Tải bản đầy đủ (.pdf) (20 trang)

Ebook Tìm hiểu phong tục thờ cúng của người Việt ứng dụng trong cuộc sống và kinh doanh: Phần 2 - Trường Đại Học Quốc Tế Hồng Bàng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.76 MB, 20 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

vào đất. Sau khi đặt thi thể người chết vào quan tài, phủ đất kín. Đậy nắp quan tài
cũng phải coi giờ tốt. Dùng dây mây hoặc tre dài làm dây néo ô hai đầu quan tài
thật chắc hơi trong quan tài mạnh có thể làm bật nắp quan tài. Quan tài đặt trên hai
ghế ngắn để cho vững chắc. Chân ghế có cột vải tẩm dầu hỏa để phòng ngừa kiến
leo lên. Dưới quan tài đặt một đĩa đèn dầu phụng thắp sáng ngày đêm, mục địch
hơi dầu phụng thơm, xông lên đánh tan mùi tử khí. Vì vậy, lúc bốc mộ dùng dầu
phụng bôi vào mũi tay chân tránh được mùi xú uế, mùi tử khí. Các thứ dầu nhị thiên
đường, dầu thêm đến mức nào cũng không ngăn được loại mùi chết đó!... Ngồi
hịm trang trí các hoa văn, cánh sen hoặc sơn phết cho đẹp, còn phủ lên trên hòm
vải trắng có “đăng tên”, bấy giờ hòm gọi là linh cữu. Trước linh cữu có bàn soạn
thiết trí linh vị có ảnh, chúng ta thường gọi là linh sàn. Trước linh sàn, đơi khi có nhà
đặt bàn Phật, có nhà lập bàn Phật xây qua hướng khác.


Người chết là nam, tổng số chữ viết trên triện chia cho 4, còn lẻ ba (quỹ, khóc,
linh). Người chết là nữ, chữ trên triện chia cho 4 là chẵn (quỹ, khóc, linh, thính). Viết
xong treo trước quan tài. Khơng có lá triện là “ma chết không triện” nên phải có.


Đám ma ỏ làng, nhà giàu thường mời thầy chùa, thầy pháp, nếu không, nhờ
khuông hội Phật giáo làng cúng kiến tụng kinh. Chương trình tang lễ được đặt ra tùy
theo xem được ngày giờ chôn cất. Nếu không coi ngày giờ, nội trong ba ngày là
phải chôn cất: “Tam nhật nội chi nội bất khán lịch nhật”. Người chết gặp lúc cận Tết
phải chôn cất vào ngày 30 tháng Chạp, không được để sang năm mới.


Sau khi khâm liệm xong, trang hoàng nhà cửa tươm tất rồi làm lễ thành thục.
Lễ thành thục là lễ chịu tang, con cháu nội ngoại, dâu, rễ, chắt chiu họp lại bịt khăn
tang. Ai cũng dùng sắc phục màu trắng, riêng chắt nội mặc áo và bịt khăn màu đỏ,
chắt ngoại mặc áo và bịt khăn màu vàng.


Lễ thành phục xong, con trai, cháu nội đích tơn đội mũ rơm, chống gậy tre nếu
ông nội hoặc cha mất, gậy vông nếu bà nội hoặc mẹ mất. Phụ nữ là con, vỢ, dâu
trùm vải lên đầu gọi là mũ mấn. Ngồi quanh bên quan tài không được lớn tiếng và


ngồi ăn uống với khách đến viếng thăm, chỉ được phép đứng. Trước lúc làm lễ
thành phục phải có cau trầu rượu thưa chuyện và mời một vị làm chấp lệnh nội
thường là các vị trưỏng Họ, Phái. Nếu gia đình neo đơn phải mượn người lớn tuổi
quen biết, ông chấp lệnh là người điều hành tang lễ trong suốt thời gian tang chế.
Mọi người trong hàng tang chủ phải tuyệt đối chấp hành, trình bày với “quan” chấp
lệnh vì “tang gia bối rối” nên không sáng suốt để điều hành công việc. Tập quán
làng hễ có người qua đời, việc dầu tiên là đến thăm hỏi, sau dó ngày khác phúng
điếu. Lễ vật cúng điếu là hương và tiền. Đây là nghĩa vụ của người dân hương thôn
gọi là “thù tạc vãng lai”. Nếu là sui gia, họ, phái, tổ chức tập thể phải có thêm mâm
cau trầu rượu. Lệnh kiểng để làm lễ có phân loại:


- Ba hồi lệnh và ba dùi tiếng dành cho các đơn vị lớn hơn như Làng, Họ, Phái,


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

<b>X ó m .</b>


- Một hồi lệnh và ba dùi tiếng dành cho thơng gia hoặc ai có mârh cau trầu
rượu.


- Ba dùi tiếng là tình làng nghĩa xóm.


Nghe tiếng lệnh là phân biệt được ai đang phúng điếu.


Trước ngày đưa đám có lễ cúng như: Yết cáo từ đường là trình với tổ tiên ngày
mai đến ỏ chỗ mới, triêu điện là lễ buổi sáng, tịch điện là lễ buổi tối. Đêm trước
ngày mai đưa linh cữu về nơi an nghỉ cuối cùng có lễ nhiễu quan. Lễ nhiễu quan là
lễ đi quanh hòm, để tỏ sự luyến tiếc lần cuối đối với người chết.


Lễ cáo đạo lộ là lễ trình xin đường với thẩn giữ đường ngày mai đưa đám, đặt
bàn có hương hoa và cáo ỏ đường lộ gần nhà lễ này cáo ban đêm, chủ lễ là người
không bịt khăn tang. Sáng ngày di quan có lễ khiển điện và lễ triệt linh sàng.



<i>Âm công</i>


Trước vài ngày, tang quyền lên danh sách mời một số trỢ tang để đưa linh cữu
ra đồng (nghĩa trang). Bộ phận trỢ tang này gồm rất nhiều người:


1 “quan” Chấp lệnh ngoại.
1 “quan” Quản áp (cai giang).


1 ông giàn đổ thứ (người phân công việc).
4 vị đầu roi.


50 âm cơng.


Nếu có nhiều trướng liễn, lẵng hoa, vòng hoa... phúng điếu, số người tăng lên,
tổng cộng gần cả trăm người. Những vị này có thể nhờ những người trong họ, phái
và bà con xóm giềng. Lệ làng không nhận thù lao. Thông thường tang quyền dù
giàu hay nghèo đểu có tổ chức ăn uống. Có thể dùng bữa trước khi di quan hoặc
sau khi chôn cất xong. Sau khi chôn cất xong, về nhà làm lễ “phản khóc” là cơng
việc đã xong, có thể ăn uống giải lao.


<i>Giàn đám</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

<i>Di quan</i>


1 Caỉ giang thắt lưng màu đỏ, cầm hai cây đèn sáp lớn và một cặp sanh.


4 ông Đầu roi thắt lưng màu trắng, cầm một cây đèn sáp nhỏ và một cây cờ
nheo.



16 âm công hoặc nhiều hơn cầm mỗi người một cây đèn sáp nhỏ, áo dài đen
quẩn dài trắng.


Sau khi nghe gióng lệnh kiểng của ông chấp lệnh, ông Cai Giang đánh ba hồi
trắc và ba tiếng báo hiệu giờ di quan bắt đầu. Ban âm công sắp một hàng dài trước
sân theo thứ tự như trên, đi vào nhà, vòng quanh quan tài một vòng theo chiều kim
đổng hồ rồi ra sân, mục đích quan sát trước chỗ dặt quan tài dể khi di quan khỏi bỡ
ngỡ. Lúc này gia chủ để một mâm cau trầu và tiền bạc trên chiếc bàn đặt trưởc linh
cữu gọi là lễ bái quan. Sau khi bái quan, âm công nhận lễ vật này.


Ra đến sân, âm công thắp tất cả đèn sáp vẫn giữ một hàng dọc và thứ tự như
trước. Từ đó, Cai Giang cất cặp sanh, im lặng ra lệnh bằng đèn sáp, không ra lệnh
bằng tiếng. Cai Giang dẫn đầu đoàn âm cơng đi năm bảy vịng theo chiều kim đồng
hổ, trong sân như rắn bị hình liên xà. Sau cùng, một vòng lớn rồi tiến thẳng vào
nhà đến trước quan tài. Cai Giang dừng lại trước quan tài. Đồn âm cơng tiếp tục rẽ
phải, rẽ trái chia làm hai hàng đi ra; dẫn đầu mỗi hàng là một ông Đầu roi.


Cai Giang bấy giờ đứng trước mặt bốn hàng âm công. Đứng đầu mỗi hàng là
một ông Đầu roi, đồng làm lễ bái quan một lạy. Tang chủ đứng hai bên linh cữu lạy
ra một lạy. Bái quan xong, hai hàng âm công ở giữa quay đằng sau mà bước tới để
chắp vào đuôi của hai hàng ở hai bên, làm thành hai hàng dài, đầu đầu và đầu đi
của một hàng có một ồng đầu roi. Cai Giang bấy giờ giơ cao đèn sáp ra lệnh hàng
bên phải, hàng bên trái vào đứng hai bôn quan tài để di quan.


Quan tài vừa ra khỏi nhà, một người ở trong nhà dùng tấm ngói hoặc gạch đất,
đĩa đất ném mạnh xuống đất tạo ra tiếng động lớn, sau đó rút một tấm tơn trên mái
nhà hoặc rạp, mục đích để hổn ma đi ra không vương vấn lại nhà, Quan tài ra đến
sân, tất cả đồn âm cơng đều tắt đèn. Cai Giang dùng trắc và tiếng hô để ra lệnh
âm công đưa quan tài vào bàn bàn để linh cữu. Bốn góc quan tài có bốn ơng Đầu
roi giúp Cai Giang ra lệnh nâng góc quan tài lên hay hạ xuống hoặc chuyển lệnh


của Cai Giang đến âm công.


Trước khi khỏi hành, Cai Giang thường báo cho âm cơng biết lộ trình đến huyệt
mả xa gần, dễ đi hay trắc trỏ khó khăn, khuyên cố gắng bình tĩnh. Lệnh ra dõng
dạc và nghiêm, thường dùng các từ sau đây:


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

đầu gối, tay bóp nài. Cho một lớp vai. Đi chậm chậm, rà chân. Cai Giang tùy ý điều
khiển, sắp xếp hiệu lệnh. Nghề này khơng có sách vở dạy, miễn sao âm công gánh
cho đầm, hạ huyệt cho êm là nhiệm vụ chính của Cai Giang.


Đưa đám ra đồng đi xa hay gần đểu phải gánh bộ. Đồn người tiễn đưa rất
đơng. Nếu đường xa phải thay đổi lớp âm công dự bị gánh. Linh cữu ngang qua các
nhà thờ lớn, đình chùa, miếu, Cai Giang cho dừng lại, ra lệnh ra vai xuống eo để tỏ
sự tơn kính. Qua khỏi, mới lên vai đi tiếp. Người trợ tang dùng lọng che phần cổng
của am miếu cho đến khi linh cữu qua hết mới cất đi. Việc di quan từ trong nhà ra
xe là quan trọng, nhộn nhịp, người nào cũng khẩn trương. Người đi xem nô nức như
xem hội múa hoa đăng.


<i>Tế đạo trung</i>


Đi được nửa đường làm lễ tế đạo trung, cũng là dịp để âm công nghỉ ngơi. Thân
bằng quyến thuộc ai chưa đi điếu được, đây cũng là dịp để phúng điếu vì sau khi
chơn cất xong khơng được đi điếu nữa.


<i>Hạ khống - hạ huyệt</i>


Huyệt đào chôn phải thâm thổ 3 tấc đất, nghĩa là đến lớp đất nguyên sơ (mặt
đất cũ) phải đào sâu thêm ba tấc nữa (30cm). Vì chơn trên cao, xương bị khô; chôn
quá sâu, xương bị mục. Chôn sâu ba tấc đất là đủ khí âm dương, là tốt. Trước khi
hạ huyệt, có lễ trị huyệt để đuổi tà ma ẩn núp trong huyệt.



<i>Lễ tạ thổ thần ở nghĩa địa</i>


Chôn xong, làm lễ tạ thổ thần tại mả gồm bông hoa, bộ áo thổ thần. Chủ lễ là
người không bịt khăn tang.


<i>Mở cửa mả</i>


Ba ngày sau, tính từ ngày đưa linh cữu ra đồng, làm lễ mỏ cửa mả để linh hồn
người chết về với gia đình nhờ rải giấy vàng trên mỗi đoạn đường từ nhà đến huyệt
mả trong ngày đưa linh cữu ra nghĩa trang nên linh hổn người chết biết được đường
về nhà khi mở cửa mả.


Làm lễ mỏ cửa mả là thầy cúng dùng con dao vạch lên phía chân nấm mả ba
đường dọc và đọc thần chú (mỗi lần vạch dao là đọc một câu thần chú).


- Nhất trung, khai môn mộ, hung thần tốc xuất;
- Nhị tả, khai môn mộ, vong giả an cư;


- Tam hữu, khai môh mộ, gia phúc an khang.
Dịch nghĩa:


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

- Vạch thứ hai phía trái, mở cửa mả, người mất ở yên ổn.


- Vạch thứ hai phía phải, mỏ cửa mả, gia đình được phúc yên lành.


<b>11. VỀ TỤC THỜ MẪU CỦA cư DÂN VEN BIỂN </b>

<b>x ứ</b> <b>q u ả n g</b>


Thờ Mẫu là một tín ngưỡng phổ biến của cư dân Việt trên mọi miền đất nước, ở
Quảng Nam và Đà Nẵng, thờ Mẫu được dân gian gọi là thờ Bà. Tục thờ Bà phổ


biến từ vùng núi đến vùng đồng bằng, ven biển, phong phú về đối tượng và danh
xưng, như: Bà Thiên Y A Na và các hóa thân, Bà Ngũ hành, Bà Thủy Long, Bà
Dàng Lạch... Tục thờ Bà khơng những đóng vai trị quan trọng đời sống tinh thần
của cư dân xứ Quảng mà còn biểu thị nét dấu ấn giao lưu văn hóa đa nguyên: Việt
- Chăm - Tây Nguyên/ Môn - Khđ Me trong lịch sử.


Giới hạn phạm vi và đối tượng phản ánh trong bài viết này là tục thờ Mau/thờ
Bà của cư dân ven biển Quảng Nam và Đà Nẵng (gọi chung là cư dân ven biển xứ
Quảng), có so sánh với vài ndi khác để góp phần tìm hiểu sắc thái riêng của tục
thờ này ỏ một địa chỉ cụ thể.


<i>Thờ Thiên Y Na ịPô Inư Nagar) và các hiện thân</i>


- Thờ Thiên Y A Na - Bà Chúa Ngọc: Thiên Y A Na/ Bà Chúa Ngọc là thần Mẹ
xứ sở của người Chăm, được người Việt đón nhận và thờ phụng, kể từ khi mỏ mang
bờ cõi về phía biển và phương Nam. ở xứ Quảng, nơi thờ Bà với danh xưng "chân
chính" Thiên Y A Na phổ biến ỏ các làng biển Đà Năng (thuộc phía Bắc Quảng
Nam xưa). Trong cuộc sống hằng thường, Bà được gọi là Bà Chúa Ngọc hoặc Bà
Chúa. Các lăng miếu thờ Bà Chúa thường xây cất trên đổi, gò hoặc nỗng cát cao.
Đa số khơng có tiêu tượng (trừ miếu Bà Nam Thọ, Đà Nang có tượng nhỏ dáng
Phật Bà Quan Âm). Một vài lăng phối tự hal người con của Bà là cậu Quý và cậu
Tài dưới dạng bàn thờ hoặc biểu tượng, <b>về </b>“lai lịch” Bà Chúa, hầu như không ai
biết. Hiện nay, Bà được suy tôn và thờ phụng như một Bà Mẹ Đất của bổn xứ.


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

mâm trên đầu, không cần tay giữ, lăn lộn nhiều vòng từ ngoài vào lăng. Hiện nay,
nghi lễ này do ông chánh tế thực hiện một cách đơn giản: Sau khi tẩy uế, xin keo,
ông lần lượt thỉnh từng mâm lên bàn thờ Bà. Riêng làng Nam Thọ, việc phụng thờ
và nghi lễ thông linh với Bà Chúa Ngọc lại hỗn dung các nghi lễ cổ truyền của làng
với một vài nghi lễ của Phật giáo, của Đạo Tiên Thiên Thánh giáo, như: Thủ tự
hằng tháng phải ăn chay vào hai ngày rằm và mùng một, và đọc hai bản kinh chầu


là Sự tích Thiên Y A Navà Kinh Nhật Tụng.


- Thờ các hiện thân của Thiên Y A Na/Bà Chúa Ngọc: Bên cạnh việc thờ Thiên
Y A Na theo dạng chính danh, cư dân biển xứ Quảng còn thờ phụng một số Bà
khác, như: Bà Chúa Lồi, Bà Dàng Phi, Bà Dàng Què, Bà Dàng Râu, Bà Thân xứ;
Bà Đa xứ, Bà Dàng Chào, Bà Phường Chào, Bà Dàng Lồi, Bà <b>cổ </b>Vàng/ Dàng, Bà
Dàng Bô/Bà Bô Bô - Thu Bồn; Bà Chiêm Sơn, Bà Chợ Được. Nhìn vào các địa
danh, nơi các Bà linh hiển, th) thấy phần đông đều cư trú dọc sông, ven biển.


Lăng, miếu thờ các Bà hầu hết đều quay mặt ra hướng sông hoặc biển. Một số
được dựng trên chính di tích tín ngưỡng của người Chăm xưa. Điều này nói lên nơi
sinh của các Bà nơi ấy: Thần nữ Việt gốc Chăm.


Căn cứ vào từ nơi bà đến, có thể xem việc thờ phụng các nữ thần đó là các
dạng biến thể của Thiên Y A Na, kết quả của việc cư dân Việt đã hóa thiêng những
sự vật, sự việc, nhân vật cụ thể thành các đối tượng thờ tự theo tín niệm thờ Thần
Mẹ xứ sỏ. Về nguồn cội, các Bà đó đã hóa thân từ hai dạng sau:


+ Thác sinh từ đá: Trên vết tích kiến trúc của người Chăm xưa. Đó là Bà <b>cổ</b>
Vàng (Hội An), và Bà Bô Bô (tên Việt là Thu Bồn ỏ làng Thu Bồn, Duy Xuyên,
Quảng Nam). Cả hai Bà đểu có căn từ đá. Linh tượng Bà <b>cổ </b>Vàng/cổ Dàng là một
mảnh sa thạch màu nâu xám, xốp, hình tam giác, kích thước 60 <b>X </b>45 <b>X </b>12. Bên
trong bức bình phong miếu Bà <b>cổ </b>Dàng cịn có một bệ đá bằng sa thạch cứng,
màu xám, hình vng, cạnh 69 cm, cao 10 cm, trên đặt tấm bia nhỏ, cao 40cm,
rộng 20 cm, khắc chữ Chăm cổ. Bà Bô Bô/ Bà Dàng Bô /Bà Thu Bồn tương truyền
cũng hóa thân từ phiến đá hình mu rùa trong một cái hang trên gò cao. Hiện lăng
Bà cịn có một tấm bia đá khắc chữ Chăm. Cách bài trí các bàn thờ trong lăng cũng
góp phần nói lên quốc tịch Chăm - Việt: cửa lăng mở hướng đông. Phần hậu tẩm/
nội điện được bài trí: trên cao nhất là bàn thờ có 2 bài vị - một của Bà Bơ Bơ, ghi
dịng chữ Hán: "Tiền cổ Lê Triều Bô Bơ phù hóa tơn thần"; một bài vị thờ chung Bà


Chúa Ngọc và Bà Phiếm ái Châu đại đức phu nhân (Bà Phường Chào). Trên bàn
thờ, ngồi các đồ thờ giống như bao ngơi đình, lăng, miếu khác, cịn có các vật biểu
trưng cho nữ thẩn là: áo, hài, nón; lọn tóc phụ nữ (nay đã mất), và một chiếc thuyền
đua nhỏ. Bên tả là bàn hương án thờ Thành hoàng, bên hữu là hương án thờ Ngũ
hành tiên nương. Dưới nền lăng là một quan tài bằng xi măng, gọi là mộ Bà.


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

chài Hội An, thì Bà Bơ Bơ/ Thu Bồn lại hiển linh và nổi tiếng khắp nơi từ nguồn
xuống biển. Bà Bô Bơ/Thu Bổn cịn là Bà Chúa ghe đua của làng Thu Bồn và một
số làng biển khác của xứ Quảng. Những chiếc ghe dùng để bơi đua trong lễ hội,
gọi là "Ghe Bà Chúa". Cá biệt như làng An Hải (Đà Năng) có cả miếu và tượng thờ
Bà Chúa Ghe. Khi cúng tế, Bà được hô mời bằng danh thần "Thiên Y A Na Diễn
Phi Chúa Ngọc Thượng đẳng thần".


Trong quan niệm của cộng đồng cư dân xứ Quảng nói chung, dân biển nói
riêng, thì Bà Bơ Bơ/Thu Bồn có quan hệ ruột thịt với Bà Phường Chào/ Dàng Chào-
nữ thần bảo trỢ cho cư dân vùng núi Đại Lộc (Quảng Nam). Dàng Chào vốn là một
cô gái đẹp nhưng bị tật nguyền bẩm sinh, và lìa trần khi rất trẻ. Cơ thường hiển lộng
phá phách làng


Hà My, Điện Dương- Quảng Nam. Các ngơi miếu nhìn chung nhỏ bé. Riêng nơi
thờ Bà Thủy ở Tĩnh Thủy, Tam Thanh - Quảng Nam có dáng dấp và chức năng
của ngôi đình, với tên gọi "Đình Vạn".


- Và các nữ thần của riêng nghề biển: Bên cạnh sự tín ngưỡng các Bà/ Mẫu
chung của quê hương, cư dân ven biển xứ Quảng cịn có riêng một lớp nữ thần chủ
vể nghề biển, gồm: Bà Thủy Long, Bà Dàng Lạch, Bà Hà Bá, Bà Ma Nha. Có thể
xem đây là biểu hiện sinh động của tín ngưỡng thờ Nữ thần nước/ Mẫu Thủy.


- Bà Thủy Long: Còn được gọi là Bà Thủy Tề, Bà Thủy hoặc Bà Thủy Long Hà
Bá. Dân biển xứ Quảng quan niệm nữ thần này vừa thiện vừa ác. Với tư cách là


Thủy Long Thần nữ, Bà hỗ trỢ ngư dân làm ăn, hộ mạng khi gặp sóng gió. Nhưng
khi là Bà Hà Bá thì lại dìm người chết đuối, và không thả vong người chết lên nếu
người thân chưa làm lễ cúng Bà, gọi là lễ "vớt vong". Và chừng nào vong hồn người
chết chưa được thả lên, thì cịn có người khác bị dìm tiếp: lần này là do chính hồn
người chết trước bắt người khác thế mạng cho mình (để vong mình sớm được Bà
cho lên siêu thoát). Ngờ rằng, cái mặt trái/ ác của Bà Thủy Long - Hà Bá và bà Ma
Da chỉ là một. Chẳng qua Hà Bá là cách nói chữ, nói trại của dân Quảng, hay là sự
đánh đổng để chỉ một loài ma nước, thường gọi là Bà Ma Nha, mà có thể là do ảnh
hưởng từ tín ngưỡng ma Rừng, ma Nước, Ma Lai của đồng bào Tây Nguyên. Phải
chăng thế mà cơ sở thờ tự Bà này rất hiếm hoi, mặc dù có sắc phong,


- Bà Dàng Lạch: Còn gọi là Dàng Lạch Chúa nước nương nương, được hầu hết
các vạn làng biển, nhất là những nơi gần cửa biển cúng cáo nhằm cầu mong Bà
hỗ trợ mỗi khi ra vào cửa/lạch. Rất có thể bà Dàng Lạch là hình tượng tiếp nối,
chuyển hóa từ tín ngưỡng thờ Nữ thần biển cửa Cờn/ lạch Cờn - Tứ vị Thánh
Nương, với tước hiệu Đại Càn quốc gia Nam Hải Tứ vị Thánh Nương, mà cư dân
Thanh - Nghệ đã mang vào vùng Thuận- Quảng.


<i>Những sinh hoạt tín ngưỡng</i> - <i>văn hóa</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

Hầu hết các ngơi miếu, lăng thờ Bà có liên quan đến tín lý thờ Thiên Y A Na thường
tiến hành cúng tế thành kính thường niên, theo nghi lễ tế thần truyền thống, vào dịp
Xuân kì. Một khuôn mẫu chung trong sinh hoạt tín ngưỡng - văn hóa của các làng
thờ Thiên Y A Na và các hóa thân của Bà là Tế lễ và Ca xướng (hát bội). Riêng
vùng sông biển, nơi có các "hóa thân" của Thiên Y A Na, lễ lệ và lễ hội diễn rá khá
sinh động, mang rõ nét đặc trưng Thần Mẫu của dân sông biển. Tiêu biểu là lễ hội
Bà Thu Bồn, tức Bà Bô Bô (hai ngày 11 và 12 tháng 2 âm lịch) và Bà Chợ Được
(ngày 11 tháng giêng hằng năm). Nét độc đáo trong sinh hoạt văn hóa lễ hội Bà
Thu Bồn là "Trên bờ hát bội, dưới thuyền bơi đua”., còn trong lễ hội Bà Chợ Được là
lễ rước Cộ Bà;<lễ Tống ơn, ngồi ra cịn có múa lân, đua ghe, hát bội. Các nghi


thức tế lễ cũng giống như các lễ cúng các Nữ thần khác. Riêng vật phẩm dâng
cúng trong lễ Bà Thu Bồn thì bắt buộc phải có một con trâu đực non, làm sạch
lông, và đặt nguyên cả con lên giá tre, trong tư thế quỳ. Tiết trâu được dùng để xoa
lên mình trâu, làm cho toàn thân là một màu đỏ.


<i><b>t</b></i>


Lễ hội Bà Thu Bổn, Bà Chợ Được là lễ lệ mang ý nghĩa phụng tự, nhưng đã trở
thành một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng cộng động, có sức lan tỏa rộng rãi, tạo nên
một cảm nhận chung về lịng biết ơn đối với cơng đức của các Bà.


- Một số nghi lễ liên quan đến các bà Thủy: Nhìn chung, các nghi lễ liên quan
đến các Bà Thủy chủ về nghề biển khá phong phú, nhưng không thể hiện độc lập
mà thường được lồng ghép trong các lễ cầu an và cầu ngư, như: Lễ Nghinh Bà
Thủy, Lễ cúng Vũng...


+ Lễ Nghinh Bà Thủy nhằm "nghinh Bà nhập điện ông" trong ngày tế thần
Nam Hải/ cá voi để cầu ngư, cầu an. Đoàn đi nghinh do ông chánh tế dẫn đầu, xuất
phát từ lăng (cá voi, hoặc lăng cô hồn) tiến ra sông, biển. Tại địa điểm đã định, một
chiếc ghe chở riêng ông chánh tế đi lấy nước. Bình nước được xem là tượng trưng
cho Bà Thủy.


+ Lễ cúng Vũng; Vũng/ vịnh là những nơi neo đậu của ghe thuyền tránh gió
bão. Hằng năm, sau lễ cầu ngư ít ngày, tại một nơi đã định ở cửa, vũng, vịnh, nhiều
làng biển tổ chức lễ cúng các vị thần, bà Thủy, và Cô Bác, cũng nhằm cầu an và
được mùa. Bàn cúng bà Thủy được để sát mép nước, còn gọi là cúng sơ nước.


<b>12. LỄ CƯỚI MIỀN TRUNG</b>



</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

Đám cưới Huế có các lễ: Xin giờ, nghinh hôn, bái tơ hồng, rước dâu diễn ra ở


nhà gái, và đón dâu, trình báo gia tiên ỏ nhà trai. Người Huế không có tục thách
cưới, lễ vật trong lễ cưới tối thiểu chỉ gồm có mâm trầu cau, rượu trà, nến tơ hồng,
bánh phu thê. Nếu khá giả, nhà trai có thể thêm bánh kem, bánh dẻo; khơng có
“lợn quay đi lộng” như nhiều nơi. Ngoài ra, đám cưới ỏ Huế ln có phù dâu, phù rể
và hai đứa trẻ rước đèn đi trước. Hai đứa trẻ thường là 1 trai 1 gái, tuổi tương đương
cầm lồng đèn hay cầm hoa. Trong đêm tân hôn, đôi bạn trẻ phải làm lễ giao bôi
hợp cẩn. Người Huế có tập tục để trong phòng hoa chúc một khay lễ với 12 miếng
trầu, đĩa muối, gừng và rượu giao bôi. Đôi bạn trẻ phải nhai hết 12 miếng trầu ấy,
tượng trưng cho 12 tháng hòa hỢp trong một năm, 12 năm hịa hỢp tuần hồn trong
một giáp âm lịch. Việc ăn muối án gừng mang màu sắc dân gian, biểu tượng nghĩa
tình nồng thắm. Khi đưa dâu, thơng thường bố mẹ cô gái sẽ không theo xe, mà hôm
sau mới sang nhà trai, với ý nghĩa xem cô con gái ngày đẩu về làm dâu có làm điều
gì Phật lịng nhà chổng không. Buổi gặp này, hai bên thông gia đối đáp những câu
khách sáo, nhắn gửi con cái cho nhau, và căn dặn con mình phải thuận thảo với gia
đình bên vợ hoặc bên chồng.


Đặc biệt, quan hệ tuổi mạng rất được coi trọng ở đám cưới Huế. Vị chủ hôn
thường là vị cao niên trong dòng tộc hai bên, thân thuộc với gia đình, vỢ con đầy
đủ, không tật bệnh, tuổi không khắc kỵ đôi tân hôn. Những nhân vật khác trong
đám cưới từ người may áo cưới, người sắp xếp phòng cho đêm tân hơn, người đóng
vai trị tổ chức đều được lựa chọn kỹ càng. Những người này đều phải có gia đình
hòa thuận, con cái đề huề.


<b>13. TỤC LỆ CƯỚI HỎI CỦA NGƯỜI HUẾ</b>



Vào thuở xa xưa, việc dựng vỢ gả chồng cho con đều do cha mẹ đôi bên định
liệu tất cả. Tục lệ ấy, ngày nay đã thay đổi. Tuy nhiên, để đi đến kết hôn, nhiều gia
đình vẫn cịn thực hiện theo các lễ sau:


<i>Sơ vấn</i>



Bên nhà trai đến nhà gái theo cách đến chơi cho biết nhà biết cửa, biết mặt
bên nhà gái. Khơng có nghi thức gì bó buộc phải theo.


<i>Vấn danh</i>


Khi đã tiếp xúc buổi sơ vấn, nhà trai có thể làm xui với nhà gái cho biết tuổi của
cô con gái, thường gọi là “niên canh bát tự” (năm sinh tám chữ).


<i>Nạp các</i> ;


</div>
<span class='text_page_counter'>(10)</span><div class='page_container' data-page=10>

con gái ấy làm vỢ cho con trai mình nên gọi là nói vợ. Nói bằng lời thơi, khơng có lễ
vật gì.


<i>Đỉnh hơn, bỏ trầu, lễ hỏi</i>


Sau khi hai bên nhà trai nhà gái thỏa thuận việc dựng vỢ gả chồng cho con
mình, nhà trai làm “lễ diện nhạn”. Trước khi làm lễ này, phải có khay cau trầu rượu
để xin trình bày lý do, vì phong tục của người Việt Nam “cau trầu là đầu câu
chuyện”. Ngày nay khơng có cặp nhạn, mà trầu cau, bánh trái, trà rượu để nhà gái
biếu bà con bạn bè cho biết con gái mình đã được định ndi. Một chiếc nhẫn đeo vào
tay người con gái, gọi là nhẫn đính hơn. Nhà trai, nhà gái đều gửi thiếp cho bạn bè.
Thiếp ấy gọi là thiếp đính hôn.


Hoặc năm miếng trầu là dâu nhà người, nhắc nhỏ để con gái biết rằng từ đây
đã là chính thức dâu nhà người ta. Khơng có lễ cúng kiến gì cả, như là việc xem
mặt đi nhiều người có xã giao rượu trà mà thôi. Ngày xưa, sau khi làm lễ đính hơn,
người con trai phải đến nhà người con gái làm rễ. Làm rễ là làm những công việc
của nhà người con gái, như người bạn trai trong nhà. Nếu nhà người con gái là nhà
làm ruộng, người làm rẫy phải đi cày, cuốc đất... làm rẫy có nđi lâu đến ba năm mới


cho làm lễ cưới. Trong thời gian ba năm này, nhà trai mỗi năm phải có hai lễ cho
nhà gái: Tết Nguyên đán và Tết Đoan ngọ. Mùng năm tháng năm (Tết Đoan ngọ)
phải Tết một cặp vịt sống.


“Mùng năm nhận hết
Ngày Tết thì chừa (lại)


Nghĩa là đi Tết mùng năm, nhà gái nhận hết lễ vật. Ngày Tết thì chừa lại một
nửa gởi lại nhà trai.


Ngày trước, chú rể khơng dự vào lễ đính hơn, ngày nay thì trái lại”.


<i>Lễ cưới</i>


<i>‘</i> Định ngày lành tháng tốt, nhà trai đem tiền bạc và lễ vật đến nhà gái để xin
cưới người con gái ấy cho con trai mình làm vợ. Lễ này thường gọi là lễ cưới gồm
nạp lễ, nên nghi thức rườm rà hơn lễ đính hôn. Những lễ vật đưa đến nhà gái phải
kể quan trọng nhất là cặp đèn sáp lớn để thắp vào bàn thờ hôn lễ. Mâm cau, trầu,
rượu, đồ trang sức cho cô dâu, bánh trái, tiền bạc đều để lên bàn trước bàn thờ.
Trình diện cô dâu, cô dâu được đeo nữ trang. Dâu rể lạy bàn thờ, cha mẹ nhắc nhủ
cô dâu, quà biếu trong ngày lễ này. Nhà gái còn mời họ nhà trai ăn uống khi đưa
dâu.


<i>Cúng tơ hồng</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(11)</span><div class='page_container' data-page=11>

sân. Người chủ hơn từ phía họ nhà trai, mặc áo rộng địa xanh, đội khăn đóng, dùng
dao bửa quả cau làm hai lấy một lá trầu quệt vôi rồi đặt vào đĩa dâng lên bàn thờ,
đứng vào chiếu lạy, châm đèn đốt hương rồi vái lạy cảm ơn Nguyệt Lão xe dun,
đơi khi có đọc văn tế. Chỉ có người chủ hơn lạy cám ơn Nguyệt Lão mà thôi.



Sau khi hoàn tất lễ cúng tơ hồng, tứ thân phụ mẫu làm lễ yết gia tiên nhà gái.
Đôi nam nữ vái lạy gia tiên và cha mẹ mình để về nhà chồng.


<i>Rước dâu - Lễ giao duyên hợp cẩn</i>


Trước ngày cưới khoảng mười ngày, nửa tháng, nhà trai sang nhà gái để bàn
chuyện tổ chức đám cưới cho được chu toàn, gọi là “Thọ ngơn”. Lễ thọ ngơn chỉ có
cau trầu rượu. Mọi thủ tục giờ giấc được bàn bạc cụ thể, chặt chẽ. Sau khi làm lễ tơ
hồng, cúng gia tiên ỏ nhà gái xong, đến giờ rước dâu vể nhà chồng. Gái về nhà
chồng phải đúng giờ gọi là giờ nhập trạch là hoàng đạo (giờ tốt), vể làm dâu sẽ
thuận lợi tốt đẹp. Trật giờ, sinh lắm chuyện không hay.


Về đến nhà trai, lễ gia tiên vẫn diễn ra như tại nhà gái. Sau đó đến lễ giao
duyên hỢp cẩn. Vợ ông chủ hơn vào phịng hoa chúc và trải chiếu mới cho cặp vợ
chổng. Chú rể thắp hai cây đèn sáp đưa cao khỏi đầu, cô dâu bưng quả hộp theo
sau vào nhập phòng. Quả hộp bằng gỗ, sơn màu đẹp, phủ khăn gỗ.


Trong quả hộp đựng kim, chỉ ngũ sắc và muối gừng. Vào đến phịng hoa chúc,
cơ dâu chú rể trao nhau ăn miếng gừng và muối:


“Tay bưng đĩa muối chấm gừng


Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau”.


Hai cây đèn sáp thắp sáng để dẫn đường đi vào phòng hoa chúc. Người ta nói
ánh đèn sáp khơng để cho bóng hình của người rễ bị cô dâu dẫm lên. Chàng rể bị
dẫm bóng về sau vợ sẽ ăn hiếp.


Ngày cưới, nhà gái trang hoàng ở cổng chào vào nhà mình hình chữ Vu Quy.
Nhà trai trang hồng chữ Tân Hơn hoặc Thành Hôn. Cô dâu chú rể mặc áo cổ


truyền khi làm lễ. Khách khứa ăn mừng mặc âu phục hoặc áo cổ truyền.


<i>Lại mặt</i>


Khi đưa dâu, người mẹ không đi theo tiễn đưa, chỉ có người cha, cô, chú, bác
theo người con gái về nhà chồng, cảnh bịn rịn, nhớ nhung nên bà mẹ và con gái
thường ơm chồng nhau khóc: “Khấp như thiếu nữ vu quy nhật”.


Vì bà mẹ lúc đưa dâu phải ỏ nhà, nên cuối ngày tiệc cưới xong, vỢ chồng tân
lang và tân giai nhân cùng đại diện sui gia của nhà trai (có thể người cha hoặc chú
bác) về nhà gái đem theo cau trầu rượu một đĩa xôi, thịt, nem, chấ, bánh trái... trình
lên người mẹ bên nhà gái, gọi là lại mặt. Sau khi thưa trình, ngồi nhắm rượu vui vẻ.


</div>
<span class='text_page_counter'>(12)</span><div class='page_container' data-page=12>

Trường hỢp gả con gái xa, nên vài ngày sau mới diễn ra lễ này.


Ngày xưa, chuyện hôn nhân do cha mẹ sắp đặt “cha mẹ đặt đâu coh ngồi đó”.
Chuyện làm dâu có nhiều trắc ẩn, tình duyên trắc trỏ nên mới có những câu hị


thấm thìa: t.


“Chiều chiều ra đứng vườn sau
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiểu”.


<b>14. NGUỒN GỐC CÁC TẬP TỤC TẾT ĐOAN NGỌ</b>



Hằng năm, nhiều địa phUđng trên khắp nước ta, cứ đến mùng 5 tháng 5 âm lịch
lại tổ chức ăn Tết Đoan ngọ hay còn gọi là Tết mùng Năm. Vậy Tết Đoan ngọ là
Tết gì?


Theo sách “Phong Thổ Ký” thl Tết Đoan ngọ còn được gọi là Tết Đoan Dương.


Đoan ngọ là bắt đầu giữa trUa (Đoan: Mở đầu, Ngọ: Giữa trưa). Còn Dương là mặt
trời, là khí dương, Đoan Dương có nghĩa là bắt đầu lúc khí dương đang thịnh.


Sở dĩ Tết này gọi là Tết Đoan Ngọ, chính vì tháng 5 là lúc bắt đầu trời nắng to,
khí dương đang thịnh như mặt trời vào lúc giữa trưa. Theo quan niệm Đơng phương
thì phương Nam là chính Ngọ, mà Ngọ là ngôi dương cho nên Tết này gọi là Tết
Đoan Dương, ở Trung Hoa, họ gọi Tết Đoan ngọ là Tết Trùng Ngũ vì là hai con số 5
gặp nhau, mùng 5 tháng 5.


Ngày xưa, lúc ban đầu, ngày Đoan ngọ chỉ là ngày dân chúng cúng lễ để đánh
dấu một thời tiết mới, mừng sự trong sáng, quang đãng. Hơn nữa, giữa tiết hạ vì oi
bức thường có bệnh thời khí nên người ta hay cúng lễ để cầu an. vể sau này, để
thêm ý nghĩa, người ta lấy ngày đó làm ngày kỷ niệm Khuất Nguyên và các thầy
thuốc, và cũng nhân ngày đó kỷ niệm hai chàng Lưu - Nguyễn vào núi Thiên Thai
hái thuốc gặp Tiên.


Khuất Nguyên làm chức Tả Đồ nước <b>sỏ </b>dưới triều vua <b>sỏ </b>Hoài vương bên
Trung Hoa, có tài và liêm chính, về sau ông bị nhà vua truất bỏ. Để tả nỗi ốn than,
ơng có viết bài thơ Ly Tao nổi tiếng. Đến đời vua Tương vương, ơng cịn bị đi đày vì
nhà vua nghe theo lời bọn xu nịnh, ông buồn nhảy xuống sông Mịch La tự vẫn.
Hơm đó là ngày mùng 5 tháng 5. Được tin đó, nhà vua vơ cùng hối hận và thương
tiếc, người dân làm cỗ đem ra bờ sông cúng rồi ném xuống nước cho ông hưởng.


</div>
<span class='text_page_counter'>(13)</span><div class='page_container' data-page=13>

năm nhưng là mấy trăm năm ỏ cõi trần. Hai chàng thấy phong cảnh quê nhà đã
khác xưa, người quen thì đã ra người thiên cổ, hai chàng bèn rủ nhau trở lại cõi tiên
nhưng không được. Hai chàng ra đi mà không thấy trở về...


Trong ngày Tết Đoan ngọ, thuở xưa ỏ các làng xã có tế Thần ỏ đình, đền, ỏ
thơn, xóm thì cúng ở miếu; tại gia đình thì sắm sửa lễ phẩm cúng Tổ tiên và Thổ
công. Lễ cúng là phẩm vật toàn trái cây. Riêng các gia đình thầy thuốc cịn có thêm


lễ cúng Thánh Sư.


Sau lễ cúng Tết Đoan ngọ là các tục lệ như tục giết sâu bọ.; tục nhuộm móng
chân, móng tay: tục tắm nước lá mùi; tục xỏ lỗ tai cho trẻ em; tục khảo cây lấy quả;
tục hái thuốc vào giờ ngọ; tục treo ngải cứu để trừ tà... Phần lớn các tục lệ trên nay
đã phôi phai, chỉ còn giữ lại tục tắm nước lá mùi và tục đi hái lá thuốc. Nhiều địa
phương ỏ ven sơng, ven biển thay vì tắm nước lá mùi thì đúng giờ Ngọ họ đi tắm
sông, tắm biển gọi là “tắm mùng năm”.


ở một số nơi còn giữ tục lệ Tết nhà vỢ (hay thông gia bên vợ của con trai); Tết
thầy học, Tết thầy lang trong dịp này để thắt chặt tình đồn kết, bày tỏ sự hiếu đạo,
trả ơn sự dạy dỗ của thầy giáo, đền ơn cứu chữa bệnh của thầy lang...


Cũng như nhiều các lễ tiết khác, Tết Đoan ngọ nguyên sơ từ Trung Hoa truyền
sang Việt Nam nhưng đến nước ta được biến đổi mang một hình thức và ý nghĩa
văn hóa khác. Những tập tục trong lễ Tết được xây dựng trên căn bản nhân nghĩa
và đạo đức truyền thống. Những mỹ tục Tết nhà vỢ; thông gia; thầy giáo; thầy
thuốc; biếu tặng những người đã thi ân cho mình đã chứng tỏ rằng, lễ giáo của
nước ta rất được tôn trọng và những ân sâu nghĩa trọng thì khơng bao giờ qn.


Tết Đoan ngọ ngày nay, qua mọi biến đổi của thời cuộc vẫn tồn tại trong dân
chúng với ý nghĩa thiết thực và thiêng liêng của nó. Ăn Tết Đoan ngọ, chúng ta cần
tìm hiểu giá trị và tinh thần của ngày Tết này...


<b>15. VÀI NÉT VỀ TỤC THỜ CÚNG ở HUẾ</b>



Do chịu ảnh hưỏng tư tưỏng luân hổi của đạo Phật, ngoài cuộc sống hiện tại
người Huế còn hướng đến một thế giới tâm linh. Hai thế giới này có mối quan hệ với
nhau biểu hiện qua tục thờ cúng. Hiếm có nơi nào mà việc thờ cúng được coi trọng
như ỏ Huế.



<i>Thờ cúng thờ Phật, tổ tiên</i>


Hầu hết gia đình người Huế đểu đặt bàn thờ tổ tiên và bàn thờ Phật ngay gian
giữa nhà chính. Bàn thờ Phật đặt ỏ phía trước, thờ Phật Thích Ca hoặc Quan Thế
Âm. Ngay sau đó là bàn thờ tổ tiên, thờ những người đã khuất 'trong dòng họ nội.
Thông thường con trai trưởng là người có trọng trách chăm lo việc thờ phụng và


</div>
<span class='text_page_counter'>(14)</span><div class='page_container' data-page=14>

thừa kế tài sản chính trong gia đình. Người vỢ có trách nhiệm mua sắm đồ cúng
thật tươm tất. Hằng năm, các đám giỗ diễn ra khá linh đình, bà con họ hàng đến dự
khá đông đủ.


<i>Cúng Ám hồn</i>


Sự kiện thất thủ kinh đô ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu khiến kinh thành Huế
chìm trong bể máu. Để tưởng nhớ những người vô tội đã ngã xuống, người dân Huế
đã tổ chức cúng tế hằng năm gọi là cúng Âm hồn. Ngoài lễ tế được tổ chức trang
trọng ở đàn Âm Hồn, trong mỗi gia đình, đểu tiến hành cúng tế. Tập tục cúng âm
hồn là một mỹ tục thắm đượm tình nhân đạo. Đây là một lễ hội mang đậm màu sắc
dân gian, đồng thời còn là một nét văn hóa đẹp của người dân Huế.


<i>Thờ Táo quân</i>


Dân gian quan niệm rằng: Táo quân là vị thẩn theo dõi mọi sinh hoạt trong gia
đình và có khả năng đem lại su sung túc, bình yên cho gia đình đó. Vào ngày 23
tháng chạp hằng năm, các gia đình tiến hành lễ cúng đưa ơng Táo về trời.


Ngoài ra, nhiều phụ nữ tuổi trung niên còn đặt trang thờ bổn mạng, gọi là trang
Bà. Những gia đình làm nghề bn bán có trang thờ Thần Tài đặt dưới đất.



Trong gia đình người Huế việc được thờ cúng được truyền từ đời này sang đời
khác thành nét văn hóa tốt đẹp. Đây chính là một yếu tố khiến người Huế sống
thanh thản, ung dung tự tại.


<b>16. TỤC THỜ CÚNG TẾT NGUYÊN ĐÁN CỦA NGƯỜI HUẾ</b>



Ăn Tết Nguyên đán không phải là phong tục riêng của Huế. Tuy nhiên, Tết
Huế có những nét riêng thú vị. Là kinh đô xUa, Huế cịn giữ được nhiều cổ tục trong
việc đón Tết và ăn Tết.


Trước tiên, là ở phần lễ nghi, cúng kiếng. Nếu ỏ ngoài Bắc, người ta coi lễ cúng
ông Công, ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp là nghi lễ khỏi sự cho một cái Tết và
tổ chức rất trọng thị, thì ỏ Huế lễ cúng ơng Táo có phần đơn giản hơn. Đối với nhiều
gia đình người Huế, ngày 23 tháng Chạp đơn thuần chỉ là ngày thay bát hương, quét
dọn bàn thờ gia tiên và tiễn ông Táo bằng đất nung thờ trên trang bếp ra chân
tường ngôi miếu hay gốc cổ thụ nơi đầu xóm để thay bằng ơng Táo mới. Cái khơng
khí Tết thực sự cảm nhận được phải từ sau ngày 25 tháng Chạp, khi các phường
hội thợ thuyền làm lễ cúng tổ nghề, cũng là lễ cúng tất niên, cho dẫu một số nghề
vẫn còn tiếp tục hoạt động cho tới tận phút giao thừa như thợ may hay thợ cắt tóc.


</div>
<span class='text_page_counter'>(15)</span><div class='page_container' data-page=15>

trên bàn thờ gia tiên, người ta chuẩn bị hương hoa đi thăm viếng phần mộ những
người thân-đã quá vãng. Họ đến đó, dọn dẹp vệ sinh, chăm sóc những luống hoa,
búi cỏ nơi phần mộ, rồi thắp mấy nén hương mời người quá cố về ăn Tết với gia
đinh. Với những người còn giữ những liên hệ ruột rà nơi quê qn thì lúc này chính
là dịp họ trỏ về thăm bà con nơi quê cũ, biếu người này hộp trà, người kia quả mứt
để đón Tết. Đành rằng, người xứ quê có thể mua sắm thật dễ dàng những thứ ấy
nơi chợ huyện, chợ làng, nhưng họ thật sự trân quý những món quà này bởi đó là
tấm lịng của những người ly hương nhưng khồng ly tổ. Và họ cũng hào hiệp đáp lễ
người miệt phố bằng dăm ba ký nếp, cân đậu hay nhành mai chúm chím nụ vàng,
lòng những mong cái Tết nơi phố phường sẽ thấm đẫm tình quê hương bản quán.



Với các bà, các chị, Tết là dịp để họ trổ tài nữ công gia chánh. Ngày trước,
dường như người ta tự làm tất cả các món ăn mặn ngọt, chay tịnh... mà khơng phải
mua thứ gì. Tết Huế có hàng trăm món ăn: Mặn thì có bánh tét, dưa món, thịt bò
dầm nước mắm, giò heo bó, chả thủ, nem tré, kim chi chuối chát, hành muối, kiệu
chua... Món ngọt thì đủ loại mứt bánh: Mứt gừng, mứt dừa, mứt khoai lang, mứt bí
đao, mứt hạt sen, mứt me, mứt cốc, mứt xoài, bánh in, bánh thuẫn, bánh dẻo, bánh
bó, chè xanh đánh, chè đông sương, chè khoai tía... Đổ ăn mặn có món gí thì đồ
chay có món đó. Huế vốn nổi tiếng với các món cỗ chay cao cấp trong cung đình
xưa và hầu hết các bà nội trỢ đất kinh đô đểu biết nấu được một, hai món chay đặc
sắc. Nhờ thế mà cỗ chay ngày Tết rất phong phú và đặc sắc. Ngày nay, tuy hàng
quà bánh trái tràn ngập chợ Tết nhưng đa phần phụ nữ Huế vẫn thích tự mình làm
các món ăn như thịt dầm, kim chi và đặc biệt là dưa món, thứ không thể thiếu trong
Tết Huế.


Sự thờ cúng trong ngày Tết ở Huế mới thực sự cầu kỳ. Trước Tết có cúng ơng
Táo, cúng tổ nghề, cúng tất niên, cúng lên nêu, cúng rước ông bà về ăn Tết, cúng
Thành hành khiển (thần coi sóc trong năm), cúng giao thừa. Từ sáng mùng một Tết
trỏ đi phải cúng ông bà ngày 3 bữa, ngày sóc cúng chay, ngày thường cúng mặn.
Đến chiều mùng 3 Tết phải làm cỗ cúng đưa (tiễn ông bà về lại cõi trên). Tiếp theo
là cúng đầu năm, cúng sao, cúng rằm Nguyên tiêu... Tôi nhớ ngày bà ngoại đương
sinh, suốt ba ngày Tết hầu như bà chỉ loay hoay với chuyện cúng kiếng, hương đèn.
Cũng chính nhờ cổ tục này, mà người Huế dù đi làm ăn xa ỗ trong Nam ngoài Bắc,
Tết đến, cũng tranh thủ về với gia đình, khơng chĩ để được sum họp với người sống
mà cịn như muốn tìm trong khơng khí thành kính, linh thiêng ấy, hình ảnh của
những người thân đã khuất bóng.


Đêm giao thừa là lúc gia đình đoàn viên. Khác với ngoài Bắc, ở Huế khơng có
tục hái lộc đầu năm nên người Huế không ra khỏi nhà trước và sau khi giao thừa.
Mấy năm gần đây, nhà nước có tổ chức cầu truyển hình đêm giao thừa nên một bộ


phận cư dân Huế, nhất là lớp trẻ, đã biết ra khỏi nhà vào đêm trừTịch, song ít ai trở
về nhà sau lúc giao thừa. Ấy là bởi cái tục đạp đất. Người Bắc cũrỉg có lệ xông đất,


</div>
<span class='text_page_counter'>(16)</span><div class='page_container' data-page=16>

nhưng dân Huế đã gọi rất đúng tên cổ tục này là “đạp đất”. Không ai muốn về nhà
sau giao thừa cũng bởi họ muốn tránh việc đạp đất nhà mình. Người ta mong người
đến đạp đất nhà mình vào sáng mùng Một Tết là những người chức sắc, có học
vấn, hay là người nhẹ vía, để tài lộc, may mắn sẽ theo họ đến với gia đình suốt cả
năm sau đó. Nhiều gia đình ỏ Huế còn “ra lệnh” cho con cái, ai mà nặng vía thì
sáng mùng 1 khơng được dậy sớm, có thức giấc cũng phải nằm yên, chờ người
khác nhẹ vía hơn, đặt chân xuống đất trước, lúc đó những đứa khác mới được ra
khỏi giường.


Người Huế thường dành ngày mùng Một để đi viếng mộ tổ tiên, thăm nhà thờ
họ tộc, thăm ông bà, cha mẹ, chúc Tết thầy dạy nghề, dạy chữ... Sang mùng Hai,
mùng Ba mới tính đến chuyện viếng thăm đồng nghiệp, bằng hữu. Ngày nay, tệ
“viếng xếp vi tiên” cũng có le lói ỏ một đơi nơi, nhưng nếp lễ nghĩa xưa vẫn là phổ
biến.


<b>17. </b>

<b>TẾT DÂN GIAN </b>

<b>xứ HUẾ</b>



Tết Nguyên đán trước đây còn gọi là Tết Chính Đán. Từ “Tết” là do từ “Tiết”
đọc trại mà ra. Lịch nóng nghiệp xưa chia một năm làm 24 tiết: Lập Xuân, Xuân
Phân, Thanh Minh, Sương Giáng, Mang Chủng... Trong 24 tiết đó có những tiết liên
quan thiết thực đến đời sống và sinh hoạt của dân chúng, hoặc rơi vào những dịp
người dân thu hoạch xong mùa màng, hoặc kỷ niệm một sự kiện quan trọng của
dân tộc, đất nước; một số tiết trong năm được người dân tổ chức các cuộc tế lễ,
dâng cúng hoặc tổ chức các cuộc vui chơi giải trí sau những ngày làm việc vất vả
trong năm nên từ “Tiết” lâu dần thành “Tết”. Còn “Nguyên” nghĩa là “khỏi đầu”, “bắt
đầu”: “Đán” là “sớm”. Như vậy, Tết Nguyên đán là ngày Tết bắt đẩu cho một năm
mới, là ngày mùng Một tháng giêng, ngày mở đẩu cho một năm mới với biết bao


niềm tin và hy vọng về những thay đổi tốt lành. Sau một năm lam lũ, vất vả làm ăn,
“năm hết, Tết đến” là dịp nghĩ ngơi và đoàn tụ, vì vậy, người dân xứ Huế và vùng
phụ cận đã hình thành nhiều tập tục đặc biệt, nhiều cuộc vui chơi để quên đi phần
nào những nỗi ưu phiền và mệt nhọc trong năm cũ.


Sống ỏ chốn Kinh đô, trung tâm văn hóa của đất nước, người Huế chuẩn bị sửa
soạn “chơi xuân”, “ăn Tết” rất chu đáo. Từ đầu tháng Chạp âm lịch, người ta đã
nhộn nhi.p đón Tết, chợ búa trở nên đông đúc hơn các ngày thường vì tất cả các bà
nội trợ đều đi mua sắm hàng Tết. Nhà nào cũng trang hoàng nhà cửa, dọn bàn thờ,
thay mấy câu đối và đôi câu liễn mới.


</div>
<span class='text_page_counter'>(17)</span><div class='page_container' data-page=17>

trong tháng Chạp âm lịch. Sau việc bày tỏ lòng hiếu thuận của mình đối với người
đã khuất, mọi người mới lo sửa soạn trang hoàng nhà cửa của mình.


Gia cảnh dù có khác nhau, nhưng việc trước tiên là gia đình nào cũng lo mua
gạo nếp, đậu xanh, thịt mỡ để gói bánh tét, bánh chưng - hai thứ bánh không thể
thiếu được trong ba ngày Tết. Người nghèo đến đâu cũng “Ba mươi Tết thịt treo
trong nhà”. Tết thì đủ món ngon vật lạ, nhưng cũng sinh ra dễ “ớn” nên nhà nào
cũng tranh thủ những ngày nắng hiếm hoi của tháng Chạp lo làm “dưa món”. Dưa
món là tên gọi một loại thức ăn được các bà nội trỢ làm bằng đu đủ, cà rốt, hành
củ, su hào, củ cải, trái ớt chín - tất cả được tỉa gọt rất khéo rồi đem phơi nắng cho
khô, xong nấu nước mắm pha đường cho vào thẩu thủy tinh dầm nhiều ngày và
phải nẹp tre ép xuống dưới mức nước mắm, có như thế dưa món mới thấm và ngon.
Ngồi dưa món, người Huế thường còn làm nhiều thứ khác từ cây, củ, quả cũng
giống như dưa món nhưng cách làm khác nhau, chẳng hạn như kim chi làm từ quả
chuối chát (hay cịn gọi là chuối sứ có rất nhiều hạt) - món này ăn phải thật cay mới
ngon, các món chua ngọt được làm từ các cây củ nhưng dầm với giấm chứ không
phải dầm nước mắm, đặc biệt là trái vả được làm chua ngọt với sự tỉa tót khéo tay
của các cô, các bà nội trợ ỏ Huế. Đây cũng là dịp để các cô trổ tài gia chánh của
mình nên làm nhiều thứ mứt, bánh. Kể từ lúc này, khơng khí trong nhà nhộn nhịp


hẳn lên. Một món bánh, món mứt lạ được khách khen trong ngày Tết là sự hãnh
diện, một niềm vui cho người làm ra, nên không ai bảo ai người ta thi nhau làm mứt,
làm bánh.


Ngày Tết vào nhà nào cứ nhìn lên bàn thờ chúng ta mới thấy hết được lòng
hiếu thuận biết ơn của con cháu đối với tổ tiên.


Trong Tết Nguyên đán, lễ cúng giao thừa là một lễ không thể thiếu được.


Theo quan niệm của người xưa, có sinh thì có diệt, có trước phải có sau. Lẽ trời
đất có bắt đầu thì cũng có lúc chấm dứt. Một năm cũng vậy, hết xuân đến hạ, đến
thu, đến đông và lại trở vể xuân, cứ như thế mà tuần hoàn chu lưu trong trời đất,
sinh sinh hóa hóa vơ cùng theo cái vòng tròn mà đấng Tạo Hóa đã vạch sẵn. Vậy
nên, một ngày, một tháng, một năm đều có một khoảng thời gian chuyển tiếp gọi là
giao thừa. “Giao thừa” có thể hiểu là thời khắc giữa cũ và mới để ghi nhớ cái
khoảnh khắc này, người ta thường bày biện một lễ cúng giao thừa. Người dân xứ
Huế không bao giờ quên lễ cúng Giao thừa trước khi bước qua năm mới, lễ vật
cúng tồn là đồ khơ gổm hương hoa, trầu rượu, vàng bạc, bánh mứt, xôi chè...
Cúng giao thừa coi như năm cũ đã hết, năm mới bắt đầu. Kể từ giờ phút này chính
thức mới gọi là Tết và cũng từ giờ phút này mọi cái đểu được nhìn dưới ánh mắt
khác.


Một tục lệ vẫn còn lưu giữ cho đến nay là tục lệ xông nhà. Xuất phát từ quan
niệm cho rằng người “đạp đất” đầu năm có ảnh hưởng đến thời vận làm ăn, sức


</div>
<span class='text_page_counter'>(18)</span><div class='page_container' data-page=18>

khỏe và hạnh phúc gia đình trong cả năm nên gia đình nào cũng mong muốn người
“tốt vía” nhanh nhẹn, đứng đắn đến xông nhà ngày mùng một Tết. Tính tình xấu
của người “đạp đất” cũng có thể làm chủ nhà bị xúi quẩy, thậm chí tai vạ cả năm.
Người có tang cha mẹ, tức là “vận áo xám”, Tết không được đến nhà ai. Tục lệ này
tuy mang tính mê tín dị đoan nhưng cũng cho thấy trong quan hệ ứng xử xã hội,


những người có nhân cách và đạo đức luôn được coi trọng.


Ngày Tết, người Huế kiêng cữ những lời gắt gỏng, những hành động, việc làm
thô lỗ như chửi mắng nhau, đánh nhau. Dù có hiểu lầm, thù oán, đố kỵ nhau trong
năm cũ thì đến ngày Tết gặp nhau cũng đều hỷ hả tha thứ cho nhau và giữ hịa khí
vui vẻ. “Giận đến chết, ngày Tết cũng vui” chính là biểu hiện của sức sống cộng
đồng thân ái, bao dung và đầy trách nhiệm.


Trong ba ngày Tết, người Huế hết sức chú ý đến chuyện ăn mặc. Ngay cả
những người nghèo khổ, ăn thiếu mặc rách, khi đến Tết cũng cố dành dụm ít tiền
mua sắm một bộ áo quần mới tưđm tất để đi thăm hỏi, chúc mừng bà con. Và, cho
dù quanh năm bữa đói bữa no, nhưng ngày Tết họ cũng cố gắng làm một vài mâm
cỗ thịnh soạn với nhiều món ăn ngon để cúng thổ cơng, ơng bà, tổ tiên.


Ngày Tết có tục dựng nêu ỏ ngoài sân. Nêu là một cây tre cao vút như cần
câu, đầu nhọn có cành lá lơ thơ. Dưới đất người ta vạch những hình cung tên bằng
vôi để ngăn không cho ma quỷ đến quấy phá gia chủ. <b>sỏ </b>dĩ phải trồng cây nêu là vì
cây càng cao thì bóng của nó chiếu xuống đất càng rộng, càng to hơn. Tục dựng
nêu bây giờ ít thấy, tuy nhiên các khu vui xuân, ban tổ chức có khi cịn dựng nêu
bên cạnh cờ đại, cờ phướn thì cũng khơng ngồi mục đích giới thiệu nét biểu tượng
độc đáo của ngày Tết cổ truyền dân tộc.


</div>
<span class='text_page_counter'>(19)</span><div class='page_container' data-page=19>

Ngày nay người Hưế vẫn còn giữ một tục lệ rất đẹp và rất có ý nghĩa là đi viếng
mộ đầu xuân để đắp lại các nấm mộ cho cao và thắp mấy nén hương lên mộ khấn
mời hương hồn tổ tiên về hưỏng Tết cùng con cháu. Đây là sự biểu lộ lòng biết ơn
sâu xa của con cháu đối với người đã khuất.


Mùa xuân là của mọi người, mọi nhà nên ngày Tết vui chẳng riêng ai. Những
cụ già hay chữ chọn giờ tốt khai bút làm thơ, văn, câu đối đón “chúa Xuân về'’.
Những người lớn tuổi lo cúng bái gia tiên, đưa tiễn ông bà, ông Táo và không quên


đi lại thăm hỏi chúc Tết nhau bằng những lời tốt đẹp, may mắn “phúc, lộc, thọ,
khang, ninh” hoặc đi lễ chùa cầu phúc. Ngay cả bọn con trẻ, khuôn mặt hồn nhiên
của chúng cũng vui vẻ hơn, khi được người lớn mừng tuổi “lì xì” bằng những bao
giấy hồng. Đối với thanh niên xứ Huế, mùa xuân là mùa nở rộng của tình u đơi
lứa, là dịp hiếm có để cho những đơi trai tài, gái sắc hò hẹn yêu thương nhau.


Trong những ngày Tết có nhiều trị vui chơi giải trí, bình dân, lành mạnh và bổ
ích để cho mọi người có thể “chơi xuân kẻo hết xuân đi”. Gặp trời mưa phùn lấm
tấm, các gia đình tổ chức đổ xăm hường, chơi bài tới, tứ sắc... Trời nắng đẹp người
ta nô nức đi đến các khu vui xuân, chợ Tết thưởng ngoạn hoa xuân, nghe hát tuồng,
ca Huế, đánh bài chòi (một lối đánh bài tới biến đổi và có phần náo nhiệt, vui nhộn
hơn lối chơi bài tới trong gia đình) hoặc tham dự những đêm sinh hoạt hò đối đáp
nam nữ tổ chức ỏ các thơn xóm đình chợ, khu giải trí vui xuân.


Những phong tục Tết dân gian ỏ Huế có vai trò quan trọng trong việc giáo dục
đạo đức, tinh thần thượng võ, sự yêu thương, đồn kết gắn bó giữa các tầng lớp
nhân dân. Tổ chức Tết dân gian là một việc có ý nghĩa góp phần làm cho bộ mặt
và bản sắc văn hóa Huế thêm phong phú, đậm đà và đẹp đẽ.


<b>18. PHONG TỤC THỜ CÚNG TẾT TRONG CUNG ĐÌNH HUẾ</b>



Thường xưa nay nhiểu người nói về Tết dân gian. ít ai nhắc đến Tết cung đình.
Tết cung đình xưa trong cung vua, phủ chúa trịnh trọng, nhiều màu sắc. Các triều
đại phong kiến nước ta ảnh hưởng sâu sắc đạo nho nên nghi lễ mang đậm màu sắc
nho giáo. Đến triều Nguyễn (1802-1945) nghi lễ Tết thờ cúng cung đình thịnh hành
và hồn Chĩnh.


<i>Lịch trình nghi lễ Tết diễn ra theo trình tự:</i>


<i>-</i> Bắt đầu ngày 20 tháng chạp làm lễ “phát thức” (lễ rửa ấn). Vua ngự ở điện


Cần Chánh. Các quan mặc lễ phục màu xanh chầu. Các tủ đựng ấn đểu mở cửa.
Nước được múc ỏ ngã ba sông đựng trong bình đầy hoa thơm về rửa ấn. Ấn rửa
xong đưa vào tủ khóa lại, bên ngoài niêm phong hai chữ “Hoàng phong”. Sau ngày
đó, vua và các quan nghỉ Tết, không dùng ấn nữa.


</div>
<span class='text_page_counter'>(20)</span><div class='page_container' data-page=20>

- Ngày 22 tháng chạp làm lễ “hạp hương” đây là lễ mời tiên đế về ăn Tết. Vua
đến Thái miếu hành lễ. Trên mỗi bàn thờ để một cây lụa trắng gọi là “chế bạch”.


- Ngày 30 tháng chạp lễ “thượng tiên” lễ dựng cây nêu). Vua ngự điện Thái
Hòa, dựng cây nêu trước sân. Lệ truyền sau đó dân các nơi mới được dựng cây nêu
ỏ sân nhà mình.


- Lễ Tết chính được cử vào mùng một Tết, từ canh năm (3 - 5 giờ sáng).


Đầu giờ trống nghiêm hồi thứ nhất, quản vệ bày cờ quạt, nghi trượng theo vị
trí. Trống nghiêm hồi thứ hai, các quan văn, võ phẩm phục chỉnh tề vào trực trong
sân điện Thái Hòa, các chấp sự viên chia lo phần việc của mình. Tờ mờ sáng, trống
nghiêm hồi thứ ba. Trên đài kéo cờ đại và các sắc cờ khánh hỷ. Xa giá đưa vua từ
điện Cần Chánh sang điện Thái Hòa. Trên thành nổ 9 phát súng lệnh. Đại nhạc cử
Vua ngự tọa. Viên thái giám đốt lư trầm. Đại nhạc ngưng, tiểu nhạc cử khúc “Tấu lý
bình chi chương”. Ca sinh cùng các quan phụ họa. Theo nhạc cử, các quan quỳ 5
lạy. Sau cuộc lễ vua trỏ lại điên cần Chánh. Hoàng thân, hoàng tử cùng các quan
văn võ từ hàng tứ phẩm trỏ lên phân ban đứng hầu. Thái giám dẫn các hoàng đệ,
hoàng tử nhỏ tuổi đến trước vua mừng 5 lạy.


<i>Sau lễ là đến tiệc mừng vua ban yến.</i>


<i>-</i> Ngày mùng một ban yến cho hoàng thân, hoàng tử, quan văn từ ngũ phẩm,
quan võ từ tứ phẩm trỏ lên.



- Ngày mùng hai ban yến cho các quan văn từ lục phẩm, quan võ từ ngũ phẩm
trở xuống, quan phủ Doãn Thừa Thiên và các quan hàng tỉnh được về ân lộc.


- Ngày mùng 4 cử lễ “Triều Minh”. Vua ngự hành lễ các điện, các đền Thái
miếu, Thế miếu, Hưng miếu, Phụng tiêu, Cung miếu... Suốt từ 30 Tết cho hết mùng
3 Tết các đền miếu trong cung đểu bày lễ cúng chay và mặn. Mỗi lẩn cúng có 32
cỗ, mỗi cỗ là một món ăn riêng biệt.


<i>Từ đời Đồng Khảnh về sau vua có lễ du xuân trong 3 ngày Tết.</i>


Đầu năm mới, chọn ngày hoàng đạo triều đình làm lễ “Khai ấn”, bắt đầu làm
việc quốc gia.


</div>

<!--links-->

×