Tải bản đầy đủ (.pdf) (11 trang)

Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật chứa hoạt chất chlorpyrifos ethyl lên sự phát triển của vi tảo Chlorella và Scenedesmus

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (592.63 KB, 11 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>ĐẠI HỌC SÀI GÒN </b> <b>OF SAIGON UNIVERSITY </b>


Số 71 (05/2020) No. 71 (05/2020)


<i>Email: ; Website: />


<b>ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT CHỨA HOẠT CHẤT </b>


<b>CHLORPYRIFOS ETHYL LÊN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VI TẢO </b>



<i><b>CHLORELLA VÀ SCENEDESMUS </b></i>



<i><b>Effects of pesticide containing Chlorpyrifos Ethyl on the growth of microalgae </b></i>


<i><b>Chlorella and Scenedesmus </b></i>



Nguyễn Thị Thanh Phụng

(1)

<sub>, Nguyễn Văn Tài</sub>

(2)

<sub>, </sub>



PGS.TS. Đào Thanh Sơn

(3)

<sub>, ThS. Võ Thị Mỹ Chi</sub>

(4)


(1),(2),(3),(4)<sub>Trường Đại học Bách khoa – ĐHQG TP.HCM </sub>
<b>TÓM TẮT </b>


Hiện nay, việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp đã và đang để lại một dư
lượng lớn trong môi trường nước dẫn đến sự mất cân bằng của hệ sinh thái thủy vực. Trong nghiên cứu
này, hai loài tảo lục <i>Chlorella</i> sp. và <i>Scenedesmus protuberans</i> phân lập từ Việt Nam, được phơi nhiễm
riêng lẻ và đồng thời với thuốc bảo vệ thực vật chứa hoạt chất Chlorpyrifos Ethyl tại các nồng độ 0, 5,
25 và 125 µg L-1<sub> trong 18 ngày. Kết quả cho thấy, mật độ và tốc độ tăng trưởng của </sub><i><sub>Chlorella</sub></i><sub> sp. khi </sub>
nuôi riêng lẻ hoặc cùng với <i>S. protuberans</i> trong môi trường chứa thuốc bảo vệ thực vật ở nồng độ 125
µg L-1<sub> đều bị suy giảm so với đối chứng. Ngược lại, trong cùng một điều kiện phơi nhiễm, hai thông số </sub>
này của <i>S. protuberans</i> lại cao hơn so với đối chứng trong hầu hết các ngày khảo sát. Ngoài ra, mật độ
và tốc độ tăng trưởng của <i>Chlorella</i> sp. được ghi nhận cao hơn so với <i>S. protuberans</i> khi nuôi chung hai
lồi này trong 1 bình thí nghiệm. Kết quả nghiên cứu này góp phần cung cấp những thơng tin hữu ích về
những rủi ro của thuốc bảo vệ thực vật đến hệ sinh thái thủy vực, đặc biệt là vi tảo cho các nhà quản lý


và các nhà nghiên cứu mơi trường.


<i><b>Từ khóa: Chlorella sp., Chlorpyrifos Ethyl, mật độ, Scenedesmus protuberans, tốc độ tăng trưởng </b></i>


<b>ABSTRACT </b>


Nowadays the overuse of pesticides in agricultural production has left a huge residue of these
contaminants in the water bodies consequently the aquatic ecosystem imbalance. In the current study,
the two green algae <i>Chlorella</i> sp. and <i>Scenedesmusprotuberans</i> from Vietnam were exposed separately
or together to the pesticide containing Chlorpyrifos Ethyl at concentrations of 0, 5, 25 and 125 g L-1
during 18 days. The results revealed that when cultivating the two microalgae individually or
simultaneously in the medium containing Chlorpyrifos Ethyl at concentrations of 125 g L-1<sub>, the density </sub>
and growth rate of <i>Chlorella</i> sp. went down compared to the control. Conversely, at the same exposed
conditions, these parameters of <i>S. protuberans </i>were higher than those of the control on most of the
days. Additionally, the density and growth rate of <i>Chlorella</i> sp. were recorded to be higher than those of


<i>S. protuberans </i>when they were incubated together. These results could provide the useful information
on the environmental risk of pesticides to the aquatic ecosystem, especially microalgae for the
environmental managers and scientists.


