Tải bản đầy đủ (.pdf) (20 trang)

Quan hệ bang giao và những sứ thần tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam: Phần 2 - Trường Đại Học Quốc Tế Hồng Bàng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.44 MB, 20 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<i>(^utUi ỉiè ỊìíUiịị ịiiut) rà Cíh sử tỉn tiiùí</i> A/ắ’Ìí.. 105


<b>III - M Ộ T </b>

<b>SỐ sứ </b>

<b>T H Ả N VIỆT N A M</b>



<b>TIÊU BIỂU</b>



NHỮNG S Ứ THÂN ĐẠI VIỆT NGÀY XƯA
NHƯ T H Ế ĐẤy


Thực hiện đường lối ngoại giao giữ vững độc lập, chù
quyền, toàn vẹn lảnh thổ, nêu cao chính nghĩa, hoà hiếu là
một nhiệm vụ cực kỳ khó khán của một nước nhó ln phải
đối phó với những âm mưu bành trướng thơn tính của nước
lớn. Các vương triều Đại Việt ngày xưa chưa có cơ quan
chuyên trách ngoại giao, chưa có người làm ngoại giao
chuyên nghiệp, khi cần người đi sứ hay tiếp sứ thì vua, chúa
cử trong số các quan lại triều đình. Trong việc bang giao
ngày xưa, ngoài những việc về lễ nghi như triều cống theo
lệ, xin phong vương, báo tang, chúc mừng Thiên tử lên ngôi
hay chia buồn, thì cơng việc ngoại giao quan trọng nhất của
các sứ thần là giải quyết những tranh chấp về đất đai, đấu
tranh giữ gìn tồn vẹn lãnh thổ không để cho các biên thần
của Thiên triều lấn chiếm vùng biên giới của nước ta, làm
những việc đã rồi, hoặc xin hoãn binh hoặc giải quyết
những hậu quả chiến tranh giữa hai nước, duy trì hịa bình
là nhừng việc lớn liên quan đến an nguy của đất nước.


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

106 7 li <i>ĩnh li</i> <b>ỉ </b><i>ú’f</i> iVíi/ii - <i>i/iíl nưiịí',</i> ( 0/1<i>niịười '</i>


người đi sứ ngày xưa đều đã ihuộc lòng những câu trong
sách <i>Luận ngữ:</i> “Sứ ư tứ phương, bất nhục quân mệnh, khả


vi sĩ hỉ”. Nghĩa là: Kẻ sĩ đi sứ bốn phương, không làm nhục
mệnh vua, được như thế mới gọi là kẻ sĩ. “Sứ ư tứ phương,
bất năng chuyên đối, tuy đả diệc hề dĩ vi”. Nghĩa là: Đi sứ
bốn phương, tự mình khơng cỏ lài ứng đối, thì học nhiều
mà làm gì.


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

<i>(J iu in</i> /i»’ <i>L in ^</i> ựíí/o Cí) ( í/( <i>str lỉiíín</i> /íV/í 1 0 7


phục, ông lại xây đắp thêm tình hữu nghị giữa hai nước với
việc giới thiệu nền vãn hiến nước nhá. Dưới triều Tây Sơn,
những nhà ngoại giao như Ngơ Thì Nhậm, Phan Huy Ich,
Đoàn Nguyễn Tuấn đều là những nhà vãn hoá lớn đã làm
nén trang sử ngoại giao vé vang của triều đại Quang Trung.


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

108 7 1/ <i>ĩitích </i> <i>V ic t l ^ a m - <líìl n ướ c,</i> CO/I <i>tiịịườt</i>


xem, được khen là trung hậu và sau đó đả nhận biếu phong
cho vua Lê. Đường lối “ngoại giao vàn chương” đã do sứ
thần Phùng Khắc Khoan sáng tạo sử dụng từ thế ký XVI.


Cùng với chữ Trí, tài nàng văn hố sâu rộng tiêu biểu cho
nền văn hiến của quốc gia, các nhà ngoại giao Đại Việt đã thấm
nhuần chữ Dũng, nghĩa là có dũng khí, can đảm, bất khuất,
không sỢ chết trước mặt đối phương, không sỢ gian khổ khi đi
làm nhiệm vụ vua giao phó: Kiều Văn ứng vâng lệnh Lý
Thường Kiệt sang trại giặc bàn với Quách Quỳ, bao nhiêu sứ
thần đời Trần đi sứ quần Nguvên trong 3 lần chiến tranh là coi
như đi vào cái chết nhưng tất cả đều vâng mệnh vua. Đỗ Khắc
Chung xung phong vào trại Ô Mã Nhi xin hoãn binh... Nhiều
sứ thần bị giam giữ như Đào Tử Kỳ bị giam ở Giang Lăng 1


năm, Trịnh Đình Tồn, Nguyễn Nghĩa Tồn và 34 hành nhân
đã bị nhà Nguyên giam giữ. Lâu hơn cả là Lê Quang Bí đi sứ
năm 1548, bị giam cầm đến 18 năm mới được tha về. Ngô Tử
Can đi sứ Chiêm Thành củng bị giữ lại. Hơn thế nữa, có sứ
thần còn bị giết hại như Nguyễn Nhật Tư và Lê Ngân sang cầu
phong cho Trần Quý Khoáng vào năm 1411 đã bị vua Minh
giết hại, Nguyễn Biểu đã bị tướng Minh thử thách tinh thần
bằng cách dọn cho ăn cỗ là đầu một người Việt Nam đã bị
chúng bắt giết rồi sau đó đem trói dưới chân cầu cho nước
dâng lên dìm chết.


