SKKN Một vài kinh nghiệm trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy một tác phẩm văn học.
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
KHKT phát triển, việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy là một vấn đề cần
thiết để góp phần đổi mới phương pháp giáo dục, từng bước nâng cao chất
lượng dạy học. CNTT trong dạy học được xem như là một phương tiện hỗ trợ
đắc lực việc truyền đạt kiến thức của thầy; tiếp thu, lĩnh hội tri thức của trò.
Nó vừa đảm nhiệm vai trò làm đơn giản hố cơng tác chuẩn bị, trình diễn tư
liệu, tạo điều kiện để giúp người thầy thực hiện những ý tưởng mới trong
giảng dạy vừa kích thích tư duy, phát huy tính sáng tạo trong việc chiếm lĩnh
tri thức, khơi gợi niềm đam mê học tập ở học sinh.
Việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy là xu hướng chung của mọi nền
giáo dục và nó còn thể hiện được sự tiến bộ của một nền giáo dục quốc gia.
Mặt khác Chủ đề của năm học 2010 – 2011 là tiếp tục đổi mới quản lí, nâng
cao chất lượng dạy học. Cùng với việc nâng cao chất lượng dạy học là vấn đề
thực hiện phong trào hai khơng cũng như việc ứng dụng CNTT vào trong
giảng dạy đạt hiệu quả. Việc ứng dụng CNTT ở trường THCS Mỹ Hiệp đã
được triển khai thực hiện trong năm học 2009- 2010 và đã thu được nhiều kết
quả đáng khích lệ . Trong năm học này, Trường THCS Mỹ Hiệp tiếp tục phát
huy kết quả đã đạt được và xem đây là khâu quan trọng trong việc đổi mới
phương pháp dạy học, quản lí. Trên cơ sở đó và cũng xuất phát từ niềm đam
mê CNTT, tinh thần sáng tạo trong giảng dạy mà tơi đã mạnh dạn nêu lên
Một vài kinh nghiệm trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy một tác
phẩm văn học mà tơi đã tích lũy được trong năm học 2009- 2010 từ thực tế
việc giảng dạy của bản thân và đồng nghiệp với mong muốn được góp một
phần rất nhỏ cho sự hồn thiện về phương pháp giảng dạy mơn Ngữ văn và
cũng là cơ sở cho việc mạn đàm vấn đề ứng dụng CNTT vào dạy học hiện
đại.
II. Nhiệm vụ đề tài:
Qn triệt và thực hiện tinh thần văn bản 896/BGDĐT ngày
13/02/2006 và hướng dẫn số 8232/BGDĐT của BGD&ĐT về hướng dẫn thực
hiện nhiệm vụ CNTT, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của SGD-ĐT :
tiếp tục đổi mới phương pháp quản lý, khuyến khích và động viên đội ngũ sử
dụng CNTT trong q trình giảng dạy, tập trung chỉ đạo đổi mới phương pháp
dạy học và đổi mới cách soạn giáo án, góp phần đem lại cho học sinh những
giờ dạy thật sự bổ ích và sinh động. Và trong năm học 2010 – 2011 này là
Trường THCS Mỹ Hiệp - 1 - Năm học: 2010-2011
SKKN Một vài kinh nghiệm trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy một tác phẩm văn học.
tiếp tục ứng dụng cơng nghệ thơng tin vào giảng dạy. Thực hiện theo đúng
tinh thần hướng dẫn nhiệm vụ của PGD- ĐT về việc hướng dẫn thực hiện ứng
dụng CNTT vào giảng dạy, phương hướng nhiệm vụ năm học, Trường THCS
Mỹ Hiệp đã xác định ứng dụng CNTT vào giảng dạy là một cơng tác trọng
tâm để hồn thiện phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục. Đề
tài Một vài kinh nghiệm trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy một tác
phẩm văn học đó khơng chỉ là sự trăn trở của riêng bản thân mỗi một giáo
viên dạy mơn Ngữ văn như chúng tơi mà còn là sự khẳng định cho một nhu
cầu thiết thực trong việc đưa CNTT vào giảng dạy.
Việc ứng dụng CNTT ở các trường THCS trong huyện trong năm học
vừa qua đã đạt được kết quả khích lệ, tuy nhiên vẫn còn những băn khoăn,
những khó khăn nhất định trong thực tế các tiết dạy. Việc ứng dụng CNTT
như thế nào để mang lại hiệu quả, để khơng rơi vào hiện tượng gọi là lạm
dụng, để khơng làm mất đi tính sư phạm trong việc truyền đạt tri thức rèn
luyện về tư tưởng đạo đức mà lại kích thích được tư duy, sự hứng thú của học
sinh? Trên phạm vi của đề tài và trong khn khổ phân mơn Ngữ văn tơi sẽ
cố gắng giải đáp những câu hỏi trên.
