Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (254.41 KB, 16 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span>Tiết PPCT : Ngày dạy. Phần ba LỊCH SỬ VIỆT NAM (1858 – 1918) Chương 1 VIỆT NAM TỪ NĂM 1858 ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XIX Bài 19 NHÂN DÂN VIỆT NAM KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP XÂM LƯỢC (Từ năm 1858 đến trước năm 1873) I. MỤC TIÊU BÀI HỌC Sau khi học xong bài học, học sinh: 1. Về kiến thức _ Biết được ý đồ xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp, có từ rất sớm. _ Biết được tình hình Việt Nam trước khi thực thân Pháp xâm lược. _ Hiểu được cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và nhân ta ở Gia Định và các tỉnh Nam Kỳ diễn ra như thế nào từ 1859 - trước năm 1873. 2. Về kỹ năng _ Sử dụng lược đồ lịch sử trình bày diễn biến các sự kiện. _ Khả năng phân tích, nhận xét, rút ra bài học lịch sử từ các sự kiện lịch sử. 3. Về tư tưởng, tình cảm _ Hiểu được bản chất xâm lược và thủ đoạn tàn bạo của chủ nghĩa thực dân. _ Đánh giá đúng mức nguyên nhân và trách nhiệm của triều đình phong kiến nhà Nguyễn trong việc tổ chức kháng chiến. Giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc. II. PHƯƠNG TIỆN GIẢNG DẠY 1. Phương tiện giảng dạy: _ Bản đồ các địa danh cần thiết