Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021
Nghiên cứu Y học
NHU CẦU ĐÀO TẠO VỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH
CỦA PHỤ HUYNH HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ AN HÒA,
HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH, NĂM 2020
Nguyễn Thị Minh Hằng1, Diệp Từ Mỹ1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Những năm gần đây có khơng ít các nghiên cứu đào tạo thử nghiệm cho phụ huynh học sinh về
giáo dục giới tính (GDGT) cho con đã mang lại những kết quả tích cực. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đánh
giá nhu cầu đào tạo của phụ huynh về GDGT. Do đó, việc tiến hành điều tra đánh giá nhu cầu đào tạo về GDGT
của phụ huynh học sinh là cần thiết.
Mục tiêu: Xác định nhu cầu đào tạo về GDGT của phụ huynh học sinh trường THCS An Hòa, huyện
Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Đây là một nghiên cứu cắt ngang áp dụng phương pháp chọn mẫu
cụm với đơn vị cụm là lớp. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền.
Kết quả: Có đến 60% phụ huynh có nhu cầu đào tạo về GDGT cho con của mình. Đa số phụ huynh có nhu
cầu được đào tạo về những kiến thức giới tính phù hợp cho từng lứa tuổi của trẻ (72%) và kĩ năng lắng nghe,
làm bạn với con (53,4%).
Kết luận: Nghiên cứu này tạo cơ sở khoa học, góp phần xây dựng các chương trình giáo dục kịp thời, hiệu
quả, lâu dài về những kiến thức GDGT cho phụ huynh.
Từ khóa: nhu cầu, giáo dục giới tính, phụ huynh, nhu cầu đào tạo của cha mẹ
ABSTRACT
PARENTAL TRAINING NEEDS IN SEXUALITY EDUCATION FOR SECONDARY SCHOOL
STUDENTS IN AN HOA SCHOOL, TAY NINH PROVINCE, 2020
Nguyen Thi Minh Hang, Diep Tu My
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 2 - 2021: 74 - 79
Background: In recent years, there have been many community trials in training sex education for parents
of adolescents, which have brought positive results. However, no studies are assessing the needs of training
sexuality education among adolescents’ parents. Therefore, the conduct of surveys to assess the parental training
needs in sexuality education among secondary school students’ parents is necessary.
Objectives: To identify the needs in sexuality education training for secondary school students' parents in
An Hoa school, Trang Bang district, Tay Ninh province.
Method: This is a cross-sectional study, using the cluster sampling with cluster's unit is class. Data was
collected by distributing the self-administered questionnaire.
Results: The percentage of parents who need training in sexuality education is 60%. Most of parents need
the age-appropriate information about sexuality education (72%), and the skills of being friends with their kids
(53.4%).
Conclusion: This research aims to create a scientific basis and to contribute to the development of timely,
effective and long-term education programs on sex education for adolescents’ parents.
Khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: ThS. Lâm Minh Quang
ĐT: 0908297705
Email:
1
74
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021
Keywords: needs, parents, sexuality education, parental training needs
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phương pháp nghiên cứu
Giáo dục giới tính (GDGT) là một vấn đề
quan trọng cho sự phát triển của trẻ(1). Việc
GDGT hiện đang nhận được sự quan tâm lớn từ
xã hội. Tại một số nước phát triển, GDGT đã
được đưa vào chương trình học phổ thơng với
kiến thức phù hợp với từng lứa tuổi của trẻ từ
mẫu giáo đến 18 tuổi; và có những hướng dẫn
cụ thể để phụ huynh cùng GDGT cho con của
họ(2).
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mơ tả.
Tuy nhiên, giới tính vẫn là một vấn đề hết
sức tế nhị trong văn hóa phương Đơng. Mặc dù
phụ huynh quan tâm đến vấn đề giới tính của
con nhưng vẫn chưa tự tin đủ kiến thức và kĩ
năng để GDGT cho con của mình. Phần lớn phụ
huynh e ngại và chọn cách né tránh khi con hỏi
về các vấn đề liên quan đến giới tính(3,4,5). Cụ thể,
tại Việt Nam, có đến 6/10 phụ huynh khơng
muốn GDGT cho con của họ(5).