III. Phương pháp tiến hành:
- Giáo viên tiến hành phát mẫu An – két cho học sinh để các em điền
vào những thơng tin như :
Nội dung Ý kiến của học sinh
Thích thú, kích
thích tư duy,
sáng tạo
Khơng thích
1. Tính sinh động của
bài giảng.
2. Mức độ tiếp thu kiến
thức.
3.Tính phù hợp, hiệu
quả của tư liệu hình
ảnh, video…
- Phương pháp thực nghiệm kết hợp với nghiên cứu sản phẩm : So sánh
kết quả bài nghiệm thu của học sinh ở hai lớp có năng lực học tương đương là
9A1 và 9A2 (Cùng dạy một bài, hướng khai thác như nhau) nhưng một lớp thì
dạy ứng dụng CNTT còn một lớp thì dạy thường khơng ứng dụng CNTT để
đánh giá tính khả thi của đề tài.
Trường THCS Mỹ Hiệp - 2 - Năm học: 2010-2011
SKKN Một vài kinh nghiệm trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy một tác phẩm văn học.
IV. Cơ sở và thời gian tiến hành nghiên cứu đề tài :
1. Cơ sở tiến hành:
* Cơ sở lí luận: Dựa vào nội dung chương trình, phương pháp giảng
dạy bộ mơn Ngữ văn, các tài liệu tập huấn cơng tác giảng dạy, thực tế việc
tiếp thu của học sinh hiện nay trong các giờ phân tích một tác phẩm văn học,
tinh thần các văn bản, cơng văn của ngành trong việc hướng dẫn thực hiện
nhiệm vụ năm học, chỉ đạo của bộ phận chun mơn nhà trường.
* Cơ sở thực tiễn: Chúng tơi đã tiến hành tìm hiểu, phân tích ý kiến của
học sinh về các giờ dạy có ứng dụng CNTT, khảo sát trên bài kiểm tra của
học sinh qua thực tế các tiết dạy (so sánh với các giờ khơng ứng dụng CNTT)
để đánh giá hiệu quả của việc ứng dụng CNTT và khắc phục những tồn tại để
hồn thiện phương pháp.
Trong suốt năm học 2009- 2010 vừa qua, bản thân tơi cũng như các
đồng nghiệp đã nhận ra được những mặt mạnh cũng như một số điểm còn hạn
chế trong việc dạy học có ứng dụng CNTT vào bài giảng nhất là ở những tiết
giảng văn. Thực hiện đề tài này bản thân chúng tơi cũng như những đồng
nghiệp trong nhóm Ngữ văn khơng có tham vọng gì hơn là rút ra được những
kinh nghiệm thiết thực trong việc ứng dụng CNTT vào các tiết phân tích tác
phẩm văn chương. Để việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy khơng đi lệch
hướng, để chất lượng, hiệu quả giáo dục ngày càng nâng cao, học sinh thêm
u thích bộ mơn Ngữ văn.
2. Thời gian nghiên cứu:
* Phạm vi nghiên cứu :
Là một giáo viên ở bậc THCS, đối tượng nghiên cứu cho đề tài của tơi
là học sinh từ lớp 6- 9. Tuy nhiên do thời gian khơng nhiều và khả năng có
hạn cho nên tơi chỉ tiến hành nghiên cứu trong phạm vi tại trường
THCS Mỹ Hiệp với các lớp tơi đang dạy, cụ thể ở năm học 2009- 2010
là các lớp 9a1 và 9a2.
Trường THCS Mỹ Hiệp - 3 - Năm học: 2010-2011
SKKN Một vài kinh nghiệm trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy một tác phẩm văn học.
* Kế hoạch nghiên cứu:
Nội dung cơng việc Thời gian Biện pháp thực hiện
- Đăng kí đề tài 8- 2009 Đăng kí ở tổ
- Tổng hợp kết quả bài
kiểm tra lần 1
10- 2009 Thống kê kết quả bài KT
- Nghiên cứu cơ sở lí
luận
10- 12/ 2009 Tham khảo tài liệu và
trao đổi trong tổ
-Tiến hành thực
nghiệm và tổng hợp kết
quả
2- 4 / 2010 Tổng hợp kết quả các bài
kiểm tra ở giai đoạn HKII
- Làm dàn ý đại cương 5 - 2010 Qua kết quả, định hướng
và phác thảo dàn ý đại
cương.
- Viết đề cương chi tiết 6-7 / 2010 Phản biện ở tổ, tiến hành
viết ở nhà
- Hồn thành đề tài 9- 10 / 2010 Hồn thành đề tài và đề
nghị duyệt ở tổ.
