Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (344.1 KB, 75 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
PGS - TS Lã Nhâm Thìn từng nhận xét: “Thơ Nơm Đường luật là một
<i>trong những thể loại độc đáo và đạt được nhiều thành tựu lớn bậc nhất của</i>
<i>văn học Việt Nam. Có nhiều tác giả, cũng có rất nhiều những đỉnh cao giá trị</i>
<i>văn học thuộc về thơ Nôm Đường luật” [27, 5].</i>
Quả thật, thơ Nôm Đường luật là một thể loại “có một khơng hai”, nó
dường như ln có ma lực hấp dẫn khiến khơng ít những người tâm huyết với
nó đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu nhằm tìm ra ngọn nguồn của sức hấp dẫn ấy.
Và chúng tôi cũng không phải là một ngoại lệ.
Với tư cách là giáo viên dạy văn, trong chương trình SGK Ngữ Văn
Phổ thơng, thơ Đường luật cũng như thơ Nơm Đường luật chiếm một vị trí
đặc biệt, có nhiều tác giả, nhiều tác phẩm được dùng giảng dạy trong nhà
trường. Do vậy, <i><b>Tìm hiểu sự tiếp thu, Việt hoá và sáng </b><b>tạo thể thơ Đường</b></i>
<i><b>luật từ đặc trưng thể loại (Khảo sát qua Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi</b></i>
<i>và Thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương) nhằm góp phần phục vụ đắc lực</i>
trong thực tế giảng dạy ở trường Phổ thông.
<b>2. Lịch sử vấn đề</b>
Thơ Nôm Đường luật là một trong những đỉnh cao của văn học trung
đại Việt Nam. Bởi vậy, nghiên cứu về thơ Nôm Đường luật là một niềm đam
mê, hứng thú của rất nhiều nhà nghiên cứu văn học. Qua khảo sát, chúng tơi
nhận thấy có khơng ít ý kiến đề cập đến vấn đề tiếp thu, Việt hóa và sáng tạo
thể thơ Đường luật trong thơ Nôm của dân tộc.
GS Nguyễn Huệ Chi trong Thơ văn Lý - Trần nhận xét: “Áp dụng thể
<i>thơ Đường vào thơ Nơm thì nhà nho nào cũng thành thạo, và có lẽ ngay từ</i>
đưa ra đều xuất phát nghiên cứu từ quá trình sáng tạo của cha ơng ta trên
phương diện nghệ thuật mà chưa đề cập sâu sắc khía cạnh sáng tạo về mặt nội
dung. Điển hình:
Trương Chính trong bài viết Cha ông ta đã vận dụng các thể loại văn
<i><b>học Trung Quốc như thế nào vào thơ Nôm</b></i> nhận định: “Cha ông ta khi
<i>chuyển sang sáng tác bằng chữ Nơm, đồng thời cũng muốn cởi xiềng xích ra,</i>
<i>bắt đầu từ Nguyễn Thuyên...Nếu Hàn luật là thứ thơ Nôm ta thấy thịnh hành</i>
<i>ở thế kỉ XV, từ Nguyễn Trãi cho đến đời Hồng Đức thì nó khơng phải hồn</i>
<i>tồn là thơ luật Đường” [3, 3]. Và ông khẳng định: “Trung Quốc khơng hề có</i>
<i>thể nào như thế”. Tuy nhiên, tác giả chưa có những minh chứng cụ thể, nhằm</i>
làm sáng tỏ nét sáng tạo đó.
Trong bài viết Thử tìm hiểu những điều kiện hình thành hai thể thơ
<i><b>lục bát và song thất lục bát, Phan Diễm Phương trong khi đối sánh hai yếu tố</b></i>
vần và nhịp giữa hai thể lục bát, song thất lục bát với thơ Đường luật Trung
Quốc đã khẳng định: “Người Việt đã sử dụng vần chân kết hợp với vần lưng”
và về vần: “Người Việt tỏ ra ưa thích để nhịp lẻ trước, chẵn sau. Trong khi đó
<i>thơ Trung Quốc chỉ có duy nhất một vần chân, ngắt nhịp ai ai cũng nhận thấy</i>
<i>rằng nhịp thơ ở thơ bảy chữ và năm chữ trong thơ Đường Trung Quốc là</i>
<i>chẵn trước, lẻ sau” [15, 36].</i>
Việc so sánh về vần và nhịp từ hai thể loại thơ trên của Việt Nam với
thơ Đường góp phần lí giải hiện tượng ngắt nhịp lẻ 3/4 trong thơ Nôm của
dân tộc. Là sự sáng tạo độc đáo của các nhà nho trung đại trong quá trình tiếp
thu luật thơ Đường về vần và nhịp.
<i>luật Trung Quốc, từ chữ thứ 3, thứ 5 của câu 1 và từ chữ thứ 3 của câu 4</i>
<i>thuộc diện được lựa chọn tự do (B hoặc T). Ở thơ Nôm thất ngôn Đường luật</i>
<i>của ta các từ đó phải được thực hiện một quy định cứng, lần lượt là B, T và</i>
<i>B” [30, 21]. Từ đó, tác giả khẳng định: “Đối với một luật thơ cô đọng mà đặc</i>
<i>điểm chủ yếu thể hiện ở cấu trúc thanh điệu B - T theo vị trí đặc điểm của</i>
<i>từng từ, từ nọ ảnh hưởng đến từ kia như luật Đường thì việc quy định đối với</i>
<i>ba vị trí trên đây đủ để hình thành sắc thái riêng cho các sáng tác thơ Nôm</i>
<i>thất ngôn của Việt Nam” [30, 21].</i>
Như vậy, từ Trương Chính, Phan Diễm Phương, Ngô Đức Thọ...đã phần
nào đề cập và làm sáng tỏ quá trình tiếp thu và sáng tạo luật thi Đường trên các
phương diện hình thức câu thơ (hiện tượng câu thất ngôn xen lục ngôn, thanh luật,
cách ngắt nhịp,...) trong thơ Nơm Đường luật với mong mỏi tìm ra nét khu biệt
giữa thơ Đường luật Trung Quốc với thơ Nôm Đường luật của dân tộc.
Đặc biệt, trong cuốn chuyên luận Thơ Nơm Đường luật, Lã Nhâm Thìn
đã nhìn nhận, nghiên cứu về những điều kiện cho sự hình thành và phát triển
của thơ Nôm Đường luật; Khái quát quá trình phát triển của thơ Nơm Đường
luật trong lịch sử văn học Việt Nam. Đồng thời, tác giả cũng đề cập đến hệ
thống chủ đề, đề tài, ngôn ngữ…Tuy vậy, những vấn đề đó chỉ được PGS - TS
Lã Nhâm Thìn tìm hiểu một cách chung nhất mà chưa đưa ra những biểu hiện
cụ thể, chi tiết. Ông cũng chưa đề cập sâu sắc những yếu tố trong đặc trưng thể
loại thơ Đường luật có ảnh hưởng trực tiếp việc sáng tạo thơ Nôm Đường luật,
đặc biệt là của tác giả Nguyễn Trãi và nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương.
dung của hai tác giả trên, để từ đó có cái nhìn đúng đắn nhất về việc sáng tạo
thơ Nôm Đường luật của cha ông ta trên cơ sở căn cội ảnh hưởng từ luật thơ
Đường Trung Quốc. Qua đó cũng thấy được vai trị và vị trí của Nguyễn Trãi
và Hồ Xuân Hương trong tiến trình dân tộc hoá, dân chủ hoá nền văn học
trung đại Việt Nam.
<b>3. Mục đích nghiên cứu</b>
Trên cơ sở vận dụng các phương pháp, đề tài: Tìm hiểu sự tiếp thu,
<i><b>Việt hố và sáng tạo thể thơ Đường luật từ đặc trưng thể loại (Khảo sát qua</b></i>
<i><b>Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và Thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương)</b></i>
hướng đến các mục đích sau:
- Góp phần tìm hiểu, phát hiện quá trình tiếp thu và sáng tạo thể thơ
Đường luật từ đặc trưng thể loại qua tác giả Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương.
Từ đó thấy được sự tiếp nhận có chọn lọc và sự sáng tạo của hai tác giả, thấy
được nét độc đáo trong phong cách của Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương. Qua
đó cũng hiểu sâu sắc thêm đặc trưng của thể loại thơ Nôm Đường luật - một
thể loại có nguồn gốc nước ngồi.
- Góp phần phục vụ cho việc nghiên cứu và công việc giảng dạy những
bài thơ Nơm Đường luật trong chương trình Phổ thông.
<b>4. Nhiệm vụ nghiên cứu</b>
Thực hiện đề tài: Tìm hiểu sự tiếp thu, Việt hố và sáng tạo thể
<i><b>thơ Đường luật từ đặc trưng thể loại </b></i>(khảo sát qua <i><b>Quốc âm thi tập của</b></i>
<i>Nguyễn Trãi và Thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương</i>), chúng tôi chủ yếu
tìm hiểu sự tiếp thu, Việt hoá và sáng tạo thể thơ Đường luật trên hai
<b>Đối tượng nghiên cứu là: Thơ Đường luật, Thơ Nôm Đường luật, các</b>
sáng tác thơ Nôm của Nguyễn Trãi và thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương.
<b>Phạm vi nghiên cứu: Khoá luận tập trung nghiên cứu Sự tiếp thu, Việt</b>
<i><b>hoá và sáng tạo thể thơ Đường luật từ đặc trưng thể loại. Cụ thể: Tìm hiểu quá</b></i>
trình tiếp thu, Việt hoá và sáng tạo về mặt nội dung và hình thức qua Quốc âm thi
<i><b>tập của Nguyễn Trãi và Thơ Nơm truyền tụng của Hồ Xn Hương.</b></i>
Ngồi ra, chúng tơi cịn liên hệ với các tác phẩm thơ Nôm Đường luật
khác trong văn học trung đại để thấy được sự đóng góp của hai tác giả trên
đối với nền văn học dân tộc.
<b>6. Phương pháp nghiên cứu</b>
Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp phân tích
Phương pháp so sánh
Tuy vậy, trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp này sẽ được vận
dụng một cách linh hoạt nhằm làm sáng tỏ và tăng thêm sức thuyết phục.
<b>7. Đóng góp của khố luận</b>
Đề tài Tìm hiểu sự tiếp thu, Việt hoá và sáng tạo thể thơ Đường luật
<i><b>từ đặc trưng thể loại (khảo sát qua Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và thơ</b></i>
<b> 8. Bố cục của khố luận</b>
Ngồi các phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khoá luận được
chia làm hai chương với những nội dung:
Chương 1: Giới thuyết về thơ Đường và thơ Nôm Đường luật.
Chương 2: Sự tiếp thu, Việt hoá và sáng tạo thể thơ Đường luật qua
sáng tác của Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương.
<b> CHƯƠNG 1 </b>
<b>GIỚI THUYẾT VỀ THƠ ĐƯỜNG VÀ THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT</b>
<b>1.1. Giới thuyết về thơ Đường luật</b>
<i><b>1.1.1. Khái niệm thơ Đường luật</b></i>
Thơ Đường là một khái niệm bao hàm những bài thơ được sáng tác vào
thời nhà Đường - Trung Quốc. Hầu hết những bài thơ được sáng tác vào giai
đoạn này đều tuân thủ một hình thức luật thi chặt chẽ nên gọi là thơ Đường
luật. Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Thơ Đường luật, còn gọi là
<i>thơ cận thể (để phân biệt với thơ cổ thể được sáng tác vào giai đoạn trước</i>
<i>đó), bao gồm thể thơ cách luật ngũ ngôn hoặc thất ngôn được đặt ra từ thời</i>
<i>Đường ở Trung Quốc” [22, 313].</i>
Thơ Đường luật có ba dạng chính: Thơ bát cú (mỗi bài tám câu), thơ
tuyệt cú (mỗi bài bốn câu), thơ bài luật (dạng kéo dài của thơ Đường luật).
Các dạng của thơ Đường luật phải tuân thủ nghiêm ngặt về bố cục, luật B - T,
đối, gieo vần…
<i><b>1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển</b></i>
Trong lịch sử văn học Trung Hoa, thơ Đường luật là một trong những
thành tựu nổi bật. Ra đời trong thời kì hồng kim của chế độ phong kiến, thơ
Đường luật được ví như là “vườn hoa rộng lớn ngạt ngào hương sắc” với
hàng vạn bài thơ Đường và hàng nghìn tác giả. Theo các nhà nghiên cứu, có
khoảng năm vạn bài thơ của hai nghìn ba trăm tác giả, trong đó có nhiều thi
phẩm Đường luật tiêu biểu, là “biểu tượng huy hoàng, đỉnh cao của ngôn ngữ
<i>văn minh nhân loại” [31, 35].</i>
<i>Thứ nhất, nhà Đường tồn tại ba thế kỷ, từ năm 618 đến năm 907. Lý</i>
Uyên (hiệu là Cao Tổ) sau khi lên ngôi (năm 618) đã thi hành nhiều chính
sách cải cách tiến bộ về kinh tế, chính trị. Nhờ sự phồn thịnh về kinh tế và ổn
định về chính trị đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng một nền văn
hoá phong phú, đặc sắc, đa dạng, nhiều mặt, trong đó có thơ ca.
<i>Thứ hai, thơ Đường luật là sự tiếp nối truyền thống thơ ca lâu đời của</i>
Trung Quốc, từ Kinh Thi, Sở từ của Khuất Nguyên đến thơ thời Ngụy - Tấn,
Nam - Bắc triều, dân ca nhạc phủ các triều đại. Chính thành tựu thơ ca có từ
giai đoạn trước là điều kiện thuận lợi để thơ Đường có thể tiếp thu, kế thừa và
sáng tạo nhằm để ra một thành tựu thơ ca rực rỡ với lượng tác phẩm đồ sộ mà
mẫu mực.
<i>Thứ ba, thơ Đường luật phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng vì nó cịn</i>
xuất phát từ chính sách thi cử, tuyển chọn hiền tài bằng thơ, phú của nhà Đường.
Trong thực tế phát triển về thi pháp của thể thơ Đường luật, các nhà thơ
đời Đường đã xây dựng nên một luật thi hết sức chặt chẽ, nghiêm ngặt: “Họ
<i>đã đặt ra các quy tắc, các khuôn mẫu từ tứ thơ, kết cấu, bố cục...cho đến niêm,</i>
<i>luật, thanh điệu, đối, vần...khiến người đời sau có cảm giác như đời Đường đã</i>
<i>sản sinh ra một thứ như là dây chuyền công nghệ sản xuất thơ, ép theo những</i>
<i>khuôn mẫu đúc sẵn” [27, 40].</i>
Những nhân tố kể trên chính là nguyên nhân dẫn đến sự hình thành và
phát triển của thơ Đường luật.
cứu đều thống nhất chia ba trăm năm phát triển của thơ Đường luật thành bốn
giai đoạn: Sơ Đường; Thịnh Đường; Trung Đường; Vãn Đường.
<i><b>Giai đoạn Sơ Đường (618 - 713). Đây là giai đoạn đầu cho sự hình</b></i>
thành thơ Đường luật và là giai đoạn chuẩn bị mọi mặt cho sự phát triển thơ ở
đời sau (chuẩn bị về thể thơ, đề tài, chủ đề...). Đồng thời cũng đã tạo nên sự
bứt phá về phong cách sáng tạo với những nhà thơ tiêu biểu cho giai đoạn này
như: Vương Tích, Vương Quýnh, Vương Bột, Trần Tử Ngang...
<i><b>Giai đoạn Thịnh Đường (713 - 766). Đây là thời kỳ phát triển đầy đủ</b></i>
nhất, “giàu có về số lượng, sung mãn về chất lượng” với sự xuất hiện của một
lực lượng đông đảo tác giả, đại diện cho các phong trào sáng tác thơ Đường
luật. Điển hình: Lý Bạch (tiêu biểu cho phong cách lãng mạn), Đỗ Phủ (tiêu
biểu cho phong cách thơ hiện thực), Cao Vương Duy và Mạnh Hạo Nhiên
(tiêu biểu cho phái điền viên sơn thuỷ)...Đặc biệt “luật thi” Đường đến giai
đoạn này đã hoàn hiện và đi vào ổn định, đã để lại nhiều thi phẩm có giá trị to
<i><b>Giai đoạn Trung Đường (766 - 835). Là giai đoạn xã hội phong kiến</b></i>
nhà Đường rơi vào suy thoái về kinh tế, chính trị và nó là điều kiện tốt để cho
trường phái thơ hiện thực Đường luật phát triển mạnh mẽ với sự xuất hiện của
hàng nghìn nhà thơ, trong đó có nhiều nhà thơ tài năng như: Nguyên Kết,
Trương Tịch, Vương Kiến...Đặc biệt, sự xuất hiện của phong trào Tân Nhạc
phủ do Nguyên Chẩn và Bạch Cư Dị khởi xướng đã khẳng định được tài năng
cũng như thành tựu của các nhà thơ thuộc phong trào sáng tác thơ hiện thực
Đường luật giai đoạn này.
là sự xuất hiện của hai nữ sĩ Đỗ Thu Nương và Trần Ngọc Lan, họ đều viết về
đề tài tình cảm đơi lứa, tình cảm vợ chồng thuỷ chung - một đề tài khá mới
mẻ của thơ Đường luật so với những giai đoạn trước.
Tóm lại, thơ Đường có ba thế kỉ hình thành và phát triển nhưng nó đã
được âm thầm thai nghén trong lịch sử văn học Trung Quốc từ hàng nghìn
năm trước đó. Những điều kiện thuận lợi về chủ quan và khách quan trong
thơ đã tạo nên sự phát triển rực rỡ, “nở rộ nhiều hương sắc mà mẫu mực của
<i>thơ Đường luật” [31, 35].</i>
<i><b>1.1.3. Đặc trưng thể loại thơ Đường luật</b></i>
Lí luận văn học đã chỉ ra thể loại như là hình thức chỉnh thể của tác
phẩm văn học. Với nghĩa như vậy, thể loại văn học là: “Dạng thức của tác
<i>phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình</i>
<i>phát triển lịch sử của văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức</i>
<i>tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả về tính</i>
<i>chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống” [20, 299].</i>
Trong quá trình thai nghén và sáng tạo văn học, mỗi nhà văn đều lựa
Nội dung thơ Đường luật vô cùng phong phú và đa dạng, khái quát nội
dung của gần năm vạn bài thơ Đường là một vấn đề không đơn giản. Song về cơ
bản, có một số nội dung chủ yếu, được đề cập nhiều trong thơ Đường. Đó là:
<i>Bức tranh toàn diện về hiện thực đời sống của mọi tầng lớp xã hội đời</i>
<i>Đường, tiêu biểu cho việc phản ánh nội dung này có các nhà thơ thuộc trường</i>
phái hiện thực mà Đỗ Phủ là đại diện xuất sắc. Không hề tô vẽ hay sơn màu
mà các tác giả thơ Đường đã mang yếu tố nguyên sơ của hiện thực cuộc sống
vào trong thơ. Từ cuộc sống vương giả của bọn tầng lớp trên trong xã hội
phong kiến đến cuộc sống của người dân lao động nghèo, rồi từ nạn quan
tham, thuế khoá, binh dịch đến chiến tranh loạn li...Có thể nói ở nội dung này,
các nhà thơ Đường đã miêu tả khá toàn diện, chân thực, nhiều mặt, nhiều vẻ
của hiện thực xã hội phong kiến nhà Đường.
<i>Thơ Đường luật bộc lộ lòng đồng cảm sâu sắc với số phận bi thảm của</i>
<i>nhân dân, khát vọng về một cuộc sống yên bình, hạnh phúc là nội dung chiếm</i>
số lượng lớn trong các sáng tác của các thi sĩ đời Đường. Số phận của người
chinh phu, cô phụ, cung nữ, tiều phu, nông dân...đều trở thành đối tượng để
<i>bật, xuyên suốt toàn bộ tác phẩm của các thi sĩ đời Đường. Do quan niệm</i>
“thơ khởi phát từ tấm lòng” và cũng do tính ước lệ về khơng gian, thời gian,
do ảnh hưởng của các học thuyết về vũ trụ, con người...của Nho giáo nên
trong sáng tác, các tác giả đã bộc lộ tâm trạng, quan niệm về sự sống, cái chết,
về cái vô cùng - hữu hạn của vũ trụ cũng như cuộc đời con người...một cách
sâu sắc và được nâng lên thành triết lí của các nho sĩ. Tiêu biểu cho nội dung
này có thể kể đến một số thi phẩm: Thu phố ca - Lý Bạch, Đăng U Châu đài
<i>ca - Trần Tử Ngang, Ẩm tửu khán mẫu đơn - Lưu Vũ Tích...Nhìn chung ở nội</i>
dung này, với những tư tưởng cao siêu cùng việc diễn đạt ngắn gọn, súc tích
nên khơng phải bất cứ người đọc nào cũng có thể tiếp nhận nội dung một cách
chính xác.
Đặc biệt ở nội dung viết về những tình cảm đa dạng của con người, qua
tìm hiểu chúng tơi nhận thấy hầu hết các thi sĩ đời Đường đều có những bài thơ
viết về “tình cố hương”, “tình bằng hữu” và “tình cảm đôi lứa”...Tiêu biểu: Tĩnh
<i>dạ tư (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh) - Lý Bạch, Xuân dạ Lạc Thành văn địch</i>
(Đêm xuân ở Lạc Thành nghe tiếng sáo) - Lý Bạch, Hồng Hạc lâu (lầu Hồng
Hạc) của Thơi Hiệu, Hồng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng
(Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng) - Lý Bạch...
Một nội dung cũng không kém phần quan trọng trong thơ Đường là
<i>niềm say mê vẻ đẹp của thiên nhiên tạo vật, những thú vui sơn thuỷ, điền viên,</i>
<i>nỗi đam mê cảnh sống ẩn dật lánh đục giữ trong của các thi sĩ đời Đường.</i>
Thiên nhiên tạo vật đã trở thành một đề tài quen thuộc, trở thành đối tượng
thẩm mĩ của các thi sĩ xưa và nay. Và đề tài này cũng khơng nằm ngồi nội
dung phản ánh của các thi sĩ đời Đường. Chính Phan Ngọc cũng từng nhận
xét: Thiên nhiên là cái nền của thơ Đường…
Khía cạnh thứ nhất: Những bức tranh phong cảnh thiên nhiên tráng lệ kì
<i>vĩ hay bình dị, mộc mạc nên thơ. Tiêu biểu cho mảng thiên nhiên này có: Xa</i>
<i>ngắm thác núi Lư - Lý Bạch, Tuyệt cú - Đỗ Phủ, Lên lầu Quán Tước - Vương</i>
Chi Hoán), Tuyết trên sông - Liễu Tông Nguyên, Khe chim kêu - Vương Duy...
“Khởi hứng từ thiên nhiên, tìm kiếm mối tương giao hoà hợp giữa con
<i>người với thiên nhiên, gắn bó với nội dung sinh hoạt bình dị của con người</i>
<i>hoặc nâng lên thành thú điền viên, thảnh thơi nhàn tản mà thưởng thức” [31,</i>
78] là khía cạnh thứ hai trong nội dung thơ tả cảnh thiên nhiên. Do sự quy
định về hình thức nghệ thuật của thơ Đường cũng như đặc điểm của thơ ca cơ
đọng, lời ít ý sâu nên “tả cảnh ngụ tình”, mượn hình ảnh thiên nhiên để bộc lộ
tâm trạng, cảm xúc là một trong những phương diện biểu hiện mà các thi sĩ
thơ Đường rất hay sử dụng. Tiêu biểu cho khía cạnh này có các tác phẩm:
<i>Độc toạ Kính Đình sơn (Ngồi một mình với núi Kính Đình) - Lý Bạch,</i>
<i>Hồng Hạc lâu (Lầu Hồng Hạc) Thơi Hiệu, Thu hứng (Cảm xúc mùa thu) </i>
-Đỗ Phủ...
Khía cạnh thứ ba: Các thi nhân chỉ sử dụng thiên nhiên như “chất xúc
tác” để phản ánh hiện thực đời sống xã hội phong kiến nhà Đường. Điển hình
có: Kh ốn - Vương Xương Linh, Xuân vọng - Đỗ Phủ, Xuân tứ - Lý Bạch...
Với hệ thống nội dung trên chứng tỏ cho chúng ta thấy thơ Đường có
Trong lịch sử thơ ca, thơ Đường luật có lẽ là một thể loại đặc biệt vì là
một thể thơ được sáng tạo chịu sự quy định chặt chẽ của “luật thi”. Về mặt
hình thức nghệ thuật, “Luật thi là tồn bộ những quy tắc tổ chức ngôn từ
<i>trong sáng tạo thơ như phân dòng, số tiếng, ngắt nhịp, gieo vần bằng trắc”</i>
[22, 198]. Trong thơ Đường, “luật thi là thuật ngữ dùng để chỉ thơ bát cú đời
<i>Đường gồm “ngũ ngôn bát cú luật thi” (ngũ luật) và “thất ngôn bát cú luật</i>
<i>thi” (thất luật) [7, 195]; “Luật thi là thể thơ phù hợp với việc thể hiện tâm</i>
<i>tình của con người vũ trụ - con người có nhu cầu thấy mình thống nhất với</i>
<i>ngoại giới, trong tâm hồn có sự hồ điệu như sự hoà điệu của thế giới</i>” [7,
209].
Đây là một thể thơ có quy định chặt chẽ về: Vần, luật, niêm, đối, kết
cấu bố cục...
Cụ thể:
Nếu thơ cổ thể cho phép thay đổi vần thì thơ Đường luật (thơ cận thể)
chỉ cho phép dùng một vần (độc vận) và đại đa số là gieo vần bằng, rất ít khi
gieo vần trắc (trong khi đó thơ cổ thể lại chủ yếu gieo vần T). Đây là một đặc
điểm cơ bản để phân biệt giữa thơ cổ thể và thơ cận thể.
Vần trong thơ Đường luật được tính từ chữ cuối câu 1 và chữ cuối mọi
câu thơ chẵn (tức là các câu 1, câu 2, câu 4, câu 6, câu 8 trong bài thơ thất
ngôn bát cú; Trong bài thơ thất ngôn tứ tuyệt thường gieo vần ở các chữ cuối
câu 1, câu 2, câu 4).
Ví dụ:
<b> Thu Hứng (Cảm xúc mùa thu)</b>
Ngọc lộ điêu thương phong phụ lâm (B)
Vu Sơn, Vu Giáp khí tiêu sâm (B)
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng
Cô chu nhất hệ cố viên tâm (B)
Hàn y xứ xứ thơi đao xích
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm. (B)
<i>(Đỗ Phủ)</i>
Đây là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật đảm bảo về vần Bằng ở thứ
tự cuối các câu 1 (lâm), câu 2 (sâm), câu 4 (âm), câu 6 (tâm), câu 8 (châm).
Về thanh âm chỉ có hai thanh B - T. Sự lặp lại của hai thanh này tạo ra
cảm giác đơn điệu, buồn tẻ và nhàm chán. Để khắc phục tình trạng này, người
ta đặt ra quy định về luật. Luật thơ cốt chỉ để tạo ra sự hài hoà cho một thanh
B - T trong một câu thơ. Luật thơ được tính từ chữ thứ 2 của câu thơ thứ nhất.
Nếu nó mang thanh nào thì bài thơ được quy định làm theo luật đó.
Trong thơ thất ngơn (7 tiếng), chữ thứ 2 và chữ thứ 6 trong câu thơ thứ
nhất phải luôn cùng thanh với nhau, chữ thứ 4 phải ngược thanh so với hai vị
“Nhất, tam, ngũ bất luận” (chữ thứ 1, 3, 5 không cần theo luật)
“Nhị, tứ, lục phân minh” (chữ thứ 2, 4, 6 phải rõ ràng).
Ví dụ:
Trở lại bài thơ Thu hứng, chúng ta thấy bài thơ được làm theo luật T,
căn cứ vào chữ thứ 2, dòng thứ nhất:
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm...
<b> T B T</b>
Chữ thứ 2 “ lộ” làm theo thanh T và cùng thanh với chữ thứ 6 “thụ”,
đồng thời chữ thứ 4 “thương” ngược thanh với chữ ở vị trí thứ 2 và thứ 6. Như
vậy có thể khẳng định bài thơ Thu hứng của Đỗ Phủ đã đảm bảo về “luật”.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Niêm - nghĩa đen là dính. Chỉ
<i>quan hệ âm luật giữa 2 liên (cặp câu) trong một bài thơ Đường luật</i>” [22,
239].
Trong một bài bát cú sẽ có 4 niêm: Câu 2 và câu 3 (nhị - tam); câu 4 và
câu 5 (tứ - ngũ); câu 6 và câu 7 (lục - thất ); câu 8 và câu 1 (bát - nhất). Để
cho 2 liên (câu 1+ câu 2, câu 3 + câu 4; câu 5 + câu 6, câu 7 + câu 8) dính vào
phải “niêm” giữa liên trên và liên dưới. Muốn vậy, chữ thứ 2 của câu chẵn
thuộc liên trên phải cùng thanh với chữ thứ 2 của câu lẻ thuộc liên dưới.
Không làm được như vậy thì bị coi là “thất niêm” (mất sự dính liền).
Ví dụ:
Bài Hoàng Hạc lâu (Lầu Hồng Hạc)
Tích nhân dĩ thừa Hồng Hạc khứ (B)
Thử địa khơng dư Hồng Hạc lâu (T)
Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản (T)
Bạch vân thiên tải không du du (B)
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ (B)
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu (T)
Nhật mộ hương quan hà xứ thị (T)
Yên ba giang thượng thử nhân sầu. (T)
<i>(Thôi Hiệu)</i>
Trong quan niệm Mĩ học của phương Đông, cái đẹp là sự hài hòa, cân
đối. Quy định về “đối” trong thơ Đường luật cũng nhằm góp phần tạo ra vẻ
đẹp hài hịa cho hình thức của bài thơ.
“Đối” chỉ là yêu cầu bắt buộc đối với dạng bát cú trong thơ Đường. <b>Từ</b>
<b>điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Đối (còn gọi là đối ngẫu) là một dạng</b>
<i>của kết cấu song hành, kiểu kết cấu có mặt trong văn chương của tất cả các</i>
<i>dân tộc trên thế giới...Quan niệm về vũ trụ và cái đẹp, ngôn ngữ đơn âm tiết,</i>
<i>giầu thanh điệu và đặc thù của thơ Trung Hoa (các dòng trong một bài</i>
<i>thường có số lượng âm tiết bằng nhau) là cơ sở khách quan đầu tiên tạo nên</i>
<i>sự hình thành của phép đối và luật đối riêng biệt trong văn chương cổ điển</i>
<i>của quốc gia này” [22, 123].</i>
Về luật đối, liên 2 và liên 3 buộc phải có đối. Tức câu 4 đối với câu 3;
câu 6 phải đối với câu 5. Đối yêu cầu phải đảm bảo về thanh (B với T; T với
B), đối về từ loại (từ loại nào đối với từ loại đó), đối về ý nghĩa...Tuy nhiên
trong thực tế, nhiều nhà thơ đã tìm cách phá luật về đối, mục đích là để nhằm
Về tiết tấu (cách ngắt nhịp), người Trung Quốc cổ quan niệm trái đất là
do âm - dương ngũ hành kết hợp mà thành. Do vậy âm - dương phải liên kết
với nhau để tạo ra sự hài hoà, cân đối giữa trời đất và con người. Người Trung
Quốc cổ xưa cũng quan niệm: Số chẵn là số âm, số lẻ là số dương. Có lẽ vì
vậy mà theo quy luật trời đất, cách ngắt nhịp trong thơ Đường cũng bắt đầu từ
chẵn trước - lẻ sau (âm trước - dương sau). Cụ thể, trong thể thất ngôn bát cú
là 4/3 hoặc 2/2/3; thể ngũ ngôn thường là 2/3. Nhìn chung, cách ngắt nhịp
trong thơ Đường thường khá đơn điệu.
