Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (540.52 KB, 22 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
Hướng dẫn sử dụng Norton Ghost 2003
Ban đầu tơi đã chụp hình và viết bài “Căn bản với Ghost2003“ thế nhưng tôi đã thấy 1 bài viết tương tự trên 1 diễn đàn
về tin học khác, thế hóa ra là mình xào lại bài của người ta à “khơng thể được”, hứng chí tui liền tìm hiểu và biên tập
thành bài “Norton Ghost 2003 A-->Z”, nhưng cũng chính vì thế mà trong bài viết này có những đoạn khá lủng củng và
chắp vá mong các bạn thông cảm cho.
Căn bản với Ghost2003
Tôi xin viết bài này nhằm hướng dẫn cho những bạn chưa biết về Ghost có thể sử dụng Ghost dễ dàng. Tôi dùng
Ghost2003 for Dos để hướng dẫn.
**Chú ý về Ghost2003 for Dos**
*Ghost2003 for Dos chỉ gồm 1 file Ghost.exe có dung lượng 0,97M, hiện nay các đĩa CD boot chưa có Version này mà
chỉ dùng Ghost Version 7.5
*Ghost2003 có thể đọc được file Image tạo bởi những Version trước nhưng phiên bản Ghost cũ không thể đọc được
file Image do Ghost2003 tạo ra.
**Cơng dụng**
*Ghost có công dụng copy y nguyên 1 phân vùng ổ cứng thành 1 file Image để từ file đó bạn có thể phục hồi lại phân
vùng đó khi HĐH lỗi. 1 VD đơn giản nhất : với 1 máy tính tốc độ cao hiện giờ thì việc cài Win98 chỉ mất cỡ 15 phút thế
nhưng việc nhận Driver thiết bị và cài đặt các ứng dụng sẽ khiến bạn mất rất nhiều thời gian, vậy để nhanh chóng trong
cài đặt và phục hồi Win bạn hãy cài đặt 98 với đầy đủ các ứng dụng rồi dùng Ghost để Copy Partition to Image, và sau
đó mỗi khi Win lỗi bạn chỉ việc phục hồi lại từ file Image trong vòng chưa đầy 15 phút. *Ghost là 1 chương trình backup
rất mạnh nó có thể nhận diện mọi partition với phân vùng khác nhau như : Fat16, Fat32, NTFS, Linux…. Khi dùng
chương trình nầy để sao chép, bạn khơng cần phải Fdisk và Format ổ đĩa đích vì Ghost sẽ làm cho cấu trúc ổ đĩa đích
giống hệt cấu trúc ổ đĩa nguồn, cho dù đó là Fat16, Fat32 hay NTFS.
Khi bạn sao chép đĩa, ổ đĩa đích dù có dung lượng khác với ổ đĩa nguồn nhưng về cấu trúc thì hồn tồn giống (kể cả
Master Boot Record) cho nên bạn hồn tồn có thể sử dụng ổ đĩa đích để khởi động, chạy các chương trình có kiểm
tra mã bản quyền và chống sao chép "y hệt" như chạy trên ổ đĩa gốc.
**Sử dụng Ghost**
Cách sử dụng CT khá đơn giản :
Đầu tiên bạn phải khởi động máy về Dos thật (Boot CD, đĩa mềm, ổ cứng), nếu bạn đang dùng Win9X thì có thể chạy
Ghost for Dos ln nhưng tơi vẫn khun bạn về Dos thật. Bạn tìm xóa các file không cần thiết trong patition muốn
Ghost để cho file Ghost nhẹ hơn và quá trình Ghost sẽ nhanh hơn. Khi chạy Ghost.exe sẽ có 1 bảng giới thiệu xuất
hiện và bạn chọn OK ( nếu patition đó mới được tạo bởi Fdisk hay Pqmagic thì có thể Ghost sẽ báo lỗi nhưng bạn
không cần lo, chỉ cần OK thoát ra và vào lại CT là mọi việc lại ổn). Sẽ có một số lựa chọn xuất hiện cho bạn chọn, bạn
chọn Local\Patition : Patition to Patition để Ghost ổ qua ổ (bạn phải có 2 ổ cứng thì mới được), Patition to Image để tạo
file ảnh cho Patition, Patition from Image để có thể phục hồi Patition từ file ảnh (Image).
*Ghost Patition to Image :
Sau khi OK, Ghost sẽ đưa ra danh sách các Patition để bạn chọn lựa, bạn chọn lấy patition cần Ghost (thường là
patition 1)
Bạn chọn patition muốn Ghost bằng cách di chuyển khung sáng đến Patition rồi Enter tiếp đó bạn nhấn nút Tab rồi
Enter lần nữa để chấp nhận.
Kế đó Ghost sẽ yêu cầu bạn Save file Ghost vào 1 chỗ nào đó, bạn chọn patition và nơi muốn save bằng cách dùng nút
Tab để di chuyển con trỏ, sau khi chọn Patition và thư mục save, bạn chuyển đến ô file name và gõ tên file muốn save
(tốt nhất là bạn đặt tên cho đúng trạng thái ổ cần Ghost VD: XPSP1Ful, XP&DOS, WIN_ME… chú ý: bạn phải chọn
Patition có dung lượng trống kha khá nha và phải khác Patition muốn Ghost, bạn chỉ được đặt tên file với 8 kí tự rồi
Enter.
Kế đó 1 bảng thơng báo Comperss Image File sẽ xuất hiện để bạn chọn chế độ Ghost, bạn có thể chọn chế độ khơng
nén (No), nén qua loa nhưng tốc độ cao (Fast) và độ nén cao (High : có thể nén đến 50% đó, tất nhiên tùy vào Patition
muốn Ghost là Win hay dữ liệu).
Theo kinh nghiệm của tơi thì bạn nên chọn chế độ Ghost High để tiết kiệm dung lượng ổ cứng, tôi đã thử với các chế
độ kia và thấy rằng tốc độ và thời gian không chênh lệch nhiều lắm.
bắt đầu, bạn sẽ phải chờ lâu nếu Patition cần Ghost có dung lượng lớn, bây giờ bạn có thể đi pha một cốc cà phê để tự
chúc mừng cho thành công ban đầu. Sau khi q trình Ghost thành cơng sẽ có 1 bảng thông báo xuất hiện và bạn chọn
Continute để tiếp tục rồi thoát khỏi Ghost.
*Tời Ghost (Patition from Image) :
Sau khi chọn Patition from Image, Ghost sẽ đưa ra 1 bảng yêu cầu bạn chỉ đường dẫn tới file Image, bạn chỉ việc dùng
bàn phím chỉ dẫn đến File đó rồi Enter
Sau đó Ghost sẽ yêu cầu bạn chọn patition để tời Ghost : công việc này là công đoạn nguy hiểm nhất trong sử dụng
Ghost, nếu bạn chọn sai patition để tời Ghost thì cũng có nghĩa là các dữ liệu trên Patition đó cũng vĩnh biệt bạn mà đi,
dù bạn có bỏ 100Tr thì cũng chả có Kĩ thuật viên nào dám nhận cứu dữ liệu trong trường hợp này. CHÚ Ý : CHỌN
ĐÚNG PATITION MUỐN TỜI GHOST, thường là Patition đầu tiên cài Win và bạn cũng không thể tời Ghost vào
Patition có chứa file Image.
Sau khi chọn Patition thì Ghost sẽ đưa ra một số cảnh báo đại loại là “Dữ liệu trên Patition đó sẽ tiêu” bạn chọn Yes để
tiếp tục. Sau khi các yêu cầu được chấp nhận quá trình Restore bắt đầu :
Tốc độ tời Ghost sẽ nhanh hơn tốc độ tạo ảnh khá nhiều vì vậy bạn đừng sợ khi nó lên quá cao : với 1 số máy tốc độ
cao thì có thể lên tới hơn 1G/1phút. Còn nếu máy bạn xịn mà tốc độ Ghost rất chậm <100M/Phút thì đó là tại
MainBoard của bạn, bạn cần phải xem lại.
Sau khi quá trình hoàn tất Ghost, sẽ yêu cầu bạn Reset lại hệ thống để máy có thể nhận lại HĐH.
*Thêm :
Bạn có thể ghi file Image ra CD để có thể lưu trữ được lâu. Chú ý : khi cần phục hồi bạn nên copy vào ổ đĩa cứng rồi
mới tiến hành Restore bởi vì khi tời Ghost trên CD tốc độ sẽ rất nhanh và khả năng hư đĩa khá lớn, mà nếu hư 1 tí
trong file Image là hỏng cả.
Bạn có thể dùng Ghost để dồn đĩa, khi Restore Patition từ file Image, Ghost sẽ chép đè lên Patition cũ với kiểu tuần tự
từ đầu đĩa trở đi và như vậy cũng đồng nghĩa với việc dồn đĩa chống phân mảnh.
Để chụp được mấy cái hình mờ mịt thì khá đơn giản chỉ việc cài Win9x và chạy Ghost là có thể chụp được nhưng để
chụp mấy cái ảnh có màu sắc và sáng sủa thì là cả 1 kì cơng đó bạn thử chụp xem.
***Một sô công dụng khác : phần này chỉ nêu công dụng không hướng dân***
*Đĩa qua đĩa (Patition to Patition) :Ghost có thể giúp bạn sao chép ổ cứng để tiện dùng cho các cửa hàng có nhiều máy
với phần cứng giống nhau.
Chú ý: Khi sao chép theo kiểu nầy, bạn không cần phải Fdisk và Format ổ đĩa đích trước.
*Tạo file hình ảnh trên nhiều đĩa (multiple volumes):Ghost Cho phép bạn tạo file hình ảnh của ổ đĩa cứng trên nhiều ổ
đĩa khác nhau. Điều nầy rất có ích khi bạn cần lưu file hình ảnh trên các đĩa có dung lượng nhỏ hơn tổng dung lượng
dữ liệu nguồn, thí dụ trên đĩa mềm hay đĩa JAZ, ZIP, CD. Ghost sẽ giúp bạn chia file Ghost nếu thấy đĩa đích khơng đủ
dung lượng.
*Kiểm tra ổ đĩa hoặc file Image : Local\ Check Disk, Image File.
***Các tham số của Ghost***
Các tham số đó bạn có thể gõ thêm khi chạy Ghost (VD :Ghost –pwd –rb rồi enter) hoặc thiết lập luôn cho CT bằng
cách vào Options của Ghost để chỉnh. Trong Options cịn có 1 số thông số nữa :
Misc các thông số ở đây khá đơn giản như
-sure : không hiển thị nhắc nhở khi làm việc
-fro : tiếp tục CT bỏ qua Clusters lỗi trên ổ nguồn
-rb : tự động khởi động lại máy tính sau khi hồn thành
-fx : thốt ra Dos sau khi hoàn thành
Image/Tape cái này tốt nhất là để Default khơng nên chỉnh gì cả
HDD access : Bảng này cho phép tinh chỉnh cách truy xuất đĩa của chương trình, cái này q khó hiểu khơng nên đụng
vào
Security (bảo mật) có một số thiết lập ở phần này sẽ thay đổi trong BIOS, chỉ nên sài -pwd : đặt PassWord cho file
ghost, bạn sẽ phải nhập 2 lần Pass trước khi tạo Image và 1 lần khi Restore.
Span/CRC :
Spanning : cut file ghost để cho vào CD
-span
AutoName : tự động đặt tên cho file Cut
-auto
CRC Ignore : bỏ qua thiết lập lỗi
-crignire
Fat 32 Conversion : Khi dung lượng partition đích lớn hơn 256M, ghost sẽ tự động chuyển partition đích này thành
FAT32 cho dù partition nguồn hay file Image nguồn là FAT16. –f32
64K FAT Clusters : Tự động điều chỉnh partition FAT16 theo chuẩn 64K clusters của Windows NT. Không áp dụng
FAT Limit: Giới hạn kích thước partition FAT16. Xác lập này dùng cho Windows NT.
-fatlimit
Save Setting : sau khi chỉnh sửa cho vừa ý bạn chọn bảng này và save lại thành file Ghost.ini. Sau này Ghost sẽ tự
chạy theo thiết lập đã chọn của bạn.
Hướng dẫn tạo đĩa tự cài đặt Windows XP (Unattended Install)
Chuẩn bị:
Một đĩa CD cài đặt Windows, hướng dẫn này áp dụng cho các phiên bản từ Windows 2000 cho đến Windows
2003.
Các bản Service Pack. Đối với Windows 2000 là SP3 và SP4, Windows XP là SP1 và SP2.
Các cơng cụ Deployment. Bạn có thể tìm thấy tại đây.
Bước 1: Chuẩn bị thư mục
Chúng tơi đề nghị bạn nên dùng chương trình nLite để cho mọi việc trở nên đơn giản hơn. Chương trình này
địi hỏi bạn phải cài thêm .NET Framework bạn có thể tải nó tại Website của hãng Microsoft.
Bây giờ chúng ta bắt đầu:
o Đưa đĩa cài đặt Windows của bạn vào ổ CDROM. Nếu thực đơn Autorun khởi động, hãy tắt nó đi.
Chúng ta khơng cần dùng đến nó.
o Khởi động chương trình nLite. Click vào Next để xuất hiện màn hình sau.
o Click vào nút Browse.
o Click OK, hộp thoại sau sẽ xuất hiện. Bạn chọn nơi để copy đĩa CD của bạn vào.
o Click OK để kết thúc. Và đóng nLite
Bước 2: Slipstreaming the lastest Service Pack.
o Click Browse, và chọn thư mục mà bạn đã copy các file nguồn của đĩa CD trong bước 1. Chúng tôi sẽ
sử dụng thư mục là C:\CDXP
o Click Select, và chỉ tới file service pack mà bạn đã tải xuống, click Open.
o Hai hộp thoại sau sẽ xuất hiện.
o Bạn hãy đợi công việc tích hợp kết thúc, bạn sẽ nhận được thơng báo sau
o Click Ok để kết thúc
o Bạn đã tich hợp xong các file service pack vào phiên bản Windows của bạn.
Bước 3: Tạo bản tự cài đặt cơ sở.
Sở dĩ tại sao tơi nói cơ sở vì sau đây chúng ta sẽ tạo bản tự cài đặt cho Windows thơi, bài sau chúng ta sẽ nói thêm về
cách tạo bản cài đặt luôn một số phần mềm thông dụng như là VietKey, Office,Acrobat Reader....
Các bước tiến hành như sau:
o Bạn hãy nháy đúp vào file setupmgr.exe.
o Cửa sổ Type of Setup: chọn Unattended Setup
o <b>User Interaction: Fully Automated </b>
o <b>Distribution Share: Set up from CD </b>
o Tiếp theo các bạn gặp một số cửa sổ như trong quá trình cài đặt Windows bình thường, bạn hãy chọn Accept the
Licence Agreement, điền vào các thông tin cần thiết khi cài đặt như: Key, workgroup, name...
o Sau khi bạn điền xong chương trình sẽ tạo ra một file gọi là unattend.txt. Bạn hãy đổi tên file này thành
<b>WINNT.SIF. </b>
o Nếu bạn muốn tự mình chọn phân vùng để cài đặt hay định dạng lại phân vùng bạn hãy sửa lại một số dịng sau
trong tệp Winnt.sif.
<i>[Data]</i>
<i>AutoPartition=0</i>
<i>[Unattended]</i>
<i>FileSystem=* </i>
o Sau đó bạn hãy copy file winnt.sif vào thư mục I386 trong thư mục gốc mà bạn đã tạo ban đầu.
Vậy là chúng ta đã tạo xong đĩa Windows tự cài đặt đơn giản. Bài sau chúng ta sẽ tạo một đĩa CD phức tạp hơn
Hướng dẫn tạo bootableCD Windows XP SP1 Install
Chúng ta có rất nhiều chương trình để ghi đĩa CD ví dụ như Easy CD Creator của hãng Roxio hoặc Nero Burning
Rom của Ahead Software, trong bài hướng dẫn này chúng ta sẽ sử dụng chương trình Nero Burning Rom.
<b>Tạo đĩa bằng phần mềm Nero Burning Rom</b>
Khi bạn cài đặt xong Nero Burning Rom thì theo mặc định khi khởi động Nero sẽ xuất hiện các màn hình hướng dẫn
bạn hãy tắt nó đi để màn hình chính được khởi động.
Chọn [File] [New...] trên thanh thực đơn.
Trong cột bên trái, chọn CD-ROM (Boot) sau đó chọn thẻ Boot.
Trong khung [Source of Boot Image Data], chọn ô [Image File].
Dùng nút [Browse] để chỉ đường dẫn tới thư mục C:\XP-SS\SS-BOOT và chọn file MicrosoftCorporation.img
Thiết lập [Load Segment of Sectors] là 07C0.
Thiết lập [Number of Loaded Sectors] là 4 (Nếu bạn khơng chọn là 4 thì đĩa CD sẽ khơng khởi động được).
Sau khi thiết lập xong bạn chọn qua thẻ ISO.
<b>Thẻ ISO.</b>
Bạn hãy thiết lập các thơng số như trong hình.
Sau đó bạn chuyển qua thẻ Label.
Bạn hãy điền các thông tin như nhãn đĩa, thông tin chứa trong đĩa...
Bạn cũng có thể đặt lại [Volume Label] giống như trong các đĩa Windows XP.
o Nếu bạn có Windows XP Professional nhập WXPCCP_EN
o Nếu bạn có Windows XP Home nhập WXHCCP_EN
o Nếu bạn có Windows XP Professional OEM nhập WXPOEM_EN
o Nếu bạn có Windows XP Home OEM nhập WXHOEM_EN
Sau khi thiết lập xong Volume Label, ta chuyển sang thẻ [Burn].
<b>Thẻ Burn.</b>
Sau khi thiết lập các thông số trong thẻ Burn, nháy vào nút [New] để mở cửa sổ nơi chúng tra sẽ thêm các file hoặc
thư mục cho đĩa CD.
<b>Thêm Files để ghi CD. </b>
Trong cửa sổ File Browser, bạn hãy chỉ tới thư mục SS-Root. Chọn file đầu tiên của danh sách file, giữ
phím Shift và chọn file cuối cùng trong danh sách để chọn tất cả các file và thư mục trong thư mục
C:\XP-SS\SS-Root.
Kéo và thả các file đã chọn vào cửa sổ ISO1.
Ấn vào biểu tượng [Burn] trên thanh thực đơn để mở cửa sổ Write CD. Trong hình trên biểu tượng [Burn] là
biểu tượng thứ 9 tính từ trái sang của thanh thực đơn.
<b>Bắt đầu ghi đĩa CD!</b>
Để ghi đĩa thành công có một vài chú ý sau:
Trước khi ghi đĩa bạn nên tắt tất cả các chương trình khác đi.
Nếu bạn sử dụng screensaver, hãy tắt nó đi bởi vì nó có thể gây lỗi ghi đĩa. Tương tự như vậy có một số
chương trình diệt virus có chức năng tự động cập nhật hãy tạm thời tắt các chức năng này đi.
<b>Nếu thông báo trên xuất hiện thì xin chúc mừng bạn !</b>
<b>Bạn đã ghi thành công đĩa CD cài đặt Windows SP1 có thể khởi động được.</b>
<b>Đối với SP2 cũng tương tự. Chúc các bạn thành công</b>
<b>Phục hồi hệ điều hành với Norton Ghost </b>
<b>Norton Ghost là phần mềm rất phổ biến và cực kỳ hữu hiệu trong việc khôi phục hệ điều hành. Chỉ mất vài</b>
<b>phút dùng Norton Ghost là bạn có thể khơi phục HĐH như mới. Hầu hết, đa phần người dùng máy tính nghiệp</b>
<b>Chức năng chính của Norton Ghost</b>
Phần mềm này có thể sao lưu một cách nhanh nhất tồn bộ đĩa cứng, hoặc
cũng có thể sao lưu từng phân vùng một cách rất nhanh và tiện lợi. Điểm mạnh
của Norton Ghost là có khả năng nén file rất mạnh, hơn nữa, lại chỉnh sửa được
file Ghost. Sử dụng phần mềm này, bạn có thể phục hồi hệ điều hành như cũ chỉ
trong cùng lắm là 10 phút!
Thực ra, Windows XP cũng có chức năng phục hồi hệ điều hành, đó là System
Restore. Thế nhưng chức năng này vừa cồng kềnh vừa vô dụng. Hơn nữa, khi
Windows lỗi thì System Restore rất hiếm khi tỏ ra có thể hoạt động.
Bài viết sẽ hướng dẫn các bạn ghost win từ DOS một cách tỉ mỷ. Sử dụng ghost thành thạo, bạn sẽ thấy việc phục hồi
hệ điều hành- trước kia đồng nghĩa với việc cài lại máy là cả một cực hình - thì nay chỉ cịn là chuyện nhỏ.
<b>Sử dụng Norton Ghost</b>
Có rất nhiều cách để bắt đầu sử dụng Norton Ghost. Hoặc bạn chạy ghost từ ổ đĩa cứng HDD, hoặc từ CD-ROM. Ở
đây, chúng tôi xin giới thiệu cách ghost từ CD-ROM.
- Trước hết, bạn phải có một đĩa tiện ích Hiren boot CD. Đĩa này bạn có thể mua tại bất kỳ cửa hàng đĩa nào. Sau khi
chắc chắn là bạn đã đặt first boot device = CD-ROM. (tuỳ chọn trong Bios), bạn khởi động máy, cho đĩa vào ổ CD. Máy
sẽ khởi động (boot) từ đĩa CD.
- Từ dấu nhắc DOS, bạn có thể gõ ghost/enter. Lúc này, cửa sổ ghost sẽ hiện ra, cơng việc ghost bắt đầu.
- Tại cửa sổ chính, bạn chọn LocalPartitionTo Imagic (hình 1), bạn phải đặc biệt lưu ý, không chọn LocalDiskTo Imagic.
Một cửa sổ mới hiện ra, sẽ liệt kê tất cả các ổ cứng có trên máy tính của bạn (lưu ý phân biệt ổ cứng với các phân
vùng). Bạn chọn ổ cứng cài đặt hệ điều hành và nhấn OK. Thông thường, mỗi máy tính chỉ có 1 ổ cứng.
- Sau khi chọn xong, ổ cứng đó sẽ liệt kê tất cả các phân vùng có trên đó. Các bạn chọn phân vùng mình cài đặt hệ
điều hành (HĐH) bằng cách nhìn vào nhãn Volume Lable. Lưu ý việc lựa chọn phải chính xác. Sau khi chọn đúng phân
vùng đặt HĐH (thường là part 1, ổ C), bạn nhấn ok bằng cách bấm tổ hợp phím Alt+O hoặc space bar.(hình 2)
(Hình 2)
- Tiếp đó, máy sẽ yêu cầu bạn chọn nơi save file ghost. Chú ý phải chọn phân vùng khác với phân vùng đặt HĐH
(chẳng hạn như D,E..). Bạn nhập tên file ghost và save bằng tổ hợp phím Alt+S hoặc phím space bar. (hình 3)
(Hình 3)
(Hình 4)
Tuỳ vào cấu hình máy nhanh hay chậm, máy sẽ ghost phân vùng bạn chọn trong thời gian chưa đầy 10 phút.
<b>Khơi phục hệ điều hành</b>
Khi máy tính bạn trở nên chậm chạp vì nhiều nguyên nhân: spyware, virus, lỗi HĐH, lỗi driver… thì cũng là lúc bạn nên
nghĩ tới chuyện dùng ghost khôi phục lại hệ điều hành.
- Trước hết, bạn vào cửa sổ chính của ghost như đã trình bày ở trên.
- Bạn chọn LocalPartitionFrom Imagic
- Chọn phân vùng chứa file ghost dùng để phục hồi và chọn file ghost và nhấn tổ hợp Alt+O để mở file ghost
- Chọn ổ cứng và chọn phân vùng HĐH đang có vấn đề để bung file ghost (thường chọn C).
- Chú ý: Quá trình này ngược lại với quá trình ghost HĐH.
Một hộp thoại sẽ hiện ra, yêu cầu bạn xác nhận việc cài đè. Bạn nhấn OK. Quá trình bung nén file ghost bắt đầu diễn
ra, thường chỉ trong vài phút là xong.
Sau khi hoàn tất, máy sẽ hỏi bạn có khởi động lại hay khơng. Bạn chọn khởi động lại, q trình phục hồi đã hồn tất.
Hệ điều hành lại trở lại nguyên trạng như lúc bạn bắt đầu ghost.
<b>Một vài lưu ý: Sử dụng Ghost, bạn cần chú ý một số điểm sau:</b>
- Nên ghost ngay sau khi cài mới và tinh chỉnh HĐH, cài thêm một số tiện ích nhỏ như WINRAR, ACDsee, YM…. Nếu
có ổ CD-ROM, bạn có thể ghi file ghost ra đĩa CD.
- Trong hộp thoại ghost, bạn nhấn space bar và OK; ESC và Cancel; các mũi tên dùng
để lên xuống và Tab để chuyển đổi giữa các mục.
-Cần hết sức chú ý trong việc lựa chọn ổ cứng và các phân vùng. Để lựa chọn đúng,
bạn nên đặt nhãn cho các phân vùng từ đầu (trong Windows). Bởi nếu chọn nhầm phân
vùng thì tồn bộ dữ liệu cũ sẽ bị xố sạch.
<b>7 “chiêu” để tăng tốc laptop </b>
Khơng gì chán bằng phải làm việc trên chiếc laptop cũ kỹ, chậm hơn rùa. Sáng sáng
làm việc mà khởi động 2 phút vẫn chưa “Ok”, check mail thì mất hơn 1 phút. Hãy thực
hiện theo 7 cách sau đây để “hồi sức” cho chiếc máy tính xách tay lỗi thời của mình.
Bài viết sau đây sẽ thực hiện 7 “chiêu” khác nhau để tăng tốc cho 2 máy tính “đời cụ”,
chạy hệ điều hành Windows Vista và Windows XP.
<b>Tăng thêm RAM</b>
Có thể nói nâng cấp RAM là một cách rất hiệu quả giúp tăng tốc máy tính. Bạn nên
Thực tế, tăng RAM cho hệ thống không giúp laptop chạy nhanh hơn như chúng ta nghĩ (chỉ nhanh hơn 1 giây trong
Windows XP và 2 giây trong Vista), nhưng nó lại cải thiện tồn bộ hoạt động của laptop. Laptop sử dụng RAM 1GB
khởi động iTunes chỉ trong 29 giây. Sau khi tăng thêm một thanh RAM tương đương thế thì hệ thống mở gian nhạc
iTunes trong 17 giây.
Với RAM 2GB, chúng ta có thể chạy được 3 chương trình chat, Google Earth, World in Conflict, iTunes, WeatherBug,
và 3 cửa sổ trình duyệt Internet Explorer. Đến khi chạy thêm một chương trình video Windows Media Player nữa thì
laptop quá tải, video bị giật hình.
Trong khi đó, laptop cài RAM 1GB rất khó khăn trong việc tải 2 chương trình chat, WeatherBug, và Google Earth
Sự khác biệt còn rõ ràng hơn khi thực hiện chức năng nén file: zip folder 385MB. Với RAM 1GB thì laptop thực hiện
mất 1 tiếng 44 phút, còn RAM 2GB thì 1 tiếng 10 phút.
Chống phân mảnh (defrag) ổ cứng sẽ giúp hệ thống vận hành nhanh hơn vì khi máy tính của bạn chứa nhiều file trên ổ
cứng, sẽ hình thành những khoảng trống trên đó. Sau một thời gian sử dụng, dữ liệu trên ổ cứng sẽ bị sắp xếp lẫn lộn
và ổ cứng phải mất thời gian nhiều hơn để truy xuất hoặc tìm ra chúng.
Defragging ổ cứng sẽ đặt sắp xếp lại dữ liệu chứa trên ổ cứng, khiến cho ổ cứng tốn ít thời gian hơn để truy xuất vào
các dữ liệu, bạn có thể thực hiện chức năng này bằng cách sau:
Thực hiện: Start, Programs à Accessories à System Tools à Disk Defragmenter. Nhấn nút Defragment và một lúc để
máy tính thực hiện nhiệm vụ.
Thực tế, kiểm tra với máy tính dùng Windows XP, chúng tơi thấy laptop khởi động nhanh hơn 35 giây, trong Windows
Vista thì nhanh hơn 5 giây. Việc truy xuất các chương trình cũng nhanh hơn.
<b>Gỡ bỏ những chương trình Crapware</b>
Người dùng máy tính rất hay cài đặt phần mềm dùng thử miễn phí trong khi chúng khơng thật sự cần thiết, và những
chương trình này lại tự động chạy mỗi khi máy tính khởi động. Nhiều ứng dụng chạy cùng lúc trước khi máy khởi động
được sẽ khiến laptop chạy càng chậm hơn.
Thực hiện gỡ: Vào Start à run à gõ msconfig. Tại mục Services, bạn bỏ đi những chương trình khơng cần thiết khi khởi
động.
Phần mềm miễn phí PC Decrapifier (www.pcdecrapifier.com) sẽ giúp chúng ta phát hiện và gỡ bỏ những chương trình
nào khơng cần thiết khi khởi động.
<b>Dùng phần mềm tối ưu hệ thống</b>
Bạn nên cài phần mềm iolo System Mechanic 7 để nó giúp bạn phịng từ xa những rắc rối có thể gặp phải mà bạn
khơng biết trước được. Chương trình có thể giúp máy tính khơng cần tìm
kiếm những ứng dụng không tồn tại hoặc cài đặt không đúng. Ngoài ra,
System Mechanic 7 cịn tìm kiếm và sửa những lỗi sai trong hệ thống
registry, làm cho máy tính gặp sự cố.
<b>Vơ</b> <b>hiệu hóa Chỉ mục search</b>
Tắt chức năng search indexing sẽ giúp máy tính khơng phải chỉ mục vị trí của
từng file, làm cho hệ thống chạy chậm hơn. Tất nhiên, cách này chỉ áp dụng
nếu bạn là người sắp sếp dữ liệu của mình một cách khoa học, có hệ thống,
biết được các file của mình nằm ở đâu.
Thực hiện: Trong XP vfa Vista, đều click phải chuột vào ổ đĩa cần thực hiện à Properties à General à và bỏ chọn trong
tab “Allow Indexing Service to index this disk for fast file searching.”
Thực tế việc tắt chức năng chỉ mục tìm kiếm này đã giúp máy tính load nhanh hơn nhiều.
<b>“Diệt” spyware</b>
Phần mềm gián điệp (spyware) ẩn nấp trong máy tính và ghi nhận thói quen sử dụng máy tính hàng ngày c ủa bạn và
gửi thông tin về cho tin tặc muốn thực hiện mưu đồ đen tối. Tệ hơn nữa, spyware ngốn rất nhiều tài nguyên hệ thống.
Phần mềm diệt spyware miễn phí Spybot Search & Destroy (www.safer-networking.org/en) có thể loại bỏ những
chương trình ẩn nấp này. Bạn nên chạy Spybot thường xuyên để ngăn chặn kịp thời những rắc rối có thể xảy ra.
<b>Dừng những dịch vụ nền (background) khơng cần thiết</b>
Có rất nhiều ứng dụng trong laptop hay là PC chạy trên nền sau, như là in một tài liệu hoặc tải xuống một tệp tin.
Tường lửa và các ứng dụng diệt virus là những “thành phần” tiêu biểu nhất.
Mặc dù những ứng dụng này rất có ích và đơi khi cịn rất quan trọng nhưng vẫn có nhiều chương trình được xem như
là rất “xa xỉ”, chiếm nhiều thời gian thực hiện. Do đó, gỡ bỏ những ứng dụng khơng thật sự cần thiết có thể giúp bạn
tăng hiệu suất cho laptop.
Bỏ những dịch vụ không cần thiết này, như download tự động, laptop chạy nhanh hơn rất nhiều.
<b>Thủ thuật bảo vệ ổ cứng và tăng tốc ổ cứng </b>
Ổ cứng máy tính của bạn bị mất hay bị nhiễm virus khiến cho hệ điều hành Windows không thể khởi động được. Vậy
bạn đã có cơng cụ nào giúp bạn có thể lấy lại dữ liệu một cách nhanh chóng chưa hay giúp bạn tăng tốc ổ cứng chưa?
<b>Khôi phục đơn giản</b>
Windows Recovery Console (WRC) trong Windows XP thực sự là một cơng cụ rất an tồn hiệu quả và dễ sử dụng. Đây
là một công cụ chạy trên một môi trường khá giống với DOS, cho phép bạn có thể sao chép dữ liệu tệp tin, sửa chữa
những lỗi trong phần khởi động (boot sector)… mà không cần phải khởi động hệ điều hành. Lấy ví dụ, nếu Windows
của bạn khơng thể khởi động bạn có thể khởi động WRC và sử dụng tính năng sửa chữa lỗi khởi động hoặc dùng lệnh
“fixmbr” với hy vọng sẽ sửa được mọi lỗi phát sinh.
Để khởi động Recovery Console, bạn hãy đưa đĩa CD cài đặt Windows XP vào ổ CD rồi khởi động lại máy tính – chú ý
WRC sử dụng nhiều lệnh tương tự như trong Command Prompt. Bạn hồn tồn có thể sử dụng các lệnh như attrib, cd,
copy, del, dir, exit, md, ren, rd, set, và type tương tự như trong DOS.
Tuy nhiên, Recovery Console vì mục đích bảo mật nên thường khơng cho phép bạn có quyền truy nhập vào một số thư
mục trên ổ cứng của bạn. Nếu bạn không gỡ bỏ những hạn chế này trước – nên gỡ bỏ khi hệ điều hành của bạn còn
đang hoạt động bình thường – thì sẽ khó có thể thực hiện việc sao chép hay bất kỳ tác vụ nào với những thư mục này.
Để gỡ bỏ những hạn chế này bạn hãy thực hiện tác vụ sau khi hệ điều hành của bạn cịn hoạt động bình thường. Bạn
vào trình quản lý Local Security Settings bằng cách vào Run và nhập lệnh “secpol.msc” hoặc vào Start | Setting |
Control Panel | Administrator Tools | Local Security Settings, sau đó chuyển đến mục Security Settings | Local Policies |
Security Options, nhắp đúp chuột lên mục Recovery Console: Allow floppy copy and access to all drives and all folders
item rồi chọn Enabled là xong.
Lần khởi động kế tiếp nếu Windows khơng khở động thì bạn hãy khởi động WRC rồi nhập vào dòng lệnh “set
AllowAllPaths = true” rồi ấn Enter.
<b>Tăng tốc ổ cứng và giảm nguy cơ hỏng hóc</b>
Khi mà ổ cứng của ngày càng đầy lên, hệ điều hành sẽ “nhét” những tệp tin dữ liệu mới lên ổ cứng vào bất kỳ chỗ nào
còn khoảng trống. Đơi khi khi có những tệp tin sẽ bị chia ra thành rất nhiều những phần nhỏ khác nhau để cho phù hợp
với dung lượng khoảng trống cịn lại trên ổ đĩa. Nếu có q nhiều tệp tin bị chia nhỏ - hay còn gọi là phân mảnh – thì
khơng những ổ cứng của bạn mà cả hệ điều hành của bạn đều sẽ bị chậm đi rất nhiều khơng những thế mà cịn tăng
nguy cơ bị mất dữ liệu.
Giải pháp ở đây là bạn có thể sử dụng cơng cụ dọn phân mảnh của hệ điều hành Disk Defragmenter bằng cách vào
Start | All Programs | Accessories | System Tools rồi chọn ổ đĩa bạn muốn “dọn dẹp” nhấp Ok rồi ngồi chờ.
Tuy nhiên, có một số tệp tin mà bạn khơng thể di chuyển được trong quá trình thực hiện dọn dẹp phân mảnh ổ cứng.
Những tệp tin này vẫn bị phân mảnh ngay cả sau khi bạn đã chạy Disk Defragmenter. Hầu hết các tệp tin dữ liệu này là
Master File Table (MFT) hoặc SWAP (RAM ảo).
Cách duy nhất là dọn dẹp các tệp tin SWAP là phải xoá những tệp tin này trước khi sử dụng công cụ Disk
Defragmenter – tuy nhiên bạn hãy cẩn thận chắc chắn rằng hệ thống của bạn có ít nhất 256MB RAM thì mới có thể bỏ
tệp tin SWAP đi được.
mảnh. Tuy nhiên, nói như thế khơng có nghĩa là bạn không thể di chuyển được chúng, một thủ thuật sửa Registry sẽ
giúp bạn giải quyết được vấn đều này. Bạn vào Run và gõ lệnh regedit để mở trình biên tập Registry. Sau khi trình biên
tập Registry khởi động bạn hãy tìm đến khố HKEY_
LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\Filesystem rồi nhắp đúp lên khố NtfsMftZoneReservation bên
phía tay phải và nhập giá trị trong khoả từ 2 đến 4 vào đó – giá trị mặc định là 1 tương đương với 12,5% dung lượng ổ
cứng dành cho tệp tin MFT, giá trị 2-3 là là từ 25-37,5% và 4 là 50%. Đóng trình biên tập Registry rồi khở động lại hệ
thống của bạn.
<b>Tìm kiếm sự đơn giản</b>
Ổ cứng của bạn sẽ thực sự chạy nhanh và ổn định hơn rất nhiều nếu còn nhiều khoảng trống. Bạn đã back-up lại dữ
liệu, mã hoá và tối ưu hố dữ liệu của mình nhưng vẫn cịn có nhiều việc phải làm.
Việc thứ nhất là dọn dẹp mọi chương trình ứng dụng khơng cần thiết, dọn dẹp những phần mềm gián điệp nguy hiểm,
virus máy tính…
Tiếp theo là việc dọn dẹp những tệp tin dữ liệu không cần thiết trên các ổ cứng. Bạn hãy vào Start | All Programs |
Accessories | System Tools | Disk Clean-up để bỏ hết những tệp tin thừa, tệp tin tạm thời,…