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

<i>( ^ u a n ỈU'</i> /)íì;hj<i>{ịiíiu rị fík '</i> sir <i>tỉiầ n tiữii</i> 109


đất khách quê người trên đoạn đường dài hàng vạn km mà
sử sách cũ đả không ghi lại hết. Sứ thẩn Phạm Mưu chết
trên đường đi sứ Nguyên năm 1295, Doãn Bang Hiến chết
năm 1322, Phó sứ Phan Ninh, hành nhân Nguyễn Cát Phu
cùng 7 nhân viên đi sứ Minh bị bệnh dịch chết nãm 1435,
Phạm Quang Tiến đời Mạc đi sứ chết trên dường đi nãm
1530, Bùi Binh Quân chết nàm 1632, Đinh Nho Hoàn di sứ
nhà Thanh chết nãm 1821, sứ bộ Phạm Hi Lượng di sứ nhà
Thanh nãm 1870 bị chết 3 người, sứ bộ Phan Thanh Giản di
sứ Pháp năm 1863 cũng có 2 người bị chết...


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

10 /1/ <i>M i í</i> /i ỉ <i>i t ' l \ í i m - í ỉ í ì l n i n r t , i o n t n Ị i r ờ i</i>


đả để ý xcm xcl dân địa phương kéo tơ từ kén tằm sao cho
nhỏ, kỹ thuật làm cho sợi tơ thêm bóng, mềm và mượt, ô n g
cũng đê ý đcn kết cấu của các khung cửi sao cho dệt được
nhiều loại lụa, cách dệt lụa sao cho mịn và bóng. Khi về


nước ơng dã phổ biến kỹ thuật đó cho dân làng, vì thế nên
dán làng Hùng dã dệt dược một thứ lụa mượt, mềm và bóng,
gọi là lưm. Lượt của làng Bùng nổi tiếng trong cả nước từ
dó, dần dần nghề dệt lượt dưỢc lan truyền di các vùng khác.
Trong nhiều sách cùng đều chép ông là người đã đem các
hạt giống dậu den, đậu nành (đậu tương) và hạt ngô, giấu
trong chỗ kín trong người khi qua cửa ái về nước, để phổ
biến cho dân trong nước gieo trồng, làm cho ngũ cốc thêm
phong phú hơn. 'Trần Quốc Khái người xã Quất Động,
huyện 'Thường 'Tín, Hà Nội, đ ỗ Tiến SI nãm 1637 được cử đi


sứ nhà Minh, ông dã lìm cách học được nghề thêu và nghề
làm lọng. Khi về nươc ông truyền dạy cho dán làng và xung
quanh. Khi ỏng mất, dân làng đã lập dền thờ và tôn là tổ
nghề thêu. Đặng Huy 'Thứ người xã Hưthig Xuân, huyện
Hương Điền, tính 'Thừa 'Thiên Huế, dố 'Tiến sĩ nảm 184?
đưỢc vua 'Tự T)ức cử di sứ 2 lần đến Quàng Châu, Hồng
Kông, Ma Cao. Khi về nước, ông dã dề xuất nhiều cải cách
về kinh tế, mớ mang việc thương mại. Chính ơng là người
dã mua máy ánh và phụ tùng về mớ hiệu ánh dầu liên ở Hà
Nội vào năm 1869, lấy tén hiệu là Cám Hiếu Đường. Mục
dich mở hiệu ánh không phải là kinh doanh kiếm lời mà là
dế quảng cáo khoa học kỹ thuật mới trên thế giới và giúp
cho con cháu có lấm ành thờ cha mẹ khi qua đời cho trọn
chừ hiếu (nên có tén hiệu là Cảm Hiếu Đương).


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

<i>c^ìuin lữ luiinị </i> <i>rà ííỉr .'•ứ llhìn lit'11 lìirit...</i> <b>1</b> <b>1</b> <b>1</b>


nưức Ao và Thố Nhĩ Kỳ đến để lìm hiểu vc các loại thuế
liàng hoa ớ hai nước nàv vứi hi vọng làm cho ncn lài chinh


đấl nước ihoát khoi khó khàn. Cũng chính trong dịp đi sứ
nàv, Phó sứ Phạm Phú Thứ dã học hỏi người dán Ai (^ip
cách lấy nước tưới ruộng bàng xe trâu và dã phố biến ớ miền
Trung khi ỏng về nước, mọi người dều làm theo vì thấy rất
có lợi so vởi dùng sức người.