<i><b>Keywords: Chlorella sp., Chlorpyrifos Ethyl, density, Scenedesmus protuberans, growth rate </b></i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

<b>1. Giới thiệu </b>



Ơ nhiễm mơi trường nước là một trong


những vấn đề nghiêm trọng và đáng lo ngại


trên toàn cầu. Sự gia tăng không ngừng


việc sử dụng hóa chất ở các lĩnh vực công


nghiệp, nông nghiệp và chăn nuôi đã và


đang gây sức ép cho môi trường nước.



Trong đó, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV)


được xem là một trong những chất gây ô


nhiễm đáng lo ngại bởi sự thông dụng và


những tác động khó lường của chúng đến


hệ sinh thái thủy vực [1]. Dư lượng của


quá trình sử dụng thuốc BVTV có thể đi


vào trong môi trường nước và gây ra các


tác động bất lợi đến sinh vật (ví dụ: vi tảo,


vi giáp xác, cá, tôm) gây mất cân bằng hệ


sinh thái [2], [3].



Vi tảo đóng vai trị quan trọng và thiết


yếu trong hệ sinh thái thủy vực, bởi chúng


có chức năng sản xuất oxy, giảm nồng độ


chất ô nhiễm và cung cấp thức ăn cho các


sinh vật bậc cao hơn [4], [5], [6]. Vì thế,


những tác động bất lợi của thuốc BVTV


lên vi tảo có khả năng làm phá hủy cấu trúc


và chức năng của hệ sinh thái thủy vực bởi


sự suy giảm lượng oxy hòa tan và cạn kiệt


nguồn thức ăn cho các sinh vật bậc cao hơn


[2]. Các nghiên cứu trước đây trên thế giới


đã ghi nhận độc tính của thuốc BVTV đối


với vi tảo đặc biệt cao hơn so với các sinh


vật khác trong hệ sinh thái thủy vực (như


vi giáp xác, động vật không xương sống và


cá) [3], [7]. Kết quả nghiên cứu của


Agirman và cộng sự (2014) ghi nhận sự


suy giảm mật độ và tốc độ tăng trưởng trên


vi tảo

<i>Chlorella</i>

<i>vulgaris</i>

khi phơi nhiễm



với 4 loại thuốc BVTV chứa các hoạt chất


Dichlorvos,

Diazinon,

Trifluralin


Paraquat ở các nồng độ từ 1 - 20

g L

-1

trong 6 ngày thí nghiệm [3]. Tương tự, khi


tiếp xúc với thuốc BVTV chứa hoạt chất


Paraquat ở nồng độ từ 0,05 - 3,2 mg L

-1

,



tốc độ tăng trưởng của vi tảo

<i>Scenedesmus</i>


<i>acutus</i>

đều bị ức chế trong suốt thời gian


thí nghiệm [8]. Cũng trên loài vi tảo

<i>S. </i>


<i>acutus</i>

, các thí nghiệm phơi nhiễm thuốc


BVTV

chứa

thành

phần

diazinon,


azoxystrobin hay flusilazole với nồng độ


rất thấp (1 - 32

g L

-1

<sub>) đều ghi nhận được </sub>



những tác động ức chế đến sự sinh trưởng


và phát triển của vi tảo [9], [10]. Không chỉ


tác động ức chế đáng kể tốc độ tăng trưởng


của vi tảo, thuốc BVTV còn làm giảm hiệu


suất quang hợp và nồng độ chlorophyll-a


của vi tảo

<i>Spirulina</i>

<i>platensis</i>

[11]. Tuy


nhiên, những ảnh hưởng bất lợi của thuốc


BVTV lên vi tảo có sự khác biệt giữa các


loài, phụ thuộc vào đặc điểm của từng loài


vi tảo, môi trường sống và đặc biệt là các


thành phần hoạt chất chính của mỗi loại


thuốc BVTV [1], [3], [9], [11].



Chlorpyrifos Ethyl có tên hố học là


O, O-diethyl O-(3,5,6-trichloro-2-pyridyl)



phosphorothioate, công thức phân tử là


C

9

H

11

C

l3

NO

3

PS. Đây là hoạt chất có tác



</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

người do suy hô hấp hoặc tim ngừng đập,


giảm cân nặng sơ sinh, giảm chu vi vòng


đầu của trẻ sơ sinh có mẹ phơi nhiễm hay


suy giảm nội tiết tố sinh sản [14].



Việt Nam là một trong những nước


nông nghiệp, sử dụng lượng thuốc BVTV


rất lớn hàng năm, tuy nhiên các nghiên cứu


về tác động của thuốc BVTV lên hệ sinh


thái và đặc biệt là vi tảo có nguồn gốc từ


Việt Nam vẫn còn rất hạn chế [15], [16].


