Câu 1: Có ý kiến cho rằng: Lịch sử văn học là lịch sử của những cách đọc.
Anh/ chị hãy chứng minh nhận định này qua một trường hợp cụ thể của
văn học Việt Nam. (Bài viết không quá 2000 chữ)
Câu 2: Từ gợi ý “Văn chương chuyên chú ở con người”, anh (chị) hãy viết
một bài báo bình luận những tác phẩm văn học gần đây mà anh (chị) đã
đọc (không quá 1500 chữ)
Bài làm
“Đây thôn Vĩ Dạ” và những góc nhìn
Nghệ thuật nói chung và văn chương nói riêng đều mang tính đa nghĩa
bởi lẽ nó diễn đạt tư tưởng, tình cảm qua hình tượng. Tác phẩm là một hệ thống
hình tượng, và mỗi hình tượng lại mang một chức năng khái quát hóa riêng, và
khi xâu chuỗi các hình tượng đó với nhau, nó tạo thành một hệ thống những
nhận thức riêng cho từng người đọc. Người đọc, hay người tiếp nhận, từ việc
đọc ngôn từ, hiểu hình tượng mà qua đó tạo nên phương diện chủ quan của đời
sống tác phẩm nghệ thuật. Chính từ sự năng động, mới mẻ và sáng tạo của
người đọc đã làm cho đời sống nghệ thuật trở nên mới vẻ, hấp dẫn. Và quả thật
“Lịch sử văn học chính là lịch sử của những cách đọc”. Qua bài thơ “Đây thôn
Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử, chúng ta sẽ hiểu thêm về điểu đó.
“Đây thơn Vĩ Dạ” chưa phải là một tác phẩm thể hiện những nét phong
cách đặc trưng của Hàn Mặc Tử, thậm chí, nó cịn bị coi như một bài thơ hơi
“nhạt” trong toàn bộ khối lượng sáng tác. Thơ Hàn Mặc Tử vẫn luôn là vấn đề
gây tranh cãi trong suốt bao năm, tốn khơng ít bao nhiêu giấy mực của các nhà
phê bình, nghiên cứu để tìm ra được đâu là chân tướng, đâu là ý cốt lõi trong
các hình ảnh thơ như “Ta hồng hồn, hoảng vía, hoảng thiên/ Nhày ùm xuống
giếng vớt xác lên” hay “Hơm nay có một nửa trăng thơi/ Một nửa trăng ai cắn
vỡ rồi/ Tôi nhớ người xa thương đứt ruột/ Gió làm nên tội buổi chia phơi”. Do
đó, khi xếp vào chỉnh thể, “Đây thôn Vĩ Dạ” ban đầu dường như ít được chú ý
đến, và có thể coi như một bài thơ khá dung dị, nhẹ nhàng, trong sáng, cho đến
khi nó được đưa vào chương trình phổ thơng...
Khi nó được đưa vào chương trình phổ thơng, “Đây thơn Vĩ Dạ” lại được
khốc ngun vẹn chiếc áo nhiệm màu của thơ Hàn Mặc Tử, khi một loạt ý kiến
trái chiều về bài thơ được đưa ra và tranh luận rất gay gắt. Có quan điểm cho
rằng tồn bộ bài thơ là lời tỏ tình của nhà thơ gửi đến cho Hồng Cúc, người thì
cho nó đơn thuần chỉ là tả lại cảnh sắc thiên nhiên của Vĩ Dạ thôn, người cho
1
rằng đây là một bài thơ hướng ngoại, nhưng lại khơng ít ý kiến khăng khăng nó
phải là hướng nội... “Đây thơn Vĩ Dạ” chính thức bước chân vào một cuộc hỗn
chiến của dư luận đương thời, khi người đọc dẫn dắt bài thơ theo ý kiến chủ
quan của mình. Nếu nhìn nhận một cách độc lập, ai cũng có những ý đúng, bởi
lẽ, nếu coi đây là bài thơ về thiên nhiên, thì rõ ràng xuất hiện rất nhiều hình ảnh
đẹp của xứ Huế ở ngay khổ thơ đầu tiên của bài:
“Sao anh khơng về chơi thơn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”
Thôn Vĩ bên bờ Hương Giang vốn là một làng quê đẹp, trù phú, phong
cảnh hữu tình, khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp xuân sắc dễ gây cho người ta
cảm giác thiết tha gắn bó. Hình ảnh thiên nhiên trong bài khơng chỉ thể hiện sự
tinh tế trong việc chọn lựa điểm nhìn, mà cịn thấy được tình cảm mà người viết
gửi gắm, bởi lẽ, nếu không phải là người sâu sắc tài hoa, mấy ai nhận ra hình
ảnh nắng sớm trong vắt trên những hàng cau cao vút, mấy ai cảm được cái
“mướt” đầy xuân thì và thanh lịch của khu vườn?