rhật đáng kính trọng biết bao những nhà ngoại giao
Đại Việt mang trong mình nhừng phẩm chất cao quý, “trí
dũng song tồn”, truyền thống anh hùng bất khuất của dấi
nước Việt Nam. Thiết nghĩ những phấm chất của họ vẫn là
những bài học bổ ích cần thiết cho các nhà ngoại giao ngày
nay. Tất nhiên chừ Trí ngày nay cũng bao hàm một nội
dung mới phù hỢp với thời dại (như tinh thõng ngoại ngừ,
hiếu biết dịa lý, lịch sứ, chính trị, kinh tế, van hoá, dường
lối của đói phương, hiểu biết dến một mức dộ nhất dịnh
khoa học kỹ thuật...). Chừ Dũng thể hiện ở chỗ vưm lén mọi
khỏ khàn dê hoàn thành nhiệm vụ dược giao, luôn dặt lợi
ích cùa dấi nước lên trên, dám nêu những nhận định chu
quan, nhừng kiến giải phục vụ sự phát iriến cua dân tộc.
Ngày nay vai trò cúa các nhà ngoại giao trong việc tiếp thu
những thành tựu của khoa học xã hội, nhân vãn và khoa học-
kỹ thuật liền bộ trên thế giới, góp phần thúc dẩy sự phát
triển kinh tề, vãn hoá, xã hội trong nước, dấy mạnh giao lưu
vàn hoá, xã hội vơi các nước là không thể thiếu dược. Có bao
nhiêu nhà ngoại giao v^iệt Nam dà học tập và thể hiện dược
những phám chất của ông cha ta ngày xưa, góp phần thuc
đấy dất nươc Việt Nam duổi kịp các nước phat triển trong
khu vực và trên thế giới?


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

1 1 —<i>Ị li ,<<u ll </i> <i>ỉ ièt N a m - tlíil nướí , con ìniười</i>



T R Ư Ơ N G TR Ọ N G


Theo sách <i>Cố Kim thận ngón</i> (những lời nói hay xưa nay)
của Phạm Thái, Trương Trọng, người quận Nhật Nam có
học hành ít nhiều và làm thuộc lại trong quận.


Bấy giờ nước la đang lệ thuộc phương Bắc, Trương
Trọng dược viên Thái thú Nhật Nam cử sang kinh đô Lạc
Dương (nay thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc) thay mật
Thái thú tâu bày công việc trong quận lên vua Hán.


Trương Trọng đến kinh đô vào chầu vua Hán. Hán
Minh đế'*’ thấy Trương Trọng thấp bé lại là dân “man di”
(mọi rỢ) ngoài cõi xa tó ý khinh thường, hỏi xách mé:


- Viên lại nhó kia (tiểu lại) người quận nào?
Trương Trọng khảng khái đáp:


- riiần là Kè lại, ngươi thay mặt Thái thú Nhật Nam
vào chầu vua và dâng sớ lên triều đình, chứ khơng phải là
một viên lại nhỏ. Bệ hạ muốn dùng người có tài cán hay chỉ
muốn đo xương thịt?


Vua Hán nghe câu trả lời cứng cỏi và dúng dắn của
Trương Trọng xong thì tức lắm nhưng đành im lặng.


.Mấy hôm sau, nhân dịp Tết Nguyên đán, vua mớ tiệc.
Trăm quan vào hầu và chúc tết vua trong đó có Trương
Trọng. Thấy ông, vua Hán nghĩ ngay tơi chuyện hôm trước



</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

<i><b>c^titiii htĩ </b>lHJniị ĩịia u r à i í í í ' sứ <b>lỉiíìii </b>ticu <b>lĩìèu...</b></i><b> 1 1 3</b>
và muốn rửa hận nên nhân đủ các quan ở đấy, y hỏi kháy;


- “Nhật Nam” có nghĩa là “phía nam mặt trời”. Ta nghe
nói tất cả nhà cửa quận này đều xoay hướng về phương Bắc
để trông thấy mặt trời phải không?


Câu hỏi kiêu ngạo trên ý muốn xưng thiên triều phương
Bắc là mặt trời còn mọi người thì phải phục tùng. Trương
Trọng bình tĩnh đáp;


-Tâu bệ hạ, theo thiển ý của thần thì “Nhật Nam”
khơng phải là ở phía nam mặt trời. Trung nguyên của bệ hạ
có quận gọi là “Vân Trung” mà đâu có ở giữa mây, có nơi
gọi là “Kim Thành” mà lại khơng phải là tồ thành xây
bằng vàng. Tên thế thơi chứ thực có vậy đâu. Nơi nào thì
mặt trời cũng ở đằng Đông cả.


Lời đối đáp rắn rỏi và sự thông minh nhanh trí của
Trương Trọng đả khiến nhà vua thán phục ông một lần nữa.


<b>Theo </b><i><b>diendan.hocmai.vn</b></i>


NGUYÊN ĐẠI P H Á P -


"TA LÀ S Ứ THẦN CỦA M Ộ T N Ư Ớ C ”*’*


<i>ỏng sinh khoảng năm 1260, ỏng làm Ký lục dưới triều Trần</i>
<i>Nhân Tông. Năm 1292, sau chiếti thắng quân Nguyên Mông lần</i>


<i>thứ 2, vua Trần Nhãn Tơng muốn hịa đàm để tránh đổ máu, vua</i>
<i>Nguvên đòi vua Trần phái sang hầu, vua sai ơng sang hịa đàm,</i>
<i>cuộc hịa đàm khơng thành vì vua Ngun chưa từ bỏ dã tăm xâm</i>
<i>lược nước ta. Năm 1306 ỏng phị cơng chúa Huyền Trang sang</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(10)</span><div class='page_container' data-page=10>

<i>làm Hoàng hậu vua Chăm là Chế Mãn. Sau đó làm trấn thủ 2</i>
<i>cháu: Ô, Lý (cháu Thuận, châu Hoá) mất năm I34ĩ.</i>


Sau 3 lần bị thua to tại Đại Việt, vua Nguyên vẫn nuôi ý
định mang quân sang trả thù. Để tránh một cuộc chiến
tranh mới có thể xẩy ra, vua Trần đã cử Nguyễn Đại Pháp
sang sứ với ý định làm dịu quan hệ hai nước. Nguyễn Đại
Pháp đã hoàn thành sứ nìạng, chuyến đi của ông là một
trong mấy nguyên nhân quan trọng khiến nhà Nguyên
không dám cất quân sang xâm lăng nước ta một lần nữa.


Trước khi về nước Nguyễn Đại Pháp đã tới chào từ biệt
mấy quan chức nhà Nguyên. Không ngờ thấy Trần ích Tắc
cũng ngồi ở đó. Trần ích Tắc là con vua Trần Thái Tông,
em vua Trần Thánh Tông và anh ruột tướng Trần Nhật
Duật nổi tiếng. Trần ích Tắc là người thông minh học giỏi
nhưng ngầm có ý tranh ngôi vua từ lâu, nên khi quân
Nguyên sang đánh nước ta lần thứ hai, Trần ích Tắc đã
mang cả gia quyến ra hàng và khi quân Nguyên bại trận đã
theo chúng về Trung Quốc, được chúng phong cho chức
“An Nam quốc vương” hờ. Thấy Nguyễn Đại Pháp không
chào mình, Trấn ích Tắc lên giọng hỏi: “Ngươi có phải là
kẻ ghi chép ở nhà Chiêu Đại vương không? (Chiêu Đại
vương là anh em cùng mẹ với Trần ích Tắc).



Nguyễn Đại Pháp khoan thai trả lời: Thời thế đã đổi
thay. Đại Pháp này trước đây đúng là kẻ ghi chép tại nhà
Chiêu Đại vương, nhưng nay là sứ thần của nước Đại Việt,
cịn ơng trước đây đúng là con vua một nước nhưng nay đã
là kẻ đầu hàng giặc!


ích Tắc nghe xong vơ cùng hổ then!


<b>Theo </b><i><b>vanhoanghean.vn</b></i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(11)</span><div class='page_container' data-page=11>

<i>( ^ u a n l ừ Ìui/Iìị iịiíio rù í ú r s ứ tỉitìn ỉièu íìiru...</i> I 1 5


ĐO À N NHỮ HÀI,


S Ứ T H Ần Bỏ l ệ l ạ y v u a Xứ n g ư ờ i(•»


Một lần, vào tháng 5, năm Kỷ Hợi 1299, Thượng hồng
Nhân Tơng từ phủ Thiên Trường (Nam Định ngày nay) về
Thăng Long xem xét việc triều chính, suốt cả buổi sáng vẫn
không thấy vua con là Anh Tông ra mắt, hỏi ra mới biết nhà
vua uống rượu xương bồ say vùi, cung nhân vào gọi mãi vẫn
khơng dậy. Thượng hồng nổi giận, đùng đùng bỏ về Thiên
Trường, xuống chiếu lệnh cho các quan ngày mai đều phải
tới phủ để điểm danh, ai trái lệnh sẽ bị xử tội.


Mãi đến xế trưa Anh Tông mới linh rượu, hoảng quá, đi
bộ qua chùa Tư Phúc định khấn Phật cứu nạn thì bỗng gặp
một nho sinh, bèn bảo; Ta vì quá chén mà đắc tội với
Thượng hoàng, ngươi hây thảo cho ta một tờ biểu tạ lỗi.
Nho sinh vâng lời làm ngay. Anh Tông lập tức đem người


này xuống thuyền, chạy suốt đêm về Thiên Trường dâng
biểu tạ lỗi. Đến nơi, nho sinh quỳ dâng sớ. Thượng hoàng
làm ngơ, nho sinh vẫn phủ phục ngoài thềm mãi đến chiều,
miía to gió lớn vẫn khơng đứng lên.


Thượng hồng thấy vậy cảm động, sai đưa tờ biểu vào
xem qua rồi nói với Anh Tơng: Trẫm cịn có con khác có thể
nối ngơi được. Trẫm cịn sống mà còn như thế, sau này biết
đến thế nào?!


Anh Tông cúi đầu tạ lỗi, Thượng hoàng lại hỏi ai làm
bài biểu, Anh Tông tỏ thật. Thượng hoàng cho mời nho
sinh vào ban lời khen, người này xưng tên là Đoàn Nhữ Hài.
về lại kinh sư, Anh Tông phong họ Đoàn làm Trung tán


</div>
<span class='text_page_counter'>(12)</span><div class='page_container' data-page=12>

1 1 6 7 li «íí7i I iV/ <i>Ỉ^<W I - t ì í il n ư ớ i ,</i> í 0/1<i>im ư ừ i</i>


khi ấy mới 20 tuổi.


Đoàn Nhữ Hài (1280-1335) người làng Hội Xuyên,
huvện Trưèmg Tân, lộ Hồng Châu (nay là huyện Gia Lộc,
tính Hải Dương), ô n g làm quan trái ba đời vua Trần Anh
Tông (1293-1314), Trần Minh Tông (1314-1329) và Trần
Hiến Tông (1329-1341).


Tương truyền, ông nổi tiếng ham học ngay từ nhỏ, tay
không lúc nào rời khỏi sách. Đến tuổi thiếu niên, ông lên
kinh đô miệt mài sôi kinh nấu sử, lắm lúc đọc sách mải mê
đến quên cả trời đất xung quanh. Trong một lần như thế,
ơng tình cờ được gặp vua Trần Anh Tông và cuộc hội ngộ


ấy đã làm thay đổi đời ông như đã nói trên.


Năm 1312, ơng đi sứ sang Chiêm Thành. Theo thơng lệ
trước đó, sứ ta phái lạy vua Chiêm trước rồi sau mới mở tờ
chiếu, nhưng ơng thì khác, ơn g đi thẳng đến đặt tờ chiếu của
vua lên án, rồi nói với vua Chiêm: Từ khi sứ thiên triều mang
chiếu thư của thiên từ sang, xa cách ánh sáng lâu ngày, nay mở
chiếu thư, thực như trông thấy mặt thiên tử, tôi phải lạy chiếu
thư đã, rồi mới tuyên đọc sau. Nói rồi, ơng quay vào tờ chiếu
mà lạy. Vua Chiêm lúc ấy đứng bên cạnh, có ý giận nhưng
khơng bắt bẻ vào đâu đưỢc bởi lấy cớ lạy chiếu thư thì về lý là
thuận, mà cịn giữ khí tiết bất khuất của sứ quan.


</div>
<span class='text_page_counter'>(13)</span><div class='page_container' data-page=13>

và đổi tên thành châu Thuận, châu Hóa.


Sang đời Trần Hiến Tỏng, Thượng hồng Minh Tơng
thân chinh đi đánh Ai Lao, ông làm đốc tướng, vốn xuất
thân là một văn quan, khơng có lầm nhìn chiến lược và kinh
nghiệm trận mạc, óng bị đánh thua tan tác, bản thân ông sa
xuống nước sông La mà chết. Sau khi mất ông đưực truy
phong làm Thượng đắng Phúc thần, các làng trong huyện
Gia Lộc như Hội Xuyên, Tàng Thượng, Phó Trào đều có
miếu thờ ơng.


Vc sau, Đặng Minh Khiêm (1470 - 1532), một danh
thần đời Lê Thánh Tơng (1442 - 1497) có thơ đề vịnh:


<i>Tạ quá vàn thành kết chủ tri,</i>
<i>S ứ mao võ tiết dư khu trì.</i>



<i>Tự tịng nữu thắng kiêu tâm khời,</i>
<i>Tiết thủy giang hàn tráng si bi.</i>


Dịch thơ:


<i>Tự lỗi vùn hay chúa biết tài,</i>
<i>Cờ mao, cờ sứ mói dong hồi.</i>
<i>Sau khi quen thắng thành kiêu ngạo,</i>
<i>Lạnh lẽo sông La khách thở dài.</i>


Lê Gia Lộc


<i>c ^ tu iii ỉh’</i> />ư/ỉy (»/1/0 /’!/ <i>n ỉc</i> s/r <i>tỉiiìn tiiUi</i> />/»'//.,, ] 1 7


HƠ T Ị N G T H Ỏ C Đ Ọ C TH Ơ CHÊ HẠNG v õ ,
CHỮA TH Ơ VƯƠNG BỘT


Hồ Tông Thốc ngươi làng Thổ Thành phủ Diễn Châu,
ngụ tại xà Vô Ngại huyện Dường Hào, hiện chưa rõ ông
sinh và mất năm nào.


</div>
<span class='text_page_counter'>(14)</span><div class='page_container' data-page=14>

1 1 8 7 1« <i>Sííí li </i> <i>T ict </i> <i>- J .u n ư ớ í , c o n n\(ườị</i>


Khánh đời Trần Nghệ Tỏng (1370-1372), Hồ Tông Thốc thi
đậu Trạng nguyên, từng làm An phủ sứ và đã có lần đi sứ
Trung Quốc. Vào những năm cuối niên hiệu Xương Phù đời
'Trần Phế Đế (1377-1388) Hồ Tông Thốc được thãng đến
chức Hàn lâm học sĩ phụng chì kiêm Thẩm Hình viện sứ,
rồi Trung thư lệnh. Khi Hồ Quý Ly nắm quyền (1400-1407)
biết thời thế khơng lárn gì được, óng lui về giữ chữ nhàn,


gứi mình vào thơ và rượu, ngồi 80 ti thì mất.


về con người Hồ Tông Thốc, sách Nam <i>Ong mộng liic</i>


của Hồ Nguyên Trừng cho biết như sau: Hồ Tỏng Thốc thi
đỗ lừ hồi còn trề, rất có tài danh. Mới đầu chưa nổi tiếng
lắm. Nhân tiết Nguyên tiêu có đạo nhân Pháp quan họ Lê
mơ tiệc hoa đãng đê đón khách vãn chương, Hồ Tơng Thốc
nhận giấy mời đề thơ, trong một đêm ngay trên tiệc làm
trảm bài thơ, uống trăm chén rượu. Mọi người đều xúm
nhìn thán phục, không ai địch nổi. Từ đó danh lừng kinh
dơ. v ề sau dùng lài vãn học làm thầy thợ cho người.


Theo <i>Đại \ 'iệt thông sử</i> của Lê Q Đơn và <i>Lụii triều hiến</i>


<i>chương loại</i> chí của Phan Huy Chú thì Hồ Tơng Thốc có các


lác phẩm: <i>Việt sử cương mục, Thao nhàn hiệu tần tập, Việt Nam</i>


<i>thế chí, Phú học chi nam.</i> Nhưng dáng tiếc dến nay dều khơng


cịn. Hiện các tác phẩm của ông được biết đến chỉ gồm hai
bài thơ, bài lựa sách 17t’í <i>Nam thê chí</i> và bài văn bia <i>Từ An tự</i>


<i>bi minh tịnh tự ông</i> viết cho chùa Từ Ân ở xã Đồng Hải phủ


Thái Ninh tinh Thái Bình, do các tác giả sách <i>Thơ vãn Lý </i>
<i>-Trần</i> công bố.


Xung quanh việc di sứ sang Tàu của Hồ Tông Thốc có


một số giai thoại.


1. Đọc thơ nhạo Hạng Vũ


</div>
<span class='text_page_counter'>(15)</span><div class='page_container' data-page=15>

<i>C)uan hi’ l'(/nịị ịịiiHì rà các sứ thần ticti lìièu...</i> 119


Thốc được nhà vua cứ làm Chánh sứ sang phương Bắc (nhà
Nguyên - 'ĩrung Quốc), lúc di qua miếu thờ Hạng Vù, một
ngôi miếu rất thiêng trên sông ổ Giang, ơng có đề một bài
thơ tứ tuyệt phẽ phan Hạng Vũ (danh tướng tranh nghiệp
dế với Lưu Bang), sự việc này dược kề lại qua hai giai thoại.


- Trong tác phấm <i>Giai thoại vãn học</i> do Hoàng Ngọc
Phách và Kiều '1 hu Hoạch sưu tầm bién soạn (Nhà xuất bán
Van học Hà Nội, 1988, tr.35, 36) có viết: “Tương truyền một
hôm, thuyền của sứ bộ di trên sông Ơ Giang, đến chỗ có
miếu thờ Hạng Vũ dựng trên bờ. Người ta dồn rằng, miếu
này rất thiêng, hẻ thuyền bè qua lại trên sông mà khơng ghé
vào lễ bái thì sẽ bị dắm.


Tuy có biết chuyện đó, nhưng khi qua miếu, Hồ Tông
Thốc vẫn không cho dốt vàng, cứ để thuyền đi thẳng. Quả
nhiên, ngay lúc dó, sóng gió bỗng nổi lên ầm ầm, chiếc
thuyền chịng chành chỉ chực đắm. Hồ Tơng Thốc chẳng hề
nao núng, ung dung ra đầu thuyền ngâm một bài thơ:


<i>Quán hất quản hề, thần bất thần</i>
<i>N hư hà miếu mạo tại giang tân?</i>
<i>Giang Đơng tích nhật do hiểm tiêu</i>
<i>H à tích thiêu tiền bách van cán?</i>



Dịch:


<i>Vuư chắng vua, mà tôi chẳng tơi,</i>
<i>]"en sóng nnếu mạo đê thờat?</i>
<i>Giang Dóng ngày trước cịn ché nhỏ,</i>
<i>Tiền giâv nay sao lại vật nài?</i>


Hồ Tỏng Thốc vừa đọc xong mấy câu thơ trên tự nhiên
gió lặng sóng yên. Nghe nói miếu thừ Hạng Võ từ đó mất
thiêng.


</div>
<span class='text_page_counter'>(16)</span><div class='page_container' data-page=16>

1 2 0 7 li <i>Síỉcli </i> <i>V i i ’ t ĩ^anì -</i>i/iíl <i>n ư ớ c , cnn n^ườỉ</i>


thời nhà Lê, trong câu chuyện <i>ờ</i> đền Hạng Vương thì viết;
“Quan thừa chỉ Hồ Tông Thốc là người hay thơ lại giỏi lối mía
mai giễu cợt. Khoảng dưới đời Trần, phụng mệnh sang Trung
Quốc, nhân dịp đi qua đền Hạng Vương, có đề bài thơ:


<i>Bàc/i nhị sơn hà''’ khởi chiến phong</i>
<i>Huề tương tử đệ nhập Quan Trung,</i>
<i>Yên tiêu Hàm Cốc Cháu cung lãnh</i>
<i>Tuyết tán Hồng môn ngọc đấu khơng.</i>


<i>Nhất hại, hữu thiên vong Trạch tả</i>
<i>Trimg lai vị địa đáo Giang Đông,</i>
<i>Kinh doanh ngũ tài thành hà sự</i>
<i>Tiêu đắc khu khu láng Lỗ Công''.</i>


Với những chú giải (1), (2) xin dịch lại bài thơĐ c <i>ớ đền</i>



<i>Hạng Vương</i> của Hồ Tông Thốc như sau:


<i>Bách Việt non sông nổi hụi hồng</i>
<i>Đem đoàn đệ tử đến Quan Trung</i>


i hực r;i tmns: chữ Nho. chừ Nhị ỈK phồn Ihc rất gằn \(Vi chữ Viộl
nhất là khi \ ici ironu cô \ ăn. i)ọc là "lỉách Vicl MTTI hà"... cụm từ nà\
rất thỏm; dung dc chi non sônii liách \'ict. llạm: Vũ khơi nuhĩa ơ Hách
Việt, thật quá chinh xác. Nước Siĩchănu phui thuộc Hách Vicl thì là lii'.’
Nhà <b>rần </b>cùni> lù Hách Vicl mà thôi. Niiuxcn bài th(T cua llo <b>rỏm:</b>


I hoc xác dịnh cuoc khơi nuhĩa cùa I lạnc Vũ chônii I ân là lịch sư Hách
Viộl. dã bị ngươi dơi sau "mắt mờ dọc queo". Việt M thành n h ịit.
thành ra nưhĩa khónu thê hiêu nơi...


</div>
<span class='text_page_counter'>(17)</span><div class='page_container' data-page=17>

<i>Khói tan Hàm Cốc cung châu lạnh</i>
<i>Tuyết rã Hồng Món đấu ngọc không</i>


<i>Thua chạv giời <b>XUI </b>đường Trạch Tả</i>


<i>Quav về đất lấp nèo Giang Đông</i>
<i>Năm năm lăn lộn hồi cơng cốc</i>


<i>Cịn được <b>VÙI </b>trong má Lỗ Cơng.</i>


Việc Hồ Tông Thốc đi sứ Sang Trung Quốc, khi đi qua
đền Hạng Vũ trên bờ sơng Ơ Giang có đề một bài thơ là sự
thật. Còn qua giai thoại có vẻ hoang đường là việc Hồ Tông
Thốc đàm luận với Hạng vỏ trong <i>Tnivền kv mạn lục</i> do bài


thơ trên, càng cho thấy được lài làm thơ của Hồ Tông rhốc.
Cũng qua đó đê nói lên tài biện bạch, giỏi việc đời, tính tình
thẳng thắn, lòng nhân đạo trong đối nhân xử thế, biết tình
biết nghĩa, biết Ic phái trước mọi viộc, đồng thời cũng biểu
hiện khí phách của sứ thần Việt Nam.


2. Sửa thơ Vương Bột


Vương Bột một trong những nhà thơ xuất sắc thời đầu
Đường (650-675), tác giả bài thơ “Đằng Vương các” nổi
tiếng. Ngoài ra tương truyền sau ông bị chết đuối trên một
con sông trên đường đi thảm cha đang làm quan ở Giao Chi
thì từ đó trên khúc sông này mỗi khi đêm khuya thanh vắng
thường vang lên hai câu thơ rất được người đời ưa thích, cho
là tuyệt tác:


<i>“Lạc hà dữ cỏ lộ tề phi.</i>


<i>Thu thuv cộng trường thiân nhất sắc"</i>


Dịch nghĩa: Ráng chiều với con cò Ic loi cùng bay.
Nưởc thu cùng trời xanh một màu.


Trên đường đi sứ qua khúc sông này, nghe câu chuyện
trên, Hồ Tông Thốc liền đứng ra đầu mũi thuyền, nói: <i>Hà tất</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(18)</span><div class='page_container' data-page=18>

<i>dữ, cộng nhị tự?</i> Nghĩa là: Việc gì phải dùng hai chừ dữ (với) và
cộng (cung). Những người cùng di hỏi ông tại sao lại như vậy,
ỏng trá lừi: dà nóiíê <i>pht</i> (cùng bay) thì thêm chữíií? (với) là
thừa. Đã <i>nói nhất sắc</i> (một màu) thì thêm chữcỘHg (cùng) là


thừa. Và ơng dọc tồn văn câu sứa của mình:


“Lực <i>hà có lộ té phi,</i>


<i>Thu íhuv trường thĩêti nhất săc. ”</i>


Người nghe đều phục ông bắt bè có lý, về văn lự có gọn,
và hàm súc hơn (Nhưng về âm hưởng thì khơng hay bằng
nguyên văn).


Tổng hợp


LƯỠNG Q U ố C TRẠNG NGUYÊN ĐÀO

TÍCH


<b>( 1 3 5 0 - 1396)'*»</b>


Đào Sư Tích sinh nãm Canh Dần (1350), mất năm Bính
Tý (1396), quê làng c ổ Lễ, huyện Tây Chân (nay thuộc thị
trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tinh Nam Định), ô n g là người
thứ hai dỗ 'IVạng nguyên trong số 5 Trạng nguyên của đất
Nam Định vãn hiến. Do thời gian dã lâu, các lài liệu lịch sử
viết về ơng hiện cịn rất ít, lại sơ lược, nhưng công danh sự
nghiệp cùa ông dưỢc dân gian truyền tụng khá nhiều. Những
giai thoại về L)ào Sư Tích do dân gian sáng lạo ra trên cơ sở sự
thật lịch sứ, cỏ cái dũng sự thật, có cái do nhân dân hư cấu nén.
Nhưng dù là do dân gian hư cấu thì những giai thoại vẫn mang
trong mình nó cái lỏi lịch sử. Những giai thoại về Đào Sư Tích
là hình thức thể hiện, gứi gam lình cám, ươc vọng của nhân
1 2 — / l i .siít/i I <i>ú 't \ t W ì - t l i i l l ì t n r t ,</i> (0 /1 /n>irờf



</div>
<span class='text_page_counter'>(19)</span><div class='page_container' data-page=19>

<i>ỈU’ ỈHítiịi liííHi rù lík sử lỉiiiii liru lìiru,-</i> 1 3 3


dân đối với Ông. Qua các giai ihoại ta hiểu về nhân cách Trạng
nguyên Đào Sư Tích thêm sáng tỏ.


Đào Sư Tích xuất thân trong một dịng họ có truyền
thống khoa bảng lâu dời. Ngay từ thời Trần Nhân Tông, họ
Đào đã có Đào Dương Bật dồ Thái học sinh, là bậc Khai
quốc công thần nhà Trần, từng giữ chức Thưthig thư bộ
Binh kiêm Đông các Đại học sĩ.


Đào Sư Tích làm quan trong th('?i kỳ nhà Trần suy thoái.
Ba vị vua mà ông từng phụng sự là Trần Duệ Tông (1372 -
1377), Trần Phế Đế (1378 - 1388), Trần Thuận Tỏng (1388 -
1398) dều chỉ làm vì, thực quyền vấn trong tay Thượng hồng
Trần Nghẹ Tơng. Nhưng Trần Nghệ Tông bán tính nhu
nhưỢc, chẩng dám lự quyết dốn việc gi, lại hết lòng tin dùng
Hồ Quý Ly, giải quvết mọi việc thưtơng nghe thc-o lơi Hồ Quý
Ly nên Hồ Quý Ly mtVi thực sự là ngưih có vai trị quvết dịnh
mọi việc chính sựcúa triều đình.


Chán ngán trước cãnh trong triều vua quan mưu hại lẫn
nhau, bất mãn vì Hồ Quý Ly chuyên quyền, tiên đoán được
nhà Trần sẽ mất về tay họ Hồ mà mình bất lực, Đào Sư
Tích đã cáo quan về quê làm thuốc chữa bệnh và dạy học.
Trong thời gian từ 1393 dến 1396, sau khi dã cáo quan, ơng
cịn phải đi sứ Trung Quốc...


Thời gian này, nhà Minh tăng cưìíng sức ép vơi vua
Trần nhằm tạo cớ thực hiện âm mifu xâm chiếm Đại Việt.


Chúng liên tiếp đưa các yêu sách ngày càng nặng nề dối với


nươc ta:


- Tháng 9 năm Giáp Tý (1384) chúng dõi ta phải nộp
lương thực cung cấp cho quân Minh đóng ứ Lâm An (Vân
Nam, 'Trung Quốc).


</div>
<span class='text_page_counter'>(20)</span><div class='page_container' data-page=20>

124 7 <i>li MÌi lì </i> <i><b>ỉ </b>ict 'S a tn - iliìi Iiirới , m n nịiirởi</i>


nhân (nhà sư).


- Tháng 2 năm Bính Dần (1386) chúng đòi ta nộp
những loài cây ăn quả quý, lại đòi cấp cho chúng 50 con voi
và cho chúng mưỢn đường đi đánh Chiêm Thành.


- Tháng 6 năm Ál Hợi (1395) quân Minh đánh các man
làm phản ử Long Châu và Phụng Nghĩa (Quáng Tây, Trung
Quốc), đòi ta phải cấp cho chúng 5 vạn quân, 50 thớt voi, 50
vạn thạch lưcỉng... Ta chỉ nộp một ít gạo, chúng lại đòi ta
phải nộp lãng nhân, thanh niên bị thiến, phụ nừ xoa bóp...


Trước linh thế đó, vua Trần rất cần người tài giỏi, có đủ
khả năng xoay chuyến tình thế đi sứ đê thực hiện chủ
trương hồ hỗn. Trong triều có người nói chỉ có Đào Sư
Tích mới có đu khả nàng để thực hiện nhiệm vụ này. Mặc
dù khơng ưa gì Đào <b>Sư </b>Tích, Hồ Quý Ly vẫn phải xin vua
Trần giao cho ỏng nhiệm vụ đi sứ. Khi Hồ Quý Ly về c ổ Lễ
để triệu Đào <b>Sư </b>Tích vào triều thì ơng đã <i>ờ</i> Tam Đảo.
Tưởng ông bỏ trốn, Hồ Quý Ly ra lệnh nếu Đào Sư Tích


khơng hồi triều đi sứ thì sẽ bị tru di lam tộc. Đề phòng họ
Đào sau này bị Hồ Quý Ly tàn sát, Đào <b>Sư </b>Tích đã cho con
cháu đổi ra họ Phạm và hồi triều nhận trách nhiệm đi sứ
nhà Minh. Sau này con cháu ơng lại có người đổi thành họ
Dương, do dó từ đường họ Đào <i>ờ</i> c ổ Lề hiện nay có bức đại
tự ghi là Đào - Phạm - Dương.


</div>

<!--links-->

×