Vì vậy, nghiên cứu này có mục tiêu đánh


giá ảnh hưởng của thuốc BVTV với thành


phần hoạt chất Chlorpyrifos Ethyl, một loại


thuốc được dùng phổ biến ở đồng bằng


sông Cửu Long hiện nay, đến sự phát triển


của hai loài vi tảo

<i>Chlorella</i>

sp. và



<i>Scenedesmus</i>

<i>protuberans </i>

(

<i>S. protuberans</i>

)


có nguồn gốc Việt Nam khi nuôi chúng


riêng lẻ và đồng thời, góp phần cung cấp


thêm thơng tin và cơ sở khoa học cho công


tác quản lý và kiểm soát việc sử dụng


thuốc BVTV.



<b>2. Vật liệu và phương pháp </b>




<i><b>2.1. Vật liệu </b></i>



Thuốc BVTV sử dụng cho nghiên cứu


này ở dạng thương phẩm, có nhãn hiệu


VITASHIELD và chứa hoạt chất chủ yếu


là Chlorpyrifos Ethyl với nồng độ 400g L

-1

<sub>. </sub>



Để tiến hành thí nghiệm, thuốc BVTV này


được pha với môi trường nhân tạo Z8 [17]


thành dung dịch có nồng độ 2 mg


Chlorpyrifos Ethyl L

-1

và sau đó được bảo


quản ở nhiệt độ 25

o

<sub>C tại phịng thí nghiệm </sub>



trong điều kiện không ánh sáng. Cùng với


đó, hai lồi vi tảo được sử dụng cho nghiên


cứu này, bao gồm

<i>Chlorella</i>

sp. (Hình 1a.)


<i>S. protuberans</i>

(Hình 1b.) được phân lập


từ kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè (Thành phố


Hồ Chí Minh). Vi tảo được ni duy trì và


tăng sinh khối trong môi trường nhân tạo


Z8 ở điều kiện phịng thí nghiệm với nhiệt


độ 25 ± 1

o

<sub>C, cường độ ánh sáng khoảng </sub>



3.000 Lux, chu kỳ sáng tối 12h:12h [18].



<i><b>Hình 1. Chlorella sp. (a) và Scenedesmus protuberans (b) quan sát dưới kính hiển vi </b></i>



<i>Optika B-150 độ phóng đại 100 – 1000 lần </i>



<i><b>2.2. Thiết kế thí nghiệm </b></i>




Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của


thuốc BVTV đến sự phát triển của vi tảo


được tiến hành theo hướng dẫn của


Muhaemin (2004) với một vài sự thay đổi


nhỏ [19]. Theo đó, trong thí nghiệm phơi


nhiễm với thuốc BVTV lên từng loài vi tảo



riêng lẻ

<i>Chlorella</i>

sp. và

<i>S. protuberans</i>

, vi


tảo được ni trong bình erlen thủy tinh


250 mL chứa 150 mL môi trường Z8 [17]


và thuốc BVTV ở các nồng độ 0 (đối


chứng), 5, 25 và 125 µg L

-1

<sub>. Ở mỗi nồng </sub>



</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

tất cả các bình là tương đương nhau. Thí


nghiệm kéo dài 18 ngày trong điều kiện


phịng thí nghiệm như trình bày phần trên


[18]. Suốt thời gian thí nghiệm, để xác định


mật độ vi tảo tại các bình thí nghiệm qua


các giai đoạn thì một lượng nhỏ mẫu vi tảo


(2 mL) ở các bình thí nghiệm được lấy ra


với tần suất 2 ngày/lần. Mẫu vi tảo này sẽ


được cố định bằng dung dịch Lugol [20]


ngay sau khi lấy ra và tiếp đó được xác


định mật độ bằng buồng đếm Sedgewick


Rafter dưới kính hiển vi [18]. Ngồi ra,


một thí nghiệm khác cũng được tiến hành


tương tự khi trộn 2 loài vi tảo (

<i>Chlorella </i>



sp. và

<i>S. protuberans</i>

) với nhau và nuôi




trong cùng một bình, tại nồng độ 0 (đối


chứng) và 125 µg L

-1

<sub>. Thí nghiệm này </sub>



được thực hiện với 3 lần lặp (n=3) tiến


hành trong 12 ngày ở điều kiện phịng thí


nghiệm như đã nêu trên.