Đã có một số nghiên cứu thử nghiệm thực
hiện đào tạo cho phụ huynh các kiến thức để
GDGT cho con của họ. Sau nghiên cứu, phần lớn
phụ huynh có thái độ tích cực hơn, kiến thức tốt
hơn và thực hành GDGT tốt hơn so với lúc chưa
được đào tạo (p <0,05)(6). Tuy vậy, tại Việt Nam
vẫn chưa có số liệu cụ thể về nhu cầu cần được
cung cấp kiến thức GDGT của phụ huynh để có
những can thiệp phù hợp. Từ những lí do trên,
việc tiến hành cuộc điều tra nhằm đánh giá nhu
cầu đào tạo về GDGT của phụ huynh có con
trong lứa tuổi vị thành niên là rất cần thiết.
ĐỐITƯỢNG- PHƯƠNG PHÁPNGHIÊNCỨU
Đối tượng nghiên cứu
Là phụ huynh học sinh trường trung học cơ
sở (THCS) An Hòa, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây
Ninh bao gồm: Cha/mẹ ruột đang chung sống và
chăm sóc cho học sinh; Người ni dưỡng chính
(ơng, bà, chú, bác, cơ, dì, ba kế, mẹ kế, người bảo
hộ hợp pháp…) của học sinh nếu học sinh không
sống cùng với cả cha và mẹ. Phụ huynh có hai
hay nhiều con học trong các lớp được chọn thì
chỉ cần trả lời 1 bộ câu hỏi.
Chuyên Đề Y Tế Cơng Cộng
Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng
một tỉ lệ. Với độ tin cậy 95%; Sai số cho phép
d=0,05; C=1,5 (do chọn mẫu cụm); P = 0,5. Cỡ
mẫu được ước lượng là 576. Dự trù mất mẫu
20%. Vậy n cần đạt 720 phụ huynh.
Kỹ thuật chọn mẫu
Phương pháp lấy mẫu cụm phân tầng với
khối lớp là tầng và đơn vị cụm là lớp. Tổng số
học sinh của trường là 1280 phân bố thành 30
lớp, số học sinh trung bình mỗi lớp là 43. Do
đó, số lớp cần chọn là 17 lớp (720/43). Tính số
lớp cần lấy ở mỗi khối theo tỉ lệ học sinh, sau
đó rút thăm ngẫu nhiên để chọn. Kết quả cần
chọn khối 6 (5 lớp), khối 7 (5 lớp), khối 8 (3
lớp), khối 9 (4 lớp).
Công cụ
Bộ câu hỏi tự điền gồm 4 phần: Đặc điểm
dân số xã hội, thái độ về việc GDGT (gồm 2 giá
trị là tích cực khi có ≥ 7/10 thái độ tích cực và
chưa tích cực), thực hành về GDGT, nhu cầu
được tập huấn về GDGT. Thực hiện nghiên cứu
thử với phụ huynh của học sinh trong lớp 6/5 (sẽ
khơng chọn trong nghiên cứu chính thức) tại
trường THCS An Hịa. Sau khi phân tích kết quả
và tính độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s alpha
cho thấy: Các câu hỏi về thái độ chung có hệ số
Cronbach’s alpha là 0,67. Các câu hỏi đánh giá
mức độ quan trọng của các chủ đề trong GDGT
có hệ số Cronbach’s alpha là 0,84. Các câu hỏi về
thực hành về GDGT có hệ số Cronbach’s alpha
là 0,90.
Phương pháp thu thập
Giáo viên chủ nhiệm phát bộ câu hỏi tự điền
có đính kèm hướng dẫn trả lời được đựng trong
bì thư gởi cho phụ huynh. Sau khi điền xong,
phụ huynh bỏ lại phiếu vào bì thư nộp lại cho
giáo viên chủ nhiệm.
75
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021
Phân tích và xử lý số liệu
Dùng phần mềm Epidata 3.1 để nhập liệu,
sau đó dữ kiện được chuyển đổi sang định dạng
sử dụng cho phần mềm phân tích dữ kiện thống
kê Stata 14. Các kiểm định Chi bình phương và
Fisher được dùng khi thích hợp để xác định mối
liên quan với nhu cầu đào tạo. Mức p <0,05 được
xem là có ý nghĩa thống kê.
KẾT QUẢ
Các đặc tính của mẫu
Bảng 1: Đặc điểm nền của phụ huynh (n=594)
Đặc điểm
Tuổi
<40 tuổi
≥40 tuổi
Giới tính
Nữ
Nam
Nghề nghiệp
Cơng nhân
Tự do
Nội trợ, nghỉ hưu
Cơng chức, viên chức
Nơng dân
Trình độ học vấn
≤Cấp 1
Cấp 2
Cấp 3
>Cấp 3
Kinh tế
Đủ sống
Khó khăn
Khá giả
Hơn nhân
Sống chung với vợ/chồng
Ly thân/Li dị/Góa
Tái hơn
Cấu trúc gia đình
Gia đình cơ bản
Gia đình lớn
Số con
1 con
2 con
>2 con
Tần số (n)
Tỉ lệ (%)
318
276
53,5
46,5
383
211
64,5
35,5
272
198
59
37
28
45,8
33,4
9,9
6,2
4,7
137
283
122
52
23,1
47,7
20,5
8,7
472
65
57
79,5
10,9
9,6
476
95
23
80,1
16,0
3,9
419
175
70,5
29,5
95
409
81
16,0
68,9
15,1
Tổng số phiếu phát ra là 733, số phiếu thu về
là 658. Số mẫu đạt các tiêu chí đưa vào và loại ra
là 594 mẫu, đạt 81% số mẫu phát ra và đạt 90,2%
số mẫu thu về. Sau đây là kết quả phân tích trên
594 mẫu (đảm bảo đủ cỡ mẫu ước lượng là 576
76
Nghiên cứu Y học
mẫu). Kết quả Bảng 1 cho thấy phụ huynh tham
gia nghiên cứu là nữ (64,5%) cao hơn nhiều so
với phụ huynh là nam. Phần lớn phụ huynh làm
công nhân với tỉ lệ 45,8% và làm nghề tự do
(buôn bán, làm công, giao hàng) chiếm khoảng
33,4%. Trong nghiên cứu, phụ huynh chủ yếu đã
hoàn thành trình độ cấp 2 (47,7%). Những phụ
huynh tham gia nghiên cứu đều đang sống cùng
với vợ/chồng đầu tiên 80,1%; có 16% phụ huynh
li thân, li dị hoặc góa và 3,9% phụ huynh tái hôn.
Kinh tế của phụ huynh đa phần ở mức đủ sống
(79,5%). Các phụ huynh sống trong những gia
đình nhỏ (70,5%) nhiều hơn là sống cùng với
ơng bà trong những đại gia đình (29,5%). Đa số
phụ huynh có 2 con (68,9%) và có 1 người con
đang học cấp 2 (89,9%).
Bảng 2 trình bày cảm nhận và thái độ của
phụ huynh về GDGT cho con. Phụ huynh cảm
thấy khó khăn khi thực hành GDGT chiếm tỉ lệ
khá cao (43,3%). Mặc dù gần một nửa phụ
huynh cảm thấy kiến thức để GDGT của mình ở
mức khá và trung bình với tỉ lệ lần lượt là 42,9%
và 35,5%. Phần lớn phụ huynh có thái độ tích
cực về GDGT cho con, chiếm 70,2%.
Bảng 2: Cảm nhận và thái độ của phụ huynh về
GDGT (n=594)
Đặc điểm
n
Khó khăn khi GDGT
Có
337
Khơng
257
Kiến thức về giới tính
Tốt
111
Khá
255
Trung bình
199
Kém
29
Thái độ
Tích cực
417
Chưa tích cực
177
%
56,7
43,3
18,7
42,9
33,5
4,9
70,2
29,8
Thực hành GDGT cho con của phụ huynh
Kết quả ở Bảng 3 cho thấy đa số phụ huynh
đều bắt đầu GDGT cho con từ lúc con được 1017 tuổi (82,8%). Mỗi lần phụ huynh GDGT cho
con của mình hầu hết là thống qua, dưới 30
phút (79,8%). Tỉ lệ phụ huynh báo cáo con chưa
từng hỏi mình về vấn đề giới tính khá cao
(63,6%) và phụ huynh hầu như chưa bao giờ
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021
Nghiên cứu Y học
khuyến khích con hỏi mình về các vấn đề giới
tính chiếm 62,3%.
Bảng 3: Thực hành GDGT cho con của phụ huynh
(n=594)
Đặc điểm
Tuổi con bắt đầu GDGT
<10 tuổi
10-17 tuổi
Người tham gia GDGT
Mẹ
Cha
Ơng, bà
Cơ, dì, cậu, chú, bác
Anh, chị
Con hỏi về giới tính
Có
Khơng
Khuyến khích con hỏi về giới tính
Chưa bao giờ
Một vài lần
Khá thường xuyên
Thời gian GDGT (n=510)
<30 phút
30 phút-1 tiếng
>1 tiếng
Cách GDGT (n=510)
Giải đáp thắc mắc của con
Kiểm soát hoạt động của con
Kể chuyện liên quan
Cung cấp sách báo, tranh ảnh
Đưa ra qui tắc và buộc con tuân theo
Sử dụng các điều răn dạy của tơn giáo
Mức độ GDGT (n=510)
Tốt
Khá
Trung bình
Kém
n
%
102
492
17,2
82,8
513
283
128
62
60
86,4
47,7
21,6
10,4
10,1
216
378
36,4
63,6
370
188
36
62,3
31,6
6,1
407
81
22
79,8
15,9
4,3
291
214
177
125
107
57
57,1
42,0
34,7
24,5
21,0
11,2
129
228
145
8
25,3
44,7
28,4
1,6
Nhu cầu đào tạo về GDGT của phụ huynh
Từ dữ liệu Bảng 4 cho thấy, tỉ lệ phụ huynh
có nhu cầu đào tạo về kiến thức và kỹ năng để
giáo dục giới tính cho con là 59,6%. Trong những
phụ huynh có nhu cầu được đào tạo về GDGT
thì đa số phụ huynh muốn được cung cấp kiến
thức trước khi con đầu lòng đến tuổi dậy thì
(70,6%). Đa số phụ huynh có nhu cầu được đào
tạo những kiến thức giới tính phù hợp với từng
lứa tuổi của trẻ em (72%) và kĩ năng lắng nghe,
làm bạn với con (53,4%).
Bảng 4: Nhu cầu, thời điểm, nội dung đào tạo về
GDGT mà phụ huynh mong muốn (n=594)
Đặc điểm
Nhu cầu đào tạo
Có
Khơng
Thời điểm cung cấp (n=354)
Trước khi con đầu lịng dậy thì
Lúc nào cũng được
Trước khi sinh con đầu lòng
Khi con còn đang đi học (trước 18 tuổi)
Nội dung đào tạo (n=354)
Kiến thức GT phù hợp từng lứa tuổi trẻ em
Kĩ năng lắng nghe, làm bạn với con
Kĩ năng trị chuyện về giới tính
Kĩ năng thỏa thuận với con
n
%
354
240
59,6
40,4
250
73
30
1
70,6
20,6
8,5
0,3
255
189
179
92
72,0
53,4
50,6
26,0
Các yếu tố liên quan đến nhu cầu đào tạo về
GDGT của phụ huynh
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa
nhu cầu đào tạo của phụ huynh với giới tính của
phụ huynh, khó khăn khi GDGT, kiến thức về
GDGT của phụ huynh, tuổi bắt đầu GDGT, cũng
như thái độ của phụ huynh về GDGT cho con
(Bảng 5).
Bảng 5: Các yếu tố liên quan đến nhu cầu đào tạo về GDGT của phụ huynh (n=594)
Đặc tính
Nhu cầu
Có
Nam
Nữ
111 (52,6)
243 (63,4)
Có
254 (75,4)
Khơng
100 (38,9)
Tốt
Khá
55 (49,6)
142 (55,7)
Chun Đề Y Tế Cơng Cộng
Khơng
Giới tính
100 (47,4)
140 (36,6)
Khó khăn khi GDGT
83 (24,6)
p
PR (KTC 95%)
0,010
1,21 (1,04-1,40)
<0,001
1,94 (1,64-2,28)
<0,001*
1
1,17 (1,08-1,26)
157 (61,1)
Kiến thức về GDGT
56 (50,4)
113 (44,3)
77
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021
Đặc tính
Nghiên cứu Y học
Nhu cầu
Trung bình
Kém
Có
136 (68,3)
21 (72,4)
<10 tuổi
10-17 tuổi
46 (45,1)
308 (62,6)
Tích cực
Chưa tích cực
289 (69,3)
65 (36,7)
Không
63 (31,7)
8 (27,6)
Tuổi bắt đầu GDGT
56 (54,9)
184 (37,4)
Thái độ
128 (30,7)
112 (63,3)
p
PR (KTC 95%)
1,36 (1,16-1,60)
1,59 (1,25-2,02)
0,001
1,39 (1,11-1,74)
<0,001
1,89 (1,54-2,31)
*Kiểm định Chi bình phương khuynh hướng
BÀN LUẬN
Ấn Độ(3).
Thái độ của phụ huynh về GDGT
Phụ huynh thường GDGT cho con mình vài
lần/năm đến khoảng vài lần/tháng, mỗi lần
GDGT thường dưới 30 phút. Mặc dù chưa có qui
chuẩn về thời gian và tần suất GDGT cho phụ
huynh, nhưng hiện tại thời gian phụ huynh
dành để GDGT cho con là chưa nhiều. Cách
GDGT cho con của phụ huynh trong nghiên cứu
chủ yếu là giải đáp thắc mắc cho con và kiểm
soát các hoạt động của con. Tổ chức Y tế Thế giới
khuyến cáo phụ huynh nên tạo cho trẻ cảm giác
được tơn trọng, tạo hình mẫu cha mẹ và cung
cấp kiến thức phù hợp cho sự phát triển của trẻ.
Nhu cầu đào tạo về GDGT của phụ huynh học sinh
Hơn một nửa số phụ huynh tham gia nghiên
cứu có nhu cầu đào tạo về GDGT (60%), chủ yếu
phụ huynh quan tâm đến kiến thức giới tính
phù hợp từng lứa tuổi trẻ em, kĩ năng trò chuyện
về giới tính với con, kĩ năng lắng nghe làm bạn
với con cái. Vẫn có một phần khơng nhỏ phụ
huynh khơng có nhu cầu đào tạo về GDGT,
nguyên nhân là họ cảm thấy họ đã có đủ thơng
tin cung cấp cho con của mình (40,8%), phụ
huynh cho rằng sẽ sẽ tự tìm hiểu khi đến tuổi
hoặc có thơng tin đầy đủ từ trường học và bạn
bè (35%). Điều này cho thấy phụ huynh chưa
đánh giá được hết tầm quan trọng của gia đình
trong việc GDGT cho trẻ.
Hơn một nửa (56,7%) phụ huynh có gặp khó
khăn khi GDGT cho con của mình. Kết quả này
thấp hơn nghiên cứu của tác giả Kaljee LM trên
phụ huynh của trẻ 15 đến 20 tuổi ở Hà Nội và
Khánh Hòa năm 2011, với tỉ lệ phụ huynh báo
cáo “Tôi cảm thấy xấu hổ” chiếm 65,4%, và “tôi
cảm thấy tôi không đủ thông tin” với tỉ lệ
63,1%(7).
Thái độ của phụ huynh về GDGT đa số tích
cực. Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của
Toor KK vào năm 2012 (67%)(8) và nghiên cứu
của Lê Thị Thu Hiền trên các phụ huynh ở Thủ
Đức vào năm 2015 (45%)(9). Tuy vậy, vẫn có đến
30% phụ huynh có thái độ chung chưa tích cực.
Phụ huynh vẫn cịn những suy nghĩ “GDGT
khiến trẻ tham gia quan hệ tình dục sớm hơn”
hoặc “giáo dục trẻ không QHTD sớm là đủ”.
Thực hành GDGT của phụ huynh học sinh
Phần lớn phụ huynh bắt đầu GDGT cho con
từ khi trẻ bắt đầu dậy thì là chủ yếu. Kết quả
tương tự như nghiên cứu của tác giả Esther AO
năm 2011 cho thấy phụ huynh chọn thời điểm
GDGT cho con từ khi con 11 tuổi, khoảng thời
gian bắt đầu dậy thì(10). Kết quả nghiên cứu này
cũng cho thấy đa số phụ huynh đánh giá cao
mức độ quan trọng của các chủ đề như dậy thì,
các biện pháp tránh thai, các bệnh lây truyền qua
đường tình dục, và an tồn cá nhân. Do đó,
những chủ đề mà phụ huynh giáo dục cho con
chủ yếu là về dậy thì, an tồn cá nhân, bộ phận
sinh dục, tương tự như kết quả của tác giả Nair
MKC năm 2011 ở phụ huynh thuộc miền Nam
78
Trở ngại lớn nhất mà phụ huynh gặp phải
khi tham gia tập huấn là không sắp xếp được
thời gian. Thời điểm mà phụ huynh cảm thấy
cần được cung cấp thông tin cho bản thân hầu
hết là trước khi con đầu lịng đến tuổi dậy thì
(70,6%), phù hợp với quan tâm của phụ huynh
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021
về vấn đề dậy thì của trẻ. Tuy nhiên, những kiến
thức về GDGT cho trẻ nên được bồi đắp từ mẫu
giáo(2). Vì thế, những kiến thức nên được truyền
đạt cho phụ huynh càng sớm càng tốt và thay
đổi quan điểm của phụ huynh về thời điểm
GDGT cho trẻ.
về kĩ năng GDGT theo nhu cầu cho phụ huynh
và con của họ.
