quận huyện, cấp tỉnh
và cấp quốc gia.
Hệ thống kế hoạch hàng năm ở tầng vĩ mô: Kế hoạch hàng năm vừa là bộ phận vừa là công
cụ để điều hành thực hiện kế hoạch định hướng phát triển kinh tế - xã hội 5 năm. Trong mối
quan hệ với kế hoạch 5 năm, kế hoạch hàng năm chủ yếu chỉ mang nội dung phân bổ các
nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tài chính để thực hiện một phần mục tiêu của kế hoạch 5
năm, do vậy kế hoạch hàng năm khơng nên đưa ra mục tiêu mang tính tổng quát.
hoạch kinh tế quốc dân trong giai đoạn này vẫn có mối quan hệ gắn bó với kế hoạch của
những Tổng công ty chủ chốt ở những ngành này (ví dụ: Dầu khí, Điện lực, Bưu chính viễn
thơng...). Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng thương mại của Việt Nam tiếp tục giữ một vai trò
quan trọng trong việc đảm bảo sự ổn định cho nền kinh tế trong thời gian tới và cũng sẽ có
tác động rất lớn đến việc tính tốn trong xây dựng và điều hành kế hoạch. Do vậy, các ngân
hàng thương mại lớn và những Tổng công ty này cần phải định kỳ báo cáo về kế hoạch và
tình hình sản xuất kinh doanh của mình để Chính phủ có những thơng tin cần thiết phục vụ
cho việc lập và điều hành kế hoạch. Điều hành kế hoạch cần dựa trên cơ sở thông tin báo cáo
và mơ hình phân tích dự báo hàng q. Phối hợp kết quả này với ý kiến chuyên gia sẽ cho
phép Nhà nước, các cấp xác định thời điểm, mức độ, phạm vi và cách thức can thiệp một
cách hợp lý vào nền kinh tế.
(cÒN NỮA)
<b>acia</b> - 11/8/2002 at 05:11
Đổi mới cơng tác kế hoạch hóa ở địa phương và ở các ngành. Nội dung kế hoạch của các địa
phương cần phản ánh đúng sự phân cấp quản lý nhà nước về kinh tế. Kế hoạch của các
ngành, địa phương phải phù hợp với kế hoạch chung của cả nước. Bên cạnh nhiệm vụ xây
dựng quy hoạch phát triển của mình, các ngành, các địa phương cần hỗ trợ cho việc lập và
điều hành kế hoạch kinh tế quốc dân bằng cách cung cấp các thông tin, dự báo và những kiến
nghị cho việc xây dựng các chính sách kinh tế.
Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tổng hợp và các ngành trong việc dự báo tình hình thị
trường trong nước và quốc tế cũng như phân tích, đánh giá thực trạng trong nước, bao gồm
tất cả các thành phần kinh tế, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Đảm bảo các điều kiện và tiền đề cho việc đổi mới cơng tác kế hoạch hóa: Đổi mới hệ thống
thu thập, xử lý và sử dụng thông tin. Xác định các loại thông tin báo cáo cần thiết, thống nhất
biểu mẫu các loại thông tin báo cáo; xác định hệ thống tổ chức bộ máy thu thập và xử lý
Xây dựng và phát triển công tác dự báo và phân tích kinh tế. Dự báo và phân tích chính sách
được thực hiện độc lập ở nhiều cơ quan; tập trung vào dự báo ngắn hạn; xác định một số mơ
hình khơng phức tạp khơng cần có độ chính xác q cao nhưng phải kịp thời xử lý được
những thơng tin để phân tích giúp cho việc điều hành một cách nhanh nhạy.
Cơng tác kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân đòi hỏi phải nâng cao vai trò của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư là cơ quan tham mưu tổng hợp của nền kinh tế quốc dân, phát huy vai trị của các
Bộ và Tổng cơng ty theo một phương pháp luận thống nhất. Công tác kế hoạch hóa cũng
khơng chỉ được thực hiện bởi những người trong ngành Kế hoạch, mà cần được sự chú ý và
tham gia của nhiều tầng lớp trong xã hội, đặc biệt của những nhà doanh nghiệp, những nhà
khoa học. Việc điều hành thực hiện kế hoạch không phải là công việc riêng của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư hoặc một Bộ nào khác mà nó phải được thực hiện thông qua sự phối hợp một cách
thống nhất và tương hợp giữa các bộ, ngành và các địa phương, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của
Thủ tướng Chính phủ.