<i><b>2.3. Xử lý số liệu </b></i>



Tốc độ tăng trưởng (µ) của vi tảo được


tính tốn theo cơng thức:

µ = (ln X

2

– ln



X

1

)/(t

2

– t

1

) [21]. Trong đó: X

1

, X

2

là mật



độ tế bào vi tảo lần lượt tại thời điểm ngày


thứ t

1

và t

2

(số tế bào mL

-1

); t

1

, t

2

là thời



gian thí nghiệm (ngày). Ngoài ra, phần


mềm Sigma Plot (phiên bản 12.0) cũng


được sử dụng để đánh giá sự khác biệt


thống kê về mật độ và tốc độ tăng trưởng


của từng loài vi tảo giữa các lô phơi nhiễm


so với đối chứng bằng phương pháp phân


tích phương sai một yếu tố (one-way


anova).



<b>3. Kết quả và thảo luận </b>



<i><b>3.1. Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ </b></i>



<i><b>thực vật lên mật độ của vi tảo </b></i>



Kết quả thí nghiệm đã ghi nhận sự


khác biệt mang tính thống kê về mật độ tế


bào tại một số thời điểm giữa các lô phơi


nhiễm và đối chứng trên cả hai loài vi tảo


được đề cập.



Đối với

<i>Chlorella</i>

sp., khi phơi nhiễm



với thuốc BVTV ở các nồng độ 25 và 125


µg L

-1

, vi tảo vẫn có khả năng tăng trưởng.


Tuy nhiên, nếu như tại ngày bắt đầu thí


nghiệm, mật độ tế bào ở các lô phơi nhiễm


và đối chứng tương đương nhau (khoảng


90000 tế bào mL

-1

<sub>) thì hai ngày sau đó, </sub>



mật độ tế bào ở các lô phơi nhiễm đều thấp


hơn so với đối chứng (Hình 2a.).



Trái lại, với mật độ khởi đầu ở tất cả


các lô thí nghiệm vào khoảng 7000 tế bào


mL

-1

, mật độ vi tảo

<i>S. protuberans</i>

trong lô


phơi nhiễm tại nồng độ cao nhất (125 µg


L

-1

) được ghi nhận cao hơn so với đối


chứng trong hầu hết các ngày khảo sát.


Trong khi đó, tại hai nồng độ phơi nhiễm


thấp hơn (5 và 25 µg L

-1

<sub>), gần như không </sub>



ghi nhận được sự khác biệt mang tính



thống kê về mật độ vi tảo giữa các lô phơi


nhiễm và đối chứng (Hình 2b.).



Ngồi ra, tại tất cả các nồng độ phơi


nhiễm, cả hai lồi vi tảo này đều có thể tiếp


tục sinh trưởng và khơng có sự ức chế hay


suy giảm số lượng tế bào so với thời điểm


ban đầu trong suốt thời gian thí nghiệm.



Nghiên cứu trước đây của Agirman và


cộng sự (2014) [3] đã ghi nhận sự suy giảm


mật độ tế bào đáng kể của vi tảo

<i>C. </i>


<i>vulgaris</i>

khi phơi nhiễm các loại thuốc


BVTV chứa các thành phần Diazinon,


Paraquat, Dichlorvos và Trifluralin ở các


nồng độ 1-20 µg L

-1

<sub> trong 6 ngày. Như </sub>



vậy, với thành phần chính là Chlorpyrifos


Ethyl, thuốc BVTV sử dụng trong thí


nghiệm này ít ảnh hưởng đến sự phát triển


của hai loài vi tảo

<i>Chlorella</i>

sp. và

<i>S. </i>


<i>protuberans</i>

so với tác động của các loại


thuốc BVTV chứa các thành phần như


Diazinon,

Paraquat,

Dichlorvos


Trifluralin lên vi tảo

<i>C.</i>

<i>vulgaris</i>

. Điều này



</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

điểm của mỗi loài vi tảo. Kết quả này cũng


phù hợp với những ghi nhận của Ma và


cộng sự (2004) [1], theo đó lồi vi tảo lục




<i>Scenedesmus quadricauda</i>

có biểu hiện và


phản ứng rất đa dạng, có thể bị ức chế hoặc


kích thích tăng trưởng trong nghiên cứu


phơi nhiễm cấp tính 21 loại thuốc BVTV


khác nhau. Mặt khác, tại cùng nồng độ


phơi nhiễm (125 µg L

-1

<sub>), so với lô đối </sub>



chứng của mỗi loài vi tảo, mật độ tế bào


của

<i>Chlorella</i>

sp. bị suy giảm, trong khi


mật độ của

<i>S. protuberans</i>

lại gia tăng.