Đất Huế lại rất đa dạng về sắc thái thiên nhiên, không chỉ tươi mới thanh
xn mà cịn có những lúc buồn thương, hiu hắt
“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dịng nước buồn thiu hoa bắp lay”
Dịng nước lững lờ, ngọn gió hiu hiu thổi, những cánh hoa bắp lay nhẹ
bung tỏa khắp không gian gợi lên một nỗi buồn da diết, nỗi bâng khng khó tả
và khiến cho lịng người như chùng xuống để hịa điệu với thiên nhiên.
Từ đó ta thấy rằng nếu phân tích bài thơ theo hướng tơn vinh cảnh sắc
thiên nhiên thì cũng có thể coi là có lí, xong nếu cảm thụ bài thơ theo hướng lột
tả cái tình cuồn cuộn mà sâu kín, nó cũng lại có những nét nghĩa hợp lí khơng
kém.
Chúng ta đều biết từ cánh thiệp Hoàng Cúc gửi tặng, nhà thơ mới có xúc
cảm mạnh mẽ để viết lên bài thơ này, lời lẽ lại rất đỗi tình tứ, khơng thể không
2
khiến cho người ta nghĩ về một chuyện yêu đương. Ngay từ đầu đã lên tiếng
mời mọc nhưng lại pha chút giận hờn trách móc: “Sao anh khơng về chơi thôn
Vĩ?”. Chỉ là về chơi thôi hay là về thăm, và về chì để ngắm cảnh thơi hay chủ
yếu là để gặp người đang ở thơn Vĩ ấy? Nó có khác gì trạng thái này đâu: “Em
bảo anh đi đi/ Sao anh không đứng lại/ Em bảo anh đừng đợi/ Sao anh vội về
ngay”. Khơng chỉ có thế, những đại từ phiếm chỉ trong bài xuất hiện một cách
đầy hàm ý: “Vườn ai”, rồi “Thuyền ai”, “Áo em” và cuối cùng là “Ai biết tình
ai”. Chỉ có u thương nhau người ta mới ướm hỏi một cách khéo léo như thế,
do đó, coi bài thơ trở thành một lời tỏ tình của Hàn Mặc Tử với Hồng Cúc
cũng là điều dễ hiểu.
Tuy nhiên, còn nhiều ý kiến cho rằng, thơ Hàn Mặc Tử không chỉ đơn
thuần là như vậy, bởi lẽ chìm sâu trong lớp ngơn từ và hình tượng, cái lớn nhất
mà thơ Hàn Mặc Tử mang đến là nỗi đau khổ cô đơn cùng cực của kiếp người,
là những tổn thương, mất mát được chôn dưới lớp ngôn từ. Chẳng hạn như
trong câu thơ: “Thuyền ai đậu bến sơng trăng đó/ Có chở trăng về kịp tối
nay?”. Hình ảnh thơ thì lãng mạn phiêu diêu, mà nỗi niềm thì lại hối hả lo sợ
bất an. Trong một chữ “kịp” như chứa đựng lời cầu khẩn của một thân phận cơ
đơn, dường như nếu trăng khơng về kịp, thì sẽ bỏ lại một con người bất hạnh lạc
lõng trong dịng đời, và từ đó lại càng trở nên khổ đau ai oán. Thơ như sự lên
tiếng của thân phận, nếu Xuân Diệu cũng luôn ước ao sống vội, nhưng mạnh
dạn “tắt nắng đi, buộc gió lại” thì Hàn Mặc Tử chỉ mong lấy cái tối thiểu cho
mình, chỉ có thể cầu xin bằng những lời thơ thống thiết.
Không những thế, Hàn Mặc Tử cịn ln trăn trở với một nỗi lo mơ hồ:
“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”
Nó là sự ám ảnh của kiếp người cô đơn. Đã mong được yêu thương, nhưng lại
cịn mong được u nhiều chứ khơng phải thứ tình cảm nhạt màu vơ vị. Hàn
Mặc Tử vẫn thường băn khoăn như thế “Trời hỡi bao giờ tôi chết đi? Bao giờ
tơi hết được u vì?” hay “ Tơi cịn ở đây hay ở đâu? Ai đem tơi bỏ dưới trời
sâu?”. Một khối lượng băn khoăn dằn vặt khổng lồ bởi nỗi đau thương chất
chồng của riêng cá nhân Hàn Mặc Tử đã khiến cho thơ của ông luôn có những
nghi vấn, những tủi thân về phận mình trong cõi đời, và từ đó, khi nhìn vào tổng
quan của bài thơ, thì những hình ảnh thiên nhiên đẹp đẽ, những ước vọng tình
u đơi lứa được thể hiện ra chỉ càng làm trái tim non nớt yếu mềm ấy thêm đau
đớn, thêm vỡ vụn ra mà thôi.
3
Qua một ví dụ về thơ Hàn Mặc Tử, chúng ta có thể thấy được mỗi người khi
tiếp nhận một tác phẩm nào đó đều có những quan điểm của riêng mình, những
góc nhìn, những cách đọc riêng. Và thật đúng là: “Lịch sử văn học là lịch sử
của những cách đọc”, chính điều đó đã khiến cho các tác phẩm trở nên đa
nghĩa, đa diện hơn, và cũng vì thế mà đi sâu vào lòng người đọc hơn.
4
Câu 2: Từ gợi ý “Văn chương chuyên chú ở con người”, anh (chị)
hãy viết một bài báo bình luận những tác phẩm văn học gần đây mà anh
(chị) đã đọc (khơng q 1500 chữ)
Bài làm
Nói đến khái niệm văn chương thì có vơ số cách định nghĩa. Nhưng để hiểu
thế nào là văn chương chân chính cũng khơng phải chuyện dễ dàng. Học giả
Nguyễn Văn Siêu có nhận định rằng Văn chương có loại đáng thờ và khơng
đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương, loại đáng
thờ là loại chuyên chú ở con người.
Ở đây, người viết khơng đi bàn luận tồn diện quan điểm của tác giả Nguyễn
Văn Siêu mà chỉ chú trọng tới ý văn chương chuyên chú ở con người. Rồi từ đó
tìm ra kim chỉ nam để nhìn được vào chiều sâu của những con người đa diện
xuất hiện trong các tác phẩm văn học.
Ta thấy quan điểm văn chương chun chú ở con người có đơi phần giống
với quan điểm văn học vị nhân sinh đã từng gây ra cuộc bút chiến trên văn đàn
nước ta thời kì 1935 -1939 (đối chọi với quan điểm văn học vị nghệ thuật ). Rồi
đại văn hào Nga Macxim Gorki cũng đưa ra một nhận định ít nhiều tương đồng
là văn học là nhân học. Có thể nói rằng các tác giả từ cổ chí kim, từ đơng sang
tây, dù có viết về vấn đề này hay vấn đề khác thì đối tượng họ quan tâm nhất
vẫn là con người. Vậy tại sao văn chương luôn luôn quan tâm tới con người?
Con người là khởi thủy, là cái gốc của sáng tác văn chương. Sau đó, văn chương
quay trở lại phục vụ con người như một vịng trịn khép kín. Nói như thế khơng
có nghĩa là mọi tác phẩm văn chương đều miêu tả con người một cách tỉ mỉ nhất
hay đem lại cho con người cơm ăn áo mặc. Có những tác phẩm không xuất
hiện một câu nào về con người nhưng khi đọc lên người ta vẫn thấy bóng dáng
con người thấp thoáng ẩn hiện ở những chiều sâu, những góc khuất nhất. Ví như
trong Cánh đồng bất tận, có những đoạn, Nguyễn Ngọc Tư chỉ kể về những
cánh đồng hoang hoải, về dịng sơng nổi váng phèn chua lòm, về bầy vịt mà
người ta thấy hiện lên ở trang viết của cô những mảnh đời lam lũ mưu sinh và
nhọc nhằn tìm kiếm chính mình trong những ẩn ức chua xót. Kể cả khi nói về
những điều xấu xa nhất nhưng bằng cách này hay cách khác, văn chương cũng
ln biết cách tìm ra cái đẹp của con người, nâng đỡ con người và hướng con
người tới cái thiện.
Sâu thẳm trong mỗi con người chúng ta đều có ít nhiều những bí mật , những
ẩn ức. Văn chương ngồi khả năng lí tưởng hóa con người cịn có thể đi sâu vào
5
ngõ ngách tâm hồn để mà vực dậy những phận người nghiệt ngã. Người viết
đang muốn bàn đến truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư. Cố
nhiên không phải chỉ riêng tác giả này chuyên chú tới vấn đề con người. Nhưng
khi đọc những áng văn nhẹ bẫng như mây trời của cơ, người ta khơng thấy mình
trơi đi như áng mây. Người ta khơng thể ngăn mình dừng lại rất lâu để đau xót
cho những mảnh đời lấm láp. Cái lấm láp ở đây Ngọc Tư không đơn thuần nói
về cái nghèo, cái đói mà cơ len sâu vào phần ẩn ức trong mỗi nhân vật để hiểu,
để thương, để vực họ dậy.
Trên cánh đồng bất tận hiện lên bóng dáng những con người hay đúng hơn là
những thân phận “bất lực’’ theo cách này hay cách khác. Một nhân vật mà có lẽ
khơng được xuất hiện nhiều trong tác phẩm nhưng lại là nguồn cơn dẫn đến bi
kịch của những người ở lại là người mẹ của Nương và Điền. Đó là một người
đàn bà đẹp. Người đàn bà với mái tóc dài chải xõa bên bờ kinh. Người đàn bà
có cái cười sáng cả khúc sông. Cũng là một người đàn bà hư hỏng trong suy
nghĩ của người chồng Út Vũ. Nhưng nhìn bằng cái nhìn khơng phải của người
chồng bị phản bội ta thấy rằng có lẽ người đàn bà này khơng đánh đổi cái danh
giá đức hạnh của một người vợ, người mẹ để lấy một tấm vải đỏ - màu đỏ kì lạ
mà những người sống ở vùng quê chưa thấy bao giờ. Vậy điều gì đã khiến một
người đàn bà đẹp sa chân? Đó chắc hẳn là cái bồ lúa trống không mùa giáp hạt?
Hay là những mới mẻ chốn thị thành mà người đàn ông chở ghe vải đem về?
Hay là người đàn bà thiếu thốn tình cảm bởi người chồng quanh năm chỉ gánh
lấy trách nhiệm mưu sinh? Xét cho cùng nguyên nhân khởi thủy là cái đói ,cái
nghèo của những vùng quê sông nước. Người đàn bà bất lực oằn mình dưới tấm
lưng chi chít nốt ruồi. Và càng bất lực trước sự ghẻ lạnh của hai đứa con mình
trong từng ánh mắt, từng lời nói. Người đàn bà bất lực lẳng lặng bỏ đi.
Thân phận đàn bà thứ hai trong tác phẩm là cô gái điếm Sương. Khơng hiểu
vì sao mà người ta khơng thấy ghét người đàn bà làm cái nghề mạt hạng này.
Không bàn đến lý do vì sao cơ làm gái nhưng cái ta quan tâm là những khát
khao được làm vợ, làm mẹ của nhân vật này. Đã có những lúc cơ gái điếm ra
dáng một người vợ, một người mẹ khi lụi cụi nhóm bếp, mồ hơi lấm tấm tóc
mai. Nhưng rồi người đàn bà này cũng trở nên bất lực và bng xi khi càng
tiến lại gần thì Út Vũ càng xa lánh và khinh miệt cô. Bởi người đàn ông bị phản
bội như con thú bị thương, khơng cịn tin vào bất kì một sự chân thành hay một
mái ấm nào nữa. Nghe xót như có muối xát vào vết thương khi Sương nói trong
nước mắt “Mẹ mấy cưng ác một, người cha này của mấy cưng ác mười, ác thế
6
này thì làm sao mà sống…’’. Người đàn bà bất lực bỏ ra đi, trong lòng còn
mong nghe tiếng gọi.
Người đàn ông đáng thương nhất trong tác phẩm này là người cha. Sự phản
bội đã biến Út Vũ trở thành kẻ lạnh lùng, đơi khi có phần tàn nhẫn. Người cha
này bất lực vì khơng hiểu tại sao bản thân đã gánh vác gánh nặng mưu sinh
nhọc nhằn mà vẫn bị người vợ phản bội. Bất lực vì muốn yêu thương các con
nhưng không làm được. Anh ta đánh mắng các con vì chúng là hiện thân của
quá khứ đau đớn, bất lực cả với chính mình vì khơng thể vượt qua nỗi đau, vượt
qua định kiến để tìm cho mình một hạnh phúc khác. Suốt cả một quãng đời dằn
vặt, ơng chìm trong khổ đau và thù hận. Sự bất lực đến đáng thương hằn lên
trong ánh mắt.
Có lẽ chị em Nương và Điền là hai mầm cây buồn mà giàu sức sống nhất
trong tác phẩm. Chúng đau đớn chứng kiến người mẹ mình ngoại tình ngay
trong căn nhà, chứng kiến người cha vì quá đau khổ mà trở nên khô cằn, tàn
nhẫn. Hai chị em cũng tự ý thức được chúng khơng phải là những đứa trẻ bình
thường. Chúng khát khao hơi ấm của người mẹ, khát khao một cuộc sống giản
dị với bà con chịm xóm. Nhưng chúng cũng đành bất lực mà đi theo cha hết
cánh đồng này sang cánh đồng khác, hết mùa lúa này đến mùa lúa khác… Lặng
lẽ đến im lìm, cả khóc cũng không dám.
Nguyễn Ngọc Tư thật sự đã nắm bắt được những rung động cực điểm nhất
trong sâu thẳm tâm hồn mỗi nhân vật mà cô xây dựng. Không miêu tả bằng
những lời hoa m , cũng chẳng đao to búa lớn nhưng những phận người cứ dần
dần hiện ra từ góc khuất này đến góc khuất khác, từ ẩn ức này đến ẩn ức khác…
Rồi tự nhiên như vậy nỗi cảm thương của người đọc theo nhân vật đi hết những
cánh đồng… Hơn thế nữa dù để cho nhân vật đi đến tận cùng nỗi đau nhưng ở
mỗi mảnh đời vẫn sáng lên ít nhiều một tia hi vọng cho cuộc đời phía trước.
Cũng giống như cánh đồng hoang hoải phèn chua mỗi năm ln có một mùa
đẹp nhất –mùa lúa chín…
7