Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (99.12 KB, 7 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE
Educational Sci., 2014, Vol. 59, No. 8, pp. 42-53
This paper is available online at
<b>PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ</b>
<b>CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ</b>
Trần Lương
<i>Khoa Sư phạm, Trường Đại học Cần Thơ</i>
<b>Tóm tắt.</b>Bài báo đề cập đến khái niệm kĩ năng giải quyết vấn đề, phát triển kĩ năng giải
quyết vấn đề cho siên viên„ thực trạng kĩ năng giải quyết vấn đề của sinh viên Trường Đại
học Cần Thơ và nguyên nhân của thực trạng. Có 81% sinh viên hiều đúng khái niệm kĩ
năng giải quyết vấn đề, 92,2% sinh viên cho rằng kĩ năng giải quyết vấn đề và việc rèn
luyện kĩ năng giải quyết vấn đề là rất cần thiết, 98,6% sinh viên quan tâm đến kĩ năng giải
quyết vấn đề và việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề, 48% sinh viên biết được quy
trình giải quyết vấn đề, 48,3% sinh viên thường xuyên thực hiện theo đúng quy trình giải
quyết vấn đề. Kĩ năng giải quyết vấn đề của sinh viên đạt hiệu quả trung bình (<i>X</i>¯ = 3<i>,</i>25).
Nguyên nhân làm cho kĩ năng giải quyết vấn đề của sinh viên chưa cao là do chưa có biện
pháp phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho sinh viên một cách phù hợp. Vì vậy, chúng
tơi đã thiết kế và thực nghiệm biện pháp phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho sinh viên
Trường Đại học Cần Thơ thông qua việc dạy học chuyên đề “Kĩ năng giải quyết vấn đề”.
Kết quả thực nghiệm cho thấy, sau khi thực nghiệm, kĩ năng giải quyết vấn đề của sinh viên
tăng lên một cách đáng kể.
<i><b>Từ khóa:</b></i>Phát triển, kĩ năng, vấn đề, giải quyết vấn đề, kĩ năng giải quyết vấn đề.
Kĩ năng giải quyết vấn đề là một trong những kĩ năng sống cơ bản, đóng vai trị rất quan
trọng trong cuộc sống của mỗi con người. Trong cuộc sống con người nói chung và sinh viên nói
riêng đều ln có những vấn đề địi hỏi cần phải được giải quyết. Thực tiễn cho thấy, nếu chúng
ta có kĩ năng giải quyết vấn đề hay nói cách khác nếu chúng ta giải quyết vấn đề đúng đắn, phù
hợp sẽ mang lại sự thành công và hạnh phúc cho chúng ta và cho người khác. Ngược lại nếu chúng
ta giải quyết vấn đề không phù hợp sẽ mang lại cho chúng ta sự thất bại (hành vi sai trái, hành vi
phạm pháp,...) và có thể gây nên những phiền muộn cho những người xung quanh. Cho đến nay
đã có một số tài liệu nghiên cứu về kĩ năng giải quyết vấn đề như [1,3,6,7],... Nhưng chưa có đề
tài nào nghiên cứu “Phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho sinh viên Trường Đại học cần Thơ”.
Trong khi đó thực trạng cho thấy, kĩ năng giải quyết vấn đề của sinh viên Trường Đại học Cần Thơ
chưa cao. Vì vậy, nghiên cứu biện phát phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho sinh viên Trường
Đại học Cần Thơ để phát triển kĩ năng này cho họ là hết sức cần thiết.
Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa để nghiên
cứu xây dựng cơ sở lí luận, nghiên cứu thực trạng và đề ra biện pháp pháp phát triển kĩ năng giải
quyết vấn đề cho sinh viên. Đồng thời các phương pháp này còn được sử dụng để nghiên cứu thực
nghiệm biện pháp phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho sinh viên Trường Đại học Cần Thơ;
Thiết kế bảng hỏi để khảo sát thực trạng kĩ năng giải quyết vấn đề của sinh viên Trường Đại học
Cần Thơ, thực trạng biện pháp phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho sinh viên Trường Đại học
Cần Thơ và thực trạng kĩ năng giải quyết vấn đề của sinh viên trước và sau thực nghiệm. Tổ chức
thực nghiệm biện pháp phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho sinh viên Trường Đại học Cần Thơ
để khẳng định tính khả thi và tính hiệu quả; Sử dụng phần mềm SPSS for Windows để xử lí số liệu
nghiên cứu thực trạng và thực nghiệm.