PHẦN II. KẾT QUẢ.
Trường THCS Mỹ Hiệp - 4 - Năm học: 2010-2011
SKKN Một vài kinh nghiệm trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy một tác phẩm văn học.
1. THỰC TẾ VIỆC ỨNG DỤNG CNTT VÀO GIẢNG DẠY MỘT
TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG:
Qua dự giờ đồng nghiệp trong nhóm Ngữ văn và những kinh nghiệm
mà bản thân chúng tơi rút ra được từ các tiết dạy, chúng tơi nhận thấy còn có
những tồn tại như sau :
1.1. Giáo viên lợi dụng tiện ích của Microsoft Office Power point đưa
dữ liệu vào một tiết dạy còn q nhiều, đơi lúc khơng cần thiết. Chẳng hạn
như khi đang hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài “Phong cách Hồ Chí Minh”
(Ngữ văn 9), để minh chứng cho sự giản dị của Bác trong cuộc sống cũng như
trong sinh hoạt hằng ngày thì giáo viên đưa ra những hình ảnh minh họa cho
từng khía cạnh của vấn đề, từ đó sẽ giúp cho các em có cái nhìn sâu sát hơn
nhưng có lúc một số giáo viên lại trình chiếu hết cả một đoạn phim dài cho
học sinh xem về cuộc đời hoạt động của Bác. Có thể nói đây là một hình thức
lạm dụng q mức CNTT khơng những ảnh hưởng nhiều đến việc rèn luyện
các kĩ năng cơ bản cho học sinh mà còn đi lệch hướng so với chỉ đạo của
ngành trong năm học 2010 - 2011 . Kết quả dẫn đến học sinh sẽ phân tán tư
tưởng khơng tập trung vào nội dung cơ bản của bài, thậm chí khi giáo viên
hỏi thì học sinh khơng nghe vì mãi bàn tán về những tranh ảnh mà giáo viên
vừa đưa ra.
1.2. Nguồn tư liệu minh hoạ chưa phong phú, chưa sát với nội dung
bài học.
Tư liệu minh hoạ cho một giờ phân tích tác phẩm văn chương khơng
chỉ là hình ảnh, mà còn là video, audio, sách nói, mơ hình…Thế nhưng thực
tế các giờ dạy chưa khai thác hết những u cầu này. Chẳng hạn khi cho học
sinh tìm hiểu về nét đẹp của Bác trong cuộc sống thường ngày (Đức tính giản
dị của Bác Hồ - Ngữ văn 7) các hình ảnh nhà sàn, khu vườn, trang phục vẫn
chưa đủ, nếu khơng nói là chưa đủ sức làm nổi bật vấn đề mà phải cần có
những đoạn phim tư liệu tái hiện một cách sống động cuộc sống sinh hoạt của
Bác từ căn nhà sàn, ao cá, nơi làm việc, cảnh Bác tiếp xúc với mọi người…Và
điều quan trọng ở đây là phải biết đưa lên khi nào, nội dung nào cho phù hợp.
Một ví dụ khác để thấy được tính hình thức của tư liệu minh hoạ là khi
giảng dạy những bài thơ trong tập Nhật kí trong tù giáo viên lại sử dụng chân
dung Bác những năm 60 (Hoặc những năm Bác còn ở nước ngồi), thiết nghĩ
việc làm trên khơng những khơng có hiệu quả mà còn tạo những sự hiểu
nhầm đáng tiếc trong học sinh. Hay khi cùng học sinh cảm nhận bức tranh về
Trường THCS Mỹ Hiệp - 5 - Năm học: 2010-2011
SKKN Một vài kinh nghiệm trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy một tác phẩm văn học.
cuộc sống lao động của đất nước trong bài thơ Mùa xn nho nhỏ - Thanh
Hải, thầy giáo lại sử dụng ảnh chụp cuộc sống lao động và chiến đấu của
qn và dân ta giai đoạn Miền Bắc bắt đầu đi lên xây dựng CNXH để minh
hoạ như vậy là khơng đảm bảo tính chân thực.