Ví dụ:
- Cố nhân tây từ / Hoàng Hạc lâu,
- Kim dạ / Phu Châu nguyệt
Khuê trung / chỉ độc khan
Dao lân / tiểu nhi nữ
Vị giải / ức Trường An...
<i>(Nguyệt dạ - Đỗ Phủ)</i>
Về kết cấu, bố cục trong thơ Đường luật. Một bài thơ thất ngôn bát cú
Đường luật thường có kết cấu chặt chẽ 4 phần: Đề, thực, luận, kết.
Đề: Bao gồm phá đề (câu 1) và thừa đề (câu 2) nối câu phá đề mà vào
bài.
Thực (phô bày sự thật, giải thích đầu bài): Gồm câu 3 và câu 4
Luận (bàn bạc cho rộng nghĩa đầu bài) : Gồm câu 5 và câu 6
Với một bài tứ tuyệt, gồm: Khai, thừa, chuyển, hợp. Câu 1 là mở đề,
câu 2 là thừa đề, câu 3 là câu chuyển và câu 4 là câu kết thúc.
Sau đây ta có mơ hình của bài thơ thất ngơn bát cú luật Bằng (với bài
thơ thất ngôn bát cú luật Trắc thì các thanh ở các tiếng 2, 4, 6 (bắt buộc) phải
là T - B - T):
1 2 3 4 5 6 7
Liên
1
1 b B t T t B b(vần)
2 t T b B t T b(vần)
Liên
2
3 t T b B b T t
4 b B t T t B b(vần)
Liên
3
5 b B t T b B t
6 t T b B t T b(vần)
Liên
4
7 t T b B b T t
8 b B t T t B b(vần)
Một trong những phương diện quan trọng của nghệ thuật thơ Đường là
ngôn ngữ thơ. Đọc thơ Đường, chúng ta thường sự thấy tinh luyện của ngôn
ngữ, hàm chứa một lượng thơng tin vơ cùng lớn lao, có khả năng diễn đạt nội
dung vô cùng tinh tế và phong phú.
Nguyễn Thị Bích Hải trong Bình giảng thơ Đường nhận xét: “Ngơn
<i>ngữ thơ Đường nhìn chung là giản dị trong sáng, tinh luyện. Cũng có thể nói</i>
<i>đó là sự tinh luyện đến mức giản dị. Do vậy, khi phân tích thơ Đường đừng vì</i>
<i>thấy sự giản dị của ngôn ngữ mà xem thường rồi bỏ qua. Cái độc đáo của thơ</i>
<i>Đường chính là ở sự giản dị đến mức gần như là trong suốt ấy” [6, 17].</i>
Vì vậy, sự “tinh luyện” trong ngôn ngữ đã đem đến cho Đường một nội
dung cơ bản là sự kín đáo, cơ đọng, hàm súc, “ý tại ngơn ngoại” (ý ở ngồi lời).
Các nhà thơ Đường quan niệm: Làm thơ nghệ thuật tinh xảo <i>là ở chỗ kiệm lời</i>
(Hàn Dũ); Ngôn tận nhi ý bất tận (lời hết mà ý vô cùng)...Do vậy, thơ Đường
được đánh giá là “đỉnh cao của ngôn ngữ văn minh nhân loại” quả không sai.
Trên đây là những đặc điểm cơ bản nhất về nội dung và nghệ thuật thơ
Đường. Qua tìm hiểu, khảo sát, người viết nhận thấy với thành tựu ba trăm
năm thơ Đường đã để lại một nội dung vô cùng phong phú, song những nội
dung ấy lại được bao chứa trong một hình thức nghệ thuật nghiêm ngặt - một
<b>1.2. Giới thuyết về thơ Nôm Đường luật</b>
<b>1.2.1. Khái niệm</b>
Vì điều kiện thời gian và trình độ có hạn, tác giả khóa luận đã dựa vào
khái niệm về thơ Nôm Đường luật do PGS - TS Lã Nhâm Thìn nêu ra. Ơng
cho rằng: “Khái niệm thơ Nơm Đường luật là bao hàm những bài thơ viết
<i>bằng chữ Nơm theo luật Đường hồn chỉnh và cả những bài viết theo thơ luật</i>
<i>Đường phá cách - những bài có xen câu ngũ ngôn, lục ngôn vào thơ thất</i>
<i>ngôn” [26, 9].</i>
<i><b>1.2.2. Quá trình hình thành và phát triển</b></i>
Trong Thơ Nôm Đường luật, tác giả Lã Nhâm Thìn đã chia cụ thể
quá trình phát triển của thơ Nôm Đường luật trong lịch sử văn học trung đại
Việt Nam thành ba giai đoạn: Giai đoạn hình thành; Giai đoạn phát triển; Giai
đoạn cuối của thơ Nôm Đường luật.
Ở đây, tác giả khoá luận xin khái quát một cách chung nhất về quá trình
hình thành và phát triển thơ Nôm Đường luật - một thể loại văn học tiếp thu
“luật thi” Đường được viết bằng chữ Nôm.
Thơ Nôm Đường luật tồn tại, phát triển trong khoảng bảy thế kỉ (từ thế
kỉ XIII đến cuối thế kỉ XIX) xuất hiện cùng với sự xuất hiện của chữ Nôm
(chữ Nôm về cơ bản mượn ký hiệu chữ Hán nhưng đã được cải biên, sáng tạo
thêm và đọc thành âm tiếng Việt).
cố gắng tìm ra một “lối thơ” riêng cho thể loại thơ Đường luật Nơm Việt
Nam.
Tiếp đó, phải kể đến những thành tựu thơ Nôm khác: Lê Thánh Tông
và hội Tao Đàn với tập Hồng Đức Quốc âm thi tập và sau đó là tổng tập
<b>Việt âm thi tập (1459) do Phan Phu Tiên và Chu Xá biên tập với trên 700 bài</b>
thơ Nôm) đã đánh dấu sự trưởng thành và phát triển của dòng văn học chữ
Nôm dưới sự ảnh hưởng của thơ Đường luật.
Từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII, thơ Nôm Đường luật ở vào giai đoạn
“thịnh trị nhất”. Đi từ bước “thể nghiệm” trong thơ Nguyễn Trãi và thơ Lê Thánh
Tông, thơ Nôm Đường luật giai đoạn này đã dần trở nên ổn định, tạo thành dòng
văn học chủ lực của văn học trung đại Việt Nam, gặt hái được nhiều thành công
với một số lượng tác phẩm đồ sộ và lực lượng sáng tác đông đảo. Tiêu biểu :
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) với tập thơ Bạch Vân quốc ngữ thi tập;
Trịnh Căn (1633 - 1709) với tập Ngự Đề Thiên Hồ Doanh bách vịnh; Thơ
Nơm Nguyễn Cơng Trứ, Bà huyện Thanh Quan...Đặc biệt, thế kỉ XVIII nổi bật
lên những sáng tác thơ Nôm của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Đến Hồ Xuân Hương,
thơ Nôm Đường luật đã “tiếp tục xu hướng dân chủ hoá đồng thời chuyển nhanh
<i>trên con đường dân chủ hố nội dung và hình thức thể loại” [27, 46].</i>
Cuối thế kỉ XIX, được coi là giai đoạn “thối trào” của thơ Nơm Đường
luật. Khi chữ Nơm mất vai trị trong cuộc sống, thay vào đó dân tộc ta đã chuyển
sang sáng tác văn học bằng “quốc ngữ Đường luật”. Song với sự xuất hiện của
hai tác giả Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) và Trần Tế Xương (1870 - 1907) đã
khẳng định thành tựu thơ Nôm Đường luật của thế kỉ này. Thơ Nôm Đường luật
của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương đã “có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa
trào phúng và trữ tình trong những vần thơ “cười ra nước mắt và hơn ai hết, họ
<i>đã để lại phong cách tác giả trong thơ Nơm Đường luật” [27, 50]</i>
“khơng có tuổi ấu thơ chập chững cũng như khơng có tuổi già” (chữ dùng của
PGS - TS Lã Nhâm Thìn). Trong quá trình sáng tác thơ Nơm Đường luật, các
nho sĩ trung đại Việt Nam không ngừng tiếp thu những tinh hoa của thơ
Đường luật Trung Quốc. Đồng thời cũng Việt hoá và sáng tạo chứ không đơn
thuần là sao chép, rập khn một cách máy móc. Do vậy đã tạo nên một dòng
thơ mang đậm dấu ấn riêng của con người, đất nước và bản sắc văn hoá Việt
Nam thời trung đại.
<i><b>1.2.2. Đặc trưng thể loại</b></i>
Trong bài viết Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh nhận xét:
“Thanh thế thơ Đường ở nước ta xưa nay bao giờ cũng lớn”. Đồng thời cũng
khẳng định, “thời nay”- Tức là những năm 30 của thế kỉ XX vẫn còn những
“thiếu niên Tây học xem sách Nho”. “Họ chỉ cốt tìm một nguồn sống tinh
<i>thần. Họ đi tới thơ Đường với một tấm lòng trong sạch và mới mẻ, điều kiện</i>
<i>cần thiết để hiểu thơ. Cho nên, dầu dốt nát, dầu nghĩa câu nghĩa chữ lắm khi</i>
<i>họ rất mờ, họ đã hiểu thơ Đường hơn nhiều tay khoa bảng”...[28, 42].</i>
Lời nhận xét trên của Hoài Thanh chứng tỏ thơ Đường có sức âm vang
và ảnh hưởng rất lớn đối với nhiều thi sĩ, nhiều nhà văn Việt Nam. Vì vậy, có
một thực tế nền văn học trung đại Việt Nam cùng với q trình học tập văn
hố, văn học Trung Hoa trên nhiều phương diện: Ngôn ngữ, chữ viết đến hệ
thống thể loại, phương thức tư duy nghệ thuật, xây dựng hệ thống hình
tượng...là q trình cha ơng ta khơng ngừng tiếp thu có chọn lọc trên cơ sở
căn cội văn hố, tư tưởng dân tộc để xây dựng một nền văn học mang đậm
bản sắc, phong cách nghệ thuật của các nho sĩ Việt Nam trong ngần ấy thế kỉ
(khoảng mười thế kỉ văn học trung đại Việt Nam).
Yếu tố Đường luật trong thơ Nôm Đường luật “là những gì tiếp thu của
Bui một tấc lòng trung lẫn hiếu,
Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen.
(Thơ Nôm, Thuật hứng, bài 24)
Về tư duy nghệ thuật, thơ Nôm Đường luật chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất từ
khuôn mẫu nghệ thuật và phải được coi là “khuôn vàng, thước ngọc” lồng
trong một thứ ngôn ngữ trang nhã, trau chuốt với những từ Hán Việt, điển tích,
điển cố Hán học...trong niêm, luật chặt chẽ, đúng quy cách.
Tuy nhiên, như “một quy luật tất yếu”, văn học trung đại vẫn chủ
trương Việt hóa và sáng tạo trên nền học tập và tiếp thu những yếu tố trong
thơ Đường luật. Với quan niệm “nôm na là cha mách qué”, thơ chữ Nôm ra
đời để “miêu tả thiên nhiên của đất nước, để phản ánh hiện thực của dân tộc,
<i>để phát biểu những tư tưởng, tình cảm trực tiếp và sâu sa nhất của con người</i>
<i>- mà đây chính là chức năng chủ yếu của văn học, thì tốt nhất vẫn dùng tiếng</i>
<i>mẹ đẻ, mà có khi lại nhất thiết dùng tiếng mẹ đẻ” [10, 17] nên trong thơ Nôm</i>
là “yếu tố Nơm những gì thuộc về dân tộc và có tính chất dân dã, bình dị
<i>(Nơm là đọc biến âm của Nam và Nơm cịn được hiểu là nơm na, dân dã)”</i>
[26, 10]. Như vậy, một trong những phương diện đầu tiên và quan trọng của
đặc trưng thể loại thơ Nôm Đường luật là việc cha ông ta đã sử dụng chữ
Nơm - thứ chữ của dân tộc và việt hóa thành công thể thơ Đường luật thành
thơ Nôm Đường luật của dân tộc.
tình cảm riêng tư của con người cùng thiên nhiên tạo vật muôn màu muôn vẻ
với những hình ảnh chân thực, bình dị, dân dã và trở thành đặc trưng nội dung
quan trọng của thơ Nơm.
Về mặt hình thức nghệ thuật, một trong những đặc điểm của thơ Nôm
Đường luật là việc cha ông ta đã sáng tạo thành công thể thơ thất ngôn xen
lục ngơn một thể thơ hồn tồn do người Việt Nam sáng tạo. Hà Minh Đức
-Bùi Văn Nguyên cho rằng: “Sự phối hợp thể lục ngôn với thể thất ngôn
<i>Đường luật dẫn tới một thể thất ngôn xen lục ngôn đặc biệt của Việt Nam” [5,</i>
21].
Chúng tôi dựa vào kết quả khảo sát sau đây để khẳng định thể thất ngôn
xen lục ngôn là một sáng tạo của các nho sĩ Việt Nam. Nó khơng hề tồn tại
trong thơ Đường và là một đặc điểm nổi bật trong thơ Nôm Đường luật.
Theo các nhà nghiên cứu, trong:
Tập thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi có 186 / 254 bài thất ngôn
xen lục ngôn.
Tập Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tơng và hội Tao Đàn có
135 / 328 bài.
Tập Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm có 97 / 161
bài thất ngơn xen lục ngơn.
Tập Ngự Đề Thiên Hồ Doanh bách vịnh của Trịnh Căn có 10 bài.
Tập Ngơn ẩn thi tập của Nguyễn Hữu Chỉnh có 5 bài.
Như vậy, với việc sáng tạo ra thể thơ thất ngôn xen lục ngôn, cha ông ta
Nếu trong thơ Đường chủ yếu dùng hình thức ngắt nhịp chẵn trước - lẻ
sau thì trong thơ Nơm Đường luật, cha ông ta lại ưa dùng lối ngắt nhịp lẻ
trước - chẵn sau.
Ví dụ:
- Đêm / đợi trăng lên cài bóng trúc
Ngày / chờ gió thổi in hoa...
<i> (Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài 17)</i>
- Chàng cóc ơi / chàng cóc ơi
Thiếp bén duyên chàng có thế thơi...
<i> (Thơ Nơm truyền tụng Hồ Xn Hương).</i>
Mục đích của cách ngắt nhịp như vậy cốt để tạo ra nhịp điệu, “tính
nhạc” riêng khác với cách ngắt nhịp của thơ Đường Trung Quốc, là sự cố
gắng khách quan của ý thức dân tộc nhằm chuyển đổi mạch thơ theo quy luật
âm vận và nhịp điệu tâm hồn Việt Nam.
Hơn nữa, với việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc: Từ Việt, ngôn ngữ văn
học dân gian, ngôn ngữ sinh hoạt trong đời sống...Thơ Nôm Đường luật
hướng đến việc truyền đạt những nội dung bình dị của cuộc sống hàng ngày
trong một thứ ngôn ngữ gần gũi như “tiếng mẹ đẻ” với tất cả sự phong phú,
nhiều vẻ của thiên nhiên, đất nước và con người trung đại Việt Nam.
<b>CHƯƠNG 2</b>
<b>SỰ TIẾP THU, VIỆT HÓA VÀ SÁNG TẠO THỂ THƠ ĐƯỜNG</b>
<b>LUẬT QUA SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN TRÃI VÀ HỒ XUÂN HƯƠNG</b>
<b>2.1. Sự tiếp thu, Việt hoá và sáng tạo thể thơ Đường luật từ đặc trưng</b>
<b>thể loại trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi</b>
<i><b>2.1.1. Về tác phẩm Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi</b></i>
Nguyễn Trãi (1380 - 1442) là vị anh hùng cứu quốc thuở “Bình Ngô”
và cũng là nhà thơ lớn của nước Đại Việt trong thế kỉ XV. Ông đã để lại một
sự nghiệp sáng tác đồ sộ, bao gồm cả chữ Hán và chữ Nơm
Trong giới hạn nghiên cứu, tác giả khóa luận tập trung nghiên cứu
những bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi qua Quốc âm thi tập với mong muốn
tìm hiểu rõ thêm sự tiếp thu và sáng tạo thể thơ luật Đường trên các phương
diện nội dung và hình thức, từ đó cũng thấy được vai trị của ơng đối với nền
văn học viết bằng chữ Nôm của dân tộc.
