Tải bản đầy đủ (.docx) (33 trang)

Dân tộc học đại cương: Người Dao

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (152.34 KB, 33 trang )

Người Dao
I, Khái quát chung
-

Nhóm địa phương: quần chẹt, đỏ, tiền, thanh y, áo dài….
Dân số: ~751000 người
Địa bàn cư trú: Hịa Bình, Sơn la, Tun Quang, Hà Giang…
Thuộc nhóm ngữ hệ Mơng-Dao

II, Kinh tế
-

Ngay từ khi cịn bé, các cô gái Dao đã được mẹ dạy may vá, thêu

thùa. Họ được dạy từ những công đoạn giản đơn, đến phức tạp, từ những chi
tiết nhỏ đến cách nhuộm lại tấm áo chàm cho mới khi nó bị bạc màu.
- Tuy nhiên, nghề thủ công chưa phát triển và chỉ là nghề phụ gia đình,
làm lúc rãnh rỗi. Nghề dệt vải chỉ phổ biến ở một số nhóm người Dao, họ
chỉ trồng bông, làm sợi nhưng không dệt vải. Vải trước khi đem mặc được
nhuộm chàm
- sản xuất nông nghiệp với hai loại hình: lúa nương và lúa nươcs. Ngồi
ra, đồng bào còn trồng một số loại cây hoa màu như ngơ, sắn.. các loại bầu,
bí, mướp đắng, các cây họ đậu, khoai, củ từ, dưa gang... còn phát triển loại
cây cơng nghiệp đó là cây quế và cây chè.
- . Ngoài cây lúa, hoa màu và quế, chè người Dao n Bái cịn có thu
nhập thêm từ chăn ni trâu, bị, lợn, gà...
Nghề thủ cơng truyền thống là làm giấy, dệt vải, nhuộm chăn,
in và thêu hoa văn trên vải. Đan lát các đồ đựng bằng tre, nứa, giang, mây
song. Nghề rèn của đồng bào Dao cũng phát triển, chủ yếu là các nông cụ
như: dao, cuốc, cào cỏ, lưỡi cày. Nghề làm đồ trang sức bằng bạc, sanh căng
và bằng đồng làm thành vòng cổ, vòng tay, khuyên tai, nhẫn, xà tích.


III, Văn hóa vật thể

1


1, Nhà cửa: 3 loại hình: Nhà sàn, Nhà đất, Nhà nửa sàn nửa đất
-

nguyên liệu làm nhà thường kiếm được ngay tại chỗ như: gỗ, các loại tre, dây

-

rừng, lá gồi, cỏ tranh...
mọi người trong thơn đều có thể làm được, kể cả phụ nữ. Người Dao có tập quán
tương trợ lẫn nhau từ lâu đời. Mỗi khi trong thơn có người làm nhà thì mọi
người tới làm giúp hoặc góp thêm ngun vật liệu. Vì vậy, cơng việc được tiến

-

hành rất nhanh chóng.
A, nhà đất
Nhà đất là loại hình nhà ở đã có từ rất lâu đời và phổ biến trong cuộc sống của
người Dao,nhà đất thường có ba hoặc năm gian đứng (khơng có chái).Người ta

-

cho rằng: có ở nhà nền đất thì mới có chỗ để cúng Bàn vương.
Bộ sườn của nhà nền đất được cấu tạo khá đơn giản. Thơng thường, mỗi vì kèo chỉ
có hai hoặc ba cột, một quá giang và một bộ kèo đơn. Với người Dao, nhà nền
đất ln mang tính chất bền vững, thích hợp với điều kiện sản xuất tương đối ổn


-

định ở miền núi rừng.
B, Nhà sàn
Nhà sàn phổ biến ở những người Dao đã làm ruộng nước và sống gần người Tày,
Nùng, Việt hoặc ở những thôn người Dao chuyên làm rẫy như: Dao Thanh y, Dao
Áo dài,... Nhà sàn được cất lên trên các gò đất thấp, dưới chân núi trong các thung
lũng gần ruộng nước.
Nhà sàn có sự thơng gió trên mái và dưới sàn để tránh ẩm. Mái nhà độc đáo
theo phong cách của người Dao với những tấm xà lớn được trang trí, và lợp bằng lá
cọ đảm bảo sự mát mẻ cho mùa hè nhưng lại ấm áp vào mùa đông. Mái nhà được
xử lý một cách tự nhiên bằng khói từ ô sưởi vuông trong nhà
C, Loại hình nhà nửa sàn - nửa đất

2


Nhà nửa sàn - nửa đất tập trung tại các làng người Dao sống bằng nương rẫy
du canh, cư trú trên đất dốc,vì thế những ngơi nhà này chỉ là phương tiện cư trú
tạm thời.
Để làm nhànửa sàn - nửa đất, người ta không phải bỏ ra nhiều công sức để san
nền. Có thể nói, nhànửa sàn - nửa đất khơng chỉ là một bước phát triển của của loại
hình nhà nền đất mà là một biến dạng của nhà nền đất để thích ứng với điều kiện
sản xuất du canh du cư trên nền đất dốc.
Mặc dù có ba loại hình nhà ở khác nhau nhưng vẫn có thể nhận ra những
nét chung trong kiến trúc nhà ở người Dao. Đó là vị trí và cách bố trí bên trong của
một "gian đặc biệt" trong ngôi nhà. Gian này thường có vách chắn theo chiều dọc
của nhà và có một đoạn vách ngăn giữa nó với gian bên,ở góc nhỏ này có bàn
thờ,sau đoạn vách ngăn dọc là một buồng nhỉ thường để rượu hay thịt ướp chua.

2, Trang phục
A, Nữ
Một bộ trang phục hoàn chỉnh của người Dao gồm: áo, yếm, xà cạp,
cùng đồ trang sức vàng bạc, khăn vấn đầu..
- khăn vấn đầu. Khăn quấn đầu dài hơn 1 mét được thêu nhiều hoa văn
sặc sỡ góp phần làm nổi bật trang phục của người phụ nữ Dao. Khăn có 3
loại: khăn vng, khăn chữ nhật và khăn dài. Ngồi trang phục chính, người
phụ nữ Dao cịn ưa dùng đồ trang sức làm cho bộ trang phục của mình thêm
sang trọng: vịng cổ, nhẫn, túi ăn trầu, các đồ trang sức bằng bạc hình bán
cầu, hình sao 8 cánh. Có những cơ gái Dao đeo 10 chiếc vòng cổ, 12 chiếc
nhẫn, cùng những chiếc khuy bạc
- trong bộ y phục của người phụ nữ quan trọng nhất là chiếc áo được
thiết kế dài đến gần đầu gối. Cổ áo hình chữ V có thêu hoa văn. Sau lưng áo
cũng có phần thêu hoa văn. Ở phần thêu này, người Dao cho rằng sẽ làm
chiếc áo thêm đẹp, thêm độc đáo và để dễ phân biệt dân tộc Dao với các dân
tộc khác.
3


-

Áo người Dao có hai tà và phần cầu kỳ nhất để làm nên sự độc đáo

trong chiếc áo của phụ nữ Dao chính là những nét hoa văn được thêu ở phần
đi áo. Người Dao cho rằng, nhìn áo để biết người phụ nữ khéo hay khơng,
nhìn áo để biết người phụ nữ có đảm đang hay khơng
- Trong khi đó, quần của phụ nữ Dao được thêu ở đoạn cuối ống. Kiểu
quần thường mặc là quần chân què, cát hình lá tọa, đũng rộng có thể cử động
thoải mái trong mọi tư thế lao động. Đeo thắt lưng được dệt bằng vải thủ
công, rộng khoảng 40cm gấp làm tư, chiều dài đủ quấn quanh thân người hai

vòng, buộc lại ở phía sau, để bng dải đi xuống sau lưng.
- Những hoa văn trên áo phụ nữ Dao được thêu sặc sỡ với nhiều họa tiết
phong phú như hình cỏ cây, hoa lá hay bất kỳ vật dụng gần gũi trong sinh
hoạt hàng ngày. Nhưng trên mỗi bộ trang phục, hoa văn mỗi người khác
nhau
• Dao họ
- Yếm ngực

màu trắng vs các họa tiết: quả núi, cây, hoa… thêu hoa văn

phần trên của yếm trc r ms thêu thân yếm. Đây là nét độc đáo, nổi bật nhất
trên trang phục truyền thống của phụ nữ dao họ
- Đính 3 hạt bạc giống hình đầu mũi tên lên trên hang trên cùng, dưới 3
bông hoa 8 cánh bằng bạc, giữa là bơng hoa chạm nổi 1 hình trịn tượng
trưng cho nhụỵ. Dươi là ngôi sao 8 cánh
- Dùng 2 loại chỉ màu xanh và tím
- Thường mặc yếm thay áo lót, khốc áo vải đen chàm ở ngồi k cài cúc
• Dao đỏ: trang phục phải có 5 màu cơ bản nhưng màu đỏ vẫn là màu
chủ yếu
- Khăn đội đầu trang trí hình vết hổ, cây vạn hoa, hình cách đoạn...
Hoa văn ở trên khăn có 5 lớp, 5 lớp này được bao khuôn ổ vuông ở trung
tâm "điểm" của khăn (ở thầy cúng thì có thêm 8 cánh sao tượng trưng cho
đầu ơng Tam thanh, được bài trí rất hài hịa và cơng phu. Khi đội lên đầu,
4


các hoa văn họa tiết của 5 lớp văn sẽ phơ ra ngồi, làm tăng thêm vẻ đẹp của
chiếc khăn.
- tay áo đấu thẳng vào thân. Nẹp cổ liền với nẹp ngực được thêu kín
các họa tiết trang trí bằng chỉ màu đỏ. Hai đầu của nẹp ngực đính nhiều

chuỗi hạt cườm và tua đỏ.
- Bên trong của chiếc áo dài còn mặc áo con, giống như cái yếm, mặc
bên trong che kín cả ngực và bụng, cổ trịn mở sau gáy, có những đường
thêu bằng chỉ trắng và vàng. Khoảng giữa thân áo mỗi bên đính một dải vải
nhỏ để làm dây buộc ra phía sau lung
- Hoa văn trang trí trên dây lưng tập trung ở hai đầu gồm các họa tiết
hình dấu chân hổ, hình cây thơng, hình người mặc váy... Khi thắt dây lưng
phải cuốn từ 3-4 vịng và buộc chặt ở phía sau.
• Dao tiền: chỉ có phụ nữ dao tiền là mặc váy
B, Nam: đơn giản, Đó là những chiếc áo ngắn, xẻ ngực, cài cúc trước ngực và
thường cài 5 cúc. Quần rất rộng đũng, có thể cử động trong mọi tư thế.
Cả nam, nữ và trẻ con người Dao đều thích đeo trang sức như vịng cổ,
chân, tay. Ngồi việc làm đẹp thì chúng cịn mang giá trị nhân văn, tín ngưỡng.
Theo truyền thuyết kể lại, người dân đeo trang sức bằng bạc thì sẽ trừ tà ma, tránh
gió và thậm chí là được thần linh phù hộ.
3, ẩm thực
ăn hai bữa chính ở nhà, bữa sáng, bữa tối. Bữa trưa họ thường ăn cơm gói
tại nương rẫy. Lương thực chính là gạo, bao gồm cả gạo tẻ và gạo nếp. Sau gạo,
nguồn lương thực quan trọng thứ hai là ngô. Ngô thường được xay thành bột để
nấu cháo đặc. Ngoài ra, các loại củ như củ mài, củ bấu hoặc các loại bột như bột
đao, bột bang

5


-

người Dao cũng thường xuyên đồ xôi để ăn trong những ngày Tết và

lễ như: lễ vào nhà mới, lễ cưới hoặc trong những ngày gia đình nhờ anh em

giúp cây ruộng, gieo trồng ngô lúa, làm chuồng trại gia súc. Đặc biệt, trong
Tết Thanh minh nhiều nhà còn đồ xôi nhiều màu.
- Các loại gia súc gia cầm được ni chủ yếu để phục vụ các nhu cầu
tín ngưỡng dân gian của đồng bào. Thịt lợn là loại thực phẩm không thể
thiếu trong tết nhảy, lễ cấp sắc, lễ chay, lễ cưới và tang ma
- Một số món ăn tiêu biểu của người Dao
+ thịt lợn muối chua: Nguyên liệu làm có thịt lợn, muối tinh và cơm nguội.
Muốn thịt muối chua, người Dao thường dùng thịt ba chỉ hoặc những phần thịt có
cả nạc cả mỡ. Thịt đã chọn được cắt thành từng miếng, trên mỗi miếng, dùng dao
sắc khía thành từng phần dày 2 - 3cm, tránh làm đứt phần bì.
Sau đó, đem thịt đã cắt ướp với thật nhiều muối, dùng tay chà xát thật mạnh
cho muối ngấm sâu vào từng thớ thịt. Mỗi miếng thịt sau khi xát muối được trộn
tiếp với một ít cơm nguội, để cơm thấm muối khi tan cho thịt bớt mặn, rồi đem xếp
ngay ngắn vào chum, trên cùng chét thêm một lớp cơm nguội dày và dùng tay lèn
thật chặt. Trên miệng chum người ta lót thêm một lớp rơm sạch, dùng lá dong bịt
lại rồi lấy lạt buộc bên ngoài cho thật chặt. ăn kèm với lá lốt và lá prăng lẩu, chấm
chanh ớt
+ rượu San lung
IV, Văn hóa phi vật thể
1, Ngơn ngữ: thuộc nhóm ngữ hệ Hmong-Dao
2, Tơn giáo, tín ngưỡng

6


-

Họ có phong tục thờ tổ tiên và thờ Bàn Hồ. Trong cúng tổ tiên, người

ta cúng đến 9 đời và bàn thờ tổ tiên đặt ở nơi tôn nghiêm nhất và họ cho rằng

tổ tiên không ở thường trực trên bàn thờ mà chỉ ghé thăm họ vào ngày mồng
một hoặc ngày rằm Bàn Hồ là nhân vật huyền thoại, thủy tô của ng Dao, Là
con long khuyển dài 3 thước, lông đen vằn vàng. Sau khi lập công và lấy đc
cơng chúa, con gái vua Bình Vương, đã sinh hạ đc 6 trai – 6 gái. Con cả lấy
họ cha, họ Bàn, còn các con khác là Lan, Mãn, Uyên, Đặng, Trần, lương, lý,
tống, phương, đới, lưu, triệu
+ Ngay trong các dip lễ tế hằng năm, ng Dao tổ chức cúng Bàn vương
cùng vs gia tiên và các vị thần khác: thần lúa gạo, thần chăn bắn, thần chăn
ni….

-

hình thái tín ngưỡng vạn vật hữu linh giáo tồn tại rộng rãi ở người

Dao. Đó là quan niệm đa thần, vạn vật hữu linh - tức là vạn vật đều có linh hồn. Vì
vậy, người Dao tin là có thần gió, thần mưa, thần trơng coi lúa gạo, hoa màu và
thần chăn nuôi.
3, Lễ hội
A, Lễ cấp sắc: công nhận sự trưởng thành của người đàn ông dân tộc Dao,
thể hiệ vai trị, trách nhiệm của mình trong các hoạt động của cộng đồng. Chu
trình của 1 lễ cấp sắc
+ thường diễn ra vào dịp cuối năm hoặc tháng giêng (âm lịch). Lễ cấp sắc
có nhiều bậc: 3 đèn, 7 đèn và 12 đèn
+ Ông thầy trong lễ cấp sắc là thầy cao tay, ngày tháng cấp sắc được chọn
rất cẩn thận, người được cấp sắc cũng phải thuần thục các nghi lễ trong các bản
sắc. Buổi lễ cấp sắc có thể làm thủ tục cho một người hoặc vài người cũng được
7


nhưng phải là số lẻ. Trước khi hành lễ, người cấp sắc phải kiêng khem như khơng

được nói tục chửi bậy, không được quan hệ vợ chồng, không được để ý đến phụ
nữ...
Trong mỗi lễ cấp sắc thường có 6 thầy cúng, gồm 3 thầy chính và 3 thầy phụ.
Thầy chính thứ nhất (thầy cả) thường mặc áo tạo - loại áo thêu hình rồng và nhiều
họa tiết trang trí, thầy thứ 2 mặc áo vàng, thầy thứ 3 mặc áo đỏ; 3 thầy phụ giúp
các thầy chính mặc áo, thay áo trong quá trình thực hiện nghi lễ.
Trình tự lễ cấp sắc thường diễn ra trong 3 ngày, ngày thứ nhất lễ cấp sắc diễn
ra ở ngoài trời, ngày thứ 2 người thụ lễ vào nhà để nghe thầy cả đọc các loại sách
cúng, thầy cả đọc lệnh cấp sắc, lúc này người thụ lễ đã trở thành con người mới cả
về thể xác và tâm hồn. Sau đó, người thụ lễ được các thầy dạy múa như múa chùm
cheng (múa chuông), múa sa ma. Ngày thứ 3, tiến hành lễ tạ ơn tổ tiên.

-

Ngày nay ng Dao có theo đạo Tin Lành
B, ngồi ra cịn có
-

Lễ cúng thóc giống: cầu mong hồn lúa mang lại sự may mắn cho gia

đình có cuộc sống no đủ. Trong thời gian làm lễ k đc cho ng khác vào nhà
hay ng trong nhà đi đến nhà ng khác
- Lễ cơm ms: vào mùa thu hoạch, ng chủ gd ngắt những bông lúa ms
đầu tiên đem về nhà làm lễ cúng nhằm tạ ơn tổ tiên phù hộ cho mùa màng
tốt tươi

-

Tết nhảy: Nghi lễ này nhằm mục đích cúng Bàn Vương và luyện binh


tướng (âm binh) để bảo vệ cuộc sống và sinh hoạt gia đình. Tết nhảy thường được
8


tổ chức vào tháng chạp (từ 15-25 tháng chạp). Nội dung chính của nghi lễ này là
múa “Tam nguyên an ham”, múa bắt ba ba, múa sản xuất diễn tả quá trình lao động
của người Dao. Nghi lễ chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt tơn giáo – tín ngưỡng
4, Văn học DG
-

kho tàng truyện cổ tích, thơ ca, hị vè được phổ biến rộng rãi với các

đề tài như: đấu tranh với thiên nhiên, lao động sản xuất, quan hệ xã hội và
gia đình....
- về nguồn gốc có truyện “Quá sơn bảng văn”, “quả bầu” về sự tích nạn
đại hồng thủy
- truyện cổ tích: người mồ cơi, con cáo biết hát, dê và chó sói…
- Trị chơi của người Dao cũng rất đa dạng, gồm nhiều thể loại khác
nhau; có trị mang tính nghi lễ như trị tập lên đồng, tập bói, nhảy múa...; có
trị chơi trong lúc uống rượu như trị chỉ ngón tay, hát đối đáp...; có trò chơi
trong ngày tết và những lúc rảnh rỗi khác như trị bắt dây bằng các ngón tay,
đu dây, đánh quay, đánh cịn.
- ngồi ra cịn có thơ ca - hát đối, câu đố, tục ngữ, ca dao….
V, Văn hóa xã hội
1, tổ chức làng bản: dựng nhà gần các con suối và ở tập trung thành từng bản
riêng biệt hoặc xen cư với các dân tộc khác
2, tổ chức dịng họ: Người Dao có quan hệ họ hàng chặt chẽ và thơng qua tên
đệm để xác định dịng họ, vai vế của người đó trong quan hệ dịng họ
VI, Phong tục tập quán:
1, Hôn nhân:


9


Các nghi lễ trong cưới xin của người Dao bao gồm nhiều bước: nhà trai đến
nhà gái xin so tuổi đôi nam nữ; nhà trai báo cho nhà gái biết kết quả so tuổi của đôi
nam nữ; định ngày cưới và dâng lễ; lễ cưới và lại mặt
-

Nam nữ tự do yêu đương và kết hôn, không quá nặng nề về quan

niệm có nhiều hay ít con, người dao coi trọng gia đình, con cái, k coi trọng
trinh tiết
- Lễ ăn hỏi: Nhà trai mang gà, rượu, thịt sang nhà gái đưa đồng bạc trắng, tuỳ

từng địa phương số tiền thách cưới là 1,20 hoặc 30 đồng bạc hoa xoè. Số bạc này
nhà gái dùng để chuẩn bị quần áo, tư trang để cô dâu về nhà chồng. Từ khi ăn hỏi
đến khi cưới khoảng 1 năm để cô gái phải thêu thùa quần áo cưới. Để báo hỉ cho
khách đến dự đám cưới, hai bên gia đình dùng vỏ quả bầu khô cắt ra từng viên nhỏ
như hạt bầu nhuộm bằng màu hồng. Người thân thường cho hai hạt (nghĩa là người
này được mời thêm một người nữa). Bao nhiêu khách thì chuẩn bị bấy nhiêu hạt .
- Lễ cưới: Người Dao thường tổ chức cưới chủ yếu là bên nhà trai. Bên nhà

gái báo cho bên nhà trai số khách đến dự cưới là bao nhiêu, để nhà trai chuẩn bị cỗ
và thịt ruợu cho thông gia nhà gái. Số thịt rượu hồi cho khách sui gia mỗi người 1
kg thịt lợn, 1 chai rượu. Ngày cưới, đoàn nhà gái đưa dâu sang nhà trai gọi chung
là đoàn (săn cha), từ trẻ đến già ăn mặc chỉnh tề theo trang phục truyền thống của
dân tộc mình. Sau khi ăn uống, đoàn đưa dâu đứng trước bàn thờ tổ tiên, hai ông
quan lang hai bên thưa với tổ tiên việc cưới xin của gia đình và xin phép được đưa
đón dâu sang nhà trai. Cơ dâu mặc trang phục ngày cưới, cổ và tay đeo vòng bạc...

Trên đầu trùm chiếc khăn đỏ to che kín mặt. Trong khi làm lễ cơ dâu quay mặt ra
phía cửa. Cơ phù dâu bên cạnh có nhiệm vụ che ơ cho cơ dâu đi đường và phụ giúp
cơ dâu trong q trình hành lễ từ nhà gái sang nhà trai. Trong đoàn săn cha có một
người thổi Phằn tỵ (kèn). Trên đường đi qua các bản, người thổi kèn thổi các bài ca
10


chào bản chào mường, mừng cưới theo điệu vui vẻ. Đến nhà trai, đoàn săn cha
dừng chân cách nhà trai một quãng. Nhà trai đưa bàn ghế ra, thuốc, trà, rượu ra
mời đoàn săn cha đang dừng chân (đợi giờ vào nhà). Đội nhạc lễ nhà trai gồm:
trống, thanh la, kèn, hai chũm chọe gồm một to và một nhỏ. Trước khi ra cửa đón
dâu, đội nhạc lễ thổi những bài ca mừng cưới vòng ba lần trong nhà rồi ra ngồi
đón đồn săn cha nhà gái. Người thổi kèn đơi bên thổi bài chào đón khách và đưa
cơ dâu cùng đồn săn cha vào nhà.
- Lễ cơ dâu vào nhà: Người Dao quan niệm khi cô dâu đi đường có thể các

loại ma, ngoại thần bám theo, nên trước khi vào nhà thầy Tào phải làm lễ trừ tà
quỷ. Cô dâu được phù dâu che ô và dắt vào trước cửa nhà, cơ dâu vẫn quay mặt ra
ngồi. Nhà trai lấy một chậu nước trên chậu đặt một con dao, một đôi dày mới,
chuẩn bị ba cành đào hoặc ba cọng gianh tươi (dùng để đuổi tà) Thầy miệng ngậm
nước phép Tào làm phép đuổi tà thầy phù nước ra phía cửa đoạn cầm ba nhành đào
phi từ trong nhà qua trên đầu cô dâu. Xong động tác này, cô dâu bước vào nhà
dừng trước chậu nước bỏ đôi hài cũ ra dơ chân qua trên chậu nước, con dao đặt
trên chậu nước được bỏ ra, một em bé trai hoặc gái nhà trai rửa chân cho cô dâu và
đi hài mới vào chân cho cô dâu. Cô dâu được đưa vào buồng, chậu nước được bê
vào đặt dưới gầm giường cơ dâu để đó ba ngày mới đổ đi. Đêm đó, các cơ gái,
chàng trai đơi bên được dịp trổ tài hát Páo Dung. Càng về khuya lời Páo Dung
càng da diết, lũ trẻ mong mình lớn lên để được hát Páo Dung, người già như thấy
mình trẻ lại, thần rừng, thần cây nghe nuốt lấy từng câu, cất vào lịng để rồi mai
này nếu người Dao có quên hát Páo Dung thần sẽ nhắc lại... Đám cưới người Dao

được tổ chức hai ngày hai đêm. Khi đoàn săn cha nhà gái về, mỗi người được biếu
thịt lợn và một chai rượu.
- Được ba hôm, sau ngày cưới, cơ dâu cùng chú rể và đồn nhà trai lại sang

nhà gái làm Lễ lại mặt, đồn gồm đơi vợ chồng trẻ, một số thanh niên nam nữ. Nhà
11


trai mang theo thịt lợn (đã nấu chín), rượu, gạo mời cơm họ hàng bà con thân cận
của nhà gái
- Tục cạy cửa: Gia đình nào có con gái trên 15 tuổi đều cho nằm riêng ở một

chiếc giường cạnh cửa ra vào. Đầu giường cô gái để sẵn con dao. Tối tối, anh con
trai nào muốn tìm hiểu thì mở cửa vào giường nằm cạnh cô gái. Nếu ưng, họ sẽ
thành một đơi bạn tình. Nếu khơng, cơ gái quay mặt vào tường khơng đón tiếp.
-

Có 2 hình thức ở rể: có thời hạn hoặc vĩnh viễn

2, Tang ma;
-

Có vài vùng có tục hỏa tang ng chết từ 12t trở lên

Trong tang ma, người Dao thường tiến hành các lễ sau: Lễ khâm niệm, lễ
xôi gà và lập bàn thờ (lễ cấp thủy và dâng rượu, gia súc); lễ làm chay, lễ nhập quan
yểm bùa, lễ đưa đám, lễ hạ huyệt và lễ cúng cơm. Nếu là người đã qua lễ cấp sắc
đều được gọi hồn về nhà lớn để thường xuyên thờ cúng, người Dao có tục lệ ăn
sinh nhật, cúng sinh nhật cho cha mẹ khi còn sống, không tổ chức cúng giỗ khi đã
chất. Đồng bào rất kiêng kỵ việc dựng vợ gả chồng cho con hay làm nhà mới,

trồng cấy, gieo hạt giống trùng với ngày mất của người thân.
----------------------------------------Giarai
I: Khái quát chung:
-

Nhóm địa phương: Chor, Arap, Tơ buan…
Dân số: ~270000 người
Địa bàn sinh sống chủ yếu: Đắk Lăk, Đăk Nơng, Gia rai, Khánh Hịa
Nhóm ngữ hệ Nam Đảo
12


II. Hoạt động kinh tế
Người Gia Rai sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt nương rẫy. Trong đó
việc trồng lúa là nguồn sống chính của cư dân.
.Đất canh tác lại được chia ra làm nhiều loại:


Rẫy đa canh (hma mnai) là nhũng khoảnh đất được trồng trọt ở trạng thái
nửa vườn,nửa rẫy thuvộc quyền sở hữu của từng gia đình.Ở đó, người đã
trồng các loại cây:chuối, mít, dừa, mía, mít, đu đủ, rau xanh, cà rốt, tỏi,
hành, bầu, bí, vừng,lạc,…



Rẫy chuyên canh lúa là những thửa rẫy thuộc loại hình canh tác theo phương
pháp phát, đốt và chọc lỗ tra hạt như vẫn thường thấy ở hầu hết các dân tộc
miền núi. Có những mảnh chỉ trồng một vụ sau đó bỏ hóa từ 8-12 năm.Cũng
có những mảnh được canh tác nhiều vụ.Để tiến hành sản xuất người ta
không chỉ phát đốt chọc lỗ tra hạt mà còn phải cuốc đất trước.




Ruộng nước sơ khai(hma dnao)là ruộng được khai phá từ các đầm lầy, quanh
năm có nước. hma ia là ruộng được tạo bởi những mảnh rẫy lâu năm trên
vùng đất trũng. Hơi khác với hma dnao, hma ia bình thường khơng có
nước,mưa đọng xuống thành vũng việc trồng trọt được thực hiện.cả hai loại
rẫy đều dùng cuốc để xới và xục bùn.



Hình thức canh tác:
Đất trồng trọt rất đa dạng bởi vậy có nhiều loại cuốc để phù hợp với
nhiều loại đất.
- Trên hma rừng thường có nhiều loại đá, gốc cây bởi vậy người ta sử
dụng loai cuốc cầm một tay,lưỡi sắt dài 20cm, hẹp bản 6cm.Nếu chỉ cần xới
13


đất không sâu người ta dung cuốc lưỡi nhỏ bản,cầm 1 tay(chơng). Làm cỏ ở
chỗ có độ dốc cao thỉ có cuốc knor.Ở đây phổ biến dùng các loại cuốc
bàn(chơng hay achong)trên các loại rẫy vườn và ruộng.Bên cạnh đó cịn tồn
tai những cơng cụ cuốc bằng xương, dùng các loại dao và rìu để chặt phá
rừng làm rẫy.
- đàn ông cầm cây gậy chọc lỗ,Nữ giới theo sau, tra hạt vào lỗ.
- Trừ một số nơi làm ruộng nước người ta gieo mạ cấy còn lại thường
vẫn gieo thẳng.
- Lúa tẻ(pdai) là lương thực chính của họ, phải có hàng chục loại như
mching,bla,cham,han,pdo…
- Người ta đã chọn đươc nhiều giống lúa khác nhau , thích ứng với từng

loại đất và từng loại khí hậu…..
- Ngồi lúa tẻ ,đồng bào cịn trồng lúa nếp và các loại hoa màu như:sắn,
ngơ, bobo….
- Từ lâu, Người Giarai đã có nơng lịch của mình. Tháng giêng được
tính từ ngày có trận mưa đầu tiên, kết thúc 6 tháng khô hanh của vùng cao
nguyên đất đỏ. Mùa gieo giống trên các hma bắt đầu. Tháng này tương
đương với tháng 4 dương lịch.Tháng 12(tháng 3 dương lịch) gọi là blan ning
nông –Tháng nghỉ ngơi và tổ chức các lễ hội tơn giáo.
+Ngồi sản xuất lương thực các gia đình cịn chăn ni và làm các nghề
thủ cơng


Chăn ni gia đình phát triển sớm. Đồng bào ni trâu, bị, lợn, dê, voi, gà,
chó,....
14


+ Trong đó trâu được dùng trong các nghi lễ tôn giáo và được làm vật
ngang giá trong trao đổi những thứ quý giá. Có những chiếc chiêng Lào có
trị giá từ 15-20 con trâu.
+ Bò,hầu như nhà nào cũng có dăm ba con. Riêng ở huyện ia-yun-pa
được ni nhiều hơn và được dùng làm sức kéo trong nông nghiệp.
+ Ngựa là phương tiện vận chuyển quan trọng nên rất được trú trọng
phát triển. Đồng bào thường dùng ngựa trong các cuộc đi săn bị tót và làm
vật ngang giá trao đổi với các thương nhân từ Lào, Campuchia, và người từ
miền xuôi tới.
+ Đồng bào Giarai trú trọng đến ni voi để đi lại, Thồ và kéo gỗ. Nói
chung voi nhà ít sinh sản.Người Giarai khơng có kinh nghiệm để huấn luyện
voi. Ngưới ta thường chung nhau rồi cử ra một người đại diện sang Lào
hoặc đến Bản Đôn của Đăk Lăk để mua những con voi đã được thuần dưỡng

về
+ Lợn nuôi nhằm phục vụ nghi lễ tôn giáo. Họ ni theo phương pháp
nửa ni nửa chăm sóc. Khi mổ lợn to họ có tập quán chia đều cho các gia
đình trong làng
+ Dê ni để cúng và ăn thịt
+ Chó để đi săn và giữ nhà


Đồng bào Giarai cịn có một số nghề phụ thủ cơng:
+ Nghề mộc chủ yếu làm nhà và chuồng trại gia súc, chưa có kĩ thuật xẻ gỗ

bào đục và lắp ráp thành các dụng cụ dùng trong sinh hoạt hàng ngày.

15


+ Nghề rèn chưa phát triển bằng các dân tộc khác nhưng cũng có thể tự đúc
được các nơng cụ cần thiết kể cả lưỡi cày.
+ Nghề đan lát của đồng bào cũng khá phát triển.Việc biết chẻ tre vót nan và
đan được đồ gia dụng là một trong những chuẩn mưccj của nam giới khi trưởng
thành. Người ta còn đòi hỏi việc biết đan cài các hoa văn trên sản phảm có tính
thẩm mĩ cao
+ Nghề đan cịn là cơ sở nảy sinh nghề dệt vải.Người tat rang trí hoa văn màu
trên nền vải thể hiện ở những tấm màn, chăn, váy, áo ,khố…
Khổ vải của người Giarai chưa bao giờ thấy ở các sản phẩm dệt bằng khung
cửi của các dân tộc như Thái, Tày….khổ vải thường rộng tới 90cm và cịn hơn nữa.
- Ngồi việc Sản xuất ra của cải vật chất người Giarai còn biết hái lượm săn
bắt và đánh cá
+ Săn cá nhân: thông thạo sử dụng chiếc nỏ caccs loại bẫy có thể diệt được
các loại thú nhỏ như chim chuột

+Săn tập thể: việc săn bị tót khá nổi tiếng. Người đi săn cưỡi ngựa đuổi theo
thú dùng lao phóng hoặc lùa xuồng vực,dồn vào chỗ vây sẵn để diệt. Những thú
lớn săn được thường được đem về mổ và chia đều cho dân làng
III. Văn hóa vật chất


Nhà cửa
Đồng bào Giarai ở nhà sàn. Có nơi ở nhà sàn dài, có nơi ở nhà sàn nhỏ.

Nhưng đều chung tập quán ở nhà sàn đều có hướng chính nhìn về hướng Bắc.Mỗi
nếp nhà dù lớn hay nhỏ đều là nơi cư ngụ của một gia đình mẫu hệ. Đó là một đặc

16


điểm chính khá nổi bật, khác với gia đình lớn mẫu hệ của các dân tộc khác.Có 2
loại hình chính:


Nhà sàn dài ia-yun-pa
Sơ đồ của một nếp nhà sàn dài13,5m rộng 3,5m.Căn cứ vào côt ngăn người ta

chia làm 2 phần. Từ cột đó sang bên phải gọi là mang mang. Từ cột đó sang bên
trái gọi là mang óc. Cửa óc bao giờ cũng quay về hướng Bắc, hướng chính. Bên
chính dành cho đàn bà- chủ các gia đình mẫu hệ.


Nhà sàn kiểu Hđung
Đây là một kiểu nhà phân bố phổ biến trên cao nguyên playku. Những nhà


sàn này bề rộng không quá 3m và chiều dài không quá 9m. Chiều cao từ mặt đất
lên địn nóc nhà khơng quá 4,5m,tới mặt sàn không quá 1,2m. Từ mặt sàn lên xà
nâng mái là 1,8m.
3. Ngoài ra dân tộc giarai cịn có một ngơi nhà chung là nhà Rơng.
Nhà Rơng là một kiểu nhà sàn đặc trưng,đây là ngôi nhà công cộng,dùng làm
nơi tụ họp của dân làng trong các bn làng trên Tây Ngun.Nhà Rơng chỉ có trên
các bn làng của các dân tộc như Bana, Giarai…
-Đặc điểm: Nhà Rông chủ yếu được xây dựng bằng vật liệu của chính núi
rừng như cỏ tranh, tre, gỗ…và được xây cất trên một khoảng đất rộng, nằm ngay
tại khu vực trung tâm của buôn . Nhà Rông là một ngôi nhà to hơn bình thường
kiến trúc cao.Có những nhà cao tới 18m,với đặc điểm là mái nhọn dốc hình lưỡi
búa vươn lên bầu trời với một dáng vẻ mạnh mẽ. Nhà được dựng trên các cột cây
to,thường là 8 cột bằng cây đại thụ, thẳng, chắc, mái nhọn lợp bằng lá cỏ
tranh,phơi kĩ cho đến khi khô vàng.

17


- Chức năng: Nhà Rông là nơi thực thi các luật tục,nơi tiếp khách nơi diễn ra
các sự kiện trọng đai của buôn làng. Đây cũng là nơi thực hiện các lễ hội tâm linh
cộng đồng và là nơi để các thế hệ nghệ nhân già truyền đạt laiuj cho các thế hệ trẻ
những giá trị văn hóa truyền thống. Ngồi ra nhà Rơng cịn là nơi lưu giữ các hiện
vật truyền thống: Cồng, Chiêng, Trống, Vũ khí, Đàu các con vật hiến sinh trong
các ngày lễ….
4. Nhà Mồ
Theo chu trình dựng nhà mồ, để tiến hành nghi lễ bỏ mả, việc đầu tiên của
người chủ hộ là đẽo tượng mồ. Ví dụ một ngơi nhà mồ dự định bỏ vào tháng 3
trong năm, thì từ tháng 1 năm đó người chủ hộ đã bắt đầu kiếm gỗ đẽo tượng. Ở
những ngôi nhà mồ to đẹp, bề thế trước đây, cột tượng thường được làm bằng loại
gỗ tốt như gỗ cây hương, cây cà- chít.. Do u cầu, ngơi nhà mồ của người Gia-rai

Aráp khi dựng tại khu trưng bày ngồi trời phải bảo đảm tính bền vững, vì vậy cột
tượng được đẽo bằng gỗ tốt là gỗ cà- chít, tuy nhiên gỗ đẽo tượng này không được
khai thác trong tự nhiên mà mua tại lâm truờng. Vì hiện nay rừng thưa dần do
nhiều nguyên nhân: chiến tranh, khai thác không hợp lý, do tập quán đốt rừng
canh tác rẫy, những loại gỗ tốt theo đó mà cạn kiệt, người dân không thể kiếm
được gỗ tốt. Trên thực tế trong những năm gần đây hầu hết những ngôi nhà mồ khi
tiến hành bỏ mả, người Gia-rai sử dụng các loại gỗ tạp, để đẽo tượng, phổ biến là
gỗ cây gạo (pơ-lang), vì loại gỗ này mọc nhiều ở vùng người Gia-rai sinh sống, dễ
tìm ở xung quanh làng. Theo kinh nghiệm địa phương những cây hương, cây càchít có độ tuổi trên 10 năm mới đủ tiêu chuẩn để đẽo tượng vì hai loại cây này
phân cành sớm, độ dài của cây nếu chưa đủ tuổi trưởng thành thì khơng đáp ứng
được những yêu cầu của việc đẽo tượng. Những cây gỗ được chọn có độ dài hơn 2
sải tay (1 sải = 160 cm), đường kính lõi khoảng 30 cm. Người Gia-rai dùng rìu,
đốn cây, khi đốn xong người ta vận chuyển bằng cách dùng trâu kéo cây từ trong
18


rừng về buôn làng. Việc khai thác gỗ để đẽo tượng có kiêng kỵ, nếu đêm ngủ họ
mơ thấy nhà cháy, bến nước cạn kiệt thì sáng hơm sau sẽ hoãn lại việc lấy gỗ, trong
khi đi vào rừng lấy gỗ nếu gặp rắn bị ngang qua đường thì họ quay về ngay, người
ta cho đó là điềm khơng lành, dễ có chuyện xấu xảy ra.
Gỗ đẽo tượng được kéo về dựng tại nghĩa địa của làng, bên cạnh ngôi nhà mồ
sắp bỏ mả, trước khi đẽo tượng mồ, người Gia-rai có cúng thần nhà rơng (yang
rơơng), thần bến nước (yang ia), xin phép đẽo tượng mồ cho người chết ở trong
làng, lễ cúng thường được mổ lợn làm vật hiến sinh. Dụng cụ đẽo tượng hữu hiệu
và thông dụng nhất là chiếc rìu (jong), dụng cụ có một đầu lưỡi sắc, một đầu lưỡi
tù, cán được tra bằng một thanh gỗ dài. Một loại dụng cụ nữa là cây chà-gạc (loại
dao đa năng thông dụng của người Gia-rai) dùng để sửa lại các chi tiết trên mặt
tượng. Trong thời gian gần đây phong cách tượng nhà mồ thay đổi, kéo theo những
biến đổi về kỹ thuật đẽo tượng. Từ chỗ truyền thống không quan tâm đến thể hiện
chi tiết tỷ mỉ, chỉ sử dụng mảng khối trên một thân gỗ cố định, người đẽo chuyển

sang xu thế hiện đại thiên về tả thực, gọt đẽo các chi tiết (mắt, mũi, miệng, chân,
tay), loại tượng cũng đa dạng hơn trước, mất đi tính mộc mạc nguyên sơ của kiểu
tượng truyền thống. Trong một làng của người Gia-rai chỉ có một vài người già biết
đẽo tượng đẹp (theo quan niệm của người Gia-rai) và biết làm cho tượng phong
phú về mặt loại hình. Theo phong tục của người Gia-rai, thì những người đàn ông
chủ hộ thường đẽo tượng cho người chết thuộc gia đình mình, nhưng nhiều trường
hợp vì khơng tin vào khả năng đẽo tượng của bản thân nên họ thường nhờ những
người già trong làng có kinh nghiệm và kỹ thuật đẽo giúp.
Người Gia–rai khơng có số đo chuẩn cho mỗi bức tượng định đẽo, người ta
lấy đơn vị đo là sải (tơ-pa) để làm ước lượng. Một bức tượng thường được tính
bằng 1 sải rưỡi, 1/2 sải được chơn ở dưới đất là cột chính (byuh) của hàng rào, 1 sải
cịn lại vừa là phần cột chính nhơ lên khỏi mặt đất, phần trên cùng là thân tượng
19


(phun) như thốt ra khỏi cột gỗ đó. Địa điểm đẽo tượng được tiến hành tại khu
nghĩa địa, kề ngay sát ngôi nhà mồ chuẩn bị dựng làm lễ bỏ mả. Trong khi đẽo
tượng người có kinh nghiệm hơn truyền đạt kỹ thuật, kỹ năng và cách thức đẽo
tượng cho người ít kinh nghiệm. Họ khơng hề giữ bí quyết nào trong cách truyền
nghề tạc tượng, những bức tượng trở thành đẹp lại phụ thuộc chính vào "hoa tay"
và óc thẩm mỹ của người học nghề và người tiếp thu kinh nghiệm. Việc đẽo tượng
cũng có nguyên tắc nhất định, một bức tượng khi hình thành, ngồi việc phản ánh
nghệ thuật điêu khắc dân gian, truyền tải những thông tin mang tính chất xã hội
của cộng đồng người Gia-rai, về kết cấu lại phải đảm bảo tính vững chắc của hàng
rào nhà mồ. Vì bản thân mỗi cột tượng lại đóng vai trị là những cột chính trong
hàng rào, để giữ hàng rào chắc chắn bao quanh nhà mồ. Do vậy khi đẽo tượng bao
giờ người Gia-rai cũng chủ động tạo ra một khe hở rộng giữa hai chân của bức
tượng hình người, khe hở giữa chân và đi tượng chim, khe hở giữa hai chân
trước và hai chân sau của tượng thú bốn chân. Khe hở đó là nơi xuyên một thanh
gỗ dài chạy qua, giống như hệ thống mộng giằng để giữ tất các cột tượng với nhau,

và giữ các cột phụ chơn sát cột chính liên kết tạo thành hàng rào.
Quá trình người Gia-rai đẽo tượng, đặc biệt là bức tượng người ôm mặt (krakôm), loại tượng được coi là lớp tượng cổ nhất, có thể mơ tả như sau: đầu tiên,
người thợ dùng rìu, đẽo lấy phần ngực của bức tượng, phần bị đẽo lõm vào của
khúc gỗ chính là ngực của bức tượng, sau đó người thợ dùng rìu tạc lấy hai tay của
bức tượng người ôm mặt, bằng những nhát bổ trên thân gỗ, hai mảng nổi tiếp giáp
nhau là chỗ khuỷu tay và đầu gối sẽ tạo thành một hình thể của người ôm mặt.
Khuôn mặt tượng được phạt phẳng, chỗ trán tượng được nhô hơn so với mặt
tượng, hai tai được đẽo bằng đường bổ lượn vịng của rìu, phần mắt được khoét
bằng với vài nhát đơn giản, sống mũi của tượng nhơ lên khi phạt bằng bề mặt
tượng. Trước khi hồn tất công việc, người đẽo dựng đứng bức tượng lên quan sát
20


xem các chi tiết nào trên tượng cần phải sửa chữa. Theo xu thế hiện đại, người ta tu
chỉnh mắt, mũi, miệng, tai tượng, với cây chà gạc nhỏ bé. Với các bức tượng có
hình dáng khác như: tượng người đánh trống, tượng nam nữ ái ân, tượng chim,
thú... cũng được thực hiện theo nguyên tắc trên.
B-Trang phục
1.Trang phục nam
Thường nhật nam đội khăn theo lối cuốn nhiều vòng sang một bên tai, hoặc
cuốn gọn ghẽ như khăn xếp của người Kinh. Khăn thường là màu chàm.Đàn ơng
Giarai đóng khố(toai)vải trắng kẻ sọc.Ngày lễ thì họ đóng khố vải chàm dài
khoảng 4m và rộng khoảng 0,3m. Loại khố này có những đường viền hoa văn màu
trắng,đỏ chạy suốt 2 rìa. Hai đầu khố ngoài những đường viền hoa văn trang trí cịn
có những tua bằng sợi chỉ màu làm tơn vẻ trang nghiêm của nam giới. Áo đàn ông
màu đen cộc tay, hở nách, có đường viền hoa văn chạy dọc hai sườn. nếu tách rời
sợi chỉ khâu liền hai thân trước và sau sẽ thấy đó là một miếng vải có kht một lỗ
trịn ở giữa để chui đầu và gấp làm đôi,kiểu pôngxo.. Nếu là chủ làng hay Pơ-tao
thì mặc áo dài che kín mơng, tay dài, chui đầu , có một mảnh sợi chỉ đỏ làm khuy
và khuyết cài từ cổ đến ngực. dưới dải cúc ấy là miếng vải đỏ hình vng.được

khâu táp vào,đó là hình thức trang trí tiêu biểu của loại áo nam.
2.Trang phục nữ
Phụ nữ để tóc dài qua gáy hoặc quấn lên đỉnh đầu. Áo là loại áo ngắn phổ
biến là loại chui đầu, cổ “hình thuyền”. trên nền chàm áo được trang trí các sọc hoa
văn theo bố cục ngang thân áo ở cổ, vai, ống tay, giữa ngực, gấu áo và cổ hai tay
áo. Đó lá các sọc màu đỏ xen trắng và vàng trên nền chàm hoặc màu xanh nhạt pha
lẫn màu chàm. Váy là loại váy hở cuốn vào thân kích thước(140cm và 100cm).
21


Váy có đường viền hoa văn chạy dọc quanh gấu, trên cạp và ngang dưới thắt lưng.
Ở phần cạp có đính những tua sợi chỉ màu trắng. Vì là váy không liền thành ống
nên khi mặc chỉ cần cuốn lại rồi thắt ở phần cạp. Hai đầu mép đáp nên nhau ở phía
trước. Phụ nữ mặc áo bó sát vào thân tạo nên vẻ gọn gàng và đơn giản .
Do ở vào khu vực Tây Nguyên quanh năm nóng nên thường ngày nam nữ của
dân tộc Giarai thường có sở thích cởi trần.
C- Gia cụ
+ Gia cụ của người Giarai rất đơn giản. Sự giàu có biểu hiện ở những bộ
Chiêng đồng và những bộ Ché đựng rượi cần. Đó là hai thứ phải đem trâu đi đổi ở
bên Lào hay dưới xuôi.Cái quý của Chiêng, Ché không hẳn ở giá trị sử dụng mà
cái chính là do vật dụng này gắn với các ý niệm tơn giáo rằng đó là nơi trú ngụ của
các thần linh.
+ Gùi là sản phẩm khá nổi tiếng của người Giarai cò loại dùng để cất chứa đồ
dùng, đồ trang sức, có loại dùng làm đồ đựng trong khi di chuyển. Những chiếc gùi
đẹp ở sau lưng cịn là vật trang trí cho các cô gái thêm một sắc thái dân tộc.
D- Ăn uống
Ăn uống của đồng bào Giarai còn đơn giản hơn. Xưa kia, nguồn thức ăn do
người dân săn bắt được trong tự nhiên như thịt thú, chim rừng, cá suối làm cho các
bữa ăn trong các gia đình khơng mấy đạm bạc. Ngày nay do hậu quả của nhiều
năm chiến tranh, thiên nhiên bị tàn phá,vùng Tây Nguyên bị mất khá nhiều nguồn

lợi tự nhiên về thực phẩm. Bữa cơm của đồng bào thường có cơm, muối ớt và canh
rau. Lâu lâu mới có canh thịt và cá. Đến bữa cả nhà ngồi quanh nồi cơm, bát ớt,…
hoặc được chia thành từng phần cho mỗi người. Bữa tiệc Ché rượu cần là chỗ
trung tâm. Các món ăn được đặt trên bát đĩa hoặc lá chuối ở xung quanh để vừa ăn
22


vừa uống. Đến khi rượu ngà say thường hát hò nhay múa đánh Chiêng ngay tại
nhà.
+ Rượu cần là đồ uống chủ yếu của đồng bào. Từ trẻ em 3-4 tuổi đến các cụ
già không phân biệt nam nữ đều lấy đó làm vui. Cách làm có thể ủ bằng gạo, ngô,
sắn…Đặc biệt kê chân vịt ủ men sẽ được thứ rượu rất ngon và có giá trị.
+ Trừ trẻ thơ, thuốc lá là loại đồ hút phổ biến cho mọi lứa tuổi. Người lớn
thường hút bằng tẩu, Trẻ em thường hút bằng cách cuốn thuốc lá khô.
Trong khi đi làm người ta thường đem tẩu thuốc đi để hút bất cứ lúc nào
người ta muốn .
IV. Văn hóa tinh thần
ngôn ngữ , chữ viết

a.
-

ngôn ngữ: ngữ hệ nam đảo
chữ viết : sử dụng bộ mẫu tự theo mẫu tự latinh

tơn giáo , tín ngưỡng
-Người Giarai theo tín ngưỡng thờ thần nguyên thủy “vạn vật hữu linh”, biểu
hiện tập trung nhất là thờ cúng “yang” ( thần).
Theo quan niệm họ có nhất nhiều “yang” như : yang nương rẫy , nhà, bến
nước ,….

Quyền lực nhất vẫn là 3 yang chính là
+ yang nhà cửa : lực lượng bảo vệ nhà cửa
+ yang làng – bến nước : lực lượng bảo vệ xóm làng và che chở cuộc sống
của dân thơn.

23


+ yang ptao : người đứng đầu tổ chức tôn giáo,người làm phù phép để thông
qua các lễ nghi tôn giáo ,cầu mong mưa thuận gió hịa mùa màng tươi tốt.
Dưới yang ptao cịn có 2 yang giúp việc là ptao pui( hỏa xá) và ptao ia ( thủy
xá)
Ở các làng cịn có các người chun thờ cúng các yang và người giúp việc.
- ngồi tín ngưỡng Yang người giarai cịn bảo lưu những hiện tượng tơn giáo
sơ khai . Khi còn sống con người phụ thuộc vào linh hồn , lúc chết hồn sống vĩnh
viễn ở thế giới bên kia. Trong một làng có hiện tượng gán cho một số người biết
ma thuật làm hại gọi là “ malai” .
Đồng bào cịn có nghi lễ liên quan đến sản xuất , dặc biệt là việc trồng lúa như
lễ thức ruộng nương “plach ma” hay lễ nhập thóc vào kho “ lik nhan”. Nghi lễ có
nhiều tính biểu thị người đàn bà là hiện thân của hồn lúa và những động tác của
chủ nhân có liên quan đến quan hệ vợ chồng với việc sinh con đẻ cái . Đó là những
nghi lễ mang ý nghĩa phồn thực của một cư dân nơng nghiệp.
b.

Lễ hội

Người giarai có 2 lễ hội chính là đâm trâu và bỏ mả.
 LỄ

ĐÂM TRÂU


_ người Giarai làm lễ đâm trâu để ăn mừng lúa mới hay tạ ơn những tù trưởng
xưa kia có cơng xây dựng và gìn giữ bn làng sau nữa là tỏ lòng biết ơn với
những người đang giữ hiện vật quý. Những khi đau ốm bất ngờ ( đi tắm bị cảm,vào
rừng bị sốt,…) dân làng cho là thần ốm nên cũng làm lễ đâm trâu mong khỏi bệnh
nhưng lễ đâm trâu này bé hơn lễ đâm trâu trong hội làng.
_ Địa điểm: nhà rông

24


Hằng năm dân làng tổ chức một lần đâm trâu ở nhà rơng, mọi phí tổn do
dân làng đóng góp lại.
_ thời gian : tháng 2 – 3 âm lịch
Thời gian này cịn vào quy mơ và mục đích của người tổ chức . Nếu mà
người trong làng ăn mừng việc gì đó tổ chức lễ đâm trâu thì sẽ diễn ra trong 1 ngày
cịn việc của cả làng thì dra thông thường là 2 ngày.
-

Ngày 1họ tiến hành chuẩn bị đồ ăn như gạo nếp , lá chia thức ăn , các

loại rau quả , dây buộc.
tiến hành lễ đâm trâu :
Đầu tiên người ta dắt trâu buộc vào trụ cây nêu, trong cây nêu trồng cây
pơlang( biểu tượng của dân tộc gia rai). Cột nêu cao 5-6m trên ngọn có bàn thờ tổ
tiên ơng bà hoặc những người đã mất( nếu đâm trâu của hộ gia đình) . Chung
quanh bàn thờ là những lưỡi dao và một hình trăng lưỡi liềm tượng trưng cho sức
mạnh và quyền lực của các Yang.
Khi tiếng chiêng vang lên mở đầu lễ hội, già làng hoặc một người đáng tin
cậy trong gia đình cầm một nắm gạo và nước đến gần con trâu và đọc bài khấn

Yang phù hộ cho gia đình hay dân làng khỏe mạnh , nương rẫy được mùa.
Xong trống chiêng nổi lên ,một thanh niên khỏe mạnh được chọn sẽ xông vào
đâm trâu . Con trâu chết chiêng trống dừng lại mọi người xúm vào làm thịt , uống
rượu chia phần cho nhau.
so sánh, liên hệ với người H’rê : thầy cúng sẽ là người đâm trâu đầu tiên ,
đâm vào họng con trâu rồi hứng lấy tiết sau đó mới đến phụ lão cuối cùng mới là
thanh niên.

25


×