<b>2.2.1.</b> <b>Khái niệm kĩ năng giải quyết vấn đề</b>
Theo Nguyễn Công Khanh “kĩ năng giải quyết vấn đề là khả năng xác định được bản chất
vấn đề, đưa ra được các giải pháp mang tính hệ thống, đánh giá, chọn được giải pháp phù hợp để
giải quyết vấn đề một cách hiệu quả và triệt để” [3].
Huỳnh Văn Sơn cho rằng “Kĩ năng giải quyết vấn đề là sự giải quyết có kết quả những vấn
đề nảy sinh trong hoạt động hàng ngày của con người bằng cách tiến hành đúng đắn các thao tác,
hành động trên cơ sở vận dụng những tri thức và kinh nghiệm của chủ thể” [5].
Tóm lại, kĩ năng giải quyết vấn đề là khả năng giải quyết các vấn đề trong cuộc sống một
cách phù hợp và hiệu quả bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm, thái độ.
<b>2.2.2.</b> <b>Khái niệm phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho sinh viên</b>
Phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho sinh viên là làm cho khả năng giải quyết các vấn
đề trong cuộc sống của họ một cách phù hợp và đạt hiệu quả hơn bằng các tác động giáo dục
chuyên biệt.
<b>2.2.3.</b> <b>Thực trạng về kĩ năng giải quyết vấn đề của sinh viên Trường Đại học Cần Thơ</b>
<i><b>* Nhận thức của sinh viên về khái niệm kĩ năng giải quyết vấn đề</b></i>
khái niệm kĩ năng giải quyết vấn. Kiểm định Gamma cho thấy với mức ý nghĩa (sig. = 0,823) có
thể kết luận năm học khơng có liên quan đến việc nhận thức của sinh viên về khái niệm kĩ năng
giải quyết vấn. Hiểu biết về khái niệm kĩ năng giải quyết vấn của sinh viên ở các năm học là tương
đương nhau.
<i><b>Bảng 1. Mức độ nhận thức của sinh viên về khái niệm kĩ năng sống</b></i>
<b>Năm 1</b> <b>Năm 2</b> <b>Năm 3</b> <b>Năm 4</b> <b>Tổng</b>
<b>Các mức độ nhận thức của sinh viên</b>
<b>về kĩ năng giải quyết vấn đề</b>
1 = Hồn tồn khơng đồng ý N 4 7 1 2 14
% 1 2,1 0,4 1,5 1,3
2 = Không đồng ý N 15 9 9 4 37
% 3,8 2,8 3,6 2,9 3,3
3 = Phân vân N 52 41 44 23 160
% 13 12,6 17,8 16,9 14,4
4 = Đồng ý N 208 169 124 57 558
% 52 51,8 50,2 41,9 50,3
5 = Hoàn toàn đồng ý N 121 100 69 50 340
% 30,3 30,7 27,9 36,8 30,7
<b>Tổng</b> N 400 326 247 136 1109
% 100 100 100 100 100
<b>Điểm trung bình</b> <b>4,06</b> <b>4,06</b> <b>4,01</b> <b>4,09</b> <b>4,05</b>
<b>Mức ý nghĩa (sig.) (ANOVA)</b> <b>0,813</b>
<b>Mức ý nghĩa (sig.) (Gamma)</b> <b>0,823</b>
<i><b>* Nhận thức của sinh viên về sự cần thiết của kĩ năng giải quyết vấn đề và việc rèn luyện</b></i>
<i><b>kĩ năng giải quyết vấn đề</b></i>
<i><b>Bảng 2. Nhận thức của sinh viên về sự cần thiết của kĩ năng giải quyết vấn đề</b></i>
<i><b>và việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề</b></i>
<b>Năm 1</b> <b>Năm 2</b> <b>Năm 3</b> <b>Năm 4</b> <b>Tổng</b>
<b>Mức độ cần thiết</b>
1 = Không cần thiết N 3 3 3 0 9
% 0,8 0,9 1,2 0,0 0,8
2 = Cần thiết N 152 120 87 49 408
% 38 36,8 35,2 36 36,8
3 = Rất cần thiết N 245 203 157 87 692
% 61,3 62,3 63,6 64 62,4
<b>Tổng</b> N 400 326 247 136 1109
% 100 100 100 100 100
<b>Điểm trung bình</b> <b>2,6</b> <b>2,61</b> <b>2,62</b> <b>2,63</b> <b>2,61</b>
<b>Mức ý nghĩa (sig.) (ANOVA)</b> <b>0,907</b>
<b>Mức ý nghĩa (sig.) (Gamma)</b> <b>0,473</b>
Kiểm định (ANOVA) từng cặp giữa các năm cho thấy: Với mức ý nghĩa (sig.= 0,907) có
thể khẳng định khơng có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê giữa điểm trung bình mức độ
nhận thức về sự cần thiết của kĩ năng giải quyết vấn đề của sinh viên giữa các năm học. Kiểm định
Gamma cho thấy: Với mức ý nghĩa (sig. = 0,473), có thể kết luận năm học khơng có liên quan đến
mức độ nhận thức về sự cần thiết của kĩ năng giải quyết vấn đề của sinh viên. Mức độ nhận thức
về sự cần thiết của kĩ năng giải quyết vấn đề của sinh viên ở các năm học là tương đương nhau.