1.3. Ứng dụng CNTT đơn giản chỉ là cho học sinh xem ảnh, nghe nhạc
và xem những đoạn clip có liên quan đến bài học:
Văn chương nghệ thuật vốn rất gần gũi với hội hoạ và âm nhạc. Những
tác phẩm văn học đưa vào giảng dạy trong chương trình là những tác phẩm
lớn có ảnh hưởng đến tư tưởng của cả một thời đại vì vậy nó thường là đề tài
của các bộ mơn nghệ thuật khác (Nhất là đối với các tác phẩm thơ) đó là chưa
kể đến có những tác phẩm văn chương và hội hoạ, âm nhạc ra đời cùng một
thời kì, cùng hướng đến một đề tài. Hiện tượng này vừa là cơ hội vừa là thách
thức đối với việc minh hoạ cho nội dung bài học, tích hợp kiến thức giữa các
phân mơn. Người thầy cần phải xác định rõ tính trọng tâm của bài dạy tức là
chúng ta đang khai thác vẻ đẹp nội dung tư tưởng và nghệ thuật của một tác
phẩm văn chương, âm nhạc, hội hoạ chỉ là phương tiện để giúp học sinh có
cái nhìn sâu sắc, nhiều chiều – tất cả chỉ đóng vai trò bổ trợ. Trong thực tế
giảng dạy hiện nay có trường hợp thầy cơ giáo đã cho học sinh nghe một ca
khúc có liên quan nội dung bài học ở phần củng cố kiến thức mà khơng có
một câu hỏi nào đặt ra để tạo nên sự liên hệ giữa nghệ thuật ngơn từ với ca từ
nhằm giúp các em khắc sâu tri thức vừa chiếm lĩnh. Ví dụ khi phân tích bài
thơ Nói với con – Y Phương (Ngữ văn 9) giáo viên chỉ dừng lại ở việc cho các
em nghe ca khúc Q hương (Giáp Văn Thạch) mà khơng cho học sinh cảm
nhận về tình u q hương được thể hiện trong bài hát đó như thế nào? Qua
bài hát đó học sinh mới cảm nhận sâu sắc hơn về tình u q hương trong
bài thơ của nhà thơ Y Phương,từ đó để giúp các em thấy được rằng đối với
tác giả q hương với những nét văn hóa thổ nhưỡng hay con người…tất cả
nó đã ăn sâu vào trong tâm hồn và đó cũng là nguồn cảm hứng bất tận để tác
giả viết nên những tác phẩm có giá trị. Cũng tương tự như vậy khi dạy bài thơ
Mùa xn nho nhỏ - Thanh Hải mà chỉ cho học sinh nghe ca khúc Mùa xn
nho nhỏ mà khơng có sự phân tích, tạo mối liên hệ với bài thơ thì chưa phát
huy được tính hiệu quả. Chẳng hạn sau khi đã phân tích bài thơ, giáo viên đưa
ca khúc đã được phổ nhạc cho học sinh nghe và đưa ra câu hỏi cho các em.
Ví dụ: Khi nghe những giai điệu ấy đã khơi gợi cho em những tình cảm gì?
Qua tìm hiểu nội dung bài thơ và khi được nghe ca khúc này làm cho em có
suy nghĩ gì về tác giả? Đó phải chăng chính là những cảm xúc của nhà thơ
Thanh Hải đang nghĩ về q hương, đất nước khi đang nằm trên giường bệnh.
Trường THCS Mỹ Hiệp - 6 - Năm học: 2010-2011
SKKN Một vài kinh nghiệm trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy một tác phẩm văn học.
Từ đó hướng cho các em thấy rằng nếu tác phẩm văn chương tác động đến tư
duy nhận thức của người đọc thì những giai điệu của âm nhạc sẽ tác động
đến tâm hồn cũng như xúc cảm của con người, giữa hai mặt này nó có sự tác
động qua lại lẫn nhau.
1.4. Tạo tình huống để dẫn xuất tư liệu:
Việc đưa tư liệu minh hoạ cũng rất cần tình huống vì tình huống phù
hợp sẽ giúp học sinh chiếm lĩnh nội dung dễ dàng hơn, mức độ khắc sâu kiến
thức sẽ tốt hơn. Ngược lại nếu tình huống khơng phù hợp tư liệu sẽ khơng
phát huy được tác dụng, tính liên kết bài giảng sẽ bị phá vỡ. Cũng như nhiều
lúc giáo viên chưa để học sinh giữ vai trò chủ thể trong việc chiếm lĩnh nội
dung tư liệu. Hiện tượng này có thể thấy rất rõ ở việc giáo viên vừa đưa tư
liệu vừa phân tích đẩy học sinh về tư thế thụ động. Hạn chế này có thể bắt
nguồn từ việc tư liệu trích dẫn có thể chưa sát với nội dung bài học hay do
dung lượng thời gian khơng cho phép.
