Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.76 MB, 47 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
Ví dụ về anh Nam lái xe
<b>Sự chú ý (attention): là một quá trình tập trung</b>
vào những nét đặc trưng riêng biệt trong môi
trường.
Colin Cherry
(1953) sử dụng
Người tham gia được
yêu cầu chú ý vào 1
thông điệp (thông điệp
chú ý) và bỏ qua cái
kia (thông điệp không
chú ý).
Người tham gia theo dõi thông điệp chú ý, nhưng
họ vẫn nhận thức được thông điệp bên tai không
chú ý.
Chỉ nghe thấy có thơng điệp và có thể nhận ra đó
là giọng nam hay giọng nữ, khơng thể cho biết
nội dung thơng điệp.
Thí nghiệm này đã chứng thực sự thiếu nhận
biết những thông tin bên tai khơng chú ý, ngay cả
khi nó được lặp lại 35 lần (Moray, 1959).
Mơ hình bộ lọc của Donald Broadbent (1958) là
một trong những học thuyết cổ điển trong TLH vì
lần đầu:
Mơ tả con người như là một người xử lý thơng tin
Mơ tả tiến trình xử lý thơng tin với 1 mơ hình.
Mơ hình được thiết kế để giải thích sự chú ý được
<b>Mơ hìnhbộ lọc chú ý của Broadbent (1958)</b>
Lưu trữ cảm giác: giữ thông tin đi vào trong thời
gian ngắn chuyển vào bộ lọc
Bộ lọc: nhận ra thông điệp chú ý dựa trên đặc
điểm vật lý (giọng người nói, cường độ, tốc độ
nói, trọng âm) cho 1 thơng điệp đi vào bộ phát
hiện.
<b>Mơ hìnhbộ lọc chú ý của Broadbent (1958)</b>
<b>Là mơ hình lựa chọn</b>
<b>ban đầu (early –</b>
selection model) vì bộ
lọc xuất hiện trước khi
thơng tin đi vào để được
phân tích xác định ý
nghĩa.
Một minh họa khác về
bộ lọc: cái ray cát trên
biển
<i><b>Hình 4.2: </b>(b) Mơ hình chú ý của </i>
có lựa chọn đều sử dụng kích thích thính giác
(câu chuyện, chữ cái hoặc từ).
Nhà nghiên cứu cho thông điệp xuất hiện hai
bên tai.
Xem tai trái và tai phải như những kênh
(channels) riêng biệt
Người ta thu nhận thông tin từ hai kênh dưới
những điều kiện khác nhau.
<b>Điều kiện 1: báo cáo</b>
theo thứ tự bất kỳ
Kết quả: có xu hướng
báo cáo tất cả chữ cái
xuất hiện bên tai này
rồi đến tai kia
<b>Điều kiện 1:</b>
Theo Broadbent: việc
chuyển đổi qua lại giữa các
kênh là việc khó, nên báo
cáo lần lượt từng kênh sẽ
dễ hơn.
<b>Điều kiện 2: báo cáo</b>
từng cặp ký tự xuất
Người nghe phải
chuyển kênh qua lại
khi các ký tự xuất
hiện.
Người nghe báo cáo
chỉ đúng 20% các ký
tự.
Thuyết Broadbent: thông tin khơng chú ý bị lọt
ra ngồi
Thí nghiệm Moray: thơng tin khơng chú ý
được phân tích đủ để xác định ý nghĩa của nó.
(Ví dụ: bạn trong căn phịng ồn ào)
<i>Sự xuất hiện của thơng tin bên tai không chú </i>
<i>ý được xử lý đủ để cung cấp cho người nghe </i>
<i>một vài nhận biết về ý nghĩa của nó.</i>
J. A. Gray và A. I.
Wedderburn (1960)
Người nghe đã có
<b>sự chuyển kênh</b>
(trái với quan điểm
của Broadbent)
Lý giải cho thực tế những thông tin bên tai
không chú ý (tên người nghe, những từ tạo
nên cụm có nghĩa) được thơng qua có ý
thức.
Treisman cho rằng sự lựa chọn xuất hiện
Sơ đồ về mơ hình suy giảm của chú ý của
Treisman
<i>(1) Những đặc điểm vật lý: cường độ cao, thấp; </i>
nhanh – chậm
<i>(2) Ngôn ngữ: nhóm các âm tiết và từ lại với nhau</i>
<i>(3) Ý nghĩa: một chuỗi các từ tạo nên cụm ý nghĩa.</i>
Khi cả 2 thông điệp (chú ý và không chú ý)
được nhận dạng
đi qua bộ suy giảm, thông điệp chú ý xuất
hiện đầy đủ
thông điệp không chú ý bị suy giảm
Giai đoạn quyết định
Đơn vị từ điển (dictionary unit): phân tích
thơng điệp, chứa những từ được lưu trữ và mỗi
cái có ngưỡng (thresholds) hoạt động.
Ngưỡng là cường độ tín hiệu nhỏ nhất có thể
được phát hiện.
− Từ có ngưỡng thấp, tín hiệu yếu thì vẫn có
thể được phát hiện.
− Từ có ngưỡng cao thì tín hiệu mạnh mới
Kết quả cuối cùng: thông điệp chú ý mạnh
+ những phần quan trọng của thông điệp
không chú ý yếu hơn.
Cả hai mơ hình của Broadbent và Treisman
được gọi là mơ hình chú ý ban đầu
Một thuyết khác cho rằng thông tin được
phân tích ý nghĩa trước sau đó mới lựa chọn
chú ý
Mơ hình của Treisman cũng được xem là
mơ hình lựa chọn trung gian.
Mơ hình này dựa trên bằng cho thấy những từ
xuất hiện bên kênh không chú ý có thể được
xử lý ở mức độ ý nghĩa.
Donald MacKay (1973) có thể chỉ ra trong thí
nghiệm của mình bằng câu nói với nghĩa mơ
hồ có thể hiểu nhiều hơn 1 cách.
<i>Ví dụ: They were throwing stones at the bank.</i>
(bank: bờ sơng hoặc ngân hàng)
They were
throwing
stones at the
bank…
River/
money
<i>They threw </i>
<i>stones towards </i>
<i>the side of the </i>
<i>river yesterday</i>
<i>They threw </i>
Người nghe cho thấy 2 câu có nghĩa gần giống
với 1 câu mà họ đã nghe trước đó
<i>MacKay cho thấy ý nghĩa của từ gợi ý có ảnh </i>
<i>hưởng đến sự lựa chọn chú ý của người tham gia.</i>
Ví dụ: nếu nghe từ gợi ý “money” thì người tham
gia có khả năng lựa chọn câu thứ 2.
Ngay cả khi người tham gia nói rằng họ khơng
nhận biết từ gợi ý xuất hiện bên tai không chú ý.
<b>Nguồn nhận thức (cognitive resources) nói đến</b>
quan điểm cho rằng một người có một sức chứa
nhận thức cố định, được dùng để thực hiện những
nhiệm vụ khác nhau.
<b>Tải trọng nhận thức (cognitive load) là số lượng</b>
nguồn nhận thức của một người cần đến để thực
hiện một nhiệm vụ nhận thức nào đó.
<i><b>Nhiệm vụ có tải trọng thấp (low-load task) là</b></i>
nhiệm vụ dễ, có tải trọng nhận thức thấp, sử dụng
một lượng ít nguồn nhận thức của con người
nguồn lực nhận thức con người có thể sử dụng cho
những nhiệm vụ khác.
<i><b>Nhiệm vụ có tải trọng cao (high-load task) là</b></i>
<i><b>Nilli Lavie dự đốn: </b></i>
✓ Nhiệm vụ có tải trọng cao chỉ có dữ liệu lựa
chọn được xử lý.
✓ Nhiệm vụ có tải trọng thấp không yêu cầu tất
cả mọi nguồn lực một số thơng tin có thể
được xử lý.
▪ Người tham gia
y/c tập trung
vào một kích
thích và bỏ qua
kích thích khác.
▪ Nhấn nút “Z”
nếu A hoặc B
xuất hiện
nằm ở trung
tâm.
▪Vị trí bên cạnh
có thể là
A,B,C,D hoặc
X
▪Vị trí B: nhân tố
gây nhiễu tương
▪Vị trí C: nhân tố
gây nhiễu cạnh
tranh
Trong một số trường hợp, chúng ta có thể di tản
sự chú ý của mình vào một số nhiệm vụ.
<b>Sự chú ý được phân chia (divided attention): </b>
con người có thể chú ý vào một số việc cùng
một lúc.
<b>Ví dụ: con người có thể cùng lúc lái xe, nói</b>
chuyện, nghe nhạc, suy nghĩ về những điều họ
sẽ làm.
Ví dụ về việc học lái xe.
<i>Những nghiên cứu cho thấy với sự luyện tập, </i>
<i>chúng ta có thể học làm hai việc khó như nhau </i>
<i>trong cùng một lúc.</i>
<i><b>Thí nghiệm của Spelke (1976): 2 sinh viên đọc </b></i>
một câu chuyện và viết chính tả, nhưng không
thể làm 2 việc cùng 1 lúc. Sau 85 giờ tập luyện,
kéo dài 17 tuần, họ có thể đọc nhanh một câu
chuyện và vừa làm bài kiểm tra phân loại từ.
Người tham gia sẽ thấy một bộ nhớ (a
Sau đó, họ được xem nhanh liên tục 20 khung
Bộ nhớ là số
Nhân tố gây nhiễu là chữ cái
Schneider và Shiffrin thay đổi 2 biến cho mỗi
lần thử nghiệm
<i>(1) số lượng dữ liệu trong bộ nhớ</i>
<i>(2) số lượng trong mỗi khung</i>
Nhiệm vụ trở nên khó hơn
Q trình tự động có diễn ra khơng?
Nếu nhiệm vụ trở nên khó khăn thì sự chú ý không
Được chứng minh trong phần 2 của thí nghiệm
Schneider và Shiffrin. Nhiệm vụ được làm khó hơn
do sự thay đổi
<i>(1) dữ liệu trong bộ nhớ và nhân tố gây nhiễu đều </i>
<i>là những ký tự</i>
<i>(2) dữ liệu nào đó trong bộ nhớ lần này lại trở </i>
<i>thành nhân tố gây nhiễu trong lần thử nghiệm khác.</i>
Quá trình tự động khơng thể xảy ra.
Người tham gia phải thật chú ý vào mọi lúc và
tìm kiếm mục tiêu giữa những nhân tố gây
nhiễu.
Tăng số lượng dữ liệu ….???
Ví dụ: 4 dữ liệu trong bộ nhớ và 4 dữ liệu trong
bộ gây nhiễu họ chỉ có thể làm khi xuất hiện
khung chậm 0.4s. Kết quả rớt xuống 50% đúng.
Điều kiện biến đổi làm nhiệm vụ khó hơn, thậm
chí kéo dài sự luyện tập nhưng sự phân chia chú
ý là khơng thể.
<i>Tuy nhiên, thỉnh thoảng tăng độ khó của một </i>
người tham gia kéo dài
thời gian phản ứng
nhấn chng trong điều
kiện khó
Những người tham gia trong khi lái xe được yêu
Nhiệm vụ nào khó hơn?
Do: phản ứng có lời (nói có hoặc khơng) tương hợp
với nhiệm vụ có lời (nhớ câu) cạnh tranh nhau.
Phản ứng không gian (chỉ Y hoặc N) khơng tương
hợp với nhiệm vụ có lời (nhớ câu).
Phản ứng khó hơn khi chúng ta thực hiện cùng loại
Họ có thể thấy bức hình trong 0.027 giây (chỉ
chú ý đến chữ cái)
Họ có thể chỉ ra chính xác đó là con vật trong
hình trong 76% lần thử nghiệm
<i>Hình 4.14: Thí nghiệm của Li và cs (2002) </i>
Ronald Rensink và cs (1997) làm một thí
nghiệm tương tự dưới điều kiện hạn chế hơn
<i>họ cho thấy rằng con người cần xem xen kẽ qua </i>
<i>lại giữa hai bức tranh trong 1 số lần mới phát</i>
<i>hiện sự khác biệt.</i>
<i><b>Nguyên nhân “mù thay đổi”: thiếu sự chú ý.</b></i>
Khi ông gợi ý là có sự thay đổi người tham
gia có thể phát hiện sự thay đổi nhanh hơn
(Rensink, 2002)
Ảnh hưởng “mù thay đổi” cũng xuất hiện khi
cảnh thay đổi trong những cảnh khác nhau của
phim.
Xem phim.
Mặc dù người tham gia thí nghiệm nói rằng họ
chú ý rất kỹ vào phim, chỉ có 1/10 người thấy
một số thay đổi.
Thậm chí khi họ xem phim này lần nữa, được
Chúng ta quá quen thuộc với môi trường nên
thường “điền vào chỗ trống” dựa vào kinh
nghiệm trong quá khứ, chúng ta dự đốn
những cái có thể xuất hiện trong 1 cảnh nào
đó.
Nếu hệ thống nhận thức của chúng ta ghi
nhận tất cả những chi tiết quá tải.
Chúng ta nhận thức chung, khi cần thiết
Đôi lúc, sự chú ý là q trình từ dưới lên. (ví
dụ)
Hầu hết, sự chú ý của chúng ta được thúc đẩy
bởi ý nghĩa và sự hiểu biết của chúng ta trong
tình huống q trình từ trên xuống
Ví dụ: nghe tên bạn trong căn phòng ồn ào
bất kỳ một kích thích nào được chú ý bởi ý
nghĩa của nó là q trình từ trên xuống.
Có sự quan hệ giữa chú ý và tri giác.
Ví dụ: chú ý liên quan đến sự liên kết các nét
đặc trưng với nhau (thuyết của Treisman).
Sự chú ý là cần thiết cho tri giác và ảnh hưởng
đến tri giác (hiện tượng “mù thay đổi”).