<i><b>* Nhận thức của sinh viên về quy trình giải quyết vấn đề</b></i>
Bảng 3 cho thấy, có 52% số sinh viên chưa biết được các bước giải quyết vấn đề. Chỉ có
48% số sinh viên biết được các bước giải quyết vấn đề. Điểm số trung bình nhận thức của sinh
viên về các bước giải quyết vấn đề ở mức 3,46 là ở dưới mức “biết rõ”.
Biết được các bước giải quyết vấn đề là cơ sở, tiền đề để sinh viên ra quyết định để giải
quyết vấn đề một cách chính xác và có hiệu quả. Ngược lại sẽ dẫn đến việc sinh viên giải quyết
vấn đề một cách cảm tính, theo chủ nghĩa kinh nghiệm sẽ mang lại nhiều rủi ro và nguy cơ.
<i><b>Bảng 3. Nhận thức của sinh viên về quy trình giải quyết vấn đề</b></i>
<b>Năm 1</b> <b>Năm 2</b> <b>Năm 3</b> <b>Năm 4</b> <b>Tổng</b>
<b>Biết quy trình giải quyết vấn đề</b>
1 = Hồn tồn khơng biết N 3 2 4 0 9
% 0,8 0,6 1,6 0 0,8
2 = Không biết N 7 10 10 3 30
% 1,8 3,1 4 2,2 2,7
3 = Biết không rõ N 195 162 115 65 537
% 48,8 49,7 46,6 47,8 48,4
4 = Biết rõ N 186 147 113 60 506
% 46,5 45,1 45,7 44,1 45,6
5 = Biết rất rõ N 9 5 5 8 27
% 2,3 1,5 2 5,9 2,4
<b>Tổng</b> N 400 326 247 136 1109
% 100 100 100 100 100
<b>Điểm trung bình</b> <b>3,47</b> <b>3,43</b> <b>3,42</b> <b>3,53</b> <b>3,46</b>
<b>Mức ý nghĩa (sig.) (ANOVA)</b> <b>0,331</b>
<b>Mức ý nghĩa (sig.) (Gamma)</b> <b>0,999</b>
<i><b>* Thực trạng về việc sinh viên giải quyết vấn đề theo đúng quy trình giải quyết vấn đề</b></i>
Quy trình giải quyết vấn đề bao gồm: Bước 1, nhận thức (nhận diện) vấn đề. Bước 2, đưa ra
những phương án giải quyết. Bước 3, phân tích các phương án đã được đưa ra. Bước 4, quyết định
lựa chọn phương án giải quyết tốt nhất (tối ưu). Bước 5, thực hiện quyết định (thực thi giải pháp).
Bước 6, kiểm tra, đánh giá việc ra quyết định và thực hiện quyết định.
Việc giải quyết vấn đề theo đúng quy trình sẽ đem lại hiệu quả, thành công.
Vậy, số sinh viên rất thường xuyên và thường xuyên giải quyết vấn đề theo đúng quy trình
tương đối ít, chỉ chiếm 48,3%. Có hơn một nửa (51,7% ) sinh viên chưa thường xuyên thực hiện
theo đúng quy trình giải quyết vấn đề. Điểm trung bình (3,35) là khá thấp, tương đương mức
“thỉnh thoảng”.