Cụ thể như dạy bài “Đức tính giản dị của Bác Hồ” để cho học sinh thấy
được sự giản dị của Bác thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau như về trang
phục, bữa ăn, nơi ở, … thì người thầy sẽ đưa những hình ảnh minh họa cho
điều này nhưng đưa như thế nào và vào lúc nào cho phù hợp. Và trường hợp
nếu như khi đưa hình ảnh minh họa mà giáo viên khơng dừng lại để phân tích
thì chẳng khác nào giống như là một giờ chiếu phim, thậm chí khi xem xong
học sinh cũng chẳng còn nhớ trong đầu mình về điều gì; đưa lên như thế thì sẽ
khơng có tác dụng. Trong trường hợp này, khi đưa hình ảnh lên học sinh quan
sát và bắt đầu đặt câu hỏi cho học sinh: Qua các bức tranh này giúp em hiểu
gì về cuộc sống của Bác ? Lúc đó học sinh sẽ trả lời ngay đó chính là sự giản
dị ở nhiều phương diện khác nhau. Bác Hồ của chúng ta giản dị trong cách ăn
mặc, nơi ở và cả trong bữa ăn với những món ăn thật đạm bạc, dân dã. Như
thế học sinh chỉ cần nhìn tranh mà các em có thể rút ra được nội dung kiến
thức của bài học bởi lẽ các em đã cảm nhận được nội dung qua từng bức
tranh, mặt khác còn tránh được tình trạng đọc chép cho học sinh. Từ đó giúp
học sinh sẽ khắc sâu được nội dung kiến thức của bài học hơn, lại nhớ được
lâu khó mà qn được.
1.5. Thời gian dẫn xuất tư liệu q nhiều (Đặc biệt là tư liệu ở dạng
video): Thực tế giảng dạy có thể thấy rõ tồn tại này khi một đơn vị kiến thức
nào đó rất cần minh hoạ bằng tư liệu dạng video nhưng nội dung chúng ta cần
khơng được xâu chuỗi liên tiếp nhau mà lại được bố trí xen lẫn với những
đoạn video khơng liên quan (Ý tưởng của người quay) chính vì vậy muốn để
Trường THCS Mỹ Hiệp - 7 - Năm học: 2010-2011
SKKN Một vài kinh nghiệm trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy một tác phẩm văn học.
học sinh chiếm lĩnh hết nội dung vấn để đòi hỏi lượng thời gian trình chiếu sẽ
kéo dài và khi đó giờ giảng văn sẽ trở thành giờ sinh hoạt ngoại khố. Ví dụ
khi khai thác nét đẹp trong cuộc sống thường ngày của Bác (Đức tính giản dị
của Bác Hồ (Ngữ văn 7) ) sách giáo viên định hướng khai thác qua các phương
diện như nơi ở, trang phục, quan hệ với mọi người nhưng tư liệu dạng video
để minh hoạ khơng có, người dạy chỉ có thể sử dụng từ các đĩa VCD có dung
lượng thời gian trình chiếu lớn. Thiết nghĩ nếu chúng ta cắt những đoạn video
nhỏ sau đó ghép thành một file và trình chiếu sẽ hiệu quả hơn nhiều.
1.6. Thiết bị phục vụ chưa đáp ứng để người giáo viên có thể thực hiện
hết ý tưởng của mình trong việc truyền tải kiến thức :
Phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực đặt nặng vấn đề hoạt động nhóm
của học sinh. Hiện nay với những phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực cũng
có thể giúp các em phát huy được khả năng hoạt động tích cực của mình bằng
một số kĩ thuật dạy học mới như kĩ thuật “khăn trải bàn”, kĩ thuật “các mảnh
ghép”, “kĩ thuật KWL và sơ đồ tư duy”,… Với những kĩ thuật dạy học tích
cực này cũng sẽ giúp cho học sinh tính tự giác, chủ động trong việc lĩnh hội
kiến thức. Trong trường hợp này, nếu lớp chia thành sáu nhóm hay bốn
nhóm thì mỗi nhóm cần có một máy tính. Khi giáo viên định hướng cho học
sinh thảo luận câu hỏi nào đó, người giáo viên sẽ đưa ngay câu hỏi đó lên
màn hình cùng với mơ hình hướng dẫn cách thực hiện theo kĩ thuật dạy học
tích cực. Câu hỏi đó sẽ được truyền tải từ máy chủ đến các máy con của các
nhóm và các nhóm lần lượt thực hiện rồi đưa kết quả báo về máy chủ.
Trong thực tế dạy học người giáo viên vẫn quen thực hiện u cầu này
dưới hình thức đưa bảng nhóm đính lên bảng lớn để cả lớp cùng nhận xét,
hồn thiện trong khi đó cơng nghệ scan tốc độ cao có thể thay thế được việc
làm này.Vậy tại sao chúng ta khơng sử dụng khả năng của các camera có độ
phân giải và tốc độ qt cao để đưa phần thảo luận của các nhóm lên màn
hình làm cơ sở cho việc sửa chữa, hồn chỉnh kiến thức.