Các yếu tố liên quan đến nhu cầu đào tạo của
phụ huynh học sinh
2.
Qua nghiên cứu cho thấy, có mối liên quan
giữa nhu cầu đào tạo về GDGT của phụ huynh
với giới tính của phụ huynh, kiến thức của phụ
huynh về GDGT, khó khăn khi GDGT, thái độ
của phụ huynh và tuổi của con khi phụ huynh
bắt đầu GDGT. Theo đó, những bà mẹ có nhu
cầu đào tạo cao hơn những ông bố, những phụ
huynh có kiến thức kém hơn thì có nhu cầu đào
tạo cao hơn, cũng như phụ huynh có thái độ tích
cực hơn thì có nhu cầu đào tạo cao hơn. Bên
cạnh đó, phụ huynh có khó khăn khi GDGT cho
con có nhu cầu đào tạo cao hơn và phụ huynh
bắt đầu GDGT cho con càng trễ thì càng có nhu
cầu đào tạo về GDGT. Điều này cho thấy, các
yếu tố về kiến thức, thái độ và thực hành GDGT
đều có liên quan đến nhu cầu đào tạo của phụ
huynh về GDGT.
KẾT LUẬN
Nhu cầu đào tạo của phụ huynh học sinh về
GDGT chiếm đa số trong dân số được khảo sát.
Điều này cho thấy những chương trình đào tạo
cho phụ huynh về GDGT là cần thiết, góp phần
đảm bảo sự phát triển tồn diện giới tính cho trẻ
em. Từ đó, chúng tơi xin đưa ra một số kiến nghị
như sau: Nghiên cứu xây dựng chương trình
giáo dục cho phụ huynh về GDGT; Thực hiện
truyền thông nâng cao nhận thức về tầm quan
trọng của GDGT đối với vị thành niên; Tổ chức
những buổi tập huấn trực tuyến, mở các lớp học
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Federal Centre for Health Education (BZgA) (2016). Sexuality
education:
What
is
its
impact?
URL:
/>Sexuality_education_Policy_brief_No_2.pdf?ua=1.
The Sexuality Information and Education Council of the
United States (SIECUS) (2004). Guidelines for Comprehensive
Sexuality
Education.
URL:
/>Nair MKC, Leena ML, Paul MK, Pillai HV, Babu G, Russell PS,
Thankachi Y (2012). Attitude of parents and teachers towards
adolescent reproductive and sexual health education. Indian
Journal of Pediatrics, 79(1):60-63.
Liu W, Edwards CP (2003). Chinese Parents’ Knowledge,
Attitudes, and Practices about Sexuality Education for
Adolescents in the Family. Master thesis in the Department of
Family and Consumer Sciences. University of NebraskaLincoln. Lincoln.
Võ Triệu Đạt, Nguyễn Duy Tài (2011). Quan điểm và thực
hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên. Y học
Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1):145-152.
Kaljee LM, Le HT, Truong TM, Lerdboon P, Green M, Riel R,
Pham V (2012). A sexual health program for Vietnamese
parents of adolescents: a preliminary report on changes in
parental knowledge, communication, and self-efficacy for
condom use. Journal Assoc Nurses AIDS Care, 23(6):555-60.
Kaljee LM, Green M, Lerdboon P, Riel R, Pham V, Nguyen TH,
Truong TM, Li X, Chen X, Stanton B (2011). Parent–Youth
communication and concordance between parents and
adolescents on reported engagement in social relationships
and sexually intimate behaviors in Hanoi and Khanh Hoa
Province, Vietnam. Journal of Adolecents Health, 48(3):268-274.
Toor KK (2016). A study of the attitude of teachers, parents and
adolescents towards sex education. Journal of Educational
Studies, Trends and Practices, 2:2.
Lê Thị Thu Hiền, Huỳnh Thị Phấn, Ya Por Ybon (2014). Nhận
thức về giáo dục giới tính của những bậc cha mẹ có con ở độ
tuổi vị thành niên. Luận văn Tốt nghiệp Cử nhân, Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. HCM.
Esther AO, Magbagbeola D, Adeleye A (2011). Parental
attitudes and sex education of children in Nigeria. International
Journal of Child Health and Human Development, 4:301-307.
Ngày nhận bài báo:
16/11/2020
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo:
29/01/2021
Ngày bài báo được đăng:
10/03/2021
79