<i><b>Bảng 4. Thực trạng về việc sinh viên giải quyết vấn theo đúng quy trình giải quyết vấn đề</b></i>
<b>Năm 1</b> <b>Năm 2</b> <b>Năm 3</b> <b>Năm 4</b> <b>Tổng</b>
<b>Thực hiện theo đúng quy trình giải</b>
<b>quyết vấn đề</b>
1 = Không bao giờ N 16 15 12 8 51
% 4,0 4,6 4,9 5,9 4,6
2 = Hiếm khi N 45 47 23 18 133
% 11,3 14,4 9,3 13,2 12,0
3 = Thỉnh thoảng N 148 103 95 44 390
% 37,0 31,6 38,5 32,4 35,2
4 = Thường xuyên N 156 137 93 54 440
% 39,0 42 37,7 39,7 39,7
5 = Rất thường xuyên N 35 24 24 12 95
% 8,8 7,4 9,7 8,8 8,6
<b>Tổng</b> N 400 326 247 136 1109
% 100 100 100 100 100
<b>Điểm trung bình</b> <b>3,37</b> <b>3,33</b> <b>3,38</b> <b>3,32</b> <b>3,53</b>
<b>Mức ý nghĩa (sig.) (ANOVA)</b> <b>0,884</b>
<b>Mức ý nghĩa (sig.) (Gamma)</b> <b>0,908</b>
Kiểm định (ANOVA) từng cặp giữa các năm cho thấy: Với mức ý nghĩa (sig. = 0,884) có
thể khẳng định khơng có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê giữa điểm trung bình về việc thực
hiện theo đúng quy trình giải quyết vấn đề của sinh viên giữa các năm học. Kiểm định Gamma cho
thấy: Với mức ý nghĩa (sig. = 0,908), có thể kết luận năm học khơng có liên quan đến việc thực
hiện theo đúng quy trình giải quyết vấn đề của sinh viên. Việc thực hiện theo đúng quy trình giải
quyết vấn đề của sinh viên ở các năm học là tương đương nhau.
<i><b>* Thực trạng về việc sinh viên giải quyết vấn đề theo một số cách khác</b></i>
<i><b>Bảng 5. Mức độ các cách giải quyết vấn đề của sinh viên</b></i>
<b>Cách giải quyết vấn đề</b>
<b>Mức độ</b>
1 = Rất
thường
xuyên
2 =
thường
xuyên
3 =
Thỉnh
thoảng
4 =
Hiếm
khi
5 =
Không
bao giờ
<i>X</i>
Quyết định ngay không cần đắn
đo, suy nghĩ
N 117 206 478 269 39
2,91
% 10,6 18,6 43,1 24,3 3,5
Hỏi ý kiến người khác rồi quyết
định theo
N 74 254 504 242 35
2,91
% 6,7 22,9 45,4 21,8 3,2
Nhờ người khác quyết định thay
mình
N 130 229 314 301 135
3,07
% 11,7 20,6 28,3 27,1 12,2
Lúng túng trong cách giải quyết N 41 179 544 292 53 3,12
% 3,7 16,1 49,1 26,3 4,8
Bỏ qua N 99 196 445 311 58 3,02
Bảng 5 cho thấy, có 29,2% sinh viên thường xuyên và rất thường xuyên quyết định ngay
không cần đắn đo, suy nghĩ khi giải quyết vấn đề. Việc sinh viên khi gặp vấn đề thì quyết định
ngay khơng cần đắn đo, suy nghĩ có thể đem lại nhiểu rủi ro và hậu quả là rất khó lường và kết quả
có thể khơng được như mong muốn. Đây là cách làm chưa phù hợp để giải quyết vấn đề.
Sinh viên khi gặp vấn đề thường xuyên và rất thường xuyên hỏi ý kiến người khác rồi quyết
Có 32,3% sinh viên khi gặp vấn đề thường xuyên và rất thường xuyên nhờ người khác quyết
định thay. Điều này thể hiện họ hoàn toàn lệ thuộc vào người khác, khơng có lập trường, quan điểm
riêng của mình, sợ mình làm sai. Trong khi đó, cuộc sống có nhiều vấn đề địi hỏi mỗi người phải
tự mình phải quyết định, tự mình phải giải quyết vấn đề. Tuy nhiên khi gặp những vấn đề mà tự
mình rất khó để ra quyết định và giải quyết thì nên cần có sự giúp đỡ của người khác. Nhưng quyết
định cuối cùng phải là của chính mình.
Có 19,8% sinh viên thường xuyên và rất thường xuyên lúng túng khi giải quyết vấn đề, tức
là họ không biết giải quyết vấn đề như thế nào,...