Chẳng hạn như khi dạy bài “ Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính”- Phạm
Tiến Duật (ngữ văn 9) , ta thấy nội dung của bài thơ này có mối liên hệ với
bài “Đồng chí”, giáo viên cho học sinh thảo luận câu hỏi: Hình ảnh người
lính được khắc họa ở hai bài thơ này có gì khác nhau ? Có thể hướng dẫn cho
học sinh thảo luận theo kĩ thuật khăn trải bàn. Sau khi các em làm việc xong,
thay bằng u cầu các nhóm đưa lên bảng ý kiến giải đáp của nhóm mình
bằng cách như dùng nam châm đính lên bảng để cả lớp theo dõi, làm nhu vậy
có thể mất thời gian nhiều hơn là lúc đó người giáo viên sử dụng CNTT để
Trường THCS Mỹ Hiệp - 8 - Năm học: 2010-2011
SKKN Một vài kinh nghiệm trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy một tác phẩm văn học.
đưa phần thảo luận các nhóm lên màn hình, việc làm này học sinh sẽ dễ dàng
quan sát theo dõi hơn.
2. ĐỊNH HUỚNG VÀ KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG CNTT VÀO MỘT
GIỜ TÌM HIỂU VĂN BẢN.
2.1. Ứng dụng CNTT vào phần giới thiệu tác giả, tác phẩm:
Thơng thường chúng ta vẫn lợi dụng khả năng dẫn xuất hình ảnh của
Power point để đưa hình ảnh có liên quan tác giả, tác phẩm làm cơ sở để học
sinh khai thác, nắm bắt một số thơng tin quan trọng về cuộc đời, sự nghiệp
văn chương cũng như những kiến thức mang tính tư liệu về tác phẩm. Trong
thực tế hiện nay nguồn tư liệu trên Internet có thể thỗ mãn được mọi ý tưởng
của giáo viên. Với tơi, mặc dù lượng thời gian dành cho phần này là rất hạn
chế nhưng tơi đã cố gắng đưa tư liệu một cách đầy đủ, phong phú và thiết
thực nhất nhằm giúp các em có được cơ sở vững chắc trước khi bắt tay phân
tích vẻ đẹp của tác phẩm.
Kinh nghiệm ứng dụng qua một trường hợp cụ thể :
Tìm hiểu Mùa xn nho nhỏ - Thanh Hải (Ngữ văn 9)
Trong phần tìm hiểu tác giả, tác phẩm tơi sử dụng một file flast trình
chiếu (45 giây) chùm ảnh về nhà thơ (Ảnh chân dung đời thường, ở chiến
trường, trong các cuộc hội nghị, các tác phẩm của ơng hay hình ảnh Thanh
Hải lúc trên giường bệnh, ảnh về bản chép tay của bài thơ, ảnh bức thư pháp
phác họa khổ 4 bài thơ…), sau đó sử dụng hệ thống câu hỏi để học sinh khái
qt được những nét chính về phần tác giả và tác phẩm mà khơng cần phải
xem lại chú thích sách giáo khoa. Qua các hình ảnh đó, giáo viên sẽ định
hướng học sinh cảm nhận và hiểu được rõ hơn về hồn cảnh sáng tác bài thơ,
từ đó thấy được sức ảnh hưởng của bài thơ và cảm nhận được nghị lực, lí
tưởng sống cao đẹp của tác giả.
Tóm lại ở phần này, chúng tơi đã mượn những tư liệu dạng hình ảnh,
video để nói lên những gì mình muốn nói. Chúng tơi nghĩ từ trực quan học
sinh sẽ khắc sâu được kiến thức cũng như tạo được ấn tượng về tác giả, tác
phẩm mình tìm hiểu.
2.2. Ứng dụng CNTT vào khai thác vẻ đẹp của tác phẩm nghệ
thuật.
Văn chương nghệ thuật bao giờ cũng đi từ cuộc sống, vì vậy hiện thực
của sống là sự đối sánh rất quan trọng để thầy và trò cùng thấy được tính
chân thực của nội dung phản ánh và tài năng quan sát, miêu tả của tác giả.
Trường THCS Mỹ Hiệp - 9 - Năm học: 2010-2011
SKKN Một vài kinh nghiệm trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy một tác phẩm văn học.
Hiện thực miêu tả trong các tác phẩm được gợi lại trong cảm nhận của học
sinh chủ yếu qua lớp ngơn ngữ giàu tính tạo hình trong khi đó năng lực tư duy
– đặc biệt là tư duy hình tượng của đại bộ phận các em học sinh hiện nay còn
hạn chế. Vậy làm gì để giúp các em chiếm lĩnh được hiện thực miêu tả (Bước
đệm quan trọng trong việc cắt nghĩa giá trị nội dung, hình thức một tác phẩm)
một cách dễ dàng? Và làm sao để tránh khuynh hướng “chiếu phim” trong giờ
giảng văn hiện nay?
Hiện thực cuộc sống thể hiện qua tác phẩm văn học là hiện thực cuộc
sống đã được nhào nặn bỡi tài năng người nghệ sĩ với những dụng ý riêng,
khơng có sự lặp lại, nó khơng giống với bất kì tấm ảnh hay thước phim nào
cho dù tất cả cùng hướng về một đề tài. Chính vì vậy việc đưa tư liệu mà
thường là hình ảnh và video có liên qua đến thế giới cuộc sống phản ánh vào
tác phẩm chỉ ở tư cách đối sánh và được xem là phương tiện một cách thuần
t.
Việc dẫn xuất tư liệu trong q trình chiếm lĩnh vẻ đẹp tác phẩm cũng
đòi hỏi một nghệ thuật – tức là trước khi dẫn xuất người thầy phải có một sự
định hướng về cách thức sử dụng cũng như tính hiệu quả.
* Kinh nghiệm ứng dụng : Q trình ứng dụng được tiến hành theo các
tiêu chí sau:
- Chỉ sử dụng tư liệu so sánh ở những chi tiết nghệ thuật quan trọng
quyết định đến việc chiếm lĩnh tư tưởng của tác phẩm, chi tiết khó cắt nghĩa
thơng qua tư duy hình tượng.
+ Ví dụ : Trong bài thơ Nói với con – Y Phương, phân tích đoạn thơ:
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Tư tưởng nghệ thuật ẩn sau đoạn thơ này là sự cưu mang, đùm bọc của
q hương đối với mỗi con người nhưng để chiếm lĩnh được vấn đề trên
người thầy phải giúp cho học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của cuộc sống lao
động sản xuất, sinh hoạt văn hố, vẻ đẹp và mối quan hệ gắn bó giữa thiên
nhiên núi người với “người đồng mình”. Có thể nói với khả năng của người
thầy qua khâu truyền đạt đơn thuần bằng lời giảng thì học sinh khơng thể cảm
nhận được nội dung vấn đề một cách trọn vẹn hoặc nếu cảm nhận được thì
cũng là sự gượng ép vì vốn kiến thức, sự hiểu biết của các em về cuộc sống
của “người đồng mình” là rất hạn chế. Ở đây với một đoạn video ngắn đã
Trường THCS Mỹ Hiệp - 10 - Năm học: 2010-2011
SKKN Một vài kinh nghiệm trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy một tác phẩm văn học.
được biên tập (Cảnh lao động sản xuất, sinh hoạt văn hố, cảnh núi rừng với
cuộc sống của người đồng bào Tây Bắc đang hăng hái tăng gia sản xuất như
gặt lúa, giã gạo… cùng với cảnh người dân nơi đây đang ca hát, múa những
làn điệu ở q hương mình…) với dụng ý riêng của người thầy sẽ giúp các em
có một cái nhìn thực, cụ thể, sinh động hơn nội dung vấn đề tạo tiền đề cho
việc cảm nhận nội dung tư tưởng.
- Sử dụng linh hoạt các nguồn tư liệu để làm bài giảng phong phú, sinh
động giúp dễ tiếp cận vấn đề và bồi dưỡng khiếu thẩm mĩ ở các em học sinh.
+ Trong một giờ tìm hiểu tác phẩm văn chương nguồn tư liệu dẫn xuất
thường là hình ảnh, video, mơ hình, âm thanh…nhưng vấn đề đặt ra là làm
thế nào để khơng rơi vào trường hợp lạm dụng mà lại phát huy tính hiệu quả.
Tất cả trơng chờ vào khả năng tạo tình huống, ứng xử tình huống của người
thầy.
+ Ví dụ : Tìm hiểu bài thơ Mùa xn nho nhỏ - Thanh Hải
Ở tiết dạy này có thể thấy nguồn tư liệu khá phong phú bao gồm hình
ảnh, video, âm thanh, mơ hình. Đó vừa là thuận lợi vừa là khó khăn đối với
mỗi một người thầy. Với kinh nghiệm rút ra từ q trình giảng dạy của mình,
chúng tơi đã thực hiện như sau :
Sử dụng một bộ sưu tập hình ảnh để giúp các em khai thác vẻ đẹp thiên
nhiên mùa xn xứ Huế, đặc biệt là hình ảnh “Tơi đưa tay tơi hứng”.
Sử dụng đoạn video ngắn để minh hoạ cho bức tranh về đất nước thời
kì xây dựng và phát triển thể hiện ở đoạn thơ :
Mùa xn người cầm súng,
Lộc giắt đầy trên lưng.
Mùa xn người ra đồng,
Lộc trải dài nương mạ.
Tất cả như hối hả.
Tất cả như xơn xao.
Sử dụng mơ hình để khái qt hình ảnh đất nước từ q khứ đến tương
lai.
Hoặc khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu phân tích khổ cuối của bài thơ,
có lẽ mặc dù đang nằm trên giường bệnh nhưng tâm hồn nhà thơ vẫn ln
hướng về đất nước, q hương với tất cả tấm lòng u thương cùng những
nguyện ước chân thành . Lúc này ta có thể sử dụng những điệu hát như khúc
Nam ai, Nam bình để giúp học sinh cảm nhận được tình u q hương, đất
Trường THCS Mỹ Hiệp - 11 - Năm học: 2010-2011
SKKN Một vài kinh nghiệm trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy một tác phẩm văn học.
nước, tình u cuộc sống của nhà thơ. Có thể thấy rằng dù trước giờ phút xa
lìa cõi đời thế nhưng nhà thơ vẫn với một tâm hồn lạc quan, một tình u q
hương sâu nặng, vẫn ln khao khát và xin một lần được hát những điệu hát,
lời ca của q hương mình. Từ đó mà các em tự nhận thấy rằng tác giả Thanh
Hải quả là một người có tình u q hương tha thiết.
+ Một giờ giảng văn hiện nay u cầu của việc trình chiếu tư liệu là rất cần
thiết nhưng người thầy phải ln xác định một quan điểm là việc làm trên chỉ
đóng vai trò bổ trợ để tiết dạy sinh động, hấp dẫn, kích thích tư duy học sinh,
mục đích mà cả thầy và trò cùng hướng đến là lĩnh hội vẻ đẹp nội dung, nghệ
thuật tác phẩm.
+ Việc dẫn xuất các nguồn tư liệu dạng hình ảnh, video…cũng góp
phần bồi dưỡng năng khiếu thẩm mĩ cho học sinh và cũng giúp cho các em
thấy được rằng có nhiều cách để thể hiện vẻ đẹp của cuộc sống nhưng sinh
động và hấp dẫn nhất vẫn là nghệ thuật ngơn từ.
- Tạo tình huống phù hợp để dẫn xuất tư liệu: Đây cũng là vấn đề rất
quan trọng nhằm phát huy hiệu quả của việc ứng dụng CNTT vào bài giảng.
Đây là vấn đề tuỳ thuộc vào ý tưởng của người dạy và cũng là một nghệ thuật.
Chẳng hạn trong q trình phân tích bức tranh thiên nhiên thu sang trong bài
“Sang thu”của Hữu Thỉnh nếu trình chiếu một bức tranh hay một đoạn video
với nội dung tả cảnh thu sang thì chỉ làm mắt hoa ý loạn, học sinh khơng
những khó nắm bắt vấn đề mà còn phá vỡ vẻ đẹp của bức tranh thơ. Ở tác
phẩm này việc dẫn xuất hình ảnh chỉ trên bình diện tổng thể và sự đối sánh
giữa các loại hình nghệ thuật để thấy được tài năng quan sát, cảm nhận tinh tế
của nhà thơ mà thơi. Tất cả mọi hình ảnh, video, sách nói…chỉ dẫn xuất được
khi học sinh đã chiếm lĩnh xong nét đẹp độc đáo của bức tranh thu sang.
Cụ thể ở bài thơ này chỉ có ba khổ thơ nhưng giữa các khổ lại có mối
liên hệ chặt chẽ với nhau, mạch cảm xúc được thể hiện xun suốt trong tồn
bộ bài thơ; các hình ảnh, chi tiết ở các khổ thơ đều tập trung thể hiện làm rõ
bức tranh thu sang tuyệt đẹp. Vì thế ta khơng thể phân tích hết khổ 1 hay khổ
2 rồi đưa hình ảnh lên cho học sinh quan sát,cảm nhận về bức tranh thiên
nhiên thì học sinh sẽ khó mà cảm thụ được. Cho nên trong trường hợp này
người giáo viên nên để sau khi hướng dẫn học sinh phân tích xong nội dung
bài mới có thể đưa tranh cho học sinh cảm nhận. Lúc này các em đã được tìm
hiểu qua bài thơ và khi nhìn vào bức tranh sẽ giúp cho các em có được sự cảm
nhận sâu sắc hơn về bức tranh thu trong bài, từ đó làm cho học sinh nhận
thấy rằng cùng viết về một đề tài nhưng có lẽ mỗi nhà thơ lại mang một
phong cách độc đáo riêng, có cách cảm nhận riêng bởi lẽ thơng thường các
Trường THCS Mỹ Hiệp - 12 - Năm học: 2010-2011