Tải bản đầy đủ (.pdf) (18 trang)

Sáng kiến kinh nghiệm Dạy học tích cực thông qua sử dụng phương pháp thực hành thí nghiệm trong Hoá học 8 ở trường THCS

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (275.48 KB, 18 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span>DẠY HỌC TÍCH CỰC THÔNG QUA SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM TRONG HÓA HỌC 8 Ở TRƯỜNG THCS A. Phần mở đầu I. Lý do chọn đề tài 1. Cơ sở lý luận Một trong những nội dung quan trọng của đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Đổi mới dạy học là một quá trình được thực hiện thường xuyên và kiên trì, trong đó có nhiều yếu tố quan hệ chặt chẽ với nhau. Dạy như thế nào? Học như thế nào để đạt được hiệu quả học tập tốt nhất là điều mong muốn của tất cả thầy cô giáo. Muốn thế phải đổi mới phương pháp dạy và học. Theo chương trình đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường và đổi mới sách giáo khoa hiện nay, việc sử dụng thiết bị dạy học trong các tiết học giữ vai trò hết sức quan trọng nhằm đem lại hiệu quả cao trong quá trình dạy học. Bộ môn Hoá học là một trong các bộ môn mà việc sử dụng thiết bị dạy học trong các tiết học đặc biệt là trong các tiết thực hành nhất thiết phải thực hiện thường xuyên hơn. Bộ môn Hoá học là môn khoa học thực nghiệm vì các kiến thức đem đến cho người học được rút ra từ các thí nghiệm thực tiễn, nhất là qua các tiết thí nghệm thực hành. Một trong các phương pháp giáo dục hiện nay là phương pháp lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh và để phương pháp này đạt hiệu quả là học sinh cần trực tiếp tham gia vào việc sử dụng thiết bị dạy học trong các giờ lên lớp trong đó có tiết thực hành. 2. Cơ sở thực tiễn Nội dung chương trình Hoá học THCS đặc biệt là lớp 8 bao gồm hình thành các khái niệm, định luật, ... rất trừu tượng đối với học sinh. Vì vậy nếu giáo viên chỉ truyền thụ những lí thuyết cơ bản như sách giáo khoa thì học sinh rất thụ động, việc tìm hiểu và phát triển kiến thức mới đơn điệu, dễ dẫn đến nhàm chán. Như vậy để hình thành những khái niệm Hoá học có lẽ hiệu quả nhất là qua nghiên cứu các thí nghiệm, bởi đó là những sự vật, hiện tượng cụ thể mà người giáo viên khó có thể dùng những từ ngữ nào để mô tả đầy đủ, cụ thể và chính xác hơn. Hoá học là môn khoa học thực nghiệm nên việc sử dụng thí nghiệm hoá học để dạy học tích cực đó cũng là phương pháp đặc thù của bộ môn . Sử dụng thí nghiệm để dạy học tích cực có những mức độ khác nhau. Tuỳ theo mức độ mà thí nghiệm đó có thể là do học sinh tự thực hiện hoặc giáo viên biểu diễn thí nghiệm để học sinh quan sát, mô tả hiện. Trang 1 Lop8.net.

<span class='text_page_counter'>(2)</span> tượng, giải thích và viết các phương trình hoá học. Từ đó, học sinh rút ra nhận xét về tính chất hoá học, qui tắc, định luật….Trong chương trình Hoá học 8 có nhiều tiết giáo viên cần tích cực sử dụng thí nghiệm trong việc giảng dạy thì tiết học mới đạt hiệu quả cao hơn. Đặc biệt là sử dụng đồng thời các thí nghiệm đối chứng giúp học sinh nắm bắt nhanh hơn và sâu sắc hơn. Hiện nay việc sử dụng thiết bị dạy học trong các tiết học là một yêu cầu không thể thiếu của chương trình đổi mới phương pháp giáo dục trong nhà trường. Môn Hoá học là môn khoa học thực nghiệm, việc dạy học thông qua phương pháp thực hành thí nghiệm góp phần hết sức quan trọng giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách biện chứng, tránh tình trạng học thuộc máy móc, siêu hình đây cũng là yêu cầu xác đáng của học sinh bậc phổ thông nói chung và bậc trung học cơ sở nói riêng. Trong điều kiện hiện nay việc trang bị hoá chất và dụng cụ trong các trường học ngày càng tương đối đầy đủ hơn đảm bảo cho thầy và trò thực hiện thí nghiệm thực hành một cách hiệu quả hơn. Qua thực tiễn tìm hiểu đối tượng tôi nhận thấy học sinh tích cực hơn khi giờ học có thí nghiệm thực hành và thí nghiệm đối chứng thì tinh thần học tập càng tốt, càng hăng say, học sinh ít nói chuyện, chú ý bài, thích làm thí nghiệm, tiếp thu kiến thức nhanh hơn. Song không chỉ đơn thuần là hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm hay giáo viên biểu diễn thí nghiệm mà phải làm thế nào để một giờ học đạt hiệu quả cao, phát huy hết vai trò của thí nghiệm, để qua đó phát huy tính chủ động tích cực của học sinh. Bằng cách so sánh đối chiếu sẽ hình thành cho học sinh những kiến thức cơ bản, phổ thông và cụ thể về Hoá học. Đó là vấn đề làm tôi băn khoăn và cũng là lí do tôi chọn đề tài “Dạy học tích cực thông qua sử dụng phương pháp thực hành thí nghiệm trong Hoá học 8 ở trường THCS” để nghiên cứu. II. Mục đích và phương pháp nghiên cứu 1. Mục đích nghiên cứu: Tiết thực hành Hóa học là không thể thiếu trong chương trình bộ môn Hóa học nói chung, mục đích nghiên cứu sáng kiến “Dạy học tích cực thông qua sử dụng thực hành thí nghiệm ở môn Hóa học 8” của tôi nhắm đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu bộ môn trong nhà trường, giúp học sinh lĩnh hội kiến thức tốt hơn, đầy đủ hơn và toàn diện hơn. Nhằm giúp bản thân tôi tự bồi dưỡng kiến thức, nâng cao chuyên môn theo yêu cầu chung về bồi dưỡng chuyên môn thường xuyên, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Hóa học trong nhà trường THCS và rút kinh nghiệm qua các thí nghiệm thực hành. 2. Phương pháp nghiên cứu: Xuất phát từ các tiết dạy lý thuyết, thực hành để có được những hiểu biết, nắm được các yêu cầu khách quan chủ quan để vận dụng vào một Trang 2 Lop8.net.

<span class='text_page_counter'>(3)</span> khối lớp cụ thể. Nghiên cứu, so sánh kết quả học tập nắm bắt được kỹ năng thực hành của học sinh, hiểu biết của học sinh giúp cho việc giảng dạy có được hiệu quả cao hơn. Học sinh nhận thức các vấn đề khoa học theo nhiều con đường khác nhau nhưng tựu chung là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng trở lại việc áp dụng các kiến thức vào trong thực tế. Đó là con đường biện chứng duy vật và việc thực hành Hóa học không thể nắm ngoài quy luật đó. III. Giới hạn của sáng kiến: Hiện đang áp dụng trong phạm vi bộ môn Hóa học và có thể áp dụng đối với các bộ môn khác có thực hành thí nghiệm của trường TH&THCS Đinh Công Bê, xã Mỹ Thọ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Đối tượng nghiên cứu mà tôi áp dụng cho sáng kiến này là học sinh khối 8 của trường TH&THCS Đinh Công Bê. IV. Kế hoạch thực hiện: - Tổ chức kiểm tra thống kê số liệu thực tế việc tiếp nhận kiến thức trước và sau khi sử dụng thí nghiệm thực hành của học sinh trong khối 8. - Hình thức: Giáo viên chuẩn bị dụng cụ, hóa chất và tự tiến hành thí nghiệm, phân công học sinh làm, thống kê, so sánh kết quả giữa lớp qua từng năm, kiểm tra bằng các bài kiểm cụ thể … - Thời gian: Tiến hành nghiên cứu thực hiện từ năm học 2009 2010 đến nay. B. Phần nội dung I. Cơ sở lý luận Như chúng ta đã biết, Hóa Học là một môn khoa học thưc nghiệm, chính vì vậy việc thực hành thí nghiệm có vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu. Thí nghiệm là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan. Nó là cơ sở, điểm xuất phát cho quá trình học tập - nhận thức của học sinh, (đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, sau đó từ trừu tượng hóa đến cụ thể hóa trong tư duy để hình thành nên khái niệm). Thí nghiệm là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn, là tiêu chuẩn đánh giá tính chân thực của kiến thức, hỗ trợ đắc lực cho tư duy sáng tạo nó là phương tiện duy nhất giúp học sinh hình thành kỹ năng, kỹ xảo thực hành và tư duy kỹ thuật. Thí nghiệm giúp học sinh dễ hiểu bài và hiểu sâu sắc hơn, đồng thời còn góp phần rèn luyện cho các em phẩm chất đạo đức của người làm công tác hóa học, từ đó góp phần nâng cao hứng thú học tập cho học sinh.Với tầm quan trọng như trên, đặc biệt là trong việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, mỗi người giáo viên phải biết sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học và phát huy hết vai trò của thí nghiệm hóa học, sử dụng một cách có hiệu quả, Trang 3 Lop8.net.

<span class='text_page_counter'>(4)</span> khoa học, góp phần quan trọng trong học tập. Thí nghiệm tích cực giúp học sinh khai thác nguồn kiến thức, tìm kiếm nguồn kiến thức mới dưới nhiều hình thức khác nhau dưới sự điều khiển, chỉ đạo của giáo viên, từ đó giúp học sinh phát huy tính tích cực. Vì vậy, giáo viên phải biết cách tổ chức, để học sinh tìm ra kiến thức mới một cách phong phú, linh hoạt, tiết học có hiệu quả tránh được sự nhàm chán mà trở nên sinh động hơn. II. Cơ sở thực tiễn Thực tế giảng dạy môn hóa học trong nhiều năm qua phần lớn học sinh chưa biết hoặc còn lúng túng khi tiến hành thí nghiệm, chưa phát huy được tính tích cực của mình.Vì thế chưa phát triển tư duy, óc sáng tạo, hình thành kỹ năng kỹ xảo trong thực hành thí nghiệm hóa học để thích ứng theo hướng học tập ngày nay học phải đi đôi với hành (lý thuyết gắn liền với thực tiễn). Mà phần lớn các em chỉ chờ đợi những kiến thức sẵn có của giáo viên rồi các em ghi chép một cách máy móc thụ động. Vì thế dẫn đến tình trạng các em học yếu kém môn hóa học còn nhiều. Ví dụ: các em học thuộc và nêu được tính chất hóa học của oxi là oxi tác dụng với phi kim lưu huỳnh (rắn) tạo ra khí lưu huỳnh đioxit, oxi tác dụng với photpho tạo ra điphotphopentaoxit (P2O5). Hoặc tác dụng với kim loại sắt tạo ra oxit sắt từ (Fe3O4) và tác dụng với hợp chất khí mêtan (CH4) tạo ra khí CO2 và H2O. Nhưng khi yêu cầu các em tiến hành thí nghiệm, quan sát hiện tượng và giải thích hiện tượng hóa học thì các em chưa thực hiện được. Hay trường hơp khác, đường cho vào nước khuấy cho tan ta được dung dịch nước đường đây là hiện tượng vật lý từ ví dụ đó yêu cầu học sinh tìm ví dụ khác về hiện tượng vật lý thì các em chưa thực hiện được, vì thế các em không phát huy năng lực tự học và rèn luyện kỹ năng thực hành Hóa học. Song song với sự phát triển của đất nước đòi hỏi các em phải có một kiến thức vững chắc, phải biết vận dụng lý thuyết vào thực tiễn và ngược lại. Bên cạnh đó, phải có kỹ năng tiến hành một số thí nghiệm kiểm chứng: thí nghiệm học tập cá nhân, thí nghiệm đôi bạn, thí nghiệm theo nhóm nhỏ để tìm ra kiến thức. Vận dụng kiến thức giải quyết một số vấn đề có liên quan đến môn học thông qua việc giải các bài tập sách giáo khoa, các bài tập trong chuẩn đã qui định để giúp các em thực hiện tốt. Tôi đã rút ra kinh nghiệm sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học nhằm phát huy tính tích cực, lòng say mê hứng thú học tập và phát triển được tính tìm tòi sáng tạo của học sinh ở bộ môn Hóa Học 8. III. Thực trạng và những mâu thuẫn Từ những vấn đề trên cho thấy các em chưa có phương pháp thí nghiệm, chưa biết quan sát hiện tượng thí nghiệm để rút ra kết luận vì các em còn thiếu tự tin, e ngại cho nên kết quả học tập chưa được nâng cao. Do các em mới làm quen với bộ môn hóa học việc sử dụng thí nghiệm rất lo sợ và lúng túng vì các dụng cụ thí nghiệm dễ vỡ còn hóa chất thì nguy Trang 4 Lop8.net.

<span class='text_page_counter'>(5)</span> hiểm dễ gây cháy và bỏng cho nên vấn đề thí nghiệm còn gặp nhiều khó khăn bởi vậy các em chỉ chờ đợi từ phía giáo viên. Hoặc có trường hợp giáo viên dạy chai - không sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học chỉ nói lý thuyết suông chẳng hạn như giáo viên cung cấp là: Đường cho vào nước khấy cho tan thu được dung dịch nước đường mà giáo viên không làm thí nghiệm kiểm chứng hoặc không cho học sinh tiến hành thí nghiệm để rút ra kết luận. Giáo viên chỉ cho học sinh ghi nhớ thụ động, máy móc cho nên các em chưa biết làm thí nghiệm hóa học, không biết quan sát hiện tượng thí nghiệm. Vì vậy tình trạng học tập của học sinh chưa đáp ứng với yêu cầu mong muốn của xã hội ngày nay. * Thuận lợi: - Giáo viên: Được nhà nước và các cấp quản lý quan tâm trao dồi kiến thức, tài liệu tự học tự nghiên cứu và cung cấp trang thiết bị: dụng cụ, hóa chất,… tương đối đầy đủ. Tạo điều kiện cho giáo viên học các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy. Ngoài ra còn được học hỏi trao đổi ở các đồng nghiệp cùng bộ môn hoặc ở các chuyên môn khác có liên quan. Từ đó đã giúp tôi sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học tốt hơn và đạt nhiều kết quả nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh. - Học sinh: Phần lớn học sinh có học lực từ trung bình trở lên có ý chí nỗ lực, tích cực, có lòng say mê hứng thú học tập môn Hóa. * Khó khăn: - Về cơ sở vật chất còn hạn chế (chưa có phòng thí nghiệm riêng biệt) - Phương tiện: Tranh ảnh còn hạn chế. - Dụng cụ và hóa chất chưa đáp ứng đầy đủ 100% các thí nghiệm. - Một số học sinh còn lười học, chưa chịu khó lại thiếu tự tin trong thực hành thí nghiệm hóa học, chưa xác định mục tiêu học tập, thiếu ý chí nghị lực, không phát triển năng lục tự học. Chỉ chờ đợi kết quà sẳn có từ phía giáo viên. IV. Các biện pháp giải quyết vấn đề 1. Đưa ra vấn đề: Với thực trạng như trên, tôi đã cho học sinh thực hiện các câu hỏi bài tập kiểm tra với nội dung như sau: 1/.Trong số những quá trình kể dưới đây đâu là hiện tượng hóa học, đâu là hiện tượng vật lý. Giải thích. a. Lưu huỳnh cháy trong không khí tạo ra chất khí mùi hắc (khí lưu huỳnh đioxit) b. Thủy tinh nóng chảy được thổi thành bình cầu. c. Trong lò nung đá vôi, canxi cacbonat chuyển dần thành vôi sống (canxi oxit) và khí cacbon đioxit thoát ra ngoài. Trang 5 Lop8.net.

<span class='text_page_counter'>(6)</span> d. Cồn để trong lọ không kín bị bay hơi. 2/.Nêu các thí dụ chứng minh rằng oxi là một đơn chất phi kim rất hoạt động (đặc biệt ở nhiệt độ cao) 3/.Đốt cháy hết 9 kim loại Mg trong không khí thu được 15 gam hợp chất Magiê oxit MgO. Biết rằng, magiê cháy là xẩy ra phản ứng với khí O2 trong không khí. a. Viết công thức về khối lượng của phản ứng xảy ra. b. Tính khối lương của khí oxi đã phản ứng. Kết quả kiểm tra thu được như sau: Lớp TSHS. Giỏi. Khá. Số hs. Tỉ lệ. Số hs. 8A1. 28. 3. 10,7%. 6. 8A2. 25. 1. 4%. 4. Tỉ lệ. Trung bình Số hs. Tỉ lệ. 21,4% 10 35,7% 16%. 8. 32%. Yếu. Kém. Số hs. Tỉ lệ. Số Tỉ lệ hs. 7. 25%. 2. 7,2%. 8. 32%. 3. 12%. Với kết quả như trên, tôi nhận thấy việc sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học theo hướng tích cực là hết sức cần thiết. Bởi vì, thông qua công việc này sẽ giúp cho học sinh nhận biết các hiện tượng hóa học một cách dễ dàng, chính xác. Đồng thời rèn luyện cho các em kĩ năng sử dụng thí nghiệm, quan sát và giải thích hiện tượng hóa học, vì vậy mà phương pháp này đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao hứng thú học tập trong bộ môn Hóa học, và quan trọng hơn là phương pháp này sẽ bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh, có khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống. 2.Giải quyết vấn đề Để giúp học phát huy được tính tích cực ở môn Hóa học 8, giáo viên phải biết lựa chọn các phương pháp thực hành thí nghiệm cho phù hợp với từng nội dung bài học, giúp học sinh tự tìm ra kiến thức mới với sự tổ chức, điều khiển của giáo viên. Sau đây là một số phương pháp sử dung thí nghiệm hóa học trong dạy học ở bộ môn Hóa 8 mà tôi nhận thấy đã mang lại hiệu quả cao trong thời gian qua. Cụ thể như sau: 2.1 Sử dụng thí nghiệm trong bài lí thuyết: Phương pháp thí nghiệm là phương pháp hóa học mang đặc thù của khoa học Hóa Học – khoa học thực nghiệm. Thí nghiệm hóa học được sử dụng theo đúng mục đích và là nguồn học sinh khai thác, tìm tòi, phát hiện kiến thức giúp phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo, phát triển năng lực nhận thức và tư duy khoa học hóa học. Tuy nhiên khi thực hiện giáo viên có thể gặp một số khó khăn như sau:. Trang 6 Lop8.net.

<span class='text_page_counter'>(7)</span> -Dụng cụ thí nghiệm thường làm bằng thủy tinh dễ vỡ, hóa chất thuộc loại vật liệu tiêu hao tốn kém. -Những chất thải sau thí nghiệm thường gây ô nhiễm môi trường. -Cần sự chuẩn bị của giáo viên và học sinh nên tốn thời gian. -Nếu không chuẩn bị cẩn thận thí nghiệm không thành công thì sẽ không đạt được yêu cầu của bài học. -Nhiều giáo viên chưa hướng dẫn học sinh khai thác được các hiện tượng thí nghiệm để phát huy tính tích cực và phát triển năng lực cho học sinh sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí. Việc sử dụng thí nghiệm cần hướng tới việc tích cực hóa hoạt động của học sinh, thí nghiệm được coi là tích cực khi nó là nguồn kiến thức để học sinh khai thác tìm kiếm kiến thức mới với nhiều hình thức khác nhau. Vì vậy, tùy theo cách sử dụng mà việc thực hiện phương pháp này có những điểm khác nhau. Những thí nghiệm thực hiện theo hướng chứng minh cho lời giảng của giáo viên là những thí nghiệm được sử dụng ít tích cực hơn những thí nghiệm được sử dung theo hướng nghiên cứu. Sử dụng thí nghiệm có nhiều mức độ khác nhau: *.Mức 1(ít tích cực) Giáo viên: Nêu tính chất hoặc hiện tượng, viết phương trình hóa học minh họa. Giáo viên hoặc một học sinh thực hiện thí nghiệm biểu diễn. học sinh quan sát hiện tượng nhưng chỉ để chứng minh có phản ứng xảy ra hoặc một tính chất, một quy luật mà giáo viên đã nêu ra. *.Mức 2 (tích cực) Giáo viên nêu vấn đề cần tìm hiểu: Tính chất hóa học, quy luật chưa biết… Giáo viên hoặc một học sinh biểu diễn thí nghiệm. Học sinh: nghiên cứu thí nghiệm biểu diễn: -Học sinh nắm được mục đích của thí nghiệm. -Học sinh quan sát, mô tả hiện tượng. -Học sinh giải thích hiện tượng. Học sinh rút ra kết luận (tính chất của chất, một quy luật, một kết luận về khả năng phản ứng) *.Mức 3 (rất tích cực) Giáo viên: nêu hoặc hướng học sinh phát hiện vấn đề cần tìm hiểu như tính chất hóa học, quy luật chưa biết… Nhóm học sinh nghiên cứu thí nghiệm đồng loạt hoặc không đồng loạt. Trang 7 Lop8.net.

<span class='text_page_counter'>(8)</span> -Học sinh nắm được mục đích của thí nghiệm. -Học sinh làm thí nghiệm. -Học sinh quan sát, mô tả hiện tượng. -Học sinh giải thích hiện tượng. -Học sinh rút ra kết luận (tính chất của chất, một quy luật, một kết luận về khả năng phản ứng…) Khi sử dụng thí nghiệm hóa học cần lưu ý một số vấn đề sau: -Chú ý tới mục đích của thí nghiệm. -Điều kiện dụng cụ, hóa chất để chọn nội dung thí nghiệm, cách tiến hành (do giáo viên hay học sinh thực hiện) -Chú ý hướng dẫn học sinh khai thác một cách có hiệu quả nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức và rèn luyện kĩ năng thực hành thí nghiệm. Vì vậy, trong khi tiến hành thí nghiệm cần thực hiện theo quy trình sau: *Đối với giáo viên: -Chọn thí nghiệm bảo đảm được mục tiêu bài học. -Dễ thành công và an toàn thí nghiệm. -Hướng dẫn học sinh tiến hành thí nghiệm. -Hướng dẫn học sinh quan sát thí nghiệm, nêu hiện tượng, giải thích rút ra kết luận. *Đối với học sinh: -Biết mục đích thí nghiệm và cách tiến hành thí nghiệm. -Chuẩn bị dụng cụ, hóa chất. -Tiến hành thí nghiệm theo đúng hướng dẫn của giáo viên. -Rút ra kết luận. Khi dạy các bài hình thành kiến thức mới, tôi nhận thấy rằng việc sử dụng thí nghiệm hóa học theo mức độ 2 (tích cực) và mức độ 3 (rất tích cực), đã giúp cho học sinh lĩnh hội kiến thức một cách dễ dàng. Được thể hiện cụ thể như sau: Ví dụ 1: khi dạy về bài 12: “ Sự biến đổi của chất” I.Hiện tượng vật lí: Hoạt động của Giáo viên. Hoạt động của Học sinh. -Yêu cầu học sinh quan -Quan sát thí nghiệm Rút ra nhận xét sát hiện tượng thí chảy lỏng Đun nghiệm Nước đá Nước lỏng nước Đông đặc. Hơi. Ngưng tụ. ? Nhận xét về sự biến =>Trong quá trình trên có sự biến đổi về trạng Trang 8 Lop8.net.

<span class='text_page_counter'>(9)</span> đổi của nước trong quá trình trên? ?Nước có giữ nguyên là chất ban đầu không? -Yêu cầu học sinh làm thí nghiệm. +Hòa tan muối ăn vào nước  quan sát. +Đun cạn nước muối  quan sát. -Giáo viên ghi sơ đồ của quá trình biến đổi. ?Qua 2 thí nghiệm trên em có nhận xét gì? (trạng thái, về chất) ?Các quá trình biến đổi đó gọi là hiện tượng vật lí. Vậy em hiểu như thế nào là hiện tượng vật lí?. thái của nước. =>Vẫn giữ nguyên là chất ban đầu. -HS làm thí nghiệm theo nhóm  ghi sơ đồ của quá trình biến đổi. +Muối ăn vào nước  dung dịch nước muối. +Đun cạn nước muối  những hạt muối khan xuất hiện trở lại.. =>Trong các quá trình trên chỉ có sự thay đổi về trạng thái mà không có sự thay đổi về chất. Thảo luận  rút ra kết luận: Hiện tượng chất biến đổi mà vẫn giữ nguyên là chất ban đầu gọi là hiện tượng vật lí.. II.Hiện tượng hóa học: Hoạt động của Giáo viên. Hoạt động của Học sinh. -Yêu cầu học sinh nêu cách tiến hành –Giáo viên trộn bột S với bột Fe  chia 2 phần: +Phần 1: Đưa nam châm lại gần  nhận xét +Phần 2: Đun nóng mạnh trong ống nghiệm. -Nêu cách tiền hành thí nghiệm -Quan sát thí nghiệm giáo viên biểu diễn  nhận xét +Phần 1: Đưa nam châm lại gần thì nam châm hút sắt +Phần 2: Đun hỗn hợp nóng sáng lên chuyển sang màu xám. -Giáo viên biểu diễn thí nghiệm  Yêu cầu học sinh quan sát. -Đưa nam châm lại gần sản phẩm phần 2  Yêu cầu học sinh nhận xét. -Đốt sản phẩm  Học sinh quan sát. Từ đó rút ra kết luận gì? -Giáo viên hướng dẫn HS làm thí nghiệm 2 đun nóng đường theo nhóm:. =>Học sinh tự rút ra kết luận: Fe và S đã biến đổi FeS (đó là hợp chất sắt (II) sunfua) =>Sản phẩm không bị nam châm hút. -Học sinh thực hiện theo nhóm Đại diện của các nhóm báo cáo kết. Trang 9 Lop8.net.

<span class='text_page_counter'>(10)</span> ?Quan sát và nhận xét hiện tượng? ?Các quá trình trên có phải là hiện tượng vật lí không? Tại sao? Đó là hiện tượng hóa học. Vậy hiện tượng hóa học là gì?. quả -Đường  than và nước -Các quá trình trên không phải là hiện tượng vật lí. Vì chất mới xuất hiện khác với chất ban đầu. Học sinh rút ra kết luận. hiện tương chất biến đổi có tạo ra chất khác, được gọi là chất khác.. =>Như vậy, với việc sử dụng thí nghiệm trong ví dụ 1 ta sẽ dễ dàng phân biệt được hiện tượng vật lí và hiện tương hóa học và biết được dấu hiệu để nhận biết được một hiện tượng hóa học. Ví dụ 2: Ở bài 24, khi dạy phần II: “ Tính chất hóa học của oxi”, giáo viên nêu vấn đề: Oxi có những tính chất hóa học gì? chúng ta nghiên cứu thí nghiệm. Hoạt động của Giáo viên. Hoạt động của Học sinh. 1.Tác dụng với phi kim a.Với lưu huỳnh -Yêu cầu học sinh đọc nội dung thí nghiệm ?Cho biết hóa chất, dụng cụ và cách tiến hành thí nghiệm, mục đích của thí nghiệm? -Biểu diễn thí nghiệm, yêu cầu học sinh trả lời. -Đọc thông tin sách giáo khoa trang 81 Quan sát thí nghiệm  nhận xét hiện tượng =>1 học sinh trả lời, học sinh khác nhận xét và bổ sung. -Đưa muỗng sắt chứa 1 ít bột lưu huỳnh vào ngọn lửa đèn cồn  nhận xét hiện tượng ? -Đưa lưu huỳnh đang cháy vào lọ có chứa khí oxi. So sánh các hiện tương lưu huỳnh cháy trong oxi và trong không khí ? cho học sinh viết phương trình phản ứng b.Với photpho -Giáo viên yêu cầu học sinh đọc nội. Trang 10 Lop8.net. =>Không có hiện tương hóa học xẩy ra =>Lưu huỳnh cháy trong không khí với ngọn lửa nhỏ,màu xanh nhạt; cháy trong khí oxi mãnh liệt hơn, tạo thành khí lưu huỳnh đioxit SO2 (còn gọi là khí sunfurơ) và rất ít lưu huỳnh trioxit (SO3) 1 học sinh lên viết phương trình: t0 S(r) + O2 (k)  SO2 (k).

<span class='text_page_counter'>(11)</span> dung thí nghiệm sách giáo khoa trang 82. ?Cho biết hóa chất, dụng cụ, cách tiến hành và mục đích thí nghiệm? -Quan sát, thảo luận nhóm. tự rút ra -Giáo viên biểu diễn thí nghiệm kết luận + Đưa muỗng sắt chứa photpho đỏ  lọ O2 nhận xét + Đưa muỗng sắt chứa phot pho đỏ vào lọ chứa khí oxi. không có hiện + Đốt cháy photpho đỏ trong không tượng hóa học khí rồi đưa nhanh vào lọ có chứa khí + Đốt cháy P đỏ trong không khí đưa oxi nhận xét hiện tượng? vào lọ O2 hiện tượng phot pho cháy + So sánh sự cháy của photpho trong mạnh trong khí oxi dưới ngọn lửa không khí và trong khí oxi? Nhận xét sáng chói chất tạo thành ở trong lọ? + Sự cháy của P trong oxi mạnh hơn -Giáo viên hướng dẫn cho học sinh trong không khí, chất tạo thành ở trong lọ là điphot pho pentaoxit viết phương trình. Học sinh viết phương trình hóa học t0 4P(r) +5O2 (k)  2P2O5 (r) -Qua hai thí nghiệm trên em hãy cho -Học sinh rút ra kết luận: Khí oxi là biết khả năng phản ứng của khí oxi một đơn chất phi kim rất hoạt động, với phi kim như thế nào? đặc biệt ở nhiệt độ cao, dễ dàng tham -Thế còn với các chất khác như kim gia phản ứng hóa học với nhiều phi loại, hợp chất thì oxi sẽ phản ứng thế kim. nào giờ sau các em sẽ học. Ví dụ 3: Khi dạy về phương pháp tách chất ra khỏi hỗn hợp tôi đã sử dụng thí nghiệm như sau: Hoạt động của Giáo viên. Hoạt động của Học sinh. Giáo viên yêu cầu học sinh làm thí làm thí nghiệm theo nhóm. đại diện nghiệm: nhóm báo cáo kết quả - Bỏ muối ăn vào nước khuấy - Bỏ muối ăn vào nước khuấy muối tan - Đun cạn muối thu được nước muối - Đun cạn hỗn hợp thu được ?Nhận xét kết quả thí nghiệm? ?Dựa vào tính chất gì mà ta có thể =>Dựa vào nhiệt độ sôi khác nhau của tách được muối ra khỏi hỗn hợp nước muối và nước. muối? -Yêu cầu học sinh làm thí nghiệm tách -Thảo luận, làm thí nghiệm, sau khi Trang 11 Lop8.net.

<span class='text_page_counter'>(12)</span> riêng mỗi chất từ hỗn hợp mưới ăn và cát. -Giáo viên dựa vào tính chất nào để tách riêng được muối và cát ra khỏi hỗn hợp? Qua hai thí nghiệm trên, em hãy cho biết nguyên tắc tách một chất ra khỏi hổn hợp?. làm thí nghiệm, học sinh dễ dàng biết được dựa váo tính tan trong nước. =>Học sinh rút ra kết luận: Dựa vào tính chất vật lý khác nhau của chất để tách chất ra khỏi hỗn hợp.. Ngoài việc sử dụng thí nghiệm trong bài lý thuyết đem lại hiệu quả cao trong quá trình học tập của học sinh, thì trong bài thực hành, thí nghiệm hóa học cũng là một trong những biện pháp giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập. 2.2 Sử dụng thí nghiệm trong bài thực hành hóa học: Để phát huy tính tích cục của học sinh, cần có thêm loại bài tập thực nghiệm trong bài thực hành. Đặc điểm của bài tập thực nghiệm là học sinh phải nghiên cứu, giải thích lí thuyết trước khi bắt tay vào làm thí nghiệm. Do đó học sinh phải tích cực suy nghĩ, vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết một số vấn đề cụ thể… Đối với dạng bài thực hành này, khi tiến hành cần phải thực hiện theo quy trình sau: * Đối với giáo viên: -Cần chuẩn bị trước dụng cụ và hóa chất đầy đủ phù hợp với tính chất nội dung của bài. -Thí nghiệm phải đảm bảo an toàn và thành công. -Thí nghiệm dễ thực hiện. -Hướng dẫn học sinh quan sát thí nghiệm, nêu hiện tượng và giải thích hiện tượng. *Đối với học sinh: -Thí nghiệm theo sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên -Thí nghiệm theo nhóm: tích cực, an toàn, thành công -Học sinh quan sát, mô tả hiện tượng và rút ra kết luận -Học sinh viết tường trình thí nghiệm -Học sinh nắm được mục đích, cách tiến hành thí nghiệm Ví dụ 1 Khi dạy bài: “ Thực hành 2 : Sự lan tỏa của chất” Hoạt động của Giáo viên. Hoạt động của Học sinh. *.Thí nghiệm 1: Sự lan tỏa của ammoniac. Trang 12 Lop8.net.

<span class='text_page_counter'>(13)</span> -Giáo viên: chuẩn bị dụng cụ và hóa chất như sau: Bông thấm, ống nghiệm thủy tinh, nút cao su, giấy quỳ tím -Phân phát dụng cụ và hóa chất -Các nhóm tiến hành thí nghiệm cho từng nhóm -Thử trước để thấy amoniac làm quỳ tím tẩm nước đổi sang màu xanh -Bỏ một mẫu giấy quỳ tím tẩm nước vào gần đáy ống nghiệm lấy nút có bông tẫm dung dịch amoniac  ghi lại hiện tượng *Thí nghiệm 2: Sự lan tỏa -Học sinh: Tiến hành thí nghiệm của kalipemanganat (thuốc tím) +Bỏ 1 ít mảnh dụng tinh thể thuốc tím trong nước vào cốc (1) khuấy đều cho đến khi tan -Giáo viên: Chuẩn bị dụng cụ hết và hóa chất như sau: thuốc tím, +Lấy 1 ít thuốc tím bỏ vào cốc nước nước cất, 2 cốc thủy tinh, đũa (2), lần này cho từ từ, rơi tùng mảnh. thủy tinh. Phân phát cho các Để cốc nước (2) lặng yên không nhỏ khuấy hay động vào so sánh màu của nước trong 2 cốc Học sinh: hoàn thành bảng thu hoạch S T T. -Giáo viên hướng dẫn học sinh viết tường trình theo mẫu.. Giáo viên: nhận xét, đánh giá. Tên thí nghiệm. Hiện tượng thí nghiệm. 1. Sự lan tỏa Dung của amoniac amoniac quỳ tím nước đổi màu xanh. 2. Sự lan tỏa của kali pemanganat trong nước. dịch làm tẫm sang. -Màu ở cốc 1 có màu tím đậm -Màu ở cốc 2 có màu nhạt hơn cốc 1. Ví dụ 2: Dạy bài thực hành 3: “ Dấu hiệu của hiện tượng và phản ứng hóa học” Trang 13 Lop8.net.

<span class='text_page_counter'>(14)</span> Hoạt động của Giáo viên *.Thí nghiệm 1: Hòa tan và đun nóng kalipemanganat. -Giáo viên: chuẩn bị hóa chất: (0,5 gam) thuốc tím đem chia 3 phần; dụng cụ: ống nghiệm, que diêm, đèn cồn, kẹp ống nghiệm, giá ống nghiệm, hướng dẫn học sinh tiến hành thí nghiệm. -Nếu thấy que đóm không bùng cháy thì ngừng đun để nguội ống nghiệm. sau đó đổ nước vào lắc cho tan. ?Chất rắn trong ống nghiệm có tan hết không ? Quan sát màu của dung dịch trong 2 ống nghiệm *.Thí nghiệm 2: Thực hiện phản ứng với canxi hiđroxit Giáo viên chuẩn bị ống thủy tinh, ống nghiệm đựng dung dịch nước vôi trong, dung dịch natri cacbonnat Giáo viên: hướng dẫn học sinh tiến hành thí nghiệm a.Dùng ống thủy tinh thổi hơi thở lần lượt vào ống nghiệm 1 đựng nước, ống nghiệm 2 đựng nước vôi trong quan sát hiện tượng. b.Đổ dung dịch natri cacbonnat lần lượt vào ống nghiệm 1 đựng nước và ống ngiệm 2 đựng nước vôi trong Quan sát trong mỗi ống nghiệm. Giáo viên hướng dẫn học sinh viết tường trình theo bảng.. Hoạt động của Học sinh. -Học sinh thực hiện theo nhóm +Bỏ một phần vào nước trong ống nghiệm 1 lắc cho tan +Bỏ 2 phần vào ống nghiệm 2 đun nóng. Đưa que đóm cón tàn đỏ vào để thử -Học sinh nhận dụng cụ và hóa chất -Học sinh thực hiện thí nghiệm. -Học sinh: hoàn thành bảng thu hoạch. STT. Tên thí nghiệ m. Hiện tượng thí nghiệm. 1. Hòa tan và đun nóng kali pema ngan at. -Ống nghiệm 1 : thấy thuốc tím tan trong nước->Hiện tương vật lí. -Ống nghiệm 2 : khi đun nóng, có sự chất mới xuất hiện (hiện tượng hóa học). 2. Thực hiện phản ứng với. -Dùng ống thủy tinh thổi vào trong ống nghiệm 2 đựng nước vôi trong, thấy nước vôi trong vẫn bị đục, thổi vào ống nghiệm 1 đựng. Trang 14 Lop8.net.

<span class='text_page_counter'>(15)</span> canxi nước không có hiện tượng hiđro gì. xit Phương trình : Canxi hiđroxit +cacbon đioxit Canxicacbonat+ (vẫnđục) nước. -Đổ natri cacbonat vào ống nghiệm 1 chứa nước thì không có hiện tượng gì -Đổ natri cacbonat vào ống nghiệm 2 đựng nước vôi trong. Thấy nước vôi trong bị vẩn đục. Phương trình : Natri cacbonat + canxi hiđroxit  canxi cacbonat + natri hiđroxit Như vậy, với việc sử dụng thí nghiệm hóa học theo hướng nêu trên đã giúp học sinh độc lập, tích cực để nhận biết trạng thái, màu sắc của chất, sự biến đổi của chất, tính chất hóa học và các hiện tượng hóa học... Từ đó học sinh có thể tự hình thành nên khái niệm vì vậy mà phương pháp trực quan (việc sử dụng thí nghiệm hóa học) đã đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao hứng thú học tập môn Hóa cho học sinh. Và quan trọng hơn, phương pháp này sẽ bồi dưỡng năng lực tự học và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế của học sinh. Sử dụng thí nghiệm hóa học theo hướng tích cực có thể vận dụng có hiệu quả khi dạy các bài về tính chất của chất, luyện tập, bài kiến thức mới, bài thí nghiệm thực hành. Tuy nhiên, để việc sử dụng thí nghiệm thực hành hóa học có hiệu quả thì yêu cầu đặt ra đối với giáo viên rất cao. Giáo viên phải chuẩn bị thật chu đáo trước khi lên lớp, giáo viên phải làm thí nghiệm trước mới có thể dự đoán tính toán được hàm lượng hóa chất dùng cho thí nghiệm như thế nào là vừa đủ, vừa bảo đảm kết quả thành công nhất, vừa không lãng phí hóa chất. Giáo viên làm thí nghiệm trước mới có thể dự đoán những kết quả khác có thể xảy ra và biết cách xử lí những sản phẩm độc hại trong quá trình làm thí nghiệm. Khi làm thí nghiệm trước, giáo viên còn có thể biết trước những tình huống sẽ xảy ra, đảm bảo tính khoa học và thực tiễn của thí nghiệm. Bởi vì khi sử dụng thí nghiệm hóa học: bắt buộc thí nghiệm phải thành công, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho giáo viên và học sinh; thí nghiệm phải rõ, học sinh phải được quan sát đầy đủ; thí. Trang 15 Lop8.net.

<span class='text_page_counter'>(16)</span> nghiệm phải đơn giản, dụng cụ gọn gàng mỹ thuật; số lượng thí nghiệm hợp lí, gắn bó chặt chẽ với bài giảng. Vì vậy, sau khi sử dụng phương pháp thí nghiệm hóa học trong dạy học cho thấy các em dễ tiếp thu kiến thức, giúp học sinh khắc sâu kiến thức, phát triển năng lực tự học, tư duy và sáng tạo trong học tập. Các em biết vận dụng nội dung bài học để thực hiện giải các bài tập trong sách giáo khoa, và một số bài tập có liên quan ở bộ môn Hóa Học 8. Để việc học tập của các em có hiệu quả, tôi thường xuyên kiểm tra đánh giá bằng cách kiểm tra tại lớp, cho thêm một số bài tập về nhà. Sau đó cho các em trình bày, giáo viên nhận xét đánh giá và kịp thời sửa chữa sai sót. Ngoài ra, còn tổ chức cho các em học tập theo nhóm, theo đôi bạn ở trường hoặc ở nhà tạo điều kiện cho các em khá giỏi giúp đỡ các em học yếu, kém để cùng nhau tiến bộ. Bên cạnh đó, giới thiệu cho các em tìm đọc các sách nâng cao về Hóa Học giúp các em mở rộng thêm kiến thức của mình. Từ đó tạo điều kiện cho các em phát huy năng lực tự học, sáng tạo trong học tập đối với bộ môn. V. Hiệu quả áp dụng Qua nhiều năm giảng dạy môn Hóa Học, tôi đã rút ra được phương pháp vừa nêu trên thấy rất cần thiết cho học sinh. Giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức, chiếm lĩnh kiến thức một cách tư duy, sáng tạo (tự tìm ra kiến thức dưới sự tổ chức của giáo viên), hiểu bài rất sâu sắc, biết vận dụng nội dung bài học để giải bài tập. Vì vậy, kết quả học tập của học sinh càng được nâng cao, trình độ hiểu biết của các em ngày càng mở rộng có nguồn kiến thức dồi dào, phong phú biết vận dụng kiến thức vào thực tế. Bên cạnh đó, còn rèn luyện cho các em kỹ năng thực hành hóa học, sử dụng thí nghiệm khéo léo thành công. Khi tôi áp dụng phương pháp này trong giảng dạy môn hóa học so với trước kia chưa áp dụng, thì sau khi áp dụng có sự chuyển biến rõ rệt cụ thể kết quả được thống kê xếp loại môn hóa học như sau : Lớp TSHS. Giỏi. Khá. Trung bình. Yếu. Số hs. Tỉ lệ. Số hs. Tỉ lệ. Số hs. Tỉ lệ. Số hs. Tỉ lệ. 8A1. 28. 11. 39,3%. 12. 42,9%. 6. 417,8%. 0. 0%. 8A2. 25. 4. 16%. 7. 28%. 9. 36%. 5. 20%. Khi sử dụng phương pháp thí nghiệm hóa học trong dạy học Hóa Học, tôi nhận thấy học sinh biết tự tìm tòi phát hiện ra kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Bên cạnh đó, các em còn rèn luyện được kỹ năng thực hành thí nghiệm, quan sát, phân tích giải thích các hiện tượng hóa học chính xác có hiệu quả, từ đó biết vận dụng nội dung bài học để giải các bài tập hóa học. Chính vì thế mà học sinh có sự yêu thích, lòng Trang 16 Lop8.net.

<span class='text_page_counter'>(17)</span> say mê hứng thú học tập bô môn làm cho môn Hóa Học ngày càng trở lên gần gũi với thực tế và đời sống xã hội. C. Kết luận : I. Ý nghĩa của sáng kiến đối với công tác giảng dạy Như vậy việc sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học môn Hóa Học có vai trò rất to lớn, nó vừa nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên đồng thời nâng cao chất lượng học tập của học tập của học sinh. Với xu thế đổi mới hiện nay đòi hỏi học sinh phải có một kiến thức nhất định. Cho nên việc đổi mới phương pháp học tập ngày nay giúp cho học sinh biết tự học, tự tìm ra kiến thức dưới sự tổ chức của giáo viên, vì thế giúp các em có khả năng phát triển tư duy, tính sáng tạo trong học tập. Bên cạnh đó phương pháp này còn rèn luyện cho học sinh kỹ năng thực hành thí nghiệm, kỹ năng phân tích, so sánh và giải thích các hiện tượng hóa học. Đặc biệt hơn là thông qua phương pháp thí nghiệm này giúp các em dễ hiểu bài, tiếp thu nhanh hạn chế tình trạng thụ động, biết hình thành bản thân thói quen tự học để đạt kết quả cao. II. Khả năng áp dụng sáng kiến Trên thực tế sáng kiến này đã được đi vào áp dụng từ hơn 2 năm qua tại trường TH-THCS Đinh Công Bê, xã Mỹ Thọ – Huyện Cao Lãnh – tỉnh Đồng Tháp và đã đạt nhiều thành tựu: số học sinh biết sử dụng các thiết bị thí nghiệm thực hành ngày càng tăng thêm rất nhiều, học sinh ngày càng tự tin hơn, tích cực hơn trong khi làm thí nghiệm thực hành không còn lùng túng và thực hành thí nghiệm thành công hơn. Nếu sáng kiến được nhân rộng hơn ở nhiều bộ môn có thực hành thí nghiệm trong trường thì sẽ đem lại hiệu quả giáo dục cao hơn. III. Bài học kinh nghiệm, hướng phát triển - Để cho việc học tập của học sinh có hiệu quả cao, giáo viên cần phải có nguồn kiến thức phong phú, đa dạng biết sử dụng phương pháp thí nghiệm phù hợp với nội dung từng bài học. Mỗi thí nghiệm giáo viên nên chuẩn bị dụng cụ và hóa chất đầy đủ phù hợp và có thực hiện trước khi lên lớp để đảm bảo thí nghiệm thành công, an toàn có hiệu quả cao. - Muốn thực hiện tốt, giáo viên phải thường xuyên sử dụng thí nghiệm trong các bài có thí nghiệm Hóa học, luôn luôn trao dồi kiến thức bằng cách tự hoc qua các tài liệu tham khảo và còn học hỏi trao đổi với các đồng nghiệp. Từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả trong khâu thí nghiệm. - Tăng cường sử dụng phương pháp thí nghiệm Hóa học trong dạy học nhằm giảm tỉ lệ học sinh học yếu kém. - Được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu cùng với tập thể giáo viên trường tôi sẽ tiếp tục vận dụng và phát huy hơn nữa những kinh nghiệm này trong những năm học tới đối với các lớp mà bản thân được phân công Trang 17 Lop8.net.

<span class='text_page_counter'>(18)</span> giảng dạy, nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy nói chung và việc sử dụng thí nghiệm Hóa Học nói riêng góp phần vào sự nghiệp phát triển giáo dục của đất nước trong thời kỳ hiện nay. IV. Đề xuất, kiến nghị Thực tế dạy học trong nhiều năm qua cho thấy, việc sử dụng tốt các phương pháp thực hành thí nghiệm Hóa học sẽ nâng cao chất lượng học tập của học sinh đồng thời cũng nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên. Để đáp ứng được với nhu cầu đổi mới về phương pháp dạy học hiện nay, tôi xin đưa ra một số ý kiến như sau : -Các cấp quản lí luôn quan tâm tạo điều kiện cho giáo viên được tham dự các lớp tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ. -Cần có phòng thí nghiệm Hóa học. -Hóa chất và dụng cụ cần cung cấp đầy đủ và kịp thời Các đề xuất trên nếu thực hiện được sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập của học sinh và giúp học sinh học tốt môn hóa học và đặc biệt nhất giúp học sinh sử dụng tốt thí nghiệm hóa học. Trên đây là một số kinh nghiệm mà trong thời gian qua tôi đã thực hiện, mặc dù còn thiếu sót nhưng tôi rất mong được sự đóng góp của các cấp lãnh đạo và sự đóng góp của các đồng nghiệp, để cho công tác giảng dạy của tôi ngày càng được nâng cao và sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện hơn. Người viết. Nguyễn Thị Diệu Hiền Tài liệu tham khảo: 1. Phương pháp dạy học Hóa học THCS – tập 1,2 – Nguyễn Cương, Nguyễn Mạnh Dung, Nhà xuất bản Giáo Dục. 2. Thí nghiệm thực hành Hóa học ở trường THCS. Nhà xuất bản Giáo Dục 2004 – Trần Quốc Đắc. 3. Phương pháp dạy học thí nghiệm thực hành Háo học tập 3, Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội 2005 – Nguyễn Cương, Nguyễn Xuân Trường.. Trang 18 Lop8.net.

<span class='text_page_counter'>(19)</span>

×