Thường xuyên và rất thường xuyên bỏ qua khi giải quyết vấn đề có 26,6% sinh viên.
<i><b>* Thực trạng về sự quan tâm của sinh viên đối với kĩ năng giải quyết vấn đề và việc rèn</b></i>
<i><b>luyện kĩ năng giải quyết vấn đề</b></i>
Bảng 6. Thực trạng về sự quan tâm của sinh viên đối với kĩ năng giải quyết vấn đề và việc
rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề
<i><b>Bảng 6. Thực trạng về sự quan tâm của sinh viên đối với kĩ năng giải quyết vấn đề</b></i>
<i><b>việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề</b></i>
<b>Năm 1</b> <b>Năm 2</b> <b>Năm 3</b> <b>Năm 4</b> <b>Tổng</b>
<b>Mức độ quan tâm</b>
1 = Không quan tâm N 5 5 5 1 16
% 1,3 1,5 2,0 0,7 1,4
2 = Quan tâm N 178 156 99 58 491
% 44,5 47,9 40,1 42,6 44,3
3 = Rất quan tâm N 217 165 143 77 602
% 54,3 50,6 57,9 56,6 54,3
<b>Tổng</b> N 400 326 247 136 1109
% 100 100 100 100 100
<b>Điểm trung bình</b> <b>2,53</b> <b>2,49</b> <b>2,55</b> <b>2,55</b> <b>2,53</b>
<b>Mức ý nghĩa (sig.) (ANOVA)</b> <b>0,403</b>
<b>Mức ý nghĩa (sig.) (Gamma)</b> <b>0,438</b>
quan đến mức độ quan tâm của sinh viên đến kĩ năng giải quyết vấn đề. Mức độ quan tâm đến kĩ
năng giải quyết vấn đề giữa các năm học là như nhau.
<i><b>* Hiệu quả của việc giải quyết vấn đề của sinh viên</b></i>
Kiểm định (ANOVA) cho thấy, với mức ý nghĩa (sig. = 0,001), có thể khẳng định có sự khác
biệt có ý nghĩa về điểm số trung bình giữa 4 năm học. Bảng thống kê mơ tả cho thấy điểm số trung
bình tăng dần khi năm học tăng. Kết quả kiểm định t từng cặp giữa 4 năm học cho thấy chỉ có sự
khác biệt có ý nghĩa giữa điểm số trung bình năm thứ 1 và năm thứ 4, giữa điểm số trung bình năm
<i><b>Bảng 7. Hiệu quả của việc giải quyết vấn đề của sinh viên</b></i>
<b>Năm 1</b> <b>Năm 2</b> <b>Năm 3</b> <b>Năm 4</b> <b>Tổng</b>
<b>Hiệu quả của việc giải quyết vấn đề</b>
1 = Hiệu quả kém N 4 2 3 2 11
% 1 0,6 1,2 1,5 1
2 = Hiệu quả yếu N 52 52 31 13 148
% 13 16 12,6 9,6 13,3
3 = Hiệu quả trung bình N 231 147 121 56 555
% 57,8 45,1 49 41,2 50
4 = Hiệu quả khá N 110 122 89 55 376
% 27,5 37,4 36 40,4 33,9
5 = Hiệu quả xuất sắc N 3 3 3 10 19
% 0,8 0,9 1,2 7,4 1,7
<b>Tổng</b> N 400 326 247 136 1109
% 100 100 100 100 100
<b>Điểm trung bình</b> <b>3,14</b> <b>3,22</b> <b>3,23</b> <b>3,42</b> <b>3,25</b>
<b>Mức ý nghĩa (sig.) (ANOVA)</b> <b>0,001</b>
<b>Mức ý nghĩa (sig.) (Gamma)</b> <b>0,000</b>
Kiểm định Gamma cho thấy với mức ý nghĩa (sig. = 0,0), có thể kết luận năm học có liên
quan đến điểm số trung bình hiệu quả của việc giải quyết vấn đề của sinh viên. Năm học càng tăng
thì điểm số trung bình càng cao.
<i><b>* Nguyên nhân làm cho kĩ năng giải quyết vấn đề của sinh viên chưa cao</b></i>
Kết quả khảo sat thực trạng cho thấy, có 81,7% sinh viên cho rằng kĩ năng giải quyết vấn
đề chưa cao là do Chưa có biện pháp phát triển kĩ năng này phù hợp.
Qua kết quả khảo sát thực trạng, chúng tơi có một số nhận xét chung: