Tải bản đầy đủ (.doc) (9 trang)

Bài soạn đề tài hay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (114.52 KB, 9 trang )

PHÒNG GD&ĐT TUẦN GIÁO
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trường TH Số I Quài Tở Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐỀ TÀI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
"NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHỮ VIẾT CHO HỌC SINH CUỐI CẤP"
Kính gửi: Hội đồng thi đua khen thưởng các cấp.
Họ và Tên : Phạm Thị Uyển
Chức vụ : Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường Tiểu Học Số I Quài Tở.
A/ Đặt vấn đề:
1. Lý do chọn đề tài:
" NÉT CHỮ - NẾT NGƯỜI "
Hầu như ở mọi loại vở ô li của học sinh tiểu học đều có khẩu hiệu đó.
Nói và đọc khẩu hiệu nhưng nó không suông, không rỗng, phải chăng tác giả
muốn gửi đến thông điệp: Thầy - trò, mỗi chúng ta hãy coi trọng, trao dồi chữ
viết của mình, vì sao vậy ?
Bởi " Nét chữ là nết người "
Nét chữ thể hiện tính con người, trong giao tiếp, chữ viết thể hiện nét
văn hóa ứng xử giữa người với người, rèn được chữ viết đẹp, cũng có nghĩa là
đã rèn luyện thành công một phần đức tính cần có của con người.
Lịch sử đã cho thấy: Cao Bá Quát hỏng thi vì chữ xấu. Thần Liêu đã
khổ luyện với chữ như thế nào...
Thực tế ở các kỳ thi ( lớn, nhỏ ) chỉ vì chữ xấu mà ảnh hưởng đến kết
quả thi. Chữ xấu ảnh hưởng đến cơ hội lựa chọn công việc ; vì chữ không đẹp
đã tạo nên ấn tượng thiếu toàn diện về một con người.
Vẫn biết rằng chúng ta đang sống trong thời đại thông tin, vi tính có thể
đáp ứng mọi kiểu chữ mà ta mong muốn, nhưng làm sao nó có thể thay thế
được những bài học đầu đời về chữ viết ? ( Chữ Việt - chữ mẹ đẻ ) mà mỗi
học sinh Tiểu học đang từng ngày, từng giờ được chúng ta bày dạy, uốn nắn
chấm chữa.


Bằng kinh nghiệm giảng dạy và quá trình làm công tác quản lý nhiều
năm, song song với việc chú trọng truyền thụ kiến thức, nâng cao chất lượng
giáo dục cho học sinh tôi luôn coi trọng đúng mức việc rèn chữ viết, cách
trình bày một văn bản học sinh cần thể hiện.
Vâng ! tất cả đã khiến tôi băn khoăn trước một thực trạng học sinh học
hết bậc tiểu học mà vẫn chưa viết được, viết chưa đẹp, chưa đúng mẫu chữ.
Vậy làm thế nào để học sinh có thể viết đúng chính tả, đúng cỡ chữ, đẹp
( Theo quyết định 31 ).
Với tinh thần tự học, tự tìm tòi, tự rút kinh nghiệm, nhận thức đúng đắn
về chữ viết của học sinh từ đó có biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng chữ
viết - một giá trị văn hóa cần được coi trọng trong trường học.
Nay tôi mạnh dạn đề cập tới vấn đề này qua sáng kiến: " Nâng cao chất
lượng chữ viết cho học sinh cuối cấp ".
II. Nội dung nghiên cứu đề tài
1. Nội dung nghiên cứu đề tài:
Dựa trên cơ sở tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh tiểu học và các lý luận
về ngôn ngữ của môn Tiếng Việt, nhằm hình thành những kiến thức cơ bản
làm cơ sở ban đầu cho việc học viết.
Giúp học sinh ở giai đoạn này viết đúng tốc độ, viết đẹp và trình bày
một văn bản theo yêu cầu.
Tiếp tục trải nghiệm và phân tích những điểm mạnh, điểm yếu trong
quá trình thực hiện. Phân tích kết quả thu được qua từng giai đoạn thực hiện
để đề ra các biện pháp hữu hiệu nhất để nâng cao chất lượng viết cho học sinh
cuối cấp.
Áp dụng vào thực tiễn trong việc chỉ đạo và dạy cho những năm sau.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài:
a/ Đối tượng nghiên cứu:
Giáo viên khối 5 Trường Tiểu Học Số I Quài Tở.
Học sinh khối 5 Trường Tiểu Học Số I Quài Tở.
b/ Phạm vi nghiên cứu:

Quyết định 16 về chuẩn kiến thức kỹ năng cho học sinh tiểu học.
Quyết định 31/2002/QĐ - BGD&ĐT ra ngày 14/6/2002 của Bộ trưởng
bộ GD&ĐT về việc ban hành mẫu chữ viết trong trường tiểu học.
Quyết định 30 về việc đánh giá, xếp loại học sinh tiểu học.
Phương pháp giảng dạy Tiếng Việt.
Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên.
Tài liệu giảng dạy Tiếng Việt cho học sinh vùng miền.
Các yếu tố về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu:
a/ Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích cơ sở khoa học, vai trò, chức năng của việc học đối với học
sinh khối 5. Từ hệ thống lý luận đã được học đối chiếu với thực trạng của nhà
trường làm rõ mặt mạnh, mặt yếu từ đó rút ra bài học cho bản thân và đồng
nghiệp đồng thời đề xuất những ý kiến của mình với các cấp có liên quan
cùng hỗ trợ và giải quyết.
b/ Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi đã áp dụng những phương pháp sau:
Phương pháp khảo sát, thống kê.
Phương pháp học tập kinh nghiệm.
Phương pháp điều tra thực tế.
Phương pháp kiểm tra đánh giá.
Phương pháp nghiên cứu lý luận ( tài liệu ) để tìm hiểu những cơ sở
khoa học bổ sung cho đề tài.
Phương pháp trọng tâm là rút kinh nghiệm, lấy lý luận soi sáng cho
thực tế, dùng thực tế chứng minh và bổ sung cho lý luận.
B. Cách tiến hành nghiên cứu đề tài:
Trước khi bắt tay vào nghiên cứu đề tài tôi tiến hành điều tra thực trạng
của nhà trường như sau:
I. Thực trạng chung của nhà trường:
Từ nhiều năm nay chữ viết của học sinh đã được ngành, trường coi

trọng và tổ chức nhiều các kỳ thi vở sạch chữ đẹp cho giáo viên và học sinh
nhưng kết quả chưa cao nguyên nhân là:
1. Đối với học sinh:
100% học sinh là dân tộc vốn Tiếng Việt của các em còn nhiều hạn chế,
nói còn ngọng dẫn đến viết còn sai.
Một bộ phận không nhỏ chưa được qua lớp mẫu giáo.
Địa bàn dân cư rộng đời sống kinh tế địa phương còn nhiều khó khăn.
Gia đình chưa quan tâm đến học sinh.
Cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn.
Chương trình học quá nặng, học sinh phải học nhiều phân môn nên ít
thời gian quan tâm tới chữ viết.
2. Đối với giáo viên:
Một số giáo viên còn coi nhẹ việc rèn chữ viết mà chỉ tập trung vào dạy
kiến thức ( Đọc, làm tính ).
Thiếu tính kiên trì, tính tự tin vào khả năng của mình. Nhiều giáo viên
đã trải qua một thời kỳ dài về chữ cải cách đã làm mai một kiểu chữ truyền
thống.
Chỉ nhắc nhở hô hào chung chung mà chưa có biện pháp rèn cụ thể.
Việc chấm chữa bài đôi khi chỉ qua loa, lấy lệ mà nặng về kiến thức.
3. Thực trạng đối với học sinh khối 5:
Từ thực tế chung của nhà trường học sinh khối 5 cũng nằm trong tình trạng đó
cụ thể các em còn tồn tại các lỗi như sau:
Viết lẫn giữa các con chữ do phát âm còn ngọng ( l / đ ; v / b ; s / x ; ch / tr...)
Viết sai độ cao các con chữ ( l ; đ ; h ; g ; t... ).
Khoảng cách giữa các con chữ chưa đều nhau.
Viết sai hoặc bỏ dấu thanh.
Viết sai các chữ hoa.
Chưa biết cách trình bày một văn bản.
Tất cả các lỗi trên tập hợp trong đa số văn bản tạo nên " Thư pháp " đa
chiều, ngồ ngộ (!) có phải là chữ viết của dân tộc mình không?

II. Các biện pháp thực hiện đề tài:
1. Bố trí đội ngũ giáo viên.
Ngay sau khi kết thúc năm học 2007 - 2008 BGH đã lên kế hoạch bố trí
giáo viên cho năm học 2008 - 2009 đặc biệt ưu tiên cho khối 1 và khối 5.
Riêng khối 5 bố trí 3 giáo viên có trình độ chuyên môn, chữ viết đẹp, có thành
tích nhất định trong các kỳ thi giáo viên dạy giỏi và thi vở sạch chữ đẹp vòng
trường, vòng huyện.
Phát âm chuẩn, có kinh nghiệm trong giảng dạy, có tinh thần trách
nhiệm cao trong công việc. Luôn là tấm gương sáng để học sinh noi theo.
Cụ thể là: Một đồng chí có trình độ Đại học
Hai đồng chí có trình độ Cao đẳng.
Hai giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp huyện.
Ba giáo viên đạt giáo viên viết chữ đẹp vòng huyện, vòng
trường.
2. Bố trí sắp xếp lớp:
Tôi cho rằng việc bố trí sắp xếp lớp cũng ảnh hưởng rất nhiều đến việc
nâng cao chất lượng, vì lẽ đó tôi chú trọng bố trí lớp theo địa bàn dân cư để
các em có điều kiện thuận lợi giúp đỡ nhau trong học tập đồng thời giúp giáo
viên có điều kiện thuận lợi đi thăm gia đình học sinh.
Thực tế bố trí như sau:
S
T
T
Lớp
TS
học
sinh
Nữ
Dân
tộc

Nơi ở Địa điểm mở
1 5A
1
18 11 18 Bản Lạ, Có, Co Hón Trung Tâm
2 5A
2
17 8 17 Bản Lói, Ngúa, Thẩm Pao Trung Tâm
3 5A
3
11 8 11 Bản Hua Ca Hua Ca
3. Khảo sát chất lượng đầu năm:
Vào đầu năm học được một tuần tôi chỉ đạo các lớp khối 5 tiến hành
khảo sát chất lượng trong đó chú trọng đến khâu viết chữ đẹp. Và tiến hành
cùng giáo viên phân tích các nguyên nhân, các lỗi sai để tìm ra hướng khắc
phục.
Kết quả khảo sát như sau:
TS
HS
Chữ viết đẹp Chữ viết khá Chữ viết TB Chữ viết còn Yếu
46 4 = 8,7% 8 = 17,4% 14 = 30,4% 20 = 43,5%
Phân tích các lỗi học sinh thường mắc có các lỗi chính sau:
- Viết lẫn giữa các con chữ: l / đ ; v ; b ; s / x; ch / tr... ( chiếm 90%
TSHS ).
- Độ cao các con chữ: l ; đ ; h ; g ; y ; đ ; t ... chưa đúng. (chiếm
65%TSHS)
- Nét khuyết của các con chữ: l ; h ; g chưa đều, chưa đẹp.( Chiếm 90%
TSHS ).
- Khoảng cách giữa các con chữ chưa đều nhau ( chiếm 98% TSHS )
- Chữ cái viết hoa chưa đúng mẫu chữ. ( chiếm 96% TSHS ).
- Viết sai hoặc bỏ dấu thanh ( HS ở lớp 5A

3
) 100% mắc lỗi.
- Chưa biết cách trình bày văn bản. (chiếm 100% TSHS ).
4. Một số biện pháp thực hiện
a/ Đối với BGH:
Quán triệt và xác định rõ tầm quan trọng của việc viết chữ đẹp trong
nhà trường.
Mở chuyên đề về luyện viết chữ đẹp cho giáo viên.
Khuyến khích động viên những giáo viên viết chữ đẹp.
Tăng cường công tác thanh kiểm tra, thường xuyên theo dõi sự tiến bộ
của các lớp có định hướng kịp thời.
b/ Đối với GV giảng dạy:
Luôn có ý thức trau dồi, rèn luyện chữ viết của mình cho đúng, cho đẹp,
viết và trình bày ở bảng lớp để học sinh noi theo.
Luôn áp dụng những biện pháp hướng dẫn cụ thể, dễ hiểu, luôn gần gũi
học sinh.
Yêu cầu 100% học sinh viết trên vở ô li 5 dòng kẻ, viết bằng bút mực.
Kiên trì bền bỉ từng ngày, nhẹ nhàng không nóng vội.
Kết hợp đồng thời nhiều biện pháp. Chú ý ở biện pháp nêu gương ( dù là nhỏ
nhất ). Để động viên khuyến khích tạo niềm tin, sự hứng thú cho học sinh.
Việc chấm chữa bài phải thường xuyên và đặc biệt chú ý nhiều ở các lỗi
học sinh thường mắc.
Rèn viết chữ đẹp nhưng phải đảm bảo đúng tốc độ chữ viết theo thời gian quy
định.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×