Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Bài giảng Kinh tế vĩ mô - Bài 2: Tổng cung và tổng cầu - Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Tp. Hồ Chí Minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (482.33 KB, 7 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>BÀI 2 </b>

<b>T</b>

<b>Ổ</b>

<b>NG C</b>

<b>Ầ</b>

<b>U VÀ T</b>

<b>Ổ</b>

<b>NG CUNG </b>



<b>Hướng dẫn học</b>


Để học tốt bài này,học viên cần tham khảo các phương pháp học sau:


 Học đúng lịch trình của mơn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
thảo luận trên diễn đàn.


 Đọc tài liệu:


1. Giáo trình Kinh tế học_Tập II. NXB Kinh tế Quốc dân. 2012
Chủ biên: PGS.TS Vũ Kim Dũng và PGS.TS Nguyễn Văn Công


2. Bộ môn Kinh tế vĩ mô (Đại học Kinh tế Quốc dân), Giáo trình Ngun lý kinh tế


học vĩ mơ, Nhà Xuất Bản Lao động, 2012.


3. Bộ môn Kinh tế vĩ mô (Đại học Kinh tế Quốc dân), Bài tập Nguyên lý kinh tế vĩ


mô, Nhà Xuất Bản Lao động, 2012.


 Tìm hiểu mơ hình tổng cầu – tổng cung và thơng qua đó để lý giải biến động kinh tế trong
ngắn hạn, quá trình tựđiều chỉnh trong dài hạn và vai trị của các chính sách vĩ mô trong ổn


định kinh tế.


 Học viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email.
 Trang Web mơn học.


<b>Nội dung </b>



 Mơ hình Tổng cầu và Tổng cung (AD – AS).


 Giải thích biến động kinh tế, q trình tựđiều chỉnh và chính sách ổn định.


<b>Mục tiêu </b>


 Giúp học viên hiểu được các nhân tố gây ra những biến động về sản lượng và mức
giá trong nền kinh tế thơng qua việc nghiên cứu mơ hình tổng cầu – tổng cung.


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

<b>T</b>

<b>ình huống dẫn nhập </b>



<b>“Biến động kinh tế” </b>


Biến động kinh tế là một vấn đề lớn mà tất cả các nền kinh tế thị trường phải đối mặt. Nền kinh
tế Việt Nam cũng đã trải nghiệm những bước thăng trầm trong quá trình phát triển. Sau khi thực
hiện chính sách đổi mới vào năm 1986, Kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi
nhận về tăng trưởng kinh tế. Từ chỗ hầu như khơng có tăng


trưởng, thì ngay sau đổi mới, trong giai đoạn 1986 - 1990, nền
kinh tếđã có dấu hiệu phục hồi và phát triển, tuy tốc độ chưa cao.
Trong nửa đầu những năm 1990, nền kinh tế liên tục tăng tốc.
Sau khi đạt đỉnh vào năm 1995 (9,54%), tốc độ tăng trưởng kinh
tế của Việt Nam đã chậm lại và rơi xuống đáy vào năm 1999
(4,77%) sau khi chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính -
tiền tệ khu vực. Bắt đầu từ năm 2000, tốc độ tăng trưởng kinh tế


dần phục hồi nhờ các chính sách kích cầu của chính phủđược thực hiện khá bài bản và kịp thời.
Bởi vậy, nền kinh tế Việt Nam lại đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong giai đoạn 2004 - 2007.
Tuy nhiên, đà tăng trưởng lại giảm mạnh do ảnh hưởng bất lợi từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn


cầu bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn ở Mỹ. Cuộc khủng hoảng này đã ảnh hưởng
không nhỏđến tăng trưởng kinh tếở Việt Nam, năm 2009 tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ còn đạt


được 5,32% và như vậy sau 10 năm kinh tế Việt Nam lại rơi xuống một đáy mới.


Tại sao tăng trưởng kinh tế của Việt Nam lại bị suy giảm mạnh trong thời kỳ 2008 - 2009? Và
chính phủđã làm gì để chặn đà suy giảm kinh tế? Đó là do cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu


đã đẩy các bạn hàng chủ lực của Việt Nam rơi vào tình trạng suy thoái kinh tế, năm trong bảy
bạn hàng lớn của Việt Nam đã giảm nhu cầu mua hàng hóa của Việt Nam làm xuất khẩu của
Việt Nam giảm, cán cân thương mại của Việt Nam xấu đi và làm tổng cầu sụt giảm. Để chống lại
sự suy giảm kinh tế Chính phủ đã thực hiện đồng bộ các chính sách trong đó có chính sách tài
khóa và chính sách tiền tệ mở rộng để kích cầu nhằm chống suy giảm kinh tế.


<b>1.</b> Những nguyên nhân nào gây ra những biến động kinh tế trong ngắn hạn?


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

Trong bài này, chúng ta sẽ nghiên cứu Mơ hình tổng cung và tổng cầu (AD – AS). Một trong
những cách tiếp cận cơ bản được các nhà kinh tế sử dụng rộng rãi để giải thích những biến động
của nền kinh tế trong ngắn hạn. Sau khi nghiên cứu xong bài này, các học viên sẽ biết cách vận
dụng mơ hình AD – AS để giải thích nguyên nhân gây ra biến động kinh tế và vai trị của chính
sách nhằm bình ổn nền kinh tế là mục tiêu chính của bài này.


<b>2.1. </b> <b>Mơ hình Tổng cầu và Tổng cung (AD – AS) </b>


Mơ hình tổng cung và tổng cầu chỉ ra cách thức tổng cầu và tổng cung quyết định mức giá
và sản lượng của một nền kinh tế. Hai biến sốđược mơ hình tập trung giải thích là tổng sản
lượng hàng hố và dịch vụđược sản xuất trong nước (Y) và mức giá chung (P). Các nhà
kinh tế thường sử dụng đồ thịđể trình bày mơ hình tổng cung và tổng cầu trong đó mức giá


được biểu diễn trên trục tung và sản lượng được biểu diễn ở trục hoành. Bây giờ, chúng ta


sẽ lần lượt giới thiệu hai thành tố của mơ hình, đó là các đường tổng cầu và tổng cung.


<b>2.1.1. Tổng cầu của nền kinh tế (AD) </b>


Tổng cầu là lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước mà các tác nhân
kinh tế sẵn sàng và có khả năng mua tại mỗi mức giá.


Trong một nền kinh tế mở, tổng cầu hình thành từ bốn nguồn:


 <i>Cầu tiêu dùng </i>(<i>C</i>) như chi tiêu mua lương thực, thực phẩm, tivi, hay quần áo,…


do khu vực hộ gia đình trong nước thực hiện;


 <i>Cầu đầu tư </i>(<i>I</i>) bao gồm các khoản mà doanh nghiệp chi cho xây dựng nhà xưởng


mới, mua sắm máy móc, thiết bị mới; hộ gia đình mua nhà ở mới; và các doanh
nghiệp bổ sung thêm vào hàng tồn kho;


 <i>Chi tiêu chính phủ </i>(<i>G</i>) bao gồm cả hàng hố và dịch vụ do chính phủ mua cho tiêu


dùng hiện tại (<i>tiêu dùng cơng</i>) và hàng hố và dịch vụ cho các lợi ích tương lai
nhưđường xá, cầu cống, bến cảng... (<i>đầu tư công</i>);


 <i>Cầu xuất khẩu ròng </i>(<i>NX</i>), chênh lệch giữa giá trị của hàng hoá và dịch vụ được


sản xuất trong nước mà người nước ngồi sẵn sàng và có khả năng mua, tức là cầu


<i>xuất khẩu (X)</i>, và giá trị của hàng hố và dịch vụ sản xuất ở nước ngồi mà các hộ


gia đình, doanh nghiệp và chính phủ trong nước sẵn sàng và có khả năng mua, tức


là cầu trong nước về hàng <i>nhập khẩu </i>(<i>IM</i>).


<b>AD = C + I + G + NX </b>
<b>Đường tổng cầu </b>


Đường tổng cầu cho biết mối quan hệ giữa
lượng tổng cầu và mức giá. Đường tổng
cầu dốc xuống hàm ý nếu những biến số


khác không thay đổi, thì khi mức giá
chung giảm, ví dụ từ P0 xuống P1, sẽ có xu


hướng làm cho lượng tổng cầu về hàng
hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước
tăng, ví dụ từ Y0 lên Y1 (xem hình 2.1).


<b>P</b>


<b>P<sub>1</sub></b>


<b>P0</b> <b>A</b>


<b>B</b>
<b>AD</b>
<b>Y</b>
<b>Y<sub>1</sub></b>
<b>Y<sub>0</sub></b>
<b>P</b>
<b>P<sub>1</sub></b>



<b>P0</b> <b>A</b>


<b>B</b>


<b>AD</b>


<b>Y</b>
<b>Y<sub>1</sub></b>


<b>Y<sub>0</sub></b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

 Tại sao đường tổng cầu dốc xuống?


Đường tổng cầu dốc xuống phản ánh thực tế là sự thay đổi mức giá có ảnh hưởng
ngược chiều đến lượng tổng cầu. Trong bốn thành tố của tổng cầu, chi tiêu chính
phủ là biến chính sách do chính phủ quyết định tùy thuộc vào mục tiêu của điều tiết
vĩ mơ trong mỗi thời kỳ và do đó khơng phụ thuộc vào mức giá. Chính vì vậy, để


hiểu tại sao đường tổng cầu dốc xuống chúng ta cần làm rõ sự thay đổi trong mức có
giá ảnh hưởng như thế nào đến ba thành tố còn lại của tổng cầu, bao gồm: tiêu dùng,


đầu tư và xuất khẩu ròng. Chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng ảnh hưởng đó.


o <i>Mức giá và tiêu dùng:</i> Hiệu ứng của cải


Khi mức giá chung giảm, tức là mức giá bình qn của tất cả các hàng hóa và
dịch vụ giảm, thì lượng tiền trong ví hay trong tài khoản ngân hàng của bạn trở


nên có giá trị hơn vì chúng có thể mua được nhiều hàng hố và dịch vụ hơn.
Như vậy, một sự cắt giảm trong mức giá chung làm cho các hộ gia đình trở nên


giàu có hơn và do vậy họ sẽ sẵn sàng và có khả năng mua nhiều hàng hố và
dịch vụ hơn. Sự tăng lên trong mức tiêu dùng có nghĩa là lượng tổng cầu về


hàng hóa và dịch vụđược sản xuất trong nước tăng lên.


o <i>Mức giá và đầu tư:</i> Hiệu ứng lãi suất


Tại mức giá thấp hơn, cơng chúng sẽ cần giữ ít tiền hơn để mua lượng hàng
hoá và dịch vụ theo kế hoạch. Điều này hàm ý một phần trong số tiền họđang
nắm giữđể phục vụ cho động cơ giao dịch trở nên dư thừa. Nhiều hộ gia đình
và doanh nghiệp sẽ tìm cách cắt giảm lượng tiền nắm giữ bằng cách chuyển
một số tiền mặt và tài khoản tiền gửi có thể viết séc thành các tài sản sinh lãi
như trái phiếu hay tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn, và kết quả là lãi suất sẽ giảm.
Giảm lãi suất, đến lượt nó có tác dụng khuyến khích các hãng đầu tư nhiều hơn
vào nhà xưởng và thiết bị mới, và các hộ gia đình mua nhiều nhà ở mới hơn.
Như vậy, một mức giá thấp hơn làm giảm lãi suất, khuyến khích chi tiêu vào
các hàng hố đầu tư và do đó làm tăng lượng tổng cầu.


o <i>Mức giá và xuất khẩu ròn</i>g: Hiệu ứng thay thế quốc tế


Trong bối cảnh mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, sự giảm giá của hàng trong
nước làm cho hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam trở nên rẻ hơn một cách
tương đối so với hàng hóa và dịch vụ sản xuất ở nước ngồi tại một mức tỷ giá
hối đối cho trước. Khi đó, một số người tiêu dùng trong nước và ở nước ngồi
có xu hướng dịch chuyển từ mua hàng của nước khác sang mua hàng hóa và
dịch vụ sản xuất tại Việt Nam. Kết quả là xuất khẩu được khuyến khích và
nhập khẩu bị hạn chế, làm tăng xuất khẩu ròng và làm tăng lượng tổng cầu về


hàng hóa và dịch vụđược sản xuất tại Việt Nam.



</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

 Sự dịch chuyển của đường tổng cầu


o Khi có bất kỳ một sự kiện nào đó làm thay đổi lượng tổng cầu tại một mức giá
cho trước, thì đường tổng cầu sẽ dịch chuyển. Đường tổng cầu sẽ dịch chuyển
sang bên phải khi lượng tổng cầu tăng lên tại một mức giá cho trước. Ngược
lại, đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang bên trái khi lượng tổng cầu giảm
xuống tại một mức giá cho trước. Hình 2.2 dưới đây minh họa sự dịch chuyển
sang bên phải hay ra phía ngồi của đường tổng cầu từ<i>AD0</i>đến <i>AD1</i>. Tại mức


giá <i>P0</i>, lượng tổng cầu bây giờđã tăng lên <i>Y1</i>.


<b>Hình 2.2. Sự dịch chuyển của đường AD </b>


o Tổng cầu của một nền kinh tế mở gồm bốn thành tốđó là: tiêu dùng của các hộ
gia đình, đầu tư của khu vực tư nhân, chi tiêu chính phủ và xuất khẩu rịng. Do


đó, ngun nhân gây ra sự dịch chuyển của đường tổng cầu là do một trong
bốn thành tố của tổng cầu thay đổi hoặc cả bốn.


 <i>Sự dịch chuyển bắt </i>nguồn<i> từ những thay đổi trong tiêu dùng. </i>Nếu người


Việt Nam trở nên an tâm hơn về triển vọng việc làm và thu nhập trong
tương lai, hoặc nếu giá cổ phiếu tăng làm cho nhiều hộ gia đình trở nên
giàu có hơn, hay chính phủ giảm thuế thu nhập, thì các hộ gia đình sẽ chi
tiêu nhiều hơn cho tiêu dùng tại mỗi mức giá cho trước và kết quả là đường
tổng cầu sẽ dịch chuyển sang bên phải từ<i>AD0</i> đến <i>AD1</i> nhưđược biểu diễn


trong hình 2.2.


 <i>Sự dịch chuyển bắt nguồn từ những thay đổi trong đầu tư. </i>Nếu các doanh



nghiệp trở nên lạc quan vào triển vọng mở rộng thị trường trong tương lai
và quyết định xây thêm nhiều nhà máy mới, mua thêm máy móc, thiết bị


mới, hoặc nếu chính phủ giảm thuế cho các dự án đầu tư mới, hay ngân
hàng trung ương tăng cung ứng tiền tệ làm giảm lãi suất, thì mức đầu tư sẽ


tăng và đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang bên phải.


 <i>Sự dịch chuyển bắt nguồn từ những thay đổi trong chi tiêu chính phủ</i>. Nếu


chính phủ quyết định tăng chi tiêu nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, thì


đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang bên phải.


 <i>Sự dịch chuyển bắt nguồn từ những thay đổi trong xuất khẩu ròng. </i>Nếu thế


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

<b>2.1.2. Tổng cung của nền kinh tế</b>


Tổng cung của một nền kinh tế là lượng hàng hóa và dịch vụ mà các doanh nghiệp sẵn
sàng và có khả năng sản xuất trong nước tại mỗi mức giá.


Lượng tổng cung phụ thuộc vào quyết định của các doanh nghiệp trong việc sử dụng lao


động và các nguồn lực khác để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ bán cho các hộ gia đình,
chính phủ, và các doanh nghiệp khác cũng nhưđể xuất khẩu ra thế giới bên ngoài.


Đường tổng cung dài hạn (ASLR) và đường tổng cung ngắn hạn (<i>ASSR</i> hay thường viết


gọn là AS). Đường tổng cung dài hạn thẳng đứng, trong khi đường tổng cung ngắn


hạn dốc lên nhưđược vẽ trong hình 2.3.


<b>Hình 2.3. đường tổng cung dài hạn và ngắn hạn </b>


<i>Đường tổng cung dài hạn</i> là đường thẳng đứng thể hiện tính chất của sản lượng chỉ do
cung quyết định. Bất kếđường tổng cầu có dịch chuyển như thế nào thì nền kinh tế sẽ


di chuyển dọc trên đường tổng cung thẳng đứng và do đó chỉ có mức giá thay đổi còn
sản lượng vẫn giữ nguyên tại mức tiềm năng hay còn gọi là sản lượng tự nhiên Y*.


<b>Hình 2.4. tổng cung dài hạn </b>


<i>Tại sao đường tổng cung dài hạn </i>dịch chuyển: Do đường tổng cung dài hạn là đường


thẳng đứng tại mức sản lượng tiềm năng, bất kỳ nhân tố nào làm thay đổi mức sản
lượng tiềm năng sẽ làm dịch chuyển đường tổng cung dài hạn. Do mức sản lượng tiềm
năng phụ thuộc vào cung lao động, tư bản, tài ngun thiên nhiên và trình độ cơng
nghệ nên khih các nhân tố sản xuất này thay đổi sẽ là nguyên nhân làm dịch chuyển


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

 <i>Sự dịch chuyển xuất phát từ lao động: </i>Nếu một nền kinh tế có nhiều lao động ra
nước ngồi làm việc, thì cung về lao động trong nền kinh tế giảm. Do số lao động
làm việc ít hơn, lượng hàng hoá và dịch vụ mà nền kinh tế có thể sản xuất ra sẽ


nhỏ hơn. Kết quả là đường tổng cung dài hạn dịch chuyển sang bên trái. Ngược
lại, nếu nền kinh tế có nhiều cơng nhân nhập cư thì đường tổng cung sẽ dịch
chuyển sang bên phải.


 <i>Sự dịch chuyển xuất phát từ tư bả:. </i>Một sự tăng trưởng trong số lượng tư bản sẽ nâng
cao năng suất và do đó làm tăng lượng hàng hoá và dịch vụ mà nền kinh tế sản xuất
ra. Kết quả là đường tổng cung dài hạn dịch chuyển sang bên phải. Ngược lại, một sự



suy giảm trong lượng tư bản sẽ làm giảm năng suất và giảm cung về hàng hoá và dịch
vụ khiến cho đường tổng cung dài hạn dịch chuyển sang bên trái.


 Lôgic này không chỉ áp dụng cho tư bản hữu hình mà cả vốn nhân lực. Sự tăng lên
số lượng máy móc hay số người tốt nghiệp đại học, cao đẳng, các trường dạy nghề
đều góp phần nâng cao năng lực sản xuất hàng hoá và dịch vụ. Do vậy, chúng đều
làm cho đường tổng cung dài hạn dịch chuyển sang bên phải.


 <i>Sự dịch chuyển xuất phát từ tài nguyên thiên nhiên:</i> Mức sản xuất của một quốc gia


phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên nhưđất đai, khoáng sản và thời tiết. Việc
phát hiện và bắt đầu khai thác một mỏ khống sản mới có thể làm dịch chuyển đường
tổng cung dài hạn sang bên phải. Thời tiết trở nên khắc nghiệt có thể làm cho việc
trồng trọt và chăn ni trở nên khó khăn hơn, làm giảm năng suất cây trồng và vật
nuôi và do đó sẽ làm cho đường tổng cung dài hạn dịch chuyển sang bên trái.


 <i>Sự dịch chuyển xuất phát từ trình độ cơng nghệ. </i>Có lẽ lý do quan trọng nhất để


chúng ta hôm nay sản xuất ra nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn các thế hệ trước là sự


tiến bộ công nghệ. Những phát minh đã giúp chúng ta sản xuất ra nhiều hàng hoá
và dịch vụ hơn với cùng một lượng lao động, tư bản và tài nguyên thiên nhiên. Kết
quả là, đường tổng cung dài hạn dịch chuyển sang bên phải.


<i>Tại sao đường tổng cung ngắn hạn dốc lên</i>? Có ba mơ hình khác nhau giải thích về


đường tổng cung ngắn hạn: (1) mơ hình tiền lương cứng nhắc; (2) mơ hình nhận thức
sai lầm; và (3) mơ hình giá cả cứng nhắc. Các mơ hình này có một sốđặc điểm chung,
và mỗi mơ hình chỉ giải thích được một số khía cạnh nhất định của nền kinh tế thực.



<b>Hình 2.5. tổng cung ngắn hạn </b>


<i>Tại sao đường tổng cung ngắn hạn có thể dịch chuyển?</i> Các yếu tố tác động làm dịch


chuyển đường tổng cung ngắn hạn có thể kể đến đó là: kỳ vọng của công chúng về


</div>

<!--links-->

×