Tập thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi bao gồm 254 bài thơ Nơm,
hầu hết là những bài thơ khơng có đầu đề và thường được đánh số thứ tự. Tập
thơ chia làm 4 loại: Vô đề; Thời lệnh môn; Hoa mộc môn; Cầm thú môn với
nhiều thể tài khác nhau: Ngơn chí (21 bài); Mạn thuật (14 bài); Trần tình (9
bài); Tự thán (41 bài); Tự thuật (11 bài); Tức sự (4 bài); Bảo kính cảnh giới
(61 bài) ...
<i><b>2.1.2. Sự tiếp thu, Việt hoá và sáng tạo về phương diện nội dung</b></i>
<i><b>trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi</b></i>
Trên cơ sở những nội dung trang trọng, cầu kì, thơ cốt để nói ý, nói chí
cao cả của những nhà nho trong thơ Đường, Quốc âm thi tập khơng hiếm
những bài thơ nói về lí tưởng “ưu quốc ái dân”, phẩm chất kẻ sĩ, chí lớn của
người quân tử...Như vậy việc biểu hiện rõ nhất về mặt tiếp thu nội dung thơ
Đường luật trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi là việc tiếp thu hệ thống đề tài,
chủ đề ‘Thi dĩ ngơn chí, văn dĩ tải đạo”.
Những khái niệm của Nho giáo như “tam cương”, “ngũ thường”, “ngũ
ln”, “thiên mệnh”...có ảnh hưởng khơng nhỏ đến những nho sĩ thời trung
đại. Đặc biệt, tư tưởng đã là trang nam nhi thì phải làm nên nghiệp lớn, rạng
danh tên tuổi trong trời đất, cùng quan niệm “tu thân, tề gia, trị quốc, bình
thiên hạ” đã trở thành hồi bão, khát vọng cho những đại trượng phu thời
trung đại phấn đấu:
Cơng danh nam tử cịn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu.
<i>(Thuật Hoài, Phạm Ngũ Lão)</i>
Và thơ văn đã trở thành phương tiện để họ “tỏ chí, tỏ lòng”.
Bên cạnh là một nhà thơ, trước hết Nguyễn Trãi là một nhà nho được
đào tạo nơi “cửa Khổng sân Trình”. Vì vậy, những quan niệm của Nho giáo
có ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng của Ức Trai. Theo khảo sát của PGS
-TS Lã Nhâm Thìn, trong tổng số 254 bài thơ Nôm Quốc âm thi tập có:
16/254 bài viết về lí tưởng “ái ưu”, chiếm tỉ lệ 6,3%; 16/254 bài viết về lí
tưởng trung - hiếu, chiếm tỉ lệ 6,3%; 37/254 bài viết về phẩm chất kẻ sĩ, quân
tử, chiếm tỉ lệ 14,6%.
nhà chính trị tài ba, nhà quân sự lỗi lạc nên nhìn chung, với tư cách là một bề
tơi, ơng đã làm trịn nghĩa vụ của một “cơng dân” trung với vua, với dân, với
- Bui có một niềm chăng nỡ trễ
Đạo làm con liễn đạo làm tơi.
<i>(Ngơn chí, bài 2)</i>
- Qn thân chưa báo lịng canh cánh
Tình phụ cơm trời, áo cha.
<i>(Ngơn chí, bài 7)</i>
Song, bên cạnh những bài thơ nói chí, nói khí của Nguyễn Trãi, chúng
ta cũng bắt gặp những “bài thơ của Nguyễn Trãi buồn” vì tự trong con người
cá nhân của mình, Ức Trai thấy đau khổ, khơng phải đau khổ vì bị sự gièm
pha, chèn ép gây ra cho bản thân mà chính vì “cái đạo” của mình gây dựng
khơng thành, những ước vọng “trí qn, trạch dân”, “trị quốc bình thiên hạ”
của bản thân khơng thực hiện được. Và chính vì trong lịng nhiều day dứt,
trăn trở, ý thức “bản ngã cái tôi cá nhân” Nguyễn Trãi lúc này mới có điều
kiện được bộc lộ.
đời, để “tỏ” những nỗi niềm riêng tư cá nhân của riêng Nguyễn Trãi. Và đây
chính là nét sáng tạo trong nội dung biểu hiện trong đề tài tỏ chí, tỏ lịng của thơ
Nơm Nguyễn Trãi so với thơ Đường luật. “Đọc những bài thơ trong Ức Trai thi
<i>tập và Quốc âm thi tập, ta sẽ thấy trong thơ Việt Nam xưa chưa có nhà thơ nào</i>
<i>nói đến nỗi niềm riêng của mình nhiều như Nguyễn Trãi” [9, 236].</i>
Qua khảo sát, thống kê của các nhà nghiên cứu, trong Quốc âm thi tập
có tới 102/254 bài thơ Nơm nói về đời tư cá nhân. Bên cạnh những bài thơ
Gia Sơn đường cách nghìn dặm
Ưu ái lịng phiền nửa đêm.
(Tự thuật, bài 4)
Đó là niềm thao thức vì nỗi nhớ thương quê hương và mối lo ưu nhà ưu
nước của một người “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc”
(Lo trước khi nhân dân chưa lo, và chỉ vui sau khi thấy nhân dân đều vui).
Có những lúc Nguyễn Trãi đã nói về sự “già nua” của mình mà nuối
tiếc tuổi xanh:
Tiếc xuân cầm đuốc mải chơi đêm
Những lệ xuân qua tuổi tác thêm
Chẳng thấy ngoài hiên tơ liễu rủ
Một phen liễu rủ, một phen mềm.
(Tích cảnh, bài 3)
Nhưng cũng có lúc Nguyễn Trãi bày tỏ bản lĩnh của mình khi tự mình
xưng là “bui”, “ta”, “ông”...
- Rượu đối cầm, đâm thơ một thủ
Ta cùng bóng mấy nguyệt, ba người.
Bảo rằng ơng đã điếc hai tai.
(Ngơn chí, bài 5)
Và đây, chúng ta lại bắt gặp hình ảnh một ơng già dân quê với cái thú
vui “ngất ngưởng”:
Ngõ tênh hênh nằm cửa trúc
Say lểu thểu đứng đường thông.
(Thuật hứng, bài 16)
Dáng điệu “say lểu thểu” cho thấy đây đâu phải là một vị quan của triều
đình với mũ áo, xiêm y. Cũng không phải cung cách nho nhã của nhà nho
truyền thống đi đứng trang nghiêm, mà chính là hình ảnh một con người có
cuộc sống phóng khống, tự do, tự tại trước cuộc sống của chính mình, khơng
phụ thuộc vào bất cứ điều gì và trước bất cứ ai. Là một người ln “tiên ưu”,
có được những lúc tự do mà uống rượu, ngắm trăng quả là những giây phút
thật q báu với Nguyễn Trãi:
Dị trúc sơng qua lịng suối
Tìm mai theo đạp bóng trăng
...
Một phút thanh nhàn trong thuở ấy
Nghìn vàng ước đổi được hay chăng.
(Tự thán, bài 7)
Quan điểm “Tuỳ ngộ chi an” (Tuỳ cảnh ngộ mà có cách cư xử cho phù
hợp) của Trần Nhân Tơng có lẽ thật đúng với Ức Trai!
Đồng thời trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, chúng ta cũng thấy
hình ảnh một con người đa cảm, đa tình với mọi cung bậc xúc cảm trong tình
cảm đơi lứa.
- Người về em dặn câu này
Đâu hơn thì lấy, đâu bằng đợi em.
- Yêu nhau cởi áo cho nhau...
Đến thời của Nguyễn Trãi, tức là xã hội phong kiến thế kỉ XV, quan
niệm về việc thể hiện tình cảm trong tình u vẫn cịn là điều gì đó cấm kị
“Nam nữ thụ thụ bất thân”, dựng vợ gả chồng là do cha mẹ, ông mai bà mối
sắp đặt mà nên duyên. Do vậy, việc biểu lộ tình cảm nam nữ một cách trực
tiếp trong văn thơ cũng vì thế mà được coi là “khơng phải đạo”. Đến ngay
Nguyễn Du (thế kỉ XVIII), cũng chỉ dám mượn hình tượng nhân vật Thuý
Kiều, Kim Trọng để nói về tư tưởng cũng như tâm hồn đa cảm, đa tình của
bản thân. Nhưng Nguyễn Trãi đã là “người đầu tiên trong thơ ca nói đến tình
<i>u mà khơng núp dưới câu chuyện tình của người khác” [9, 239]. Qua đó</i>
cũng đủ thấy Nguyễn Trãi có sự cách tân táo bạo như thế nào, ơng dám nói và
khẳng định cái tình của bản thân với một khách lầu hồng:
Loàn đan ướm hỏi khách lầu hồng
Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng
Ngồi ấy dù cịn áo lẻ
Cả lịng mượn đắp lấy hơi cùng.
(Tích cảnh, bài 10)
Ức Trai cũng không hề “bôi son” cho tình cảm của mình thêm phần thi
Vì ai cho cái đỗ quyên kêu
Thức xuân một điểm nào lịng nhau.
<i>(Cảnh hè)</i>
Hay hình ảnh Cây chuối của Nguyễn Trãi cũng mang ý nghĩa biểu
tượng, nhưng là biểu tượng hoàn toàn khác với thực tế:
Tự bén hơi xuân tốt lại thêm
Đầy buồng lạ mầu thâu đêm
Tình như một bức phong cịn kín
Gió nơi đâu gượng mở xem.
(Cây chuối, phần Hoa Mộc Môn)
được về cái tơi cá nhân của mình, điều này khơng phải bất cứ nhà nho nào cũng làm
được. Đúng như lời nhận xét: “Với thơ Nôm Nguyễn Trãi, ta bắt gặp một con
<i>người có ý thức cao với tài đức, lí tưởng đại dụng, khôn khéo, sâu sắc, tự tin, dũng</i>
<i>cảm, dám khẳng định, chọi lại thói phàm tục của người đời, khơng trùng khít hồn</i>
<i>tồn với khn mẫu nào hết” [25, 157].</i>
Thơ Nôm của Nguyễn Trãi độc đáo, mới mẻ và khác lạ so với thơ
Đường có lẽ cũng cịn bởi ông viết về thiên nhiên, tạo vật của đất Việt với tất
cả sự phong phú, mộc mạc, giản dị vốn có của nó.
Vốn là một đề tài quen thuộc trong văn học nên thiên nhiên thường
Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ,
Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong.
(Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp
Mây gió trăng hoa tuyết núi sơng).
cây đa…; Những con vật quen thuộc với người nông dân chốn q nghèo:
Con chó, con lợn, con cá, con địng địng…khiến cho thơ của Ức Trai trở nên
gần gũi, quen thuộc như những câu ca dao trong dòng văn học truyền khẩu
của dân tộc:
- Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ ca dầm tương.
- Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh bơng trắng lại chen nhị vàng...
Những hình ảnh “đầm”, “muống”, “sen”… trong dịng văn học chữ
Hán dường như vắng mặt hoặc có cũng chỉ là điểm xuyết. Phải đến thơ Nôm
Nguyễn Trãi, những hình ảnh này mới trở nên sinh động:
- Ao quan thả gửi hai bè muống
Đất bụt ương nhờ một lảnh mùng.
(Thuật hứng, bài 23)
- Ao cạn vớt bèo cấy muống
Đìa thanh phát cỏ ương sen.
(Thuật hứng, bài 24)
- Cây cớm, chồi cành, chim kết tổ
Ao quang mấu ấu cá lên bờ.
(Ngơn chí, bài 10)
Thiên nhiên trong thơ Nôm Nguyễn Trãi bao giờ cũng sống động, bởi
ln có một tấm lịng ln khao khát hịa cảm với thiên nhiên:
Cửa xong dãi, xâm hơi nắng
Tiếng vượn vang kêu, cách non.
Cây rợp tán che am mát
Hồ thanh nguyệt hiện bóng trịn
Cị nằm, hạc lặn, nên bầy bạn
Ủ ấp cùng ta làm cái con.
(Ngôn chí, bài 20)
Bài thơ dựng nên một cảnh vật “tĩnh” nhưng kì thực lại rất “động” bởi tiếng
vượn kêu vang nhưng cách xa, có bóng dáng của cị, hạc nhưng đều ở trạng thái
- Một cày, một cuốc, thú nhà quê
Áng cúc lan chen vãi đậu kê.
(Thuật hứng, bài 3)
- Tả lòng thanh, vị núc nác
Vun đất ải, lảnh mùng tơi.
(Ngơn chí, bài 9)
thiên nhiên của Nguyễn Trãi đã làm cho thơ Nôm của ông phần nào thoát khỏi
việc biểu hiện những thi liệu quen thuộc đến mức sáo mòn trong đề tài viết về
thiên nhiên. Những hình ảnh bình dị, quen thuộc của làng quê Việt Nam đã đi vào
trong thơ của Nguyễn Trãi làm cho thơ Nơm của ơng có “cái gì đó xa lạ với thơ
Đường luật”. Qua đó thể hiện sự Việt hóa và sáng tạo đặc biệt về mặt nội dung
của Nguyễn Trãi trong q trình dân tộc hóa thơ Nơm Đường luật.
<i><b>2.1.3. Sự tiếp thu, Việt hóa và sáng tạo về phương diện nghệ thuật</b></i>
<i><b>trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi</b></i>
Nghệ thuật thơ Đường với hình thức “luật thi” chặt chẽ có ảnh hưởng
khơng nhỏ đến những nho sĩ làm thơ. Trên cơ sở tiếp thu luật thơ Đường
chúng ta thấy trong tổng số 254 bài thơ Quốc âm thi tập có khơng ít tác
Qua khảo sát, ở thể thất ngơn, Quốc âm thi tập có 47 bài thơ thất ngôn
bát cú và 24 bài thơ thất ngôn tứ tuyệt sáng tác dựa trên luật thơ Đường. Đó là
các bài:
<b>47 bài thơ thất ngơn bát cú:</b>
Ngơn Chí, bài 1
Mạn Thuật, các bài: 2, 3, 7, 8, 10
Trần Tình, bài 7
Thuật Hứng, các bài: 1, 2, 3, 4, 12, 14
Tự Thán, các bài: 1, 2, 7, 11, 12, 13, 15, 33, 36, 39, 41
Tự Thuật, các bài: 6, 7, 9, 11
Tức Sự, bài 1
Bảo Kính Cảnh Giới, các bài: 1, 4, 6, 13, 14, 15, 18, 25, 29, 30,
31, 33, 44, 46, 51, 54, 61
<b>24 bài thất ngôn tứ tuyệt</b>
Tiếc Cảnh, các bài: 1, 3, 4, 5, 7, 9, 11
Hoa Đào, các bài: 1, 4, 5, 6
Hoa Mai, các bài: 1, 2
Hoa Xuân, Cảnh Hè, Trăng Thu, Hoàng Tinh, Cây Thiên Tuế,
Cây Đa Già, Cúc, Hòe, Cây Cam Đường, Cây Dương, Hoa Trường An.
Như vậy, tỉ lệ 71 bài thơ thất ngôn / tổng số 254 bài thơ không phải là
nhiều, song cũng đã khẳng định, luật thi Đường là yếu tố có ảnh hưởng lớn
đến sáng tác thơ Nôm của Ức Trai.
Trong Quốc âm thi tập có những bài mà kết cấu, niêm luật rất chỉnh:
Điển hình:
Non hoang tranh vẽ chập hai ngàn
Nước mấy dịng tranh, ngọc mấy hồn
Niềm cũ sinh linh đeo ắt nặng
Cật chưng hồ hải đặt chưa an
Những vì chúa thánh âu đời trị
Há kể thân nhàn tiếc tuổi tàn
Thừa chỉ ai rằng thì khó ngặt
Túi thơ chứa hết mọi giang san.
(Tự thán, bài 2)
độc đáo riêng cho thể thơ Nôm Đường luật của dân tộc. Do vậy, bên cạnh
những bài thơ niêm, luật chặt chẽ, chúng ta cũng thấy có khơng ít tác phẩm
được Nguyễn Trãi sáng tác khơng theo luật thi. (Ngồi 71 bài thất ngơn bát cú
và thất ngơn tứ tuyệt Hàn luật, cịn lại 183/254 bài thơ được Nguyễn Trãi Việt
hoá và sáng tạo thành cơng trên phương diện hình thức nghệ thuật, khơng
tn theo hình thức thơ Đường).
Một trong những phương diện đầu tiên và dễ nhận thấy, chứng tỏ sự
sáng tạo của Nguyễn Trãi về mặt hình thức nghệ thuật, đó là việc Nguyễn
Hình thức câu thơ sáu chữ chúng ta chưa thấy xuất hiện trong thơ
Đường luật của Trung Quốc. Mà nhìn vào lịch sử thơ ca của dân tộc, chúng ta
thấy hình thức câu thơ sáu chữ xuất hiện nhiều trong thể thơ lục bát (trên sáu
dưới tám đều đặn suốt bài) của dân tộc với những câu ca dao dễ nhớ và dễ
thuộc với người dân Việt Nam:
- Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho trịn chữ hiếu mới là đạo con.
- Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.
- Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trơng thấy mà đau đớn lịng.
- Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
Trên cơ sở căn cội từ những câu thơ lục bát trong dân gian, Nguyễn
Trãi đã vận dụng sử dụng hình thức câu thơ sáu chữ trong thể thơ thất ngôn
luật Đường và sáng tạo nên một thể thơ độc đáo. Việc thay đổi, dù chỉ là một
yếu tố nhỏ trong luật thi Đường cũng được coi là “phá luật”, qua đó nhằm tạo
nên sự độc đáo, khác biết so với cái cũ vốn đã quen thuộc đến mức nhàm
chán. Ở đây, việc sáng tạo hình thức câu thất ngôn xen lục ngôn là một dụng
ý nghệ thuật của Ức Trai nhằm truyền tải một nội dung hoàn tồn mới mẻ, tạo
cho thơ Nơm Đường luật những âm điệu riêng khó lẫn với thơ Đường.
Theo số liệu thống kê của Phạm Luận, trong Quốc âm thi tập: Thể thơ
sáu chữ dùng xen với câu bảy chữ có 186 bài (loại 8 câu: 161 bài; loại 4 câu:
25 bài), tức là chiếm non 1/3 tổng số các bài của tập thơ [17, 815].
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy vị trí của câu lục trong những bài thơ
thất ngơn xen lục ngơn rất linh hoạt.
Câu lục có khi ở hai câu đề:
Giũ bao nhiêu bụi, bụi lầm
Giơ tay áo đến tùng lâm
Rừng nhiều cây rợp hoa chày động
Đường ít người đi cỏ kíp sâm.
(Ngơn chí, bài 4)
Có khi hai câu lục lại ở phần thực:
Đường thông thuở chồng một cày
Sự thế bao nhiêu vưỡn đã khuây
Bẻ cái trúc hòng phân suối
Cũng có khi hai câu lục lại xuất hiện ở phần luận:
Trần trần mựa cậy những ta lành
Phúc hoạ tình cờ xảy chửa đành
Miệng thế nhọn hơn trơng mác nhọn
Lịng người quanh nữa nước non quanh
Chẳng ngừa cỏ âu nên lờn
Nếu có sâu thì bỏ canh…
(Bảo kính cảnh giới, bài 9)
Đặc biệt là sự xuất hiện câu lục ở phần kết. Theo M. Bakhtin thì kết là
vấn đề then chốt của đặc trưng thể loại. Trong thơ Đường, câu kết mang ý
nghĩa quan trọng, nó có nhiệm vụ thâu tóm nội dung tồn bài, nhiều người
cịn cho rằng chỉ cần câu kết hay trong thơ Đường luật thì cả bài thơ đã hay.
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cũng cho rằng: “Hai câu kết trong thơ trung
<i>đại thường là câu nghị luận, bày tỏ quan điểm và mang tính chất tuyên ngôn,</i>
<i>công bố lập trường rất phổ biến trong thơ cổ [18, 172]. Đến thơ Nôm Nguyễn</i>
Trãi, việc đặt câu lục ngôn ở phần kết đã vượt khỏi phạm vi thâu tóm nội
dung tồn bài mà mang ý nghĩa hoặc khẳng định hoặc bày tỏ để nói tình, nói
ý, nói chí... Qua khảo sát, trong Quốc âm thi tập có 51/186 bài thơ TNXLN
có câu kết bằng câu lục.
Câu lục ngơn với số lượng ít hơn so với câu thất ngôn, thường dồn nén
cảm xúc nên thường gây sự chú ý cho người đọc ở điểm chốt của toàn bài.
Ví dụ:
Ở “Bảo kính cảnh giới, bài 43”, kết thúc bài thơ là câu lục để tạo ra
điểm nhấn:
Rồi hóng mát thuở ngày trường
Hoè lục đùn đùn tán rợp trương
...
Câu “Dân giàu đủ khắp, đòi phương” bày tỏ khát vọng cao đẹp của nhà
thơ. Ức Trai mong có cây đàn của vua Thuấn, sẽ gảy lên khúc “Nam phong”,
cầu mong cho mọi nhà, mọi chốn, bốn phương thái bình yên ổn.
………...
Bui có một lịng trung lẫn hiếu
Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen.
Bài thơ được viết theo thể thất ngôn xen lục ngôn, các câu 3,4, 8 chỉ có
sáu từ nhưng đã diễn tả được “nhịp điệu” cuộc sống của ức Trai khi đã “về
nhàn”. Cuộc đời một ơng quan, một kẻ sĩ mang trong mình tư tưởng, hoài bão
lớn lao lúc về ở ẩn chẳng khác nào cuộc sống của một người dân quê “<i>Cơm</i>
<i>ăn chẳng quản dưa muối; Áo mặc nài chi gấm thêu” (Thuật hứng, bài</i>
22)...Sự kết thúc của câu lục: “Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen” như một
lời khẳng định, lời hứa về tấm lòng “trung lẫn hiếu”, dù có mài cũng chẳng
khuyết, nhuộm cũng chẳng đen. Qua đó cũng thấy được một hồn thơ cao đẹp,
lúc nào cũng giữ trọn lòng nhân nghĩa. Thật đúng với lời nhận xét của Lê
Mặc dù hình thức câu thơ lục ngơn trong Quốc âm thi tập khơng xuất
hiện trong tồn bài như trong Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông
và hội Tao Đàn mà chúng ta thấy:
Nơi gọi Bồng, nơi gọi Nhược
Hai bên góp làm non nước
Đá chồng hịn thấp hịn cao
Sóng trục lớp sau lớp trước
Phật hư vô, cảnh thiếu thừa
Vẳng nghe trên gác bay bong
Lẩn thẩn dưới chùa lần bước.
(Chùa Non Nước)
Thế nhưng, việc sáng tạo hình thức câu thơ thất ngơn xen lục ngôn là
một cố gắng lớn của Nguyễn Trãi trong quá trình tiếp thu hình thức nghệ
thuật của thơ Đường. Nguyễn Trãi đã sáng tạo một thể thơ hoàn toàn mới lạ
trong bối cảnh “Hán ngữ độc bá trên văn đàn”. Điều đó chứng tỏ Nguyễn Trãi
muốn và dám khẳng định xây dựng một lối thơ hoàn toàn Việt Nam.
Như đã trình bày, niêm luật là một trong những yếu tố quan trọng của
hình thức nghệ thuật trong thơ Đường. Việc sáng tác thơ Đường luật mà bỏ
qua yếu tố này thì bị coi là “thất niêm”. Tuy nhiên, qua khảo sát, chúng tơi
nhận thấy có nhiều bài thơ trong Quốc âm thi tập không tuân theo niêm luật
như trong luật thi Đường.
Để cho hai câu thơ niêm được với nhau thì các dịng phải có số chữ
Ví dụ:
Dịng 1: Q cũ nhà ta thiếu thuở nào
Dòng 2: Rau trong nội, cá x trong ao
Dòng 3: Cách song mai tỉnh hồn Cô Dịch
(Mạn thuật, bài 13)
Dòng 6: Trúc nhặt x vụn tiếc chiếu rồng
Dòng 7: Bui một tấc lòng ưu ái cũ
(Thuật hứng, bài 5)
Qua khảo sát trong Quốc âm thi tập có 38 bài khơng theo niêm thể
luật Đường.
Ví dụ:
Dịng 3: Bữa ăn dầu có dưa muối
Dòng 4: Áo mặc nài chi gấm là
Dòng 5: Nước dưỡng cho thanh, trì thưởng nguyệt
(Ngơn chí, bài 3)
Theo luật thơ Đường, để bài thơ này “niêm” được thì:
Dịng 3 phải là: BB TT BBT
Dòng 3: TB BT BT
Dòng 4: TT BB TB
Như vậy, sự phá vỡ về niêm luật là một trong những điều kiện cần thiết
để Nguyễn Trãi bước qua ranh giới thơ Đường, mang đến cho thể thơ Nơm
Đường luật một âm hưởng riêng, khó lẫn với thơ Đường và thơ chữ Hán. Qua
đó thể hiện tài năng nghệ thuật cũng như những đóng góp của ơng trong tiến
trình dân tộc hố, dân chủ hóa nền văn học Việt Nam.
Một phương diện quan trọng để khẳng định sự sáng tạo của Nguyễn
Trãi là việc ông sử dụng cách ngắt nhịp của dân tộc. Nếu thơ cổ của người
Trung Quốc chỉ duy nhất có cách ngắt nhịp chẵn trước, lẻ sau thì thơ ca của
người Việt lại thường có cách ngắt nhịp lẻ trước - chẵn sau, điển hình là ngắt
nhịp 3/4:
Trong ca dao dân ca của người Việt:
- Áo năng mây / năng tới
Người năng tới / năng thường.
- Gió mùa thu / mẹ ru con ngủ
Đêm canh trường / thức đủ vừa năm.
Ở thơ ca dân gian của một số dân tộc như Nùng, Thái, Tày, Mường...
Chúng ta cũng bắt gặp hiện tượng ngắt nhịp 3/4:
Pỉ bấu đảy tốn nả noọng lai
Se nọng tẻ / au vài nừa láng
Mẻ thầu noọng dú táng lại rai.
(Mặt trời kia / sắp lặn đằng tây
Đừng giữ em ở đây lâu quá
Trâu em kia / phải trả về chuồng
Mẹ ở nhà chờ mong em đấy).
[25,135]
Và dường như “không bỏ lỡ cơ hội”, Nguyễn Trãi trên cơ sở tiếp thu,
vận dụng cách ngắt nhịp của thơ Đường cùng cách ngắt nhịp của dân tộc để
hình thành nên những “nhịp điệu”, “tiết tấu” vơ cùng đa dạng. Qua khảo sát
của Phạm Luận, Quốc âm thi tập có 26 bài thất ngơn trong đó câu có kiểu
tiết tấu 3/4 dùng xen câu có kiểu tiết tấu thất ngơn luật Đường, Tỉ lệ trung
bình giữa chúng là 1/5. Ở những bài 6 - 7 cũng có tới 50 cách ngắt nhịp theo
kiểu này [17, 835].
Ví dụ:
- Thạch lựu hiên / còn phun thức đỏ
Hồng liên trì / đã tịn mùi hương.
(Bảo kính cảnh giới, bài 43)
- Cày ruộng cuốc vườn dầu hết khoẻ
Tôi Đường Ngu / ở đất Đường Ngu.
(Trần tình, bài 7)
Cách ngắt nhịp này chúng ta cũng thường bắt gặp trong Hồng Đức
Thế Hán, Sở / xem đã mấy chốc
Cuộc Tần, Tuỳ / đổi những bao giờ”
Tuy nhiên, trong Quốc âm thi tập không chỉ có cách ngắt nhịp hoặc
4/3 hoặc 3/4 trong câu thơ thất ngôn, mà đối với những câu lục ngôn, hình
thức ngắt nhịp cũng rất đa dạng và linh hoạt. Chẳng hạn:
Cách ngắt nhịp 1/2/3: “Rồi / hóng mát / thuở ngày trường.”
(Bảo kính cảnh giới,bài 43)
Cách ngắt nhịp 2/4: “Đêm thanh / hớp nguyệt nghiêng chén
Ngày vắng / xem hoa bẻ cây”.
(Ngơn chí, bài 10)
Cách ngắt nhip 2/2/2: “Ao cạn / vớt bèo / cấy muống
Đìa thanh / phát cỏ / ương sen”.
(Thuật hứng, bài 24)
Đặc biệt hình thức ngắt nhịp 3/3 trong câu thơ lục ngơn chiếm tỉ lệ
tương đối lớn.
- Góc thành nam / lều một gian
No nước uống / thiếu cơm ăn.
(Vô đề)
- Mài chăng khuyết / nhuộm chăng đen.
Hay đỗ, hay dừng, mới kẻo âu...
<i>(Bảo kính cảnh giới, bài 26)</i>
Sau Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân quốc
<b>ngữ thi tập cũng có cách ngắt nhịp 3/3 trong câu thơ lục ngơn:</b>
- Trống rời canh / cịn đọc sách.
(Tự thuật, Hồng Đức quốc âm thi tập)
- Ở thế làm chi cười lẫn nhau
Giàu chê khó / khó chê giàu.
- Mệnh ở trời / khó phải cầu.
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài 9)
Tóm lại, việc ngắt nhịp 3/4 trong câu thơ thất ngơn chưa từng có
trong thơ Đường, cùng với sự linh hoạt về ngắt nhịp trong câu thơ lục ngôn
đã làm cho thơ Nôm của Nguyễn Trãi trở nên nhịp nhàng, uyển chuyển và
cân đối hơn. Điều quan trọng, với việc sáng tạo trong hình thức ngắt nhịp
đã góp phần làm cho thơ Nơm của Nguyễn Trãi khác xa so với thơ Đường
luật Trung Quốc.
Ngoài ra, ngôn ngữ cũng là một yếu tố để chúng ta khẳng định q
trình Việt hố và sáng tạo thành cơng trên phương diện hình thức nghệ thuật
của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập.
Bên cạnh sử dụng yếu tố ngơn ngữ mang tính chất trang trọng, ước lệ,
cổ điển, cùng hệ thống thi liệu Hán học. Quốc âm thi tập cũng có khơng ít
bài sử dụng ngơn ngữ giản dị để hướng đến những nội dung bình dị, dân dã
của thiên nhiên, con người đất Việt. Lã Nhâm Thìn trong quá trình khảo sát
40/254 bài thơ trong tập thơ Nơm này nhận thấy:
Có 1934/2162 từ sử dụng từ thuần Việt, tỉ lệ chiếm 89,4% Và đặc biệt,
Nguyễn Trãi đã chú ý sử dụng những từ láy (trong tổng số 1430 câu thì có
180 từ láy, tỉ lệ là 8 câu thơ/1 từ láy). Việc sử dụng từ láy không những khẳng
định đặc tính ngơn ngữ của dân tộc, mà cịn góp phần giảm bớt giá trị biểu
tượng của ngơn ngữ thơ Đường, làm cho câu thơ trở nên nôm na, gần gũi, dễ
hiểu hơn:
Ví dụ:
Lao xao chợ cá làng Ngư phủ
<i>Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.</i>
ồn ào, nhộn nhịp. “Dắng dỏi” nghĩa là inh ỏi, ồn ào, âm sắc tiếng ve trầm
bổng, ngân dài vang xa. Tiếng lao xao và tiếng trầm bổng của tiếng ve hoà
điệu với nhau tạo thành một âm thanh lớn nhộn nhịp để đặc tả khung cảnh
làng q với khơng khí vốn đã rất bình dị, dân dã đến quen thuộc.
Đồng thời, Nguyễn Trãi cũng chú ý sử dụng ngôn ngữ đời sống, ngôn
ngữ sinh hoạt hàng ngày và sử dụng hệ thống ngôn ngữ dân gian (sử dụng
những câu thành ngữ, tục ngữ một cách linh hoạt)...góp phần diễn tả những
hình ảnh dung dị nhất, đời thường nhất, qua đó nhằm biểu đạt tình ý một cách
sâu sắc.
Ví dụ: Nguyễn Trãi đã đưa những từ “thì, mà, là” vào trong thơ Nơm.
- Trái thì trai, vượn nhọc đam.
(Thuật hứng, bài 19)
- Nào đâu là chẳng đất nhà quan.
(Ngơn chí, bài 16)
- Ai mà cãi được lòng trời.
(Tự thán, bài 15)
Hay trong tục ngữ của ta có câu: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”,
với ý chỉ hồn cảnh có ảnh hưởng lớn đến con người. Nguyễn Trãi đã vận
dụng và viết thành:
Ở đẳng thấp thì nên đấng thấp
Đen gần mực, đỏ gần son.
Cũng như vậy, tục ngữ có câu: “Ở bầu thì trịn, ở ống thì dài” với ý
nghĩa khuyên răn con người tuỳ thuộc vào hoàn cảnh mà có cách sống cho
phù hợp. Nguyễn Trãi lại viết:
Như vậy, trên bước đường dân chủ hoá nền văn học, Nguyễn Trãi là
người đầu tiên có ý thức xây dựng một lối “thơ mới” mang đậm phong vị dân
tộc. Trước hết, ở tư cách là một nho sĩ làm thơ, Nguyễn Trãi cũng không
tránh khỏi sự ảnh hưởng các quan niệm của Nho giáo và cách làm thơ Đường
luật Trung Quốc, song khơng vì vậy mà Nguyễn Trãi làm mất đi cốt cách và
tâm hồn của một nho sĩ trung đại Việt Nam. Trên bước đường tiếp thu nền
<b>2.2. Sự tiếp thu, Việt hóa và sáng tạo thể thơ Đường luật từ đặc</b>
<b>trưng thể loại qua thơ Nơm truyền tụng của Hồ Xn Hương</b>
Có thể nói, sau Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương là một trong những nhà
thơ có đóng góp ý nghĩa đối với quá trình Việt hóa thơ Đường luật trong thơ
Nơm của dân tộc. Với cách viết độc đáo, táo bạo, cùng niềm khát khao thể
hiện của một người phụ nữ trong xã hội phong kiến, thơ Nôm Hồ Xuân
Hương đã mang đến một “hơi thở mới” so với thơ Đường luật và thơ Nơm
giai đoạn trước. Do vậy, tìm hiểu về thơ Nơm của Xn Hương cũng là để
chúng ta tìm hiểu về một con người tài nữ với những đóng góp trên những
phương diện về nội dung và hình thức nghệ thuật, để từ đó có được cái nhìn
đúng đắn nhất về vai trị và vị trí của “Bà chúa thơ Nôm” trong nền văn học
trung đại Việt Nam.
Đến nay, số lượng những bài thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương
vẫn chưa được xác định cụ thể và đây là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi trong
giới nghiên cứu.
Theo Nguyễn Lộc, trong Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ
<b>XVIII-nửa đầu thế kỉ XIX, thơ Nơm của Xn Hương có tổng số là 46 bài; Theo</b>
Phạm Thị Thu Hương - Lại Văn Hùng - Phạm Văn Trọng trong Hồ Xuân
<b>Hương, tác phẩm chọn lọc thì thơ Nơm truyền tụng của Hồ Xn Hương có</b>
Như vậy, văn bản thơ Nơm Hồ Xn Hương cịn là một vấn đề vô cùng
phức tạp trong nghiên cứu (bản thân từ “truyền tụng” cũng nói lên tính chất
đó). Song, để tiện cho quá trình khảo sát, nghiên cứu, chúng tôi dựa vào 48
bài thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương do Lữ Huy Nguyên sưu tầm và
tuyển chọn trong Hồ Xuân Hương, thơ và đời với mong muốn tìm ra nét
sáng tạo và khu biệt của thơ Nôm Hồ Xuân Hương so với thơ Đường luật
Trung Quốc.
<i><b>2.2.2. Sự tiếp thu, Việt hoá và sáng tạo thơ Đường luật trên phương</b></i>
<i><b>diện nội dung trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương</b></i>
<i>về tình cảm, nhưng vì số phận hẩm hiu, thân thế long đong, nên trong tập thơ</i>
<i>của bà (Xuân Hương thi tập) hoặc có ý mỉa mai, hoặc có giọng mỉa mai,</i>
<i>nhưng bài nào cũng chứa chan tình tứ, mà tả cảnh, tả tình, dùng chữ, hiệp</i>
<i>vần rất khéo, thật là một nhà thơ viết thơ Nơm thuần t thốt hẳn ảnh hưởng</i>
<i>của thơ văn chữ Hán” [8, 410].</i>
Lời nhận định trên đã khái quát đặc điểm của thơ Nôm Hồ Xuân Hương.
Tác giả cho rằng thơ Nơm của bà mang đậm tính chất “thuần tuý”, khác xa so
Nếu như thơ Đường yêu cầu nội dung trang trọng thì Xuân Hương lại
mang yếu tố thông tục, đời thường vào trong thơ. Bà chủ trương dùng hình
thức luật thi Đường một cách nghiêm chỉnh trong nội dung “khơng mấy
nghiêm chỉnh”. Chính nội dung thông tục đã được bà đưa vào thể thơ này làm
cho thơ Đường khơng cịn giữ được sự sang trọng nữa. Đỗ Lai Thúy đã nhận
xét: “Hồ Xuân Hương một mặt, triệt để lợi dụng những ưu thế thể loại của
<i>thơ Đường, mặt khác đưa ngôn ngữ riêng của mình để làm mới thể loại. Bà</i>
<i>giữ nguyên phần cứng của thể loại nhằm đảm bảo được sự hài hòa, cân đối</i>
<i>như một thứ nhạc nền, màu nền để trên đó phơ diễn những biến tấu về cả âm</i>
<i>thanh lẫn màu sắc” [32, 32].</i>
cái “tục” đã làm cho thơ của bà đi chệch ra ngoài chuẩn mực của nội dung thơ
Đường luật và tạo nên nét sáng tạo độc đáo, rất cá tính của Xn Hương.
Có thể thấy, cái tục trong văn chương bắt nguồn sâu xa từ văn hóa phồn
thực đề cao sự sống, sự phát triển và sự sinh sôi nảy nở. Người ta quan niệm
rằng trong mỗi vật đều phải có đực và có cái thì mới tạo nên sự hài hịa âm
dương, tạo ra sự sinh sôi nảy nở ...Do vậy tục thờ sinh thực khí và hành động
tính giao trong tín ngưỡng phồn thực rất được đề cao. Ngày nay chúng ta cịn
thấy những hình ảnh biểu tượng này trong các đình, chùa (chùa Bà Banh),
trong các trị chơi dân gian (ném pháo đất)…
Hay ngay trong dịng tranh dân gian Đơng Hồ có bức tranh “Hứng dừa”
diễn tả cảnh rất “tình tứ” của trai gái. Bức tranh miêu tả mấy anh con trai
mình trần đóng khố trèo lên cây dừa hái dừa ném dừa xuống. Ở dưới là mấy
Khen ai khéo tạo ra dừa
Đấy trèo đây hứng cho vừa lòng nhau.
Trong dân gian, chúng ta cũng bắt gặp những câu đố tục giảng thanh. Khi
mới đọc lên, chắc hẳn chúng ta sẽ phải giật mình vì sự “bậy bạ” của câu đố:
Chấm chấm mút mút
Đút vào lỗ trôn
Hai cái long “đồ”
Cái dài cái ngắn.
Đây thực chất chỉ là công việc xâu chỉ luồn kim bình thường nhưng
cũng khiến người ta mường tượng đến hoạt động tính giao của con người.
Hoặc dân gian cũng có câu đố tục:
Của tơi tơi để đầu hè
Nín thinh tơi chẳng nói ra
Anh làm ướt át người ta thế này.
Rõ ràng câu đố khiến người ta chủ tâm liên tưởng đến bộ phận sinh dục
và “chuyện đó”. Nhưng khi biết đáp án là Hịn đá mài dao, kéo thì sẽ phải bật
cười vì sự thâm thúy của câu đố mà hoàn toàn tâm phục, khẩu phục với nghĩa
thanh của nó.
Như vậy, “những biểu tượng này tồn tại trong “vô thức tập thể” của
<i>cộng đồng cũng như trong vô thức của cá nhân dưới dạng huyền thoại, cổ</i>
<i>tích, những giấc mơ…Chúng tạo thành khn mẫu của tư duy cho mọi người</i>
<i>và mỗi người” [32, 43].</i>
Nếu như Nguyễn Trãi sáng tạo ở phương diện nội dung bằng việc đưa
vào thơ Nơm Đường luật những gì mộc mạc, bình dị dân dã của Việt Nam thì
Xuân Hương lại tỏ ra mạnh mẽ và sắc sảo vô cùng khi tiếp thu yếu tố dân gian
để sáng tạo nên những bài thơ đầy nghĩa biểu tượng, phồn thực mà khơng phải
ai cũng dám nói và dám viết như Xn Hương. Đúng như lời nhận xét của Đỗ
Lai Thúy:“Thơ Hồ Xn Hương có một hệ thống hình ảnh hoặc gián tiếp hoặc
<i>trực tiếp nói đến sinh thực khí nam nữ, hành động tính giao, những bộ phận</i>
<i>gợi dục trên thân thể phụ nữ…, như miếng trầu hôi, cái quạt,đồng tiền hoẻn,</i>
<i>đánh đu, tát nước…Những hình ảnh đó đan cài vào nhau, dệt thành một lớp</i>
<i>nghĩa thứ hai cho mỗi bài thơ và toàn bộ thi phẩm”…[32, 19]</i>
Sự độc đáo và sáng tạo trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương trước hết là ở
việc xây dựng các hình ảnh biểu tượng. Sự phong phú của chúng đã được Đỗ
Lai Thúy phân thành nhiều loại, nhiều kiểu. Theo ơng gồm có:
<b>nữ: Bồng đảo (vú), lưng ong, nương long, sườn…Những biểu tượng phồn</b>
thực trên lại cịn có thể chia thành hai loại: Biểu tượng <b>gốc (những biểu</b>
tượng đã tồn tại lâu dài trong ký ức cộng đồng) và biểu tượng phái sinh (tức
là những hình ấy, từ ấy vốn khơng có nghĩa nhưng khi đi vào thơ Nơm Hồ
Xuân Hương, gắn với văn cảnh cụ thể của từng bài thơ, trở thành sáng tạo
riêng của nữ sĩ).
Quả thật, thơ của Hồ Xuân Hương thường mang ý nghĩa biểu tượng bởi
trong thơ bà có những hình ảnh gợi sự liên tưởng cao. Những biểu tượng
Điển hình:
Hang, động trong tiềm thức sâu xa của người Việt thường gắn liền với
bộ phận âm vật của người phụ nữ. Bởi dân gian quan niệm, trời là cha, đất là
mẹ. Con người và mn lồi được sinh ra từ lòng đất mẹ, từ hang động, vách
đá. Bởi vậy trong thơ Nôm của Xuân Hương, chúng ta bắt gặp những hình
ảnh hang động đầy sức ám ảnh: Hang Thanh Hố, Động Hương Tích, Đèo
<i><b>Ba Dội, Và đây là hình ảnh Hang Cắc Cớ:</b></i>
Trời đất sinh ra đá một chịm,
Nứt làm đơi mảnh hỏm hịm hom.
Luồng gió thơng reo vỗ phập phịm.
Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm,
Kẽ hầm rêu mốc trơ hoen hoẻn,
Con đường vô ngạn tối om om.
Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc,
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm”.
<i>mốc, giọt nước hữu tình, con đường vơ ngạn, hớ hênh, lắm kẻ dịm”</i>… khiến
người đọc liên tưởng đến một nghĩa biểu tượng ngầm: Âm vật của người phụ
nữ. Qua khảo sát, người viết nhận thấy trong các sáng tác thơ Nôm của Xuân
Hương có rất nhiều bài thơ nói đến biểu tượng âm vật mà ít có những tác
phẩm đề cập đến hình ảnh dương vật. Tuy nhiên, Xuân Hương cũng tỏ ra sắc
sảo và độc đáo vơ cùng khi vận dụng hình ảnh “sừng” trong tín ngưỡng phồn
thực để biểu tượng cho dương vật:
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa
Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa.
<i>(Lũ ngẩn ngơ)</i>
Trong tín ngưỡng của người Ấn Độ, tục thờ thần Shiva (con bò đực),
một thần sáng tạo vũ trụ đồng thời cũng là thần dương vật rất được đề cao.
Trong tâm thức của người ngun thuỷ, “đơi sừng” cịn được biểu hiện cho
quyền uy, sức mạnh của con người và cũng để phân biệt với giống cái. Sừng
là biểu hiện của săn bắt so với hái lượm, của đàn ông so với đàn bà, của
dương so với âm. Do vậy, đọc hai câu thơ trên, chúng ta không chỉ thấy được
“đặc tính” và chức năng “húc” của con vật cụ thể (dê) mà qua đó cịn thấy
được một hình ảnh ám ảnh, là biểu tượng “sừng”- dương vật của người đàn
ông.
Trong các sáng tác thơ Nôm, Hồ Xuân Hương cũng rất hay sử dụng
những hình ảnh liên tưởng đến hành vi tính giao. Hãy xem nữ sĩ say sưa miêu
tả cảnh Đánh đu:
Chơi xuân có biết xuân chăng tá
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.
Trước Xuân Hương, Lê Thánh Tơng cũng có bài vịnh Cây đánh đu:
Bốn cột lang nha ngắm để trồng
Ả thì cái đánh, ả cịn ngong
Tế hậu khổ, khom khom cật
Vái hồng thiên, ngửa ngửa lòng
Tám bức quần hồng bay phấp phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song
“Đánh đu” là một trị chơi dân gian mang tính chất nghi lễ trong các lễ hội.
Nếu như bài “Vịnh đánh đu”của Lê Thánh Tơng miêu tả một nghi lễ mang tính
chất thiêng liêng vái trời đất thì “Đánh đu” của Hồ Xuân Hương khiến người ta
liên tưởng đến chuyện ân ái, buồng the vợ - chồng. Mô tả đánh đu, Đỗ Lai Thuý
nhận xét: “Khi cây đu chuyển động của người đàn ông (so với người đàn bà) từ
<i>nằm dưới lên nằm trên rồi lại từ nằm trên xuống nằm dưới. Còn người đàn bà thì</i>
<i>ngược lại. Đây là sự bù đắp, giao hoà năng lượng nam và năng lượng nữ mang</i>
<i>một ý nghĩa phồn thực” [32, 59]. Ông cũng cho rằng “đây là một trong những</i>
<i>biểu tượng của hành động tính giao có lẽ cổ sơ hơn cả” [32, 58].</i>
Quả thật, những biểu tượng của văn hố tín ngưỡng phồn thực đã trở
thành những “chất liệu” rất đắt để Xuân Hương làm thơ. “Nó mang trên mình
<i>những dấu tích tuy bị thời gian vùi lấp nhưng không bao giờ mất hẳn của tín</i>
<i>ngưỡng phồn thực. Nó là những mắt thơ, điểm chứa năng lượng và phát sáng</i>
<i>trong thơ của nữ sĩ” [32, 61].</i>
nghĩ đến nghĩa thực theo câu chữ cũng khó có thể khơng mập mờ mà nhận ra
những biểu tượng khác. Đồng thời những hình ảnh biểu tượng góp phần làm
độc đáo thêm yếu tố “tục” và nó chính là “cái mã” đển nhận diện sự độc đáo
trong thơ Nôm của Xuân Hương so với những tác giả trung đại khác vốn coi
thơ là một thể loại văn học cao quý dùng để trở đạo. Quả đúng như lời nhận
xét của Trần Thanh Mại: “Sự mô tả cảnh vật thiên nhiên như vậy khiến chúng
<i>ta phải suy nghĩ rằng mục đích của một số bài thơ khơng phải để nói lên tinh</i>
<i>thần yêu thiên nhiên, yêu đất nước mà chỉ mượn cớ để mô tả một bộ phận</i>
<i>sinh dục, mô tả một động tác thuộc quan hệ giao hợp nam nữ mà thôi”</i> [12,
843].
Một trong những biểu hiện của sự sáng tạo độc đáo trên phương diện
nội dung trong thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương là việc bà dám cơng
khai nói đến hạnh phúc trần thế của con người. Trong xã hội phong kiến, các
tôn giáo như Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo ngự trị trong cuộc sống của con
người trung đại đều cho rằng cuộc sống trần thế là một bể khổ, hạnh phúc con
người không thể tìm thấy trong cuộc sống thực tại nên đều chủ trương khuyên
con người vươn lên cõi “niết bàn”, cõi tiên, cõi hư vơ để hưởng hạnh phúc.
Thì Xn Hương lại quan niệm hạnh phúc ở ngay trong cuộc đời thực, cuộc
đời trần thế và nó được biểu hiện rõ rệt nhất ở khía cạnh hạnh phúc ái ân của
con người. Có thể nói, việc cơng khai một cách “bạo mồm” và coi đó là một
nhu cầu, một khát vọng sống chính đáng của con người chứng tỏ sáng tạo độc
đáo của nữ sĩ. Qua tìm hiểu, chúng tơi nhận thấy, dù viết về đối tượng nào,
nhưng “mẫu số chung” trong thơ Nôm của bà đều liên quan đến hạnh phúc
trần thế của con người. Đặc biệt là những bài thơ viết về những hiền nhân
quân tử, nhân vật sư sãi và hình tượng người phụ nữ.
Xuân Hương lại chính là việc bắt nguồn từ hạnh phúc ái ân của con người để
làm chuẩn mực, làm thước đo đánh giá đạo đức những bậc hiền nhân. Chính
từ khía cạnh này mà trong thơ của Xuân Hương, chúng ta thấy hình ảnh
những “hiền nhân” chẳng ra hiền nhân, quân tử cũng không giống người nho
nhã, lịch thiệp. Với tác giả, cụm từ “hiền nhân quân tử” chẳng qua chỉ là “hữu
danh vô thực”. Những kẻ từng rêu rao cho triết lí Nho, Phật…lại là những kẻ
khát khao phàm tục, ham muốn sắc dục một cách mãnh liệt. Qua đó cũng thấy
được những khn mặt đạo đức giả của tầng lớp trên được coi là chuẩn mực
của phong kiến. Xuân Hương đã nhắm trúng điểm yếu để vỗ thẳng vào mặt,
“xé toạc hết các bộ mặt giả dối, lột trần hết những chiếc áo đạo đức cũn cỡn
<i>để chúng lộ nguyên hình là một lũ bịp bợm dối đời và dốt nát” </i>[11, 298].
Nhìn thấy cảnh người thiếu nữ ngủ quên có vẻ đầy hớ hênh nhưng họ đâu có
phê phán mà ngắm nhìn say mê:
Qn tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì cũng dở, ở khơng xong.
(Thiếu nữ ngủ ngày)
Hình ảnh của vị quân tử đã bị Xuân Hương chộp được trong giây phút tế
nhị nhất, đó là sự dùng dằng giữa một bên là con người đời thường với những
ham muốn trần thế với một bên là triết lí của giáo lí phong kiến trong tư tưởng
của người qn tử. Vì vậy mới tạo nên sự mâu thuẫn: Đi cũng rở, ở cũng không
xong.
Hay trước cảnh “Một đèo, một đèo, lại một đèo” của Đèo Ba Dội nhưng
ám chỉ sau đấy là một đèo nữa, cái đèo mà các vị quân tử:
Hiền nhân quân tử ai là chẳng,
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo”.
các vị hiền nhân quân tử “vẫn muốn trèo”. Qua đó đủ thấy Xuân Hương có sự
táo bạo, sắc sảo như thế nào khi tạo ra cú hích vào bộ mặt đám hiền nhân.
Trong xã hội phong kiến, vua, chúa được coi là “thiên tử” - con nhà trời
nên nghiễm nhiên phải là những bậc quân tử chính trực nhất. Nhưng trong thơ
của Xuân Hương, họ chẳng khác nào là những đại biểu xuất sắc cho thói ham
hố sắc dục một cách trần tục. Ta thấy Xuân Hương ỡm ờ một câu:
- Chúa dấu vua yêu một cái này.
“Một cái này” chính là Cái quạt cũng khiến ta liên tưởng đến thú vui
trần thế của vua chúa, đó là cuộc sống ái ân trai gái.
Phê phán thói đạo đức giả, Xn Hương khơng chỉ nhắm đến đối tượng
Chẳng phải Ngơ, chẳng phải ta
Đầu thì trọc lốc, áo khơng tà…
Có lúc nhà thơ lại miêu tả cảnh đầy màu sắc tính dục:
Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm,
Vãi núp sau lưng sáu bảy bà.
Khi canh, khi tiu, khi chũm choẹ,
Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha.
nhất. Xuân Hương đã mượn chuyện không phải ai cũng dám nói để “vạch
<i>trần cái mâu thuẫn đầy tính khơi hài của nội dung rất phàm tục lại được che</i>
<i>đậy bằng một lớp vỏ đạo đức giả dối” [12, 298]. </i>
Ngay cả khi viết về người phụ nữ thì “mẫu số chung” vẫn chính là khát
khao hạnh phúc trần thế, là cái đích nhắm tới của Xuân Hương. Nhưng nếu
như viết về đối tượng hiền nhân quân tử, Xuân Hương dùng khía cạnh hạnh
phúc trần thế của con người làm vũ khí đả kích thì khi viết về người phụ nữ,
nhà thơ lại khẳng định hạnh phúc ái ân là một nhu cầu, một khát vọng sống
chính đáng của người phụ nữ. Như vậy, cùng sử dụng một “mẫu số chung” để
sáng tạo thơ ca, song tuỳ thuộc vào đối tượng cụ thể mà nữ sĩ có cách viết
khác nhau, điều đó chứng tỏ sự sáng tạo độc đáo và tài năng của Xuân
<i>bằng con mắt của phụ nữ và những vấn đề mà bà đề cập đến đều “sát sườn”</i>
<i>với người phụ nữ [32, 87].</i>
Xã hội phong kiến đã dành riêng cho người phụ nữ những quy chế nặng nề
về đạo đức, lễ giáo, về “tam tòng, tứ đức”. Song xuất phát từ chính cuộc đời nhiều
bất hạnh trong cuộc sống riêng tư, lại là người phụ nữ thông minh, sắc sảo, có cá
tính mạnh mẽ nên việc cơng khai nói tới những nỗi khổ riêng có tính chất giới tính
của mình là một điều dễ hiểu đối với Hồ Xn Hương. “Nhà thơ thường xốy sâu
<i>vào các ngóc ngách éo le của cuộc đời để nói lên những bi kịch khơng kém phần</i>
<i>chua chát mà bình thường nó bị xóa nhịa trong cuộc sống vốn dĩ đã rập khuôn</i>
<i>theo những chế ước nặng nề của lễ giáo” [11, 293]. Chẳng mấy ai đi viết về cảnh</i>
<b>Làm lẽ với sự phản kháng mạnh mẽ như Xuân Hương:</b>
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Năm thì mười họa hay chăng chớ
Một tháng đơi lần có cũng không…
Cảnh làm lẽ, lấy chung một chồng trong xã hội phong kiến khơng có gì
lạ với người phụ nữ nhưng cái lạ của nữ sĩ trong bài thơ này là việc bà đề cập
đến chuyện đấy của người đàn bà chịu cảnh làm lẽ. Với nữ sĩ, đó là cái “kiếp”
gắn liền với cuộc đời nên dù có muốn cũng chỉ được dừng lại ở một số lượng
có thể đếm được: “Năm thì mười họa”, “Một tháng đơi lần”. Đồng thời, thơ
của Xuân Hương có rất nhiều bài nói về chồng chết: Khóc Tổng Cóc, Khóc
<i><b>Ơng Phủ Vĩnh Tường, Bỡn bà lang khóc chồng, Dỗ người đàn bà chồng</b></i>
<i><b>chết</b></i>…Trong cuộc sống thường nhật, người phụ nữ sẽ bất hạnh đủ đường nếu
chẳng may chồng qua đời nhưng bà lại chỉ chú ý đến một khía cạnh - khía
cạnh ai cũng hiểu nhưng khơng nói ra được:
Cán cân tạo hóa rơi đâu mất
Miệng túi càn khôn khép lại rồi.
Thử soi sáng các từ “cán cân tạo hóa” và “miệng túi càn khôn” vào
trong biểu tượng của văn hóa tín ngưỡng phồn thực. Chúng ta thấy, “cán cân”
là biểu tượng cho dương vật của người đàn ông; “Miệng túi càn khôn” lại là
biểu tượng cho âm vật người phụ nữ. Thì ra Xuân Hương đã mượn hình ảnh
trời đất để nói đến một khía cạnh có tính chất đau thương của người phụ nữ:
Cái (cái đấy) của chàng mất đi rồi, giờ chỉ cịn mình em lẻ bóng, nên đành
phải “khép lại”.
Hay trong bài “Bỡn bà lang khóc chồng”, Xuân Hương đã mượn các vị
thuốc:
Thạch nhũ, trần bì sao để lại
Quy thân, liên nhục tẩm mang đi.
Sự lấp lửng hai mặt của hai câu thơ trên cho phép ta liên tưởng đến
“mẫu số chung” trong thơ Hồ Xuân Hương: Đó là cái đấy, chuyện đấy của vợ
chồng. “Thạch nhũ, trần bì, quy thân, liên nhục” vừa là những vị thuốc, vừa
là da thịt và các bộ phận của người đàn ông và người phụ nữ. Từ “sao” là
hành động sao thuốc nhưng cũng là câu hỏi: Của em hấp dẫn là vậy mà sao
chàng lại để lại, cái của chàng sao lại mang đi? Hồ Xuân Hương “bỡn” bà
lang nhưng không phải là tiếng cười mà bằng tấm lịng cảm thơng, chia sẻ, là
niềm xót thương cho những số phận hẩm hiu chẳng may chồng chết bởi nữ sĩ
quan niệm: Mất chồng là mất hạnh phúc lứa đôi.
“dâm”. Cái “tục” trong thơ của Xuân Hương mang ý nghĩa khẳng định khát
vọng yêu, được yêu, khao khát hạnh phúc trần thế đầy nhân bản của con
Ngoài ra, trong quan niệm nghệ thuật về người phụ nữ của Xuân
Hương cũng rất độc đáo. Nếu như trong thơ cổ, người con gái đẹp phải được
sánh với sự chuẩn mực của thiên nhiên gắn liền với hoa, tuyết, nguyệt, là hình
ảnh người con gái “liễu yếu đào tơ”, “trướng rủ màn che”…thì thơ bà mang
vẻ đẹp trịn trịa đầy sức sống của tín ngưỡng phồn thực”, một vẻ đẹp rất tự
nhiên, vốn có của người phụ nữ, Xuân Hương miêu tả vẻ đẹp người phụ nữ ở
những khía cạnh trần tục nhất. Đây cũng chính là một nét sáng tạo độc đáo
của Xuân Hương về người phụ nữ. Đọc thơ Nơm của bà, “<i>người ta thấy hình</i>
<i>ảnh thân thể phụ nữ khi ẩn khi hiện ở nhiều bài thơ” [32, 73], chúng ta cũng</i>
bắt gặp hình ảnh những cơ gái xinh xắn, tinh khiết trong độ tuổi thanh xuân.
Đó là vẻ đẹp đang lên men đầy tự nhiên của người Thiếu nữ ngủ ngày khiến
người quân tử được thấm nhuần tư tưởng nho giáo cũng phải giật mình, “dùng
dằng” trước vẻ đẹp trần thế đó. Xuân Hương đã nắm rất chắc nguyên tắc hội
họa “nửa kín, nửa hở” để miêu tả cảnh “nằm chơi quá giấc nồng” của người
thiếu nữ ngủ qn, “khỏa thân một cách vơ tình”. Sau này, Nguyễn Du cũng
vận dụng tài tình nguyên tắc này để miêu tả cảnh Thúc Sinh ngắm Thúy Kiều
tắm, song cũng phải sau bức màn hồng, dẫu biết làm sao có thể “ lấy vải
thưa” mà che được “mắt thánh”:
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Hay trong bài Vịnh <i><b>Tranh tố nữ, Xn Hương khơng có những nét</b></i>
miêu tả cụ thể nhưng vẻ đẹp “xinh mà<i>…cũng xinh” vẫn hiển hiện trong sự lơi</i>
cuốn đến kì lạ:
Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cơ mình
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Đơi lứa như in tờ giấy trắng
Nghìn năm cịn mãi cái xn xanh
Xiếu mai chi dám tình trăng gió
Bồ liễu thơi đành phận mỏng manh
Còn thú vui kia sao chẳng vẽ
Trách người thợ vẽ khéo vơ tình.
Ở đây, ta bắt gặp một vẻ đẹp rất đáng yêu của người thiếu nữ, một vẻ
đẹp trong trắng, thuần khiết. Nhưng hình như Xuân Hương cũng hiểu cái đẹp
của thân thể phụ nữ rất mỏng manh, thống chốc “Bồ liễu thơi đành phận
mỏng manh” nên bà thường gắn liền nó với sự vĩnh cửu “Nghìn năm cịn mãi
cái xn xanh”. Đồng thời, ở khía cạnh vẻ đẹp của người phụ nữ, Xuân
Hương cũng có quan niệm rất độc đáo về cái đẹp. Đó là cái đẹp hài hịa giữa
hình thể và tâm hồn. Điều này được Đỗ Đức Hiểu gọi bằng một từ rất đúng và
rất hay, mô tuýp “trắng - son”. “Màu trắng tượng trưng cho da, cho thân thể,
<i>màu son tượng trưng cho tâm hồn. Trắng son là cái đẹp của của thân thể và tâm</i>
<i>hồn, vừa thanh thoát vừa son sắt, đầy sức sống và thiết tha với cuộc đời” [32,</i>
73]:
Thân em vừa trắng lại vừa trịn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Sự sáng tạo độc đáo của Xuân Hương trong bài thơ này là từ hình ảnh
…Đêm vắng cớ chi phô tuyết trắng
Ngày xanh sao lại thẹn vừng son.
Thân thể người phụ nữ được nâng lên cao, cô đơn, trong trạng thái “lơ
lửng”, “chờ đợi”. Hỏi trăng nhưng thực chất là hỏi chính bản thân mình:
Năm canh lơ lửng chờ ai đó
Hay có tình riêng với nước non.
Như vậy, ở nội dung viết về người phụ nữ, chúng ta thấy nét sáng tạo rõ
rệt nhất của Xuân Hương so với thơ Đường luật là ở việc Xuân Hương đưa
hình ảnh người phụ nữ bình thường với những dằn vặt cũng rất đời thường,
chân thực trong cuộc sơng riêng tư của mình vào trong thơ với tấm lòng sẻ
chia, đồng cảm sâu sắc. Việc phản ánh những tình cảm riêng tư thầm kín
thuộc về giới nữ trong Thơ Đường luật hầu như khơng có, thì với việc Xuân
Hương dám khẳng định cá tính, “bạo mồm” nói đến những nỗi khổ của người
phụ nữ ở khía cạnh mang đậm tính giới tính của bản thân cũng như miêu tả vẻ
đẹp của người phụ nữ ở những khía cạnh trần tục nhất cho thấy đây là một nét
sáng tạo độc đáo trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương so với thơ
Đường luật.
Nếu so với Nguyễn Trãi thì Xn Hương dường như khơng có sự cách
Ở khía cạnh ngôn ngữ trên phương diện nghệ thuật trong thơ Nơm
truyền tụng Hồ Xn Hương, có nhiều lúc yếu tố Hán và Việt được đan cài
nhau trong một bài thơ, nhưng tất nhiên Xuân Hương vẫn chủ trương dùng
thứ ngôn ngữ mang tính thuần t Việt Nam. Ngơn ngữ trong thơ Nôm của
Xuân Hương mộc mạc, giản dị. “Ngôn ngữ của Xn Hương khơng khác gì
<i>ngơn ngữ của ca dao, dân ca” [27, 168]. Bởi vậy không phải ngẫu nhiên mà</i>
bà được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”
Điểm nổi bật trong cách sử dụng ngôn ngữ của Xuân Hương là việc bà
đã vận dụng một cách khéo léo những phong tục, thói quen, những câu tục
ngữ, thành ngữ trong dân gian nhằm tạo ra sự biểu cảm sâu sắc.
“Mời trầu” vốn là một phong tục cổ truyền rất đẹp trong dân gian.
Miếng trầu trở thành lí do mở đầu câu chuyện: “Miếng trầu là đầu câu
chuyện”; Miếng trầu cũng là lí do để trai gái nên duyên vợ chồng:
- Yêu nhau ăn một miếng trầu
Gọi là nghĩa cả về sau, mời chào.
- Trầu này ăn thiệt là say
Dù mặn, dù nhạt, dù cay, dù nồng
Dù chẳng nên vợ nên chồng
Xơi dăm ba miếng kẻo lòng nhớ mong.
Đến Mời trầu của Xuân Hương chúng ta không chỉ thấy nhà thơ bày tỏ
lòng mến khách mà còn thể hiện ước mong về một tình duyên đẹp lứa đơi:
Có phải dun nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá bạc như vơi.
Tục ngữ có câu Nương long mỗi ngày mỗi cao; Má đào mỗi ngày mỗi
<i>đỏ ý nói sự phát triển của tuổi dậy thì. Và thành ngữ cũng có câu đẹp như tiên</i>
<i>Non Bồng, tức là vẻ đẹp thần tiên, Xuân Hương đã vận dụng vào trong bài thơ</i>
<i><b>Thiếu nữ ngủ ngày để miêu tả vẻ đẹp của cơ thể thiếu nữ:</b></i>
Lược trúc chải cài trên mái tóc
Yếm đào trễ xuống dưới nương long
Đơi gị Bồng Đảo sương còn ngậm
Một lạch Đào Nguyên suốt chửa thơng...
Qua khảo sát, có 17/48 bài thơ mà Xn Hương vận dụng những thành
ngữ, tục ngữ. Đáng chú ý, trong một bài thơ, Xuân Hương liền lúc sử dụng rất
nhiều câu tục ngữ, thành ngữ, ví dụ các bài: Quan Thị, Làm Lẽ, Thiếu Nữ ngủ
<i>ngày...Chúng tôi cũng dựa vào kết quả khảo sát của PGS - TS Lã Nhâm Thìn</i>
để khẳng định trong thơ Nơm truyền tụng của Xn Hương sử dụng nhiều
thành ngữ, tục ngữ, ca dao:
Theo khảo sát, Quốc âm thi tập: 1 câu thơ có thành ngữ, tục ngữ / 79,5
câu thơ; Bạch Vân quốc ngữ thi tập: Một câu thơ có thành ngữ, tục ngữ /
47,2 câu thơ; Thơ Nôm Hồ Xuân Hương: Một câu có thành ngữ, tục ngữ, ca
dao / 26,8 câu thơ; Thơ Tú Xương: Một câu có thành ngữ, tục ngữ, ca dao /
57,7 và tỉ lệ này ở thơ Nguyễn Khuyến là 1 câu thơ / 54,4 câu thơ.
Như vậy, trong số những tác giả thơ Nôm Đường luật thì Xuân Hương
- Hai chân đạp xuống năng năng nhắc
Mộ suốt đâm ngang thích thích nhau.
(Dệt cửi)
- Trai đu gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lịng.
<i>(Đánh đu)</i>
- Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha.
<i>(Sư hổ mang)</i>
- Ngõ ngay thăm thẳm tới nhà ông
Giếng tốt thanh thơi, giếng lạ lùng
Cầu trắng phau phau đôi ván ghép
Nước trong leo lẻo một dịng thơng.
(Giếng thơi)
Là một người phụ nữ có cá tính mạnh mẽ, sắc sảo nên trong thơ của bà,
ta thấy có rất nhiều từ mạnh. Với nhà thơ, gam màu sắc phải là những màu
nóng, nổi trội, đã đỏ phải là “đỏ lòm lòm”, “đỏ loét”, xanh thì phải “xanh rì”:
- Cửa son đỏ loét tùm hum nóc
(Đèo Ba Dội)
Xuân Hương cũng hay dùng những động từ mạnh:
- Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.
- Xiên ngang mặt đất rêu từng đám.
<i> Đâm toạc chân mây đá mấy hịn...</i>
Nhà thơ cũng tỏ ra ưa thích sử dụng những từ có khả năng gợi âm thanh
náo động. Đó là tiếng “mõ khua”, tiếng quạt “phì phạch”, tiếng ong “vo ve”...
Đó cịn là tiếng “lắc cắc” của dùi trống khi gõ:
(Kẽm Trống)
Với Xuân Hương, mọi thứ đều nửa vời, dở dang thì việc sử dụng những
động từ mạnh cùng điệp từ đã góp phần bộc lộ tâm trạng nhà thơ, góp phần để
giải toả những ẩn ức mà khi nói ra, xã hội phong kiến khơng dễ dàng gì chấp
nhận nó. “Quằn quại và đau đớn, lòng căm phẫn đối với xã hội bất cơng, một
<i>cái gì tha thiết của cuộc sống riêng tây và sự lăn lộn tiếp xúc với người phụ</i>
<i>nữ cũng bị áp bức trong xã hội” [11, 292], tất cả đã hun đúc nên một giọng</i>
thơ nhọn sắc, có phần nào “đanh đá” rất Xuân Hương.
Ngoài ra, Xuân Hương rất chú ý tạo “điểm nhấn” cho ngôn ngữ bằng
cách sử dụng lối nói lái như trong dân gian vào trong thơ Nơm Đường luật:
Ví dụ:
Trong bài Chùa Qn Sứ:
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo
Chày kình, tiểu để suông không đấm
Tràng hạt vãi lần đếm lại đeo…
Hay bài Kiếp Tu Hành:
Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
Vị gì một chút tẻo tèo teo
Buồm từ cũng muốn về Tây Trúc,
<i>Trái gió cho nên phải lộn lèo.</i>
Thử khơi phục lại những nghĩa thực trong các cụm từ, câu thơ trên, ta
thấy những hình ảnh, biểu tượng của “phồn thực” hiện lên đầy ngờ, độc đáo
thú vị. Như vậy, cách nói lái của Xuân Hương góp phần làm cho câu thơ thêm
phần đặc sắc, hấp dẫn. Ngoài ra nữ sĩ cũng hay sử dụng các yếu tố ngơn ngữ
điệu nói với các từ như: Này, kia, đấy, thì, là…Việc sử dụng ngôn ngữ hàng
ngày đã khẳng định vị thế của Xn Hương và góp phần làm cho thơ Nơm
của bà trở nên gần gũi, dễ hiểu.
- Đi thì cũng dở ở khơng xong.
<i>(Thiếu nữ ngủ ngày)</i>
- Ghé mắt trơng ngang thấy bảng treo
<i> Kìa đền Thái Thú đứng cheo leo.</i>
<i>(Đề đền Sầm Nghi Đống)</i>
Vì hầu như hình thức bài thơ nào trong Xuân Hương cũng áp dụng
“phần cứng” trong luật thi Đường, nên việc gieo vần là một yếu tố rất quan
Ví dụ:
Trong bài Chùa Quán Sứ, Xuân Hương gieo vần “eo” (độc vận) nhằm
tạo ra sự vắng lặng đến thảm hại của ngôi chùa này. Bài Hang Cắc <i><b>Cớ </b></i>với
việc sử dụng tử vận “om”: Chòm, hỏm hòm hom, phòm, lõm bõm, <i>om, dịm,</i>
làm bài thơ khơng chỉ mang ý nghĩa thực mà mang ý nghĩa ngầm, chỉ một bộ
phận trên thân thể người phụ nữ. Hay trong bài Tự tình, I:
Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom
Oán hận trông ra khắp mọi chịm
Mõ khảm khơng khua mà cũng cốc
Chuồng sầu chẳng đánh cớ sao om
Trước nghe những tiếng rên rầu rĩ
Sau giận vì dun để mõm mịm
Tài tử văn nhân ai đó tá
Thân này đâu đã chịu già tom.
(Tự tình, bài I)
Như vậy, việc cách tân hình thức nghệ thuật cùng việc sáng tạo nội dung độc
đáo, đầy táo bạo, sắc sảo đã góp phần làm nên phong cách độc đáo riêng của Hồ
Xuân Hương, khó lẫn với bất kì một nhà thơ nào. Là một nhà thơ nữ, bà đã hồn
thành xuất sắc nhiệm vụ của mình trên bước đường dân chủ hóa, dân tộc hóa nền
văn học dân tộc. Tiếng thơ của Xuân Hương đã góp phần làm nên những sắc màu
rực rỡ của thơ Nôm Đường luật so với thơ Đường luật Trung Quốc. Bà xứng đáng
là “một hiện tượng độc đáo của Việt Nam, và có lẽ, của cả thế giới. Độc đáo đến
2.3. Kết quả thực nghiệm
Qua quá trình vận dụng đề tài vào thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy chất lượng học
tập của HS tăng lên đáng kể, nhất là khi giảng dạy bài Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi)
ở lớp 10 và Tự tình 2 (Hồ Xuân Hương) ở lớp 11. Sau đây là bản thống kê theo
phiếu khảo sát đánh giá và qua các bài kiểm tra:
Tiêu chí Tỉ lệ hiểu bài, yêu
thích các bài thơ
nôm Đường luật,
nhanh chóng nắm
được nội dung,
nghệ thuật
Tỉ lệ hiểu chung
sơ sài về bài thơ,
yêu thích bài thơ ở
mức độ trung bình
Tỉ lệ khơng hiểu,
khơng u thích
Khi chưa áp dụng
đề tài (năm học
2013-2014)
Khi áp dụng năm
2014-2015
70% 20% 10%
Khi áp dụng năm
2016-2017
90% 10% 0 %
Như vậy, ta có thể thấy rõ hiệu quả của việc áp dụng sáng kiến này vào trong thực
tế giảng dạy.
<b>KẾT LUẬN</b>
Trong quá trình giao lưu, tiếp biến giữa hai nền văn hóa Trung - Việt,
thơ Đường luật có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đối với nền văn học trung đại Việt
Nam, đặc biệt trong dòng văn học viết bằng chữ Hán. Tuy nhiên, với sự xuất
hiện của chữ Nơm và văn học viết bằng chữ Nơm thì bên cạnh việc tiếp thu,
thơ Đường luật đã được cha ông ta Việt hóa và sáng tạo trên cả phương diện
nội dung và nghệ thuật, làm cho thơ Nôm Đường luật trở nên giản dị, gần gũi
quen thuộc với người dân Việt Nam.
thơ Nôm của Nguyễn Trãi là cơ sở để các nhà nho sau này học tập như: Lê
Thánh Tông và Hội Tao Đàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến…
Sau Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương là người có ý thức Việt hóa và sáng
tạo mạnh mẽ nhất trong dịng thơ Nơm Đường luật. Xn Hương là một hiện
tượng độc đáo, độc nhất vơ nhị trong dịng văn học dân tộc. Dường như Xuân
Hương không phá cách mạnh mẽ ở phương diên nghệ thuật của thơ Đường luật
như Nguyễn Trãi mà bà chủ trương dùng hình thức nghiêm chỉnh của luật thi
Đường để mang yếu tố mới vào nội dung. Sự Việt hóa và sáng tạo trên phương
diện nội dung trong Thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương được thể hiện
rõ nhất ở việc bà đưa những yếu tố thơng tục, đời thường vào trong thơ của
mình nhằm khẳng định khát vọng tình yêu và hạnh phúc trần thế của con
người. Ngoài ra trên phương diện nghệ thuật, Xuân Hương tỏ ra độc đáo trong
cách gieo vần, sử dụng các từ mạnh cùng yếu tố ngôn ngữ dân gian, hàng ngày
mang đến cho thơ Nôm Đường luật âm điệu gần gũi, quen thuộc. Chính vì vậy,
bà trở thành một đỉnh cao của dịng thơ Nơm Đường luật Việt Nam.
Nói tóm lại, trong ngần ấy thế kỉ tồn tại và phát triển, thơ Nôm Đường
luật đã tạo nên những diện mạo mới mẻ so với thơ Đường. Sự đóng góp có ý
nghĩa của hai tác giả Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương trên phương diện nội
dung và hình thức thể loại trong thơ Nôm của dân tộc là cơ sở để chúng ta tự
hào một cách chính đáng về một thể loại văn học tuy có nguồn gốc ngoại lai
nhưng đã mang đậm dấu ấn và phong cách con người Việt Nam.
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO</b>
1. Nguyễn Huệ Chi (1977), Thơ văn Lý - Trần, NXB KHXH.
4. Xuân Diệu (1998), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, NXB Văn học, (TB).
5. Hà Minh Đức - Bùi Văn Nguyên 2006), Thơ ca Việt Nam, hình thức
<i>và thể loại, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội (TB).</i>
6. Nguyễn Thị Bích Hải (2003), Bình giảng thơ Đường, NXB Giáo dục,
8. Dương Quảng Hàm (1993), Việt Nam văn học sử yếu, NXB Tổng
hợp Đồng Tháp.
9. Tế Hanh (1982), Hồn thơ đa dạng của Nguyễn Trãi / Kỉ niệm 600
<i>năm sinh Nguyễn Trãi, NXB KHXH, H.</i>
10. Đinh Gia Khánh (2005), Văn học Việt Nam thế kỉ X đến nửa đầu
<i>thế kỉ XVIII, NXB Giáo dục (TB).</i>
11. Nguyễn Lộc (2007), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII đến
<i>hết thế kỉ XIX, NXB Giáo dục (TB).</i>
12. Trần Thanh Mại (2007), Thử bàn lại vấn đề tục và dâm trong thơ
<i>Hồ Xuân Hương / Hồ Xuân Hương về tác gia tác phẩm, NXB Giáo</i>
dục.
13. Lữ Huy Nguyên (2006), Hồ Xuân Hương, thơ và đời, NXb Văn
học.
14. Bùi Văn Nguyên (1994), Thơ Quốc âm Nguyễn Trãi, NXB Giáo dục Hà Nội.
15. Phan Diễm Phương (1996), Thử tìm hiểu những điều kiện hình
<i>thành hai thể thơ lục bát và song thất lục bát, Tạp chí văn học, số 3..</i>
16. Nguyễn Hữu Sơn (2003), Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm, NXB
Giáo dục, H.
17. Nguyễn Hữu Sơn - Vũ Thanh (2007), Hồ Xuân Hương về tác gia và
<i>tác phẩm, NXB Giáo dục (TB).</i>
18. Trần Đình Sử (1999), Mấy vấn đề thi pháp văn học văn học trung
<i>đại Việt Nam, NXB Giáo dục.</i>
21. Nhiều tác giả (2007), Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 1, NXB Giáo
dục (TB).
22. Nhiều tác giả (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục (TB).
23. Nhiều tác giả (2009), Hồ Xuân Hương, Tác phẩm chọn lọc, NXB Giáo dục.
24. Nhiều tác giả (1993), Văn hóa truyền thống Tày – Nùng , NXB Giáo
dục, H.
25. Nhiều tác giả (1997), Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt
<i>Nam, NXB Giáo dục.</i>
26. Lã Nhâm Thìn (2006), Bình giảng thơ Nơm Đường luật, NXB
Giáo Dục (TB).
27. Lã Nhâm Thìn 2006), Thơ Nơm Đường luật, NXB Giáo dục (TB).
28. Hồi Thanh, Hoài Chân (2006), Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học.
29. Tuấn Thành, Anh Vũ (2002), Nguyễn Trãi, Tác phẩm và dư luận,
NXB Văn học.
30. Ngô Đức Thọ (1996), Bước đầu tìm hiểu quy tắc Hàn luật qua tập
<i>thơ “Ngự Đề Thiên Hịa doanh bách vịnh”, Tạp chí văn học, số 3.</i>
31. Trần Văn Thục, Văn học Trung Quốc (Biên soạn theo chương trình
CĐSP hiện hành, Lưu hành nội bộ), CĐSP Hà Nam.