Tải bản đầy đủ (.pdf) (93 trang)

Đền cuông huyện diễn châu tỉnh nghệ an trong đời sống tâm linh của người dân địa phương công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2008

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (9.09 MB, 93 trang )

CƠNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
NĂM 2008

HỒNG THỊ TỨ

ĐỀN CNG HUYỆN DIỄN CHÂU
TỈNH NGHỆ AN TRONG ĐỜI
SỐNG TÂM LINH CỦA NGƯỜI
DÂN ĐỊA PHƯƠNG

Người hướng dẫn
ThS. Phạm Thị Ngọc Thu

Tp. Hồ Chí Minh năm 2008


MỤC LỤC
Trang
TĨM TẮT CƠNG TRÌNH ............................................................................ 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.......................................................................................... 2
2. Lịch sử nghiên cứu ....................................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 4
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu. .................................................. 5
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 6
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài .......................................................... 6
7. Bố cục của đề tài .......................................................................................... 7

Chương 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÙNG ĐẤT
DIỄN CHÂU VÀ ĐỀN CNG


1.1 Vài nét tìm hiểu về các nơi thờ tự phổ biến theo tín ngưỡng của
người Việt ....................................................................................................... 8
1.2 Tổng quan về huyện Diễn Châu.............................................................. 10
1.2.1 Vị trí địa lý ............................................................................................. 10
1.2.2 Điều kiện tự nhiên .................................................................................. 10
1.2.3 Lược sử hình thành vùng đất Diễn Châu. ................................................ 12
1.2.4. Diễn Châu và Thục An Dương Vương .................................................. 15
1.2.5. Truyền thống lịch sử - văn hóa và con người Diễn Châu ......................... 18
1.3 Một số nét khái quát về đền Cuông ........................................................ 21
1.3.1 Địa thế đền Cng .................................................................................. 22
1.3.2. Lược sử hình thành đền Cng ............................................................... 22
1.3.3 Kiến trúc đền Cuông............................................................................... 24
1.3.4 Các loại đồ án bài trí tại đền Cng ........................................................ 28
1.3.5 Những nhân vật lịch sử được thờ trong đền............................................. 31

Chương 2: ĐỀN CUÔNG TRONG ĐỜI SỐNG TÂM LINH
CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG
2.1 Khái niệm về tâm linh và tâm linh trong đời sống ................................. 34
2.2 Cơ sở hình thành tình cảm thiêng liêng của người dân Diễn Châu
đối với vua An Dương Vương ....................................................................... 39
2.3 Lễ hội truyền thống đền Cuông - nét văn hoá đặc sắc trong đời sống


tâm linh của người dân địa phương. ............................................................. 41
2.3.1 Khái niệm về lễ hội và các loại hình lễ hội............................................... 41
2.3.2 Những nghi lễ thờ cúng trong lễ hội đền Cuông...................................... 43
2.3.3 Những tục lệ và sinh hoạt Hội................................................................. 48
2.4 Những hoạt động tâm linh khác cuả người dân địa phương gắn với
đền Cuông....................................................................................................... 55
2.5 Đền Cuông ngày nay - những thực trạng tồn tại bên cạnh những

giá trị văn hoá tâm linh ................................................................................. 57
2.6 Một số giải pháp, kiến nghị để bảo tồn và phát triển di tích
đền Cng....................................................................................................... 58
KẾT LUẬN..................................................................................................... 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................. 63
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 66


1

TĨM TẮT CƠNG TRÌNH
Đền Cng huyện Diễn Châu là một đền nỗi tiếng ở Nghệ An, vốn là ngôi
đền thờ Thục An Dương Vương - vị vua lập ra nước Âu Lạc (thế kỷ thứ II TCN)
– một nhà nước sơ khai đầu tiên của nước ta cũng nằm trong hệ thống những
ngôi đền ấy.
Xét về mặt kiến trúc, đền Cng là một cơng trình tương đối quy mơ và đặc
sắc, ngày nay đền đã được trùng tu lại, song vẫn giữ được vẻ đồ sộ và linh thiêng
của nó. Xét về khía cạnh lễ hội, lễ hội đền Cng được khôi phục xuất phát từ
niềm tin linh thiêng của nhân dân vào các vị thần, tạo nên sức mạnh tinh thần
động viên nhân dân địa phương phát huy truyền thống của mình, ra sức xây dựng
cuộc sống mới tươi đẹp hơn, góp phần làm phong phú thêm các lễ hội truyền
thống của dân tộc Việt Nam.
Đề tài: “Đền Cuông huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An trong đời sống tâm
linh của người dân địa phương” có kết cấu gồm phần mở đầu, 2 chương nội
dung, kết luận và phụ lục
Phần mở đầu: Trình bày những vấn đề chung nhất về đề tài: lý do nghiên
cứu, mục đích, nhiệm vụ, phương pháp, phạm vi, ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực
tiễn của đề tài.
Chương 1: Lịch sử hình thành vùng đất Diễn Châu và đền Cuông: Nội
dung của chương chủ yếu nói về tổng quan huyện Diễn Châu: Vị trí địa lý, điều

kiện tự nhiên, lược sử hình thành vùng đất Diễn Châu, truyền thống lịch sử - văn
hóa và con người Diễn Châu… Và khái quát chung về đền Cng như: Địa thế
đền Cng, lược sử hình thành đền Cng, kiến trúc đền Cng, các loại đồ án
bài trí tại đền Cuông và những nhân vật lịch sử được thờ trong đền.
Chương 2: Đền Cuông trong đời sống tâm linh của người dân địa
phương.
Đây là chương trọng tâm của đề tài. Trong chương này đề tài trình bày một
cách hệ thống một số khái niệm về tâm linh; tâm linh trong đời sống cho đến
những nét đặc sắc trong đời sống tâm linh của người dân địa phương thể hiện qua
lễ hội truyền thống đền Cng. Ngồi ra một số giải pháp, kiến nghị để bảo tồn
và phát triển đi tích đền Cng cùng thực trạng tồn tại của nó cũng được đề cập
trong chương này.


2

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đền Việt Nam là cơng trình kiến trúc văn hóa lịch sử quan trọng của địa
phương và đất nước. Đền nói chung thường là nơi thờ tự các vị anh hùng dân tộc,
những người có cơng với đất nước, đền cũng là nơi thể hiện tín ngưỡng đa thần,
tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng dân gian… Nhưng hơn hết nó là bằng chứng
thể hiện tấm lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân các thế hệ, các địa phương đối với
những anh hùng, các nhân vật lịch sử của quê hương, dân tộc mình sau đó mới là
những tín ngưỡng khác. Do đó đã có rất nhiều cơng trình nghiên cứu có giá trị đã
được cơng bố, có cơng trình nghiên cứu tổng hợp về đền ở Việt Nam cho đến
đền của từng vùng, từng miền, từng địa phương. Đền Cuông huyện Diễn Châu là
một đền nỗi tiếng ở Nghệ An, vốn là ngôi đền thờ Thục An Dương Vương - vị
vua lập ra nước Âu Lạc (thế kỷ thứ II TCN) – một nhà nước sơ khai đầu tiên của
nước ta cũng nằm trong hệ thống những ngôi đền ấy.

Xét về mặt kiến trúc, đền Cng là một cơng trình tương đối quy mô và đặc
sắc, ngày nay đền đã được trùng tu lại, song vẫn giữ được vẻ đồ sộ và linh thiêng
của nó. Xét về khía cạnh lễ hội, lễ hội đền Cuông được khôi phục xuất phát từ
niềm tin linh thiêng của nhân dân vào các vị thần, tạo nên sức mạnh tinh thần
động viên nhân dân địa phương phát huy truyền thống của mình, ra sức xây dựng
cuộc sống mới tươi đẹp hơn, góp phần làm phong phú thêm các lễ hội truyền
thống của dân tộc Việt Nam. Với tư cách là người con của quê hương Diễn Châu,
là sinh viên khoa Lịch sử, tác giả coi việc nghiên cứu về lịch sử địa phương mình
như một trách nhiệm vừa là để nghiên cứu sâu sắc hơn về lịch sử dân tộc, đồng
thời thông qua việc nghiên cứu về đền Cuông tác giả muốn giới thiệu với các nhà
nghiên cứu, các thầy cô và bạn bè về một di tích lịch sử đáng chú ý tại Diễn Châu
– Nghệ An. Dó đó tác giả chọn đề tài:
“Đền Cng huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An trong đời sống tâm linh của
người dân địa phương” làm đề tài nghiên cứu của mình.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay đã có nhiều cơng trình của các học giả Việt Nam và nước
ngoài nghiên cứu về hệ thống các đền ở nước ta nói chung và những vấn đề liên
quan đến đền Cng nói riêng.


3

2.1 Các cơng trình của các tác giả Việt Nam
Về nhân vật thờ cúng tại đền Cuông được ghi chép trong:“Đại Việt Sử Ký
Toàn Thư” Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1972. Cuốn sách viết rõ về nhân vật
lịch sử An Dương Vương và truyền thuyết về Thục Phán.
Sách “Việt Nam Sử Lược”của Trần Trọng Kim, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ
Chí Minh, 2005, giới thiệu sơ lược về gốc tích nhà Thục, sự ra đời của nước Âu
Lạc cho đến việc nhà Thục mất nước.

Ngồi ra cịn có nhiều tác phẩm viết về truyền thuyết của Thục Phán An
Dương Vương như: “Việt Nam qua các đời”, “Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến
1858”, “Thần linh Đất Việt”…
Phan Kế Bích trong “Việt Nam phong tục” là tác giả Việt Nam đầu tiên viết
về đền, tục thờ thần và lễ cúng trong đền. Trong một số cuốn sách viết chung về
phong tục Việt Nam, nhưng ông chỉ nghiên cứu sơ lược về việc bố trí nơi thờ
cúng.
Giáo sư Vũ Ngọc Khánh trong “Đền Miếu Việt Nam” với cơng trình nghiên
cứu về đền miếu Việt Nam đã hệ thống được rất nhiều đền miếu. Giáo sư chú
trọng đến một số ngôi đền tiêu biểu như đền Hùng, đền Cổ Loa, đền Kiếp Bạc,
đền Bố Vệ… đặc biệt ơng có nghiên cứu sơ bộ về đền Cuông huyện Diễn Châu
tỉnh Nghệ An. Ơng nghiên cứu về vị trí địa lý và kiến trúc của đền, về lễ hội đền
Cuông. Tuy nhiên Giáo sư Vũ Ngọc Khánh mới chỉ nêu một số nét về đền
Cuông và chưa đề cập nhiều đến đền Cng ở khía cạnh về đời sống tâm linh của
người dân địa phương.
Trong tác phẩm “Lễ hội các truyền thống các dân tộc Việt Nam khu vực phía
Bắc” Nxb Đại Học Quốc Gia, Hà Nội 2002, tác giả Hoàng Lương, đã cung cấp
cho chúng ta một cách có hệ thống những lý thuyết và đặc điểm chủ yếu của lễ
hội truyền thống các dân tộc ở Việt Nam. Và chỉ dừng lại ở việc giới thiệu các lễ
hội truyền thống của các dân tộc ở miền Bắc nước ta nói chung.
PGS.TS Đặng Văn Lung qua “Lễ Hội Và Nhân Sinh” chúng ta sẽ thấy được
sự tỉ mỉ trong cấu trúc và chức năng của lễ hội. Từ đó tìm ra cái hay cái đẹp và
vai trò quan trọng của lễ hội.


4

Trong “Từ điển địa danh văn hóa và thắng cảnh Việt Nam”, hai tác giả
Nguyễn Như Ý, Nguyễn Thành Chương cũng giới thiệu qua về sự hình thành và
phát triển của đền Cuông huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An.

Đặc biệt tác giả may mắn tìm được tác phẩm:“Từ Cổ Loa đến Đền Cuông”,
(2006) của tác giả Nguyễn Nghĩa Nguyên, Nxb Nghệ An. Đây là tác phẩm tái
xuất bản, có bổ sung, chỉnh sửa lần thứ 3 và được xem là cơng trình nghiên cứu
tổng hợp nhất về đền Cng. Tác giả viết dựa trên những tài liệu cũ của địa
phương như: “Nghệ An Ký”, “Đơng Thành huyện thơng chí”… Trong đó tác giả
đi vào truyền thuyết An Dương Vương, đi vào nhiều sự tích cho đến việc lập đền.
Tác giả nghiên cứu về kiến trúc đền, tổ chức lễ hội và đặc biệt tác giả nghiên cứu
từ Cổ Loa đến đền Cuông để người đọc thấy được sự khác nhau giữa hai ngơi
đền thờ chung một vị vua. Có thể thấy đây là cơng trình nghiên cứu khá đầy đủ
và hệ thống nhất về di tích lịch sử này. Tuy nhiên vấn đề vai trị của đền Cng
trong đời sống tâm linh của nguời dân địa phương chưa được đề cập đến.
Năm 2007, huyện Diễn Châu đã tổ chức lễ kỷ niệm 1380 năm mang tên Diễn
Châu. Để góp vào ngày hội quan trọng này, PGS Ninh Viết Giao cho ra đời cuốn
sách “Diễn châu 1380 năm: lịch sử-văn hóa- nhân vật” Đây là cơng trình có một
khơng hai ở Diễn Châu. PGS Ninh Viết Giao đã tổng hợp lại các đền miếu tại các
làng xã Diễn Châu và các thiên thần và nhân thần được thờ cúng. Đền Cuông
được tác giả đề cập trong cuốn sách này với những nét đại cương nhất.
Như vậy các ngôi đền ở Việt Nam trong đó có đền Cng với những giá trị
văn hố truyền thống tốt đẹp của nó đã được khơng ít các học giả trong nước
nghiên cứu từ nhiều năm nay. Song vẫn chưa có một cơng trình nghiên cứu nào
nghiên cứu cụ thể về đền Cuông, đặc biệt là vai trị, vị trí của nó trong văn hố
tâm linh của người dân huyện nhà. Tuy nhiên những tác phẩm của các nhà
nghiên cứu đó đã cung cấp một nguồn tư liệu quan trọng không thể thiếu để tác
giả kế thừa, phát huy để hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu của mình.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1. Mục đích nghiên cứu.
Tác giả thực hiện đề tài “Đền Cuông huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An trong
đời sống tâm linh của người dân địa phương” nhằm mục đích tổng hợp các nội
dung nghiên cứu về đền Cuông – một cơng trình kiến trúc mang ý nghĩa lịch sử –



5

văn hố ở Diễn Châu – Nghệ An. Qua đó giới thiệu, quảng bá hình ảnh của di
tích lịch sử văn hóa đền Cng trên q hương Diễn Châu – Nghệ An – Anh
hùng, đồng thời nâng cao ý thức của người dân về giá trị lịch sử văn hóa của đền
trong sự phát triển của huyện nhà.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Đề tài giải quyết 3 nhiệm vụ:
Thứ nhất: Đề tài khảo sát, trình bày về lược sử hình thành đền Cuông; nhân
vật được thờ trong đền và kiến trúc ngơi đền.
Thứ hai: Tìm hiểu lễ hội đền Cng và một số các hoạt động tâm linh khác
của người dân địa phương gắn với ngơi đền.
Thứ ba: Tìm hiểu về vai trị của lễ hội đền Cng trong đời sống tâm linh của
người dân địa phương.
Thứ tư: Tìm hiểu những mặt cịn tồn tại và trên cơ sở đó đề xuất những giải
pháp, kiến nghị để bảo tồn và phát triển những giá trị truyền thống của ngôi đền.

4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu.
4.1. Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài được thực hiện dựa trên các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp lịch sư: Nghiên cứu lịch sử hình thành đền Cng cùng những
hoạt động văn hố tâm linh của người dân địa phương gắn với ngôi đền.
Phương pháp logic nhằm hệ thống lại các vấn đề, tìm ra mối liên hệ bản chất
giữa các vấn đề. Để từ đó có cái nhìn biện chứng về các hoạt động văn hoá tâm
linh của người dân gắn với đền Cuông.
Đồng thời tác giả áp dụng phương pháp điền dã dân tộc học bằng việc quan
sát, phỏng vấn, ghi chép, chụp ảnh, quay phim. Phương pháp điền dã tập trung
khảo cứu điểm, cụ thể là khảo sát đền Cuông lại.

Phuơng pháp so sánh mà trước hết là so sánh những tư liệu điền dã với những
tư liệu thư tịch cũng được coi trọng nhằm bổ túc hoặc xử lý các điểm chưa rõ
ràng. Ngoài ra, đề tài cũng dùng phương pháp nghiên cứu liên ngành với các
ngành khoa học khác như ngôn ngữ học, xã hội học, kiến trúc xây dựng… với
mong muốn tiếp cận và nắm đối tượng nghiên cứu một cách đầy đủ và khách
quan hơn.
4.2. Nguồn tài liệu.


6

Các tài liệu về lịch sử huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An: điều kiện tự nhiên,
kinh tế, văn hóa, xã hội và dân cư của huyện Diễn Châu…
Các tài liệu về văn hóa truyền thống dân gian huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An.
Các tài liệu viết về đình, chùa, đền, miếu… và lễ hội ở Diễn Châu nói riêng
và Việt Nam nói chung.
Các tài liệu lịch sử gốc, thư tịch cổ… về Thục Phán An Dương Vương.
Tư liệu điền dã của tác giả, chụp ảnh, ghi hình, ghi chép, phỏng vấn… về đền
Cuông cùng với sự tham gia lễ hội của tác giả trong những ngày diễn ra lễ hội
đền Cuông.

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
5.1 Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Đền Cuông huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ
An trong đời sống tâm linh của người dân địa phương”. Khảo sát chi tiết ngôi
đền, từ sự ra đời của đền Cuông đến cách chọn đất dựng đền, cách bố trí mặt
bằng xây dựng, kiến trúc, lễ hội truyền thống đền Cuông và một số tín ngưỡng
khác. Và đền Cng trong đời sống tâm linh của người dân địa phương
5.2 Phạm vi nghiên cứu.
Lịch sử hình thành vùng đất huyện Diễn Châu bao gồm điều kiện tự nhiên,

truyền thống văn hóa, con người Diễn Châu và lịch sử hình thành đền Cng.
Lễ hội đền Cuông, đời sống tâm linh của người dân địa phương từ xưa đến
nay.

6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn.
1. Nghiên cứu đền Cng là tìm hiểu một cơng trình kiến trúc có ý nghĩa văn
hố – lịch sử của dân tộc, giá trị tinh thần của người dân địa phương nói riêng và
người Việt nói chung từ đó hiểu sâu sắc hơn về lịch sử dân tộc và tự hào về tinh
thần của người dân Việt Nam.
2. Góp thêm vào kho tư liệu cho huyện nhà những tài liệu khảo sát và tìm tịi
những vấn đề liên quan đến đền Cng: kiến trúc, lễ hội, văn hóa tâm linh… đặt
nó trong bối cảnh đền ở Diễn Châu để có những hiểu biết về đặc trưng văn hóa
con người Diễn Châu.
3. Mặt khác qua đề tài này góp thêm một tiếng nói trong việc nâng cao ý thức
và trách nhiệm bảo vệ di tích lịch sử của tất cả mọi người, các ban ngành liên


7

quan, đặc biệt là người dân địa phương trong bối cảnh đất nước đang phát triển.
Bảo vệ đền, chùa, đình, miếu nói chung, đền Cng nói riêng là bảo vệ những giá
trị văn hóa dân tộc, bảo vệ những cơng trình kiến trúc nghệ thuật dân tộc.

7. Bố cục của đề tài
Đề tài có kết cấu gồm phần mở đầu, 2 chương nội dung và phần kết luận.
Phần thứ nhất: PHẦN MỞ ĐẦU
Trình bày những vấn đề chung nhất về đề tài: lý do nghiên cứu, mục đích,
nhiệm vụ, phương pháp, phạm vi, ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
Chương 1
. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÙNG ĐẤT DIỄN CHÂU VÀ ĐỀN CUÔNG.

Nội dung của chương chủ yếu nói về tổng quan huyện Diễn Châu và khái
qt chung về đền Cng.
Chương 2.
ĐỀN CNG TRONG ĐỜI SỐNG TÂM LINH CỦA
NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG.
Đây là chương trọng tâm của đề tài. Trong chương này đề tài trình bày một
cách hệ thống một số khái niệm về tâm linh; tâm linh trong đời sống cho đến
những nét đặc sắc trong đời sống tâm linh của người dân địa phương thể hiện qua
lễ hội truyền thống đền Cng. Ngồi ra một số giải pháp, kiến nghị để bảo tồn
và phát triển đi tích đền Cng cùng thực trạng tồn tại của nó cũng được đề cập
trong chương này.
Cuối cùng là PHẦN KẾT LUẬN và PHỤ LỤC.


8

Chương 1
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÙNG ĐẤT
DIỄN CHÂU VÀ ĐỀN CNG

Hình 1: Bản đồ huyện Diễn Châu
(www.dien chau.gov.vn)

Hình 2: Đền Cng
(Ảnh: Thanh Hải)

1.1 VÀI NÉT TÌM HIỂU VỀ CÁC NƠI THỜ TỰ PHỔ BIẾN
THEO TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI VIỆT.
Để nghiên cứu về đền và thấy rõ những nét đặc trưng của đền, tác giả đi vào
tìm hiểu một số khái niệm về các nơi thờ cúng, vì mỗi nơi như đình, chùa,

miếu… đều có những nét khác nhau về kiến trúc, cách thờ cúng… và có ý nghĩa
khác nhau trong đời sống tâm linh của người Việt Nam.

1.1.1 Chùa


9

Chùa là“Ngơi nhà làm nơi thờ Phật, thường lợp ngói, mái uốn cong”(1). Đặc
điểm kiến trúc ở chùa Việt Nam không những mang dáng dấp kiến trúc riêng mà
nội dung thờ tự trong chùa cũng khác. Đó là trong chùa của Việt Nam có rất
nhiều tượng, có chùa đến hàng trăm pho tượng, nhất là hai dãy tượng La Hán ở
hành lang. Ví như chùa Mía (Sùng Nghiêm Tự) ở Tây Sơn tỉnh Hà Tây. Ngơi
chùa Việt Nam thường có kiến trúc là “tiền Phật, hậu Thánh”, trước là thờ Phật
sau là thờ Thánh. Ví dụ: Chùa Bối Khê (Thanh Oai, Hà Tây) gian chính phía
trước là thờ Phật, sau là thờ thánh Bối. Ngoài ra trong các chùa Việt Nam cịn thờ
cả những người lương thiện, có tấm lịng từ bi, hỷ xả như tượng Thị Kính trong
chùa Bối Khê. Bên cạnh đó chùa Việt Nam có khi kết hợp thờ cả các vị của tôn
giáo khác như chùa Thầy (Quốc Oai, Hà Tây) là một ví dụ điển hình. Ở đây
ngồi thờ thiền sư Từ Đạo Hạnh (Phật), còn thờ cả đạo Giáo (Tiên), đạo Khổng
(Thần). Nên dân gian coi hiện tượng Từ Đạo Hạnh là nơi tập trung cả ba tôn giáo
đồng nguyên ở Việt Nam: “vi phật, vi tiên, vi thần”. Chùa Việt Nam đã trở thành
quần thể kiến trúc phổ biến và có mặt khắp các nơi trên lãnh thổ nước ta.
Tuy nhiên, chùa chỉ gắn với từng làng hay từng vùng và mang đặc thù riêng
của từng làng. Chùa không chỉ là nơi thờ tự, làm lễ mà còn là trung tâm sinh hoạt
văn hóa – xã hội, kiến cho quần thể kiến trúc chùa Việt Nam gần gũi, thiết thực
đối với đời sống của cư dân trong làng hay trong vùng. Hơn nữa ngơi chùa Việt
cịn là kho tàng chứa đựng những di tích lịch sử văn hóa có giá trị, đậm đà bản
sắc dân tộc Việt Nam.


1.1.2 Đền
Đền là “Cơng trình kiến trúc tôn giáo xây dựng ở những nơi liên quan đến
truyền thuyết hay sự tích, cuộc sống của thần hay người có cơng lớn đối với dân
tộc được thờ”(2). Theo nghĩa thứ hai thì đền là “nơi vua ngự ngày xưa”. Ví dụ:
Đền Hùng – Phú Thọ, Đền Cổ Loa – Đông Anh – Hà Nội… Đền là trung tâm tín
ngưỡng dân gian của một vùng, nhưng đền khơng phải là nơi bàn bạc cơng việc
của làng xã như đình mà thuần túy là nơi diễn ra các hoạt động thờ cúng, tín
ngưỡng của dân trong làng hay trong vùng.

1.1.3. Đình
(1)

Nguyễn Như Ý (chủ biên), “Đại từ điển Tiếng Việt” Bộ GD và ĐT- Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa
Việt Nam, 1999, tr 396.
(2)
Nguyễn Như Ý (chủ biên), Sđd, tr 623.


10

“1. Nhà thờ nhỏ có mái khơng vách, xây bên rừng hay vườn hoang làm nơi
nghỉ chân. 2: Nhà to rộng, chung cho cả làng để thờ hoặc họp”(1). Chức năng chủ
yếu của đình là nơi thờ thần như thần sông, thần núi, thần giếng, thần đất… Và
các loại nhân thần như các vị có cơng đánh giặc, có cơng lập làng hay đem lại
vinh quang cho dân làng, các vị tổ nghề… Tất cả các vị đó đều có cơng trạng, sự
tích cụ thể. Ngơi đình làng vẫn đóng vai trị là một khơng gian linh thiêng của
làng và là mơi trường văn hóa dân gian của làng xã. Có thể nói ngơi đình làng là
một trung tâm tơn giáo, chính trị, xã hội, văn hóa của làng xã Việt Nam.

1.1.4. Miếu

“Đền thờ nhỏ để thờ thần thánh”(2). Kiến trúc miếu thông thường cũng đơn
giản, riêng văn miếu Quốc Tử Giám ở Hà Nội là kiến trúc phức tạp hơn. Ở các
làng xã miếu chỉ khoảng hai hoặc ba gian, ít nơi thiêng vách kín. Khơng gian linh
thiêng ở đây thường hòa đồng với thiên nhiên xung quanh. Những miếu thờ tổ
sư, văn chỉ hay tôn miếu, thái miếu đều có tượng các chư vị, cịn những miếu thờ
thiên thần thường chỉ có bàn thờ với những bát hương… Miếu có thể là loại hình
kiến trúc để thờ cúng khác.

1.2 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN DIỄN CHÂU
1.2.1 Vị trí địa lý
Diễn Châu ngày nay có vị trí: phía Nam giáp với huyện Nghi Lộc, phía Bắc
giáp với huyện Quỳnh Lưu, phía Tây giáp với huyện n Thành và phía Đơng là
biển Đơng. Hiện tại, Diễn Châu có 38 xã và một thị trấn với diện tích là 304.92
km2 và dân số là 218.227 người.

1.2.2 Điều kiện tự nhiên
Huyện Diễn Châu ngày nay là một trong những vùng đất ngàn năm văn hiến
của tổ quốc Việt Nam anh hùng. Căn cứ vào các thư tịch cổ, tên gọi và địa phận
của vùng đất này có nhiều sự thay đổi(3).
Diễn Châu nằm ở 105,30o đến 105,45o kinh đông, 18,20o đến 19,5o vĩ bắc.
“Diện tích tự nhiên của tồn huyện là 3049236 ha, trong đó đất dùng cho sản
xuất nơng lâm ngư nghiệp chiếm hơn một nửa (51%). Dân số năm 2005 là

(1)
(2)
(3)

Nguyễn Như Ý (chủ biên), Sđd, tr 640.
Nguyễn Như Ý (chủ biên), Sđd, tr 1123.
Xem phần “Lược sử hình thành vùng đất Diễn Châu”.



11

286.000 người”(1). Tình hình dân cư phân bố khơng đều điều đó có thể thấy rõ ở
các xã vùng ven biển mật độ cao, vùng bán sơn địa còn thấp, thiếu lao động để
khai thác hết tiềm năng.
Diễn Châu vinh dự là một trong những huyện có diện tích và sản lượng Lạc
lớn trong cả nước. Vùng bán sơn địa, phần lớn là đồi núi thấp và những bãi cỏ,
tạo khả năng cho huyện nhà mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp, phát triển
lâm nghiệp và chăn nuôi đại gia súc, tạo điều kiện thu hút và điều hòa một lực
lượng lao động giảm bớt sức ép cho vấn đề dân số.
Diễn Châu có 25 km bờ biển chạy dài từ xã Diễn Hùng tới Diễn Trung - là cơ
sở qua trọng trong việc kinh doanh kinh tế biển. Khí hậu biển Diễn Châu mát mẻ,
có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, có bãi tắm thuộc loại tốt, tạo thuận lợi cho
việc xây dựng các khu an dưỡng và phát triển các loại hình du lịch dịch vụ. Biển
Diễn Châu có hầu hết các loại hải sản trong vịnh Bắc Bộ và nhiều loại có giá trị
kinh tế cao như cá, mực, tôm, rau câu, sứa.
Dọc theo bờ biển là một dải rừng phòng hộ phi lao và dừa xanh, phần đất tiếp
cận trồng các loại cây ăn quả như na, xồi, nhãn, đu đủ. Với địa hình bằng phẳng,
vùng hạ lưu sơng Bùng có lạch Vạn ăn sâu vào đất liền sẽ tạo điều kiện cho nhân
dân phát triển sản suất và mở rộng nghề muối.
Tuy không giàu có về khống sản như một số nơi khác của nước ta, song
Diễn Châu có các mỏ sắt, cồn sị điệp. Các cồn sò do những loại trai, ốc, hến xưa
kia lại ở đáy thềm lục địa. Điều đó chứng tỏ cư dân nơi nay có một cơ tầng văn
hóa rất lâu đời.
“Diễn Châu có các tuyến đường quốc lộ 1A, đường sắt Bắc – Nam chạy
xuyên qua. Ngoài ra, Diễn Châu còn là nơi xuất phát của quốc lộ 7, nối với nước
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, đường tỉnh lộ 38 đoạn Cầu Bùng đi Yên Thành,
đường 48 đoạn từ Yên Lý đi Quế Phong và nhiều đường liên thôn liên xã khác.

Hệ thống đường giao thông nói trên tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế,
giao lưu và tiếp xúc văn hóa với các huyện phụ cận, phát triển các loại hình dịch
vụ vận tải. Các tuyến đường giao thông nội ngoại tỉnh gắn hoạt động của 3
huyện Diễn Châu,Yên Thành, Quỳnh lưu thành một của ngõ rộng lớn của phía
Bắc Nghệ An và là nơi hội tụ, giao lưu của nhiều luồng thông tin. Bên cạnh đó
(1)



Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Diễn Châu Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam
huyện Diễn Châu”(sơ thảo), Nxb Lao động – X hội H Nội, 2005, tr 26.


12

cịn phải kể đến kênh nhà Lê – một cơng trình kết hợp kinh tế với quốc phịng của
cha ơng ta – nối liền huyện Quỳnh Lưu ở phía Bắc và Nghi Lộc ở phía Nam.
Sơng Bùng chảy qua mười xã của Diễn Châu rồi đổ ra Lạch Vạn – nơi có các
quan hệ với các cửa biển nội tỉnh, đầu mối giao thông quan trọng nối Diễn Châu
với Hà Nội, Hải Phịng, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh”(1).
Điều kiện địa lý tự nhiên ở Diễn Châu có nhiều thuận lợi song cũng khơng ít
khó khăn. Những điều kiện tự nhiên đó tác động vào tính cách, văn hóa, lối sống
của con người Diễn Châu. Đó là tinh thần cần cù, chịu thương chịu khó, ham học
hỏi, xây dựng nên một nền văn hóa đậm chất nơng nghiệp, đầy ắp những nét tâm
linh.

1.2.3 Lược sử hình thành vùng đất Diễn Châu.
Diễn Châu là một huyện thuộc tỉnh Nghệ An “Nghệ An:… Nhà Tùy năm khai
hoàng thứ 8 (588) đổi Đức Châu làm Hoan Châu, Ly Châu và Trí Châu năm đại
nghiệp thứ 3 (607) hợp cả Minh Châu, Trí Châu, Hoan Châu đổi lệ thuộc quận

Nhật Nam và đặt Nam Đức Châu, Lạo Châu, Minh Châu và Hoan Châu, năm
Trinh Quán nguyên niên (627) đổi Đức Châu

(2)

lại làm Hoan Châu, cịn Hoan

Châu cũ thì đổi thành Diễn Châu, năm thứ 16 (642) bỏ Diễn Châu hợp với Hoan
Châu, hồi đầu năm Thiên Bảo (742 – 756) lại đổi Hoan Châu lệ thuộc quận Nhật
Nam, từ Kiều Nguyên (758 – 760) trở về sau gọi là Hoan Châu rồi bỏ Trí Châu
mà cho lệ thuộc Hoan Châu, năm Quảng Đức thứ 2 (764) chia Hoan Châu đặt
quận Long Trì thuộc Diễn Châu, lại gọi là quận Diễn Thủy”(3).
Giáo sư Đào Duy Anh viết về Hoan Châu Nhật Nam quận vào đời nhà Tùy và
nhà Đường có đoạn:“Là quận Nhật Nam đời Tùy, năm Vũ Đức thứ 5 (622) đặt
Nam Đức Châu tổng quản phủ, lãnh 8 châu: Đức, Minh, Trí, Hoan, Lâm, Nguyên
Cảnh, Hải. Châu Nam Đức lãnh 6 huyện. Năm Vũ Đức thứ 8 (625) đổi làm Đức
Châu. Năm trinh Quán thứ 1 (627) đổi làm Hoan Châu lấy Hoan Châu cũ làm
Diễn Châu”(4).

(1)



Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Diễn Châu Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam
huyện Diễn Châu”(sơ thảo), Nxb Lao động – X hội H Nội, 2005, tr 28.
(2)
Đức Châu: phần phía Nam Nghệ Tĩnh từ sơng Cấm vào đến Đèo Ngang, Hoan Châu cũ từ sông Cấm
trở ra đến giáp Thanh Hoá.
(3)
Quốc sử quán triều Nguyễn “Khâm định việt sử thông giám cương mục”, Nxb Giáo Dục, Hà Nội,1998,

tr 1079 - 1080.
(4)
GS Đào Duy Anh, “Đất nước Việt Nam qua các đời”, Nxb Sử Học, Hà Nội, 1962, tr 78.


13

Theo “Đại Việt địa dư toàn biên” viết: “Trước làm Hoan Châu. Năm Vũ Đức
thứ 5 (622) đặt Hoan Châu và 4 huyện là An Nhân, Phù Diễn, Tường Anh, Tây
Nguyên, đóng châu lỵ ở An Nhân. Năm Trinh Quán thứ 1 (627) đổi tên là Diễn
Châu”(1).
Sách “Nghệ An ký”, phần đời nhà Tùy có viết: “Dưỡng đế (nhà Tùy), năm
Đại nghiệp thứ 2 (606), sai Lưu Phương làm tổng quản đạo Hoan Châu
(Phương), đánh phá Lâm Ấp (Chiêm Thành sau này) vào tận Quốc đô, rồi lập
thêm quận Lâm Ấp 4 huyện Tượng Phố, Kim Sơn, Giao Giang, Nam Cực. Quận
Tỷ Cảnh bốn huyện Tỷ Cảnh, Chu Ngô, Thọ Lãnh, Tây Quyển. Như vậy là mới
khôi phục được một vùng đất đai quận Nhật Nam thời Hán mà thôi”(2).
“Nghệ An ký” viết tiếp: “Năm Trịnh Quán thứ 1 (627) đổi Hoan Châu cũ
thành Diễn Châu. Riêng vùng đất xứ Nghệ này, Việt Thường đổi là Minh Châu là
đặt ba huyện Vạn An, Minh Hoằng, Minh Đinh. Huyện Kim Minh, Văn Cốc đổi
làm Trí Châu và đặt hai huyện là Tân Trấn và Đỗ Châu, Quang An đổi Nguyên
Châu và đặt 4 huyện: Trung Nghĩa, Hoài Hoan, Long Tài, Tư Nơng”.
“Quận Cửu Chân của Ái Châu có 6 huyện: Cửu Chân, An Thuận, Sùng Bình,
Quân Nghĩa, Nhật Nam và Trường Lâm. Quận Nhật Nam của Hoan Châu có 4
huyện: Cửu Đức, Bồ Dương, Việt Thường và Hoài Hoan. Quận Long Tù ở Diễn
Châu có 7 huyện: Trung Nghĩa, Hồn Hoan, Long Trù, Tư Nông, Vũ Đức, Vũ
Dung và Vũ Kim vậy Nghệ An và Thanh Hóa là đất 3 quận Ái Châu , Hoan Châu
và Diễn Châu đời Đường”(3).
Sách “Đại Nam nhất thống chí” viết: “Xưa là đất Việt Thường, đời Tần
thuộc Tượng Quận, đơi Hán thuộc Cửu Chân, đời Ngô chia Cửu Chân mà đặt là

quận Cửu Đức, đời Tùy Khai Hoàng (581 – 561), đặt làm Hoan Châu. Đại
Nghiệp (605 – 617) đổi làm Nhật Nam, đời Đường đặt 3 châu Hoan, Diễn và
Đường Lâm”(4),
Cũng sách “Đại Nam nhất thống chí” của 3 tác giả Cao Xuân Dục, Lưu Đức
Xứng, Trần Xán viết: “đến đời Đường gọi là Hoan Châu và Diễn Châu, Hoan
Châu có quận Nhật Nam gồm 4 huyện. Diễn Châu có quận Long Tri gồm 7
(1)

Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (1799 – 1927) “Đại Việt địa dư toàn biên” Viện sử học và Nxb Văn
Học, Hà Nội 1997, tr 38.
(2)
Bùi Dương Lịch, Nguyễn Thị Thảo (dịch), “Nghệ An ký” Nxb KHXH, Hà Nội 1993, tr 42.
(3)
Bùi Dương Lịch, Nguyễn Thị Thảo (dịch),Sđd, tr 43.
(4)
Quốc sử quán triều Nguyễn,“Đại Nam nhất thống chí ”, Nxb HKXH, Hà Nội, tập 2, 1970,
tr 102 -103.


14

huyện (hồi đầu nhà Đường) đặt ra Hoan Châu, đến năm Trịnh Quán (627) lại
đổi là Diễn Châu sau lại đặt ra An Nam đô hộ phủ để thống trị các quận Hoan
Châu và Quận Nhật Nam gồm 4 huyện: Cửu Đức, Bồ Dương, Việt thường và
Hoan Châu. Diễn Châu là quận Long Trù có 7 huyện: Trung Nghĩa, Hồn Hoan,
Long Trù, Tư Vông, Võ Vang, Võ Dung và Võ Kim”(1).
Theo “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú (1728 - 1840)
viết đời Gia Long từ 1809 đến 1819 thì hồn thành, chỉ ghi tóm tắt: “Nghệ An đời
cổ là nước Việt Thường, Tần thuộc Tượng Quận, Hán thuộc quận Nhật Nam,
Ngô đặt là quận Cửu Đức, Lương đổi là

Đức Châu, Tùy gọi là Nhật Nam. Đường bắt đồi gọi là Hoan Châu sau đó là
Diễn Châu”(2).
Bàn về vấn đề này PGS Ninh Viết Giao đúc kết rằng: “Khơng một sách nào
nói địa danh Diễn Châu ra đời vào năm khác, vương triều khác. Như vậy, rất
thống nhất. Sách “Đại Nam nhất thống chí” có nói đến Phù Diễn nhưng Phù
Diễn không phải là Diễn Châu. Sách “Đất nước Việt Nam qua các đời” có nói
đến quận Diễn Thủy, nhưng các tên Diễn Thủy có sau các tên Diễn Châu”(3).
Đời nhà Đường niên hiệu Vũ Đức chia quận Nhật Nam đặt làm Nam Đức
Châu, Lạo Châu, Minh Châu, và Hoan Châu… Năm Trịnh Quán nguyên niên đổi
Đức Châu làm Hoan Châu, cịn Hoan Châu cũ thì đổi thành Diễn Châu đến năm
thứ 16 bỏ Diễn Châu hợp vào Hoan Châu.
Đến thời Lý đổi làm “trại”, năm Thiên Thành thứ 2 (1030) Hoan Châu đổi tên
là Nghệ An, còn Diễn Châu tách khỏi Nghệ An thì đứng riêng làm châu. Nghệ
An lúc đó là vùng đất cịn lại và tỉnh Hà Tĩnh ngày nay.
Nhà Trần, năm Long Khánh thứ 3 đổi Diễn Châu làm Diễn Châu “lộ”, chia
Hoan Châu làm 4 “lộ”: Nhật Nam, Nghệ An Nam, Nghệ An Bắc, Nghệ An
Trung. Cũng gọi là Nghệ An phủ. Đến năm Quang Thái thứ 10 đổi Nghệ An làm
An Trấn, Diễn Châu làm Vọng An trấn. Đời Hồ: Diễn Châu làm Linh Nguyên
phủ cùng với Thanh Hóa, Cửu Chân, Ái Châu gọi là Tứ Phụ…

(1)

Cao Xuân Dục, Lưu Đức Xứng, Trần Xán, Đặng Chu Kình (dịch), “Đại Nam nhất thống chí”, Vh tùng
thư (số 25) của Nha văn hóa, Bộ Văn Hóa – Giáo Dục xb 1965, quyển 14.
(2)
Phan Huy Chú, “Lịch triều hiến chương loại chí”, Nxb Sử học, Hà Nội, 1962.
(3)
PGS Ninh Viết Giao, “Diễn Châu 1380 năm: lịch sử – văn hóa – nhân vật”, Nxb Nghệ An 2007, tr 28.



15

Đời thuộc Minh, Diễn Châu và Nghệ An là hai phủ riêng biệt. Đời Hậu Lê,
phủ Diễn Châu thuộc Nghệ An thừa tuyên. Năm Hồng Đức thứ 21, đổi Thừa
Tuyên Nghệ An thành xứ Nghệ. Phủ Diễn Châu là một trong 8 phủ của xứ Nghệ,
quản lĩnh hai huyện Đông Thành (Yên Thành và Diễn Châu) và Quỳnh Lưu.
Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) nhà Nguyễn trấn Nghệ An chia thành hai tỉnh:
tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An. Năm Thành Thái thứ 10 (1898), chính quyền thực dân
Pháp và Nguyễn chia huyện Đông Thành theo chiều Bắc Nam như hiện nay, vẫn
gọi là Đông Thành và Yên Thành và đều trực thuộc Diễn Châu.
Từ năm 1919, nhà nước bỏ cấp phủ, gọi huyện Đông Thành thành Phủ Diễn
Châu – Gọi là phủ nhưng lúc này phủ không là cấp quản lý cấp huyện mà chỉ
ngang cấp huyện hoặc nhỉnh hơn cấp huyện một chút mà thôi.
Từ sau cách mạng tháng 8 tất cả các phủ, huyện, châu đều được gọi là huyện
và đều có chỉnh một số phần đất phía bắc tổng Hoàng Trường (gồm hai xã
Quỳnh Diễn và Quynh Giang hiện nay) cắt về Quỳnh Lưu.
Tóm lại, địa danh Diễn Châu được xác định: “Địa danh Diễn Châu mà huyện
Diễn Châu hiện tại đang mang tên ra đời năm Trinh Quán thứ 4 đời Đường tức
năm 627 theo dương lịch. Đến năm 2007 này cái tên đó đã có lịch sử là 1380
năm”(1).
Nếu như điều kiện tự nhiên của Diễn Châu đã tạo nên những nét văn hóa rất
đặc sắc thì với một bề dày lịch sử hàng ngàn năm phát triển, những đặc trưng văn
hóa ấy càng được củng cố và nhân lên. Nó ăn sâu vào tiềm thức của con người
nơi đây.
1.2.4 Diễn Châu và Thục An Dương Vương
“Vào nửa sau thế kỷ III TCN, nhân sự suy yếu của Hùng Duệ Vương (Hùng
Vương thứ 18), Thuc Phán thủ lĩnh của người Âu Việt cũng thuộc tông phái họ
Hùng tự nhận ở Ai Lao mới 22 tuổi đã phát nhiều đao binh tiến đánh đến kinh đô
Văn Lang. Theo truyền thuyết là sau khi Hùng Vương thắng Thục Phán lần thứ
hai, nhà vua nghe được lời tâu của con rể là Sơn Thánh Tân Viển Nguyễn Tùng,

nhường ngôi cho Thục Phán.

(1)

PGS Ninh Viết Giao, Sđd, tr 30.


16

Sau khi được nước Văn Lang, năm 257 trước công nguyên, Thục Phán dựng
nước Âu Lạc, xưng An Dương Vương, dời đô về Cổ Loa. Việc dời đô từ miền núi
về đồng bằng là một bước trưởng thành lớn lao của dân tộc Âu Viêt – Lạc Việt
kết hợp nhất thành một quốc gia có cương vực rộng, đơng dân. Từ đó kinh tế,
văn hóa, quân sự Âu Lạc phát triển”(1). Lúc bấy giờ quân đội Âu – Lạc có hàng
vạn người bao gồm bộ binh, thủy binh, chưa kể lực lượng làm nhiệm vụ hậu cần,
cứu thương. An Dương Vương có nhiều tướng tài như: Cao Lỗ, Lý Ơng Trọng,
Lạc Hầu, Hầu Nồi…
Năm 207 TCN, Triệu Đà là quan của nhà Tần, nhân lúc nhà Tần suy yếu,
cướp quân lập ra nước Nam Việt xưng vương. Triệu Đà nhiều lần đem quân đánh
Âu Lạc nhưng đều bị thua. Triệu Đà biết không thắng Âu Lạc bằng chiến tranh
vũ trang mới dùng kế ly gián đó là bằng cách giảng hịa, cho con trai – Trọng
Thủy sang xin cầu hơn con gái An Dương Vương là Mỵ Châu. Vua Thục Phán
bất chấp lời khuyên của cận thần, vẫn đồng ý. Trong lúc ở rể, Trọng Thủy đã
dùng âm mưu rồi đánh tráo nỏ thần và đem về cho cha. Triệu Đà liền đem qn
tấn cơng. Vua Thục cùng qn lính chủ quan, bất ngờ, thua trận.
“Đại Việt sử ký toàn thư” có đoạn viết “… Vua thua chạy để Mỵ Châu ngồi
trên ngựa, cùng chạy về phía Nam. Trọng Thủy nhận dấu lông ngỗng chạy đuổi
theo. Vua đến bờ biển hết đường mà khơng có thuyền biển gọi rùa vàng mấy
tiếng: “mau lên cứu ta”. Rùa vàng nổi lên mặt nước, mắng rằng: “kẻ ngồi sau
ngươi là giặc đây, sao không giết đi”. Vua rút gươm muốn chém Mỵ Châu, Mỵ

Châu khấn rằng: “Chung tín trọn tiết, bị người đánh lừa, xin hóa thành ngọc
châu để rửa thù nhục này”. Cuối cùng, vua cha vẫn chém Mỵ Châu, máu chảy
loang mặt nước, lồi trai nuốt vào trong bụng, hóa làm hạt Minh Châu. Vua cầm
sừng văn tê dài 7 tấc xuống biển mà đi (tức như ngày nay gọi là sừng tê rẽ nước).
Tục truyền núi Dạ Sơn, xã Cao Xá ở Diễn Châu là nơi ấy. Trọng Thủy đuổi theo
đến nơi, thấy Mỵ Châu đã chết, thương khóc xác đem về chơn ở Loa Thành hóa
làm đá ngọc”(2).

(1)
(2)

Vũ Thanh Sơn, “Thần linh đất việt”, Nxb Văn Hoá Hà Nội, 2003, tr 194.
“Đại việt sử ký toàn thư” Nxb KHXH, Hà Nội 1972, tr 186.


17

Như vậy: “Diễn Châu là nơi diễn ra tấn bi kịch của cha con Thục An Dương
Vương và cả nhà Thục. Bãi biển Diễn Châu là nơi Thục An Dương Vương đã đi
vào cõi bất tận. An Dương Vương có sống ở Diễn Châu ngày nào không? Hay là
chạy về đấy rồi mới biết sự thật rồi chém con gái rồi tự vẫn ngay chưa ai rõ”(1).
Theo Phan Thúc Trực trong “Diễn Châu – Đơng Thành huyện Thơng Chí”
viết về sự tích “Tảng đá gạo” : “phía Đơng núi Mộ Dạ, cách khá xa có một tảng
đá trịn màu đỏ, vàng, đen, trắng xen kẽ nhau lổm nhổm như những hạt gạo”(2).
Tương truyền, ngày xưa khi Thục An Dương Vương thua trận chạy về đây
thì hết lương thực. Vua ngẩng mặt chắp tay vái trời cầu xin giúp đỡ. Bỗng nhiên,
gió nổi lên. Và từ trong gió những hạt gạo bay ra tua tủa. Vua sai quân lính thu
nhặt chất thành đống, ước lượng và chia đều cho quân lính.
Quân lính nhận được gạo hăm hở đi theo bảo vệ vua. Nhưng vua hạ lệnh cho
về làm ăn không phải đi nữa. Số gạo cịn lại đã đơng thành đá. Về sau người ta

gọi những tảng đá đó là đá gạo.
Ở một số vùng, các phường hội làm vàng vó(3) cúng tổ sư là: “Thục An
Dương Vương chi quân tướng” (Quân tướng của Thục An Dương Vương). Tục
truyền quân tướng của An Dương Vương hộ tống nhà vua vào đến nay, sau khi
vua chết, họ ở lại và truyền nghề làm vàng vó cho dân(4).
Xưa kia đền thờ An Dương Vương đặt tại núi Đầu Cân(5) sát bờ biển cạnh cửa
La Nham. Gọi là đầu Cân vì khi nhà vua nhảy xuống biển, một cơn gió mạnh từ
khơi thổi vào hất tung chiếc khăn chít đầu do Mỵ Châu trùm cho vua An Dương
Vương, đã trùm lên đỉnh ngọn núi. Về sau quả núi đó được nhân dân đặt tên là
núi Đầu Cân và dưới chân núi có một ngơi miếu nhỏ thờ Thục An Dương Vương.
Như vậy, vào đời Lê – Trịnh, đền đã dời đến núi Mộ Dạ (Đền Cuông hiện
nay). Đến thời Tự Đức, năm Giáp Tý (1864) đền mới được tu sửa quy mô như ta

(1)

PGS Ninh Viết Giao, Sđd, tr 43.
Phan Thúc Trực, “Diễn Châu – Đơng Thành huyện Thơng Chí ”, tài liệu lưu trữ thư viện Nghệ An.
(3)
Vàng vó làm bằng nan tre gập lại thành khối vuông, gián giấy vàng hay đỏ ghép xen kẽ nhau. Mỗi khối
gọi là một thẻ. Dùng để đốt cho người đã khuất.
(4)
Dẫn theo Nguyễn Nghĩa Nguyên, Sđd, tr 38
(5)
Núi Đầu Cân, hiện đứng ở địa phận xã Diễn Trung – Diễn Châu, bên đường đi từ núi Mộ Dạ xuống
Cửa Hiền ngay nay.
(2)


18


thấy. Bia dưng năm Giáp Tuất (1774) do Phạm Huy Lương viết có đoạn: “Uy
đức vua tươi xanh như áng mây, như thông rừng, như công đức nhà vua càng
sáng rạng” và “cảnh danh thắng miếu cổ, núi chạm trời vân thế phật là nay cịn
ghi được tính truyền để ngày càng lan tỏa ra các đời sau đặng kính thờ và thăm
viếng”.
Tại vùng đất này cịn có đền thờ tướng Cao Lỗ ở Diễn Trung – Diễn Châu –
Nghệ An, miếu thờ Mỵ Châu ở cung Nẻ và dưới chân núi Cấm. Tại Mộ Dạ còn
thờ các tướng của vua Thục An Dương Vương. Tương truyền trước khi xuống
biển theo thần Kim Quy, An Dương Vương để lại những hòn đá Mũ (mão Thạch)
và hòn đá Giấy (miệt Thạch). Trên đỉnh Mộ Dạ có một hịn đá to, bằng phẳng gọi
là Thạch Bàn. Nhân dân kể rằng, vào những đêm trăng thanh gió mát họ vẫn thấy
thấp thống bóng An Dương Vương và thần Kim Quy ngồi đánh cờ.
“Sau đó là cả là một đêm trường Bắc Thuộc, tuy có lúc nhân dân ta vùng dậy
đấu tranh giành độc lập, song vẫn là những ngày ì ạch nặng nề của thời Trung
cổ kéo dài hơn một thiên nhiên kỷ. Diễn Châu cũng như tồn cõi Việt Nam chịu
sự đơ hộ của các vương triều Trung Hoa. Bọn chúng muốn đồng hóa Việt Nam,
đưa Việt Nam thành từng quận, huyện và sát nhập vào bản đồ Trung Quốc. Song
sức sống của dân tộc, bản sắc văn hóa của dân tộc cùng sắc thái văn hóa của
từng địa phương đã chống lại sự nơ dịch, sự đồng hóa đó”(1).

1.2.5 Truyền thống lịch sử - văn hóa và con người Diễn Châu
Lịch sử Việt Nam là lịch sử nổi bật của những trang sử oanh liệt chống ngoại
xâm từ phương Bắc xuống, từ phương Tây sang. Suốt mấy ngàn năm lịch sử ấy,
nhân dân ta vừa lao động, vừa xây dựng đất nước, vừa chiến đấu bảo vệ đất
nước, từng bước khẳng định được truyền thống của mình. Đó là truyền thống
kiên cường đấu tranh lại mọi thế lực cản bước đi lên của dân tộc, truyền thống tự
lực tự cường, chịu đựng gian khổ, cần cù trong lao động, giản dị trong cuộc sống,
kiên cường trong chinh phục tự nhiên. Đó là tinh thần đoàn kết dân tộc, nhân
bản, nhân văn trong đạo lý.
Đến với con người Diễn Châu là đến với tinh thần yêu nước, yêu quê hương,

yêu lao động, đến với tinh thần trọng đạo lý làm người : “Từ tinh thần giản dị,
cần cù, khiêm tốn, trong sạch, đến tinh thần hâm mộ lí tưởng, hâm mộ anh hùng,
(1)

PGS Ninh Viết Giao, Sđd, tr 45.


19

sẵn sàng vì việc lớn… tinh thần đó đã đi đến một khí thế, một tính cách, một bản
ngã rõ rệt. Đó là bãn ngã: gân guốc, chịu đựng, khơng lùi bước, khơng nản chí,
lạc quan, hướng về phía trước,… bản ngã đó đã để lại cho chúng ta niền tự hào.
Tự hào với Diễn châu là tự hào với mảnh đất anh hùng trong Xứ Nghệ anh hùng,
trong tổ quốc Việt Nam anh hùng mà sách sử thường nói đến mà bà con địa
phương khác thường ca ngợi”(1).
Các truyền thống được truyền lại cho các thế hệ tiếp nối góp phần cùng cả
nước làm nên những bản anh hùng ca hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước.
Khơng chỉ có cảnh đẹp núi sơng, biển cả, giàu của cải thiên nhiên mà Diễn
Châu còn được biết đến là một trong những vùng đất có bề dày lịch sư - văn hóa.
Những thành tựu nghiên cứu khoa học tại Diễn Châu cho thấy nhiều di tích thời
tiền sử đã được phát hiện, chứng tỏ đây là vùng đất cổ có người cư trú lâu đời.
Diễn Thọ – di chỉ Rú Ta thuộc nền văn hóa Bầu Tró. Nền văn hóa hậu kì đồ đá
mới ở Nghệ Tỉnh đã phát hiện được nhiều hiện vật như rìu đá hình chữ nhật, rìu
đá có vai, đồ gốm tỏ thổ hồng… Ở di chỉ Lèn Hai Vai (Diễn Minh) tìm được
một số hiện vật qúy: sọ người cổ, hình gốm cịn ngun vẹn và rìu đá được mài
nhẵn 2 mặt. Ngồi ra cịn có một số di chỉ khác trên huyện như di chỉ Đồng Mỏm
(Diễn Thọ). Qua 3 di chỉ kể trên đã góp phần khẳng định Diễn Châu là một bơ
phận khăng khít trong đại gia đình các dân tộc là con cháu các vua Hùng và góp
phần làm rạng rỡ thêm về nền văn hóa Đơng Sơn nổi tiếng.
Huyện Diễn Châu là một vùng đất nổi tiếng có truyền thống hiếu học.

Chuộng văn chương cần cù sáng tạo trong lao động. “Truyền thống hiếu học
trong đạo lý làm người không chỉ biểu hiện trong ý thức tư tưởng mà còn trong
cả hành động thực tế. Hầu hết các thôn xã đều có ruộng học điền, có văn miếu,
hội văn tự, tư võ, hội đồng môn. Nhiều tên làng, tên xã đã nói lên truyền thống đó
của quê hương như Văn Hiến, Văn Vật, Văn Tập, Bút Điền, Bút Trận, Nho
Lâm…”(2). Trong hồn cảnh khó khăn về mọi mặt, tinh thần khổ học, cần cù,
hiếu học sớm được định hình, trở thành một trong những truyền thống tốt đẹp
của quê hương. “Trong khoa thi đầu tiên năm 1232 đến khoa thi cuối cùng năm
1919, Diễn Châu có 27 vị đại khoa, 72 phó bản và 82 cử nhân”(3). Nhiều nhà
(1)
(2)
(3)

PGS Ninh Viết Giao, Sđd, tr 15.
Đảng bộ Đảng CSVN huyện Diễn Châu, Sđd, tr 31.
Đảng bộ Đảng CSVN huyện Diễn Châu, Sđd, tr 32.


20

khoa bản ở Diễn Châu có lịng u nước nồng nàn, tuy đỗ cao nhưng không ra
làm quan mà theo vua đi cứu nước hoặc trở về quê làm nghề dạy học, bốc thuốc
chữa bệnh, cứu người. Trong hàng ngũ các nhà khoa bảng có rất nhiều người
xuất chúng, ví như: Bạch Liêu, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn, Cao Xuân Dục và
Hoàng Danh Sưởng (Đồ Rượu).
Về sinh hoạt tinh thần, người dân Diễn Châu cũng có những sắc thái riêng
biệt, độc đáo. Thờ phụng gia tiên và tinh thần dân tộc được coi là cái gốc của đạo
lý làm người. Ở các Làng xã trong huyện đều có đền thờ Thần Hồng làng, có
chùa thờ Phật và có văn chỉ để lễ tiên thánh hậu hiền.
Đến ngày lễ hội, tất cả dân làng đều quan tâm, nhộn nhịp chuẩn bị với tất cả

sự hứng thú và lịng thành kính. Ngày hội ấy bao giờ cũng được tổ chức một cách
thường xuyên và đều đặn. Ngày lễ tế thần thể hiện một cách tập trung và toàn
diện, mọi nề nếp sinh hoạt cộng đồng có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục ý thức
tâm lý cộng đồng cho các thế hệ trẻ một truyền thống của cha ơng. Ngồi lễ tế
thần vào những năm nhất định các làng xã đều tổ chức lễ mừng thọ nhằm thể
hiện lòng hiếu thảo của con cháu đối với ông bà và cầu chúc cho ông bà sức khỏe
sống lâu…
Con người Diễn Châu rất yêu thích ca hát, nhiều làng xã trước nay đều có
làng hát như hát hội ở làng Bùng (Diễn Ngọc), hát chèo ở Lý Nhân (Diễn Ngọc),
Thanh Bích (Diễn Bích)… Vào ngày hội mùa xuân các nơi đều tổ chức ca hát, lôi
cuốn được hàng trăm người tham dự. Nhân dân Diễn Châu rất hâm mộ những
nhạc phẩm, kịch bản nói về các anh hùng dân tộc, các gương trọng đạo lý và thủy
chung.
Nét đặc sắc trong sinh hoạt văn nghệ ở Diễn Châu là hát ví, hát dặm và kể vè.
Hát ví đậm đà chất trữ tình gắn liền với lao động sản xuất, với các ngành nghề
làm ăn của địa phương. Cịn hát dặm khơng phổ biến ở Diễn Châu. Vè không
những được quần chúng sử dụng như một vũ khí sắc bén để tố cáo phản kháng
đối với giai cấp thống trị mà cịn mang tính chất thời sự và bình luận kịp thời với
tinh thần phê phán những sự việc xảy ra ở địa phương. Tác giả của những bài vè
có thể là những cá nhân hay một tập thể, một nhóm người, sáng tác xong thì lập
tức nhanh chóng phổ biến rộng rãi trong thơn xóm. Ngồi ra, nhân dân Diễn


21

Châu, mỗi làng đều có hội tuồng chèo và ngày nay nghệ sỹ nhân dân trong các
đội tuồng chèo Trung ương, tỉnh nhà, tỉnh bạn đều có người Diễn Châu trong đó.
Nền văn hóa Diễn Châu chủ yếu là văn hóa cả người Việt. Bởi ở đây chỉ có
cư dân người Việt, bao gồm người Việt bản địa và người Việt ở ngoài Bắc, ngoài
Thanh vào, ở Đàng Trong ra cư trú, khơng có người dân tộc thiểu số… đã cùng hội

nhập văn hóa các huyện trong tỉnh tạo nên sự phong phú, đa dạng nhưng mang
gốc Việt. Ngoài ra, Diễn Châu đã hội nhập văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ, Bồ Lơ…
rồi văn hóa phương Tây mà văn hóa Pháp là chủ yếu. “có bao nhiêu hội nhập thì
có bay nhiêu sắc thái văn hóa, tạo cho Diễn Châu một bức tranh văn hóa đa
dạng.”(1)
Làng xã Việt Nam trong đó có nhân dân Diễn Châu với bản sắc văn hóa của
mình là u nước, thờ phụng tổ tiên, sùng bái những người có cơng với đất nước,
kính trọng u thương ơng, bà, cha mẹ, đồn kết với xóm làng… Tóm lại là sống
với đạo lý tốt đẹp đã được thể hiện qua văn hóa, văn nghệ dân gian. Các nền văn
hóa ấy đã tạo cho nhân dân ta một bản lĩnh: “tự lực tự cường”, “lấy yếu đánh
mạnh”, “lấy ít địch nhiều”, “lấy chí nhân để thay cường bạo”. Nó có sức sống đề
kháng những yếu tố khơng phù hợp với mình, đó là các yếu tố tiêu cực, tàn
bạo…
Cùng với sự thăng trầm, biến cố của lịch sử nước nhà, nhân dân ta chịu sự
thống trị của Bắc thuộc, của thực dân và đế quốc phương Tây… Song bản lĩnh
văn hóa của nhân dân ta như đã nói ở trên, là lòng yêu nước sâu sắc với ý chí tự
lực tự cường lấy yếu đánh mạnh đã liên tục đánh giặc ngoại xâm và đánh thắng.
Với bản lĩnh đó nhân dân ta, có cả Diễn Châu đã tiếp thu những nét văn hóa
tích cực thích hợp với mình để xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản
sắc dân tộc như Đại họi Đảng toàn quốc lần thứ VII đã đề ra.

1.3 MỘT SỐ NÉT KHÁI QT VỀ ĐỀN CNG.
Ở nước ta những cơng trình kiến trúc tơn giáo như chùa, đền, đình, miếu…
được chú ý nhiều. Đó là những cơng trình văn hóa có giá trị của đất nước. Cũng
như các địa phương khác, Diễn Châu là một trong những nơi tồn tại một số cơng
trình kiến trúc đó.

(1)

PGS Ninh Viết Giao, Sđd, tr 112.



22

Trước đây, ở Diễn Châu có khá nhiều chùa, đền, đình, miếu… và được truyền
tụng là to lớn, nguy nga như đền Mai Cát, đền Phú Trung, đền Vạn Thần, đình
Thạch Mỹ, đình Tứ Phái, đình Yên Lý, đình Làng Đại… Tuy nhiên cùng với thời
gian, sự tàn phá của thiên nhiên và chiến tranh, thêm vào đó là sự tác động của
con người… Những cơng trình văn hóa đó không được bảo tồn và phát triển nên
bị mai một và mất dần. Do đó trên đất Diễn Châu ngày nay chỉ cịn lại một số
ngơi chùa, đền, đình… đền Cng là một trong những di tích được bảo tồn và tồn
tại cho đến ngày nay.

1.3.1 Địa thế đền Cuông
Đền Cuông nằm ở lưng chừng núi Mộ Dạ, thuộc dãy núi Đại Hải – dãy núi
cuối cùng của một nhánh Trường Sơn vươn ra biển. Đây là địa phận của làng Tập
Phúc, xã Xuân Ái cũ nay là xã Diễn An huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An. Đền
nằm bên quốc lộ 1A cách thành phố Vinh 30km về phía Bắc, đền nằm ở một vị
trí rất đẹp, cả khu đền đều có tường xây bao bọc ngăn cách với rừng cây bên
ngoài. Đây là một kiến trúc cổ ở giữa cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp. Ngọn núi
dựng đền Cuông mang dáng “Phượng Hàm Thư” (con Phượng ngậm thư): lưng
Phượng là sườn núi, cánh Phượng là hai mái núi, đầu Phượng là khu đền, bức thư
là bải cỏ (sân đền phía trước) – nơi diễn ra hội thi khi đến lễ. Ngọn núi chạy dài
ra biển cả với những rừng cây tươi tốt, chim Công tụ họp múa hát tạo nên khung
cảnh sơn thủy hữu tình để lại cho Diễn Châu một di tích lịch sử hùng vĩ có vai trò
quan trọng đối với lịch sử huyện nhà cũng như sự phát triển của Diễn Châu hôm
nay.
Đền Cuông thờ Thục An Dương Vương. Tục truyền, xưa kia đây là ngọn núi
có rất nhiều chim Cơng cư trú. Do đó sau khi lập đền, nhân dân đặt tên là đền
“Công” nhưng tiếng địa phương gọi chệch là đền “Cuông”. Nhiều công trình

nghiên cưú liên quan đến đền Cng.

1.3.2. Lược sử hình thành đền Cuông.
Tương truyền sau khi bị Trọng Thủy đánh tráo nỏ thần, An Dương Vương
thua trận phải chạy về phía Nam. Khi dừng ngựa ở xã Cao Xá, thấy quân Triệu
Đà đuổi theo rất gấp bèn cầu thần Kim Quy. Thần hiện lên bảo rằng: “giặc ngồi
sau lưng”, An Dương Vương liền rút kiếm chém Mị Châu rồi : “Vua cầm sừng


×