Điều này đã cho thấy sự ảnh hưởng khác


biệt của cùng một loại thuốc BVTV tại



cùng một nồng độ lên các loài vi tảo khác


nhau. Nguyên nhân có thể giải thích bởi


các lồi vi tảo khác nhau sẽ có độ nhạy và


khả năng thích ứng khác nhau đối với các


chất ơ nhiễm trong mơi trường [1], [3]. Vì


thế, thuốc BVTV với thành phần chính


Chlorpyrofos Ethyl trong thí nghiệm này


vừa có biểu hiện ức chế sự gia tăng mật độ


của vi tảo

<i>Chlorella</i>

sp., vừa có tác động


kích thích sự gia tăng mật độ tế bào của vi


tảo

<i>S. protuberans</i>

ở nồng độ 125 µg L

-1

.


Điều này cho thấy vi tảo

<i>Chlorella</i>

sp. nhạy


với thuốc BVTV chứa Chlorpyrifos Ethyl


hơn so với

<i>S. protuberans. </i>



<i><b>Hình 2. Mật độ Chlorella sp. trong đối chứng (Ch0), khi phơi nhiễm tại nồng độ 25 µg L</b></i>

<i>-1</i>



<i>(Ch25) và 125 µg L</i>

<i>-1</i>

<i> (Ch125) (a); mật độ S. protuberans trong đối chứng (Sc0), khi phơi </i>


<i>nhiễm tại nồng độ 5 µg L</i>

<i>-1</i>

<i><sub> (Sc5), 25 µg L</sub></i>

<i>-1 </i>

<i><sub>(Sc25) và 125 µg L</sub></i>

<i>-1</i>

<i><sub> (Sc125) (b). Chữ cái “x, </sub></i>



<i>y” lần lượt thể hiện sự khác biệt thống kê (p < 0,05) giữa lơ phơi nhiễm tại nồng độ 25 và </i>


<i>125 µg L</i>

<i>-1</i>

<i> so với đối chứng đối với cả hai loài vi tảo </i>



<i><b>3.2. Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ </b></i>


<i><b>thực vật đến tốc độ tăng trưởng </b></i>



Ảnh hưởng của thuốc BVTV với thành


phần chính Chlorpyrifos Ethyl càng được



</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

của vi tảo

<i>Chlorella </i>

sp. đều thấp hơn so



với đối chứng trong suốt 10 ngày đầu và


ngày kết thúc thí nghiệm (Hình 3a.). Kết


quả tương tự cũng được ghi nhận ở nghiên


cứu trước đây, trong đó tốc độ tăng trưởng


của vi tảo

<i>Chlorella</i>

<i>pyrenoidosa</i>



<i>Merismopedia</i>

sp. đều bị suy giảm khi gia


tăng nồng độ phơi nhiễm với Chlorpyrifos


từ 9 đến 150 mg L

-1

<sub> trong thời gian phơi </sub>



nhiễm 24 giờ và 96 giờ [22].



Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng của vi


tảo

<i>S. protuberans</i>

khi phơi nhiễm với


Chlorpyrifos Ethyl tại nồng độ 125 µg L-1


cao hơn so với đối chứng tại một số thời



điểm, tuy nhiên ở các nồng độ 5 và 25 µg


L-1 hầu như khơng ghi nhận được điều này


(Hình 3b.). Trong một nghiên cứu trước đây


cũng từng ghi nhận tốc độ tăng trưởng của


vi tảo

<i>C.</i>

<i>vulgaris</i>

không bị suy giảm so với



đối chứng khi được phơi nhiễm với thuốc


BVTV tại nồng độ lên đến 25 µg L-1 [23]


và 200 µg L-1 đối với

<i>S.</i>

<i>quadricauda </i>

[24].


Ngồi mật độ tế bào thì mối liên hệ giữa tốc


độ tăng trưởng của vi tảo và nồng độ phơi


nhiễm thuốc BVTV cũng đã được quan tâm


và sử dụng để đánh giá các tác động bất lợi


của thuốc BVTV đến vi tảo trong các


nghiên cứu trước đây. Theo đó, cũng giống


như cơ chế tác động đến sự gia tăng mật độ


vi tảo, tác động của thuốc BVTV lên vi tảo


cũng phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm khác


nhau giữa từng loài vi tảo và thành phần


hoạt chất chính của thuốc BVTV như đã


thảo luận ở phần trên [1], [3], [25]. Do đó,


tương tự với sự gia tăng mật độ, đã có sự tác


động khác nhau của thuốc BVTV đến tốc


độ tăng trưởng của vi tảo

<i>Chlorella</i>

sp và

<i>S. </i>


<i>protuberans</i>

trong nghiên cứu này.



<i><b>Hình 3. Tốc độ tăng trưởng của vi tảo Chlorella sp. (a) và S. protuberans (b) khi phơi </b></i>



</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

<i><b>3.3. Mật độ và tốc độ tăng trưởng của </b></i>


<i><b>hai loài vi tảo khi phơi nhiễm đồng thời </b></i>




Trong tự nhiên, hai loài vi tảo



<i>Chlorella </i>

sp. và

<i>S. protuberans </i>

có thể tồn



tại cùng nhau, do đó thí nghiệm phơi nhiễm


với sự hiện diện đồng thời cả hai loài vi tảo


này với thuốc BVTV ở cùng nồng độ đã


được tiến hành. Kết quả cho thấy, cùng một


bình thí nghiệm chứa cả 2 lồi vi tảo, tốc độ


tăng trưởng và mật độ của vi tảo

<i>Chlorella </i>


<i>sp.</i>

luôn cao hơn so với vi tảo

<i>S.</i>


<i>protuberans</i>

ngay cả khi phơi nhiễm hoặc


không phơi nhiễm với thuốc BVTV trong


suốt 12 ngày thí nghiệm (Hình 4). Tương tự


với kết quả của thí nghiệm phơi nhiễm


riêng lẻ trên từng loài vi tảo, mật độ và tốc


độ tăng trưởng của

<i>Chlorella</i>

sp. trong lô


phơi nhiễm thấp hơn so với lơ đối chứng


(Hình 4a., 4b.). Mặt khác, mật độ tế bào của



<i>S. protuberans</i>

ở lô phơi nhiễm lại không


khác biệt so với đối chứng trong hơn một


tuần đầu của thí nghiệm. Tuy nhiên, sau đó,


mật độ

<i>S. protuberans</i>

ở lô phơi nhiễm


được ghi nhận là cao hơn so với đối chứng


(Hình 4a.). Như vậy, kết quả ở thí nghiệm


này khá tương đồng với thí nghiệm phơi


nhiễm thuốc BVTV trên từng loài riêng lẻ




<i>Chlorella</i>

sp. và

<i>S. protuberans</i>

. Ngoài ra,


kết quả thí nghiệm này cũng chỉ ra rằng, tuy


khả năng chịu đựng và thích nghi của vi tảo



<i>S. protuberans </i>

đối với thuốc BVTV cao



hơn so với vi tảo

<i>Chlorella</i>

sp., nhưng trong


cùng điều kiện sinh trưởng thì vi tảo



<i>Chlorella</i>

sp. có khả năng tăng trưởng


nhanh và mạnh hơn so với vi tảo

<i>S.</i>


<i>protuberans</i>

. Các kết quả của một vài cơng



</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

<i><b>Hình 4. Mật độ (a) và tốc độ tăng trưởng (b) của hai loài vi tảo khi phơi nhiễm đồng thời </b></i>



<i>với thuốc BVTV. Chlorella sp. và S. protuberans trong lô đối chứng (Ch0hh và Sc0hh), và </i>


<i>phơi nhiễm tại nồng độ 125 µg L</i>

<i>-1</i>

<i><sub> (Ch125hh và Sc125hh), Chữ cái “x,y” lần lượt thể hiện </sub></i>



<i>sự khác biệt thống kê (p < 0,05) giữa lô phơi nhiễm của Chlorella sp. và S. protuberans so </i>


<i>với đối chứng </i>



<b>4. Kết luận </b>



Kết quả thí nghiệm nuôi riêng lẻ và


đồng thời

<i>Chlorella</i>

sp.

cùng

<i>S. </i>


<i>protuberans</i>

đã chứng minh thuốc BVTV


với thành phần chính Chlorpyrifos Ethyl có


thể gây tác động ức chế hoặc kích thích sự


phát triển của vi tảo và đáp ứng này tùy


thuộc vào khả năng chịu đựng, thích nghi




</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO </b>



[1]

Ma. J, Lin. F, Wang. S, Xu. L, “Acute toxicity assessment of 20 herbicides to the


green alga Scenedesmus quadricauda (Trup.) Breb”,

<i>Bulletin of Environment </i>



<i>Contamination Toxicology</i>

, 72, 1164-1171, 2004.



[2]

Kersting. K, Van den Brink. P.J, “Effects of the insecticide dursban (activer


ingredient chlorpyrifos) in outdoor experimental ditches: responses of ecosystem


metabolism”,

<i>Environmental Toxicology and Chemistry</i>

, 16, 251-259, 1997.



[3]

Agirman. N, Kendirlioglu. G, Cetin. K, “The effects of four pesticides on the growth


of Chlorella vulgaris”.

<i>Fresenius Environmental Bulletin</i>

, 23(6), 1418-1422, 2014.


[4]

Raja. R, Shanmugam. H, Ganesan. V, Carvalho. I.S, “Biomass from Microalgae: An



Overview

<i>”</i>

,

<i>Journal of Oceanography and Marine Research</i>

, 2(1), pp. 1-7, 2014.


[5]

Wolkers. H, Barbosa. M, Kleinegris. D, Bosma. R, Wijffels. R.H,

<i>Microalgae: the </i>



<i>green gold of the future?: large-scale sustainable cultivation of microalgae for the </i>


<i>production of bulk commodities,</i>

Wageningen

UR-Food & Biobased Research, 2011.


[6]

Saenz. M.E, Marzio. D.D, Accorinti. J, Tortorelli. M.C, “Paraquat toxcity to different



green alga”,

<i>Bulletin of Environment Contamination Toxicology</i>

, 58, 922-928, 1997.


[7]

Ferraz. D.G.D, Sabater. C, Carrasco. J.M, “Effects of Propanil, Tebufenozide and



Mefenacet on Growth of Four Freshwater Species of Phytoplankton: A Microplate


Bioassay”.

<i>Chemosphere</i>

, 56(4), 315-320, 2004



[8]

Saenz. M.E, Marzio. W.D.D., Alberdi. Z.L, Tortorelli. M.C, “Algal Growth



Recovery Studies After Paraquat Exposure”,

<i>Bulletin of Environmental </i>


<i>Contamination and Toxicology</i>

, 66(2), 263-268, 2001.



[9]

Cetın. A.K, Gur. N, Firat. Z, “Growth rate of Scenedesmus acutus in laboratory cultures


exposed to diazinon”,

<i>African Journal of Biotechnology</i>

, 10(34), 6540-6543, 2011.


[10]

Bedil. B, Kendirlioglu. G, Agirman. N, Cetin. A.K, “Effects of azoxystrobin and



flusilazole on growth and protein amount of Scenedesmus acutus”,

<i>Fresenius </i>


<i>Environmental Bulletin</i>

, 24(4), pp. 1258 – 1262, 2015.



[11]

Bhuvaneswari. R.G, Purushothaman. C.S, Pandey. P.K, Gupta. S, Kumar. H.S,


Shukla. S.P, “Toxicological Effects of Chlorpyrifos on Growth, Chlorophyll a


Synthesis and Enzyme Activity of a Cyanobacterium Spirulina (Arthrospira)


platensis”,

<i>International Journal of Current Microbiology and Applied Sciences</i>

,


7(6), 2980-2990, 2018.



</div>
<span class='text_page_counter'>(10)</span><div class='page_container' data-page=10>

[13]

Trunnelle. K.J, Bennett. D.H, Tulve. N.S, Clifton. M.S, Davis. M.D, Calafat. A.M,


Moran. R, Tancredi. D.J, Hertz-Picciotto. I, “Urinary pyrethroid and chlorpyrifos


metabolite concentrations in northern California families and their relationship to


indoor residential Iinsecticide levels, part of the study of use of products and


exposure related behavior (SUPERB)”.

<i>Environmental Science & Technology</i>

, 48(3),


pp. 1931–1939, 2014.



[14]

Mink. P.J, Kimmel. C.A, Li. A.A, “Potential effects of Chlorpyrifos on fetal growth


outcomes: Implications for risk assessment”,

<i>Journal of Toxicology and </i>


<i>Environmental Health. Part B, Critical Reviews</i>

, 15(4), 281-316, 2012.



[15]

Braun. G, Braun. M, Kruse. J, Amelung. W, Renaud. F.G, Khoi. C.M, Duong. M.V,


“Pesticides and antibiotics in permanent rice, alternating rice-shrimp and permanent


shrimp systems of the coastal Mekong Delta, Vietnam”,

<i> Environment International</i>

,



127, 442 – 451, 2019.



[16]

Vo. T.M.C, Dao. M.P, Dao. T.S, “Growth of duckweed upon exposure to aluminum


and atrazine in the laboratory conditions”,

<i>Journal of Vietnamese Environment</i>

, 9(2),


106-111, 2018.



[17]

Kotai. J, “Intruction for preparation of modified nutrient solution Z8 for algae”,



<i>Norwegian Institute for Water research Oslo</i>

, 11(69), 1-5, 1972.



[18]

American Public Health Association, American Water Works Association, Water


Pollution Control Federation, Water Environment Federation,

<i>Standard methods for </i>


<i>the examination of water and wastewater</i>

, American Public Health Association,


1915.



[19]

Muhaemin. M, “Toxicity and bioaccumulation of lead in Chlorella and Dunaliella”,



<i>Journal of Coastal Development</i>

, 8(1), 27-33, 2004.



[20]

Hasle. G.R, Fryxell. G.A, “Taxonomy of Diatoms

<i>”</i>

, in

<i>Manual on harmful marine </i>



<i>microalgae</i>

, Intergovernmental Oceanographic Commission, UNESCO, 1995,



339-364.



[21]

Lobban. C.S, Chapman. D.J, Kremer. B.P,

<i>Experimental phycology – a laboratory </i>


<i>manual,</i>

Cambridge University Press, 1988.



[22]

Asselborn. A, Fernandez. C, Zalocar. Y, Parodi. E. R, “Effects of Chlorpyrifos on the


growth and ultrastructure of green algae, Ankistrodesmus gracilis”,

<i>Ecotoxicology </i>



<i>and Environmental Safety</i>

, 120, 334-341, 2015.



[23]

Wong. P.K, “Effects of 2,4-D, glyphosate and paraquat on growth, photosynthesis


and chlorophyll-a synthesis of Scenedesmus quadricauda Berb 614”,

<i>Chemosphere</i>

,


41, 177-182, 2000.



</div>
<span class='text_page_counter'>(11)</span><div class='page_container' data-page=11>

[25]

Chen. S, Chen. M, Wang. Z, Qiu. W, Wang. J, Shen. Y, Wang. Y, Ge. S,


“Toxicological Effects of Chlorpyrifos on growth, enzyme activity and chlorophyll a


synthesis of Freshwater Microalgae”,

<i>Environmental Toxicology and Pharmacology</i>

,


45, 179-186, 2016.



[26]

Vadia. S, Levin. P.A, “Growth rate and cell size: a re-examination of the growth


law”,

<i>Current Opinion in Microbiology</i>

, 24, 96-103, 2015.



[27]

Banse. K, “Rates of growth, respiration and photosynthesis of unicellular algae as


related to cell size”,

<i>Journal of Phycology</i>

, 12, 135-140, 1976.



[28]

Harris. G.P, Ganf. G.G, Thomas. D.P, “Productivity, growth rates and cell size


distributions of phytoplankton in the SW Tasman Sea: implications for carbon


metabolism in the photic zone”,

<i>Journal of Plankton Research</i>

, 9(5), 1003-1030,


1987.



[29]

Kang. Kirim, Lee. C.Y.J, Lee. C.H, “Comparison of rheological properties of powder


Chlorella sp. cultivated in fermentor and pond”,

<i>Journal of Microbiology and </i>


<i>Biotechnology,</i>

12(5), 740-745, 2002.



[30]

Nguyen. V.T, Vo. T.M.C, Bui. T.N.P, Hua. H.H, Dao. T.S, “Nutritional value of


microalgae isolated from Viet Nam”,

<i>Journal of Animal Husbandry Sciences and </i>


<i>Technics (JAHST)</i>

, 249, 55-59, 2019.




[31]

Mohapatra. P.K, Mohanty. R.C, “Growth pattern changes of Chlorella vulgaris and


Anabaena doloilum due to toxicity of and endosulfan”,

<i>Bulletin of Environment </i>



<i>Contamination and Toxicology</i>

, 49, 576–581, 1992.



[32]

Tukaj. Z, Pokora. W, “Individual and combined effect of anthracene, cadmium and


chloridazone on growth and activity of SOD izoformes in three Scenedesmus


species”,

<i>Ecotoxicology and Environmental Safety</i>

, 65, 323-331, 2006.



</div>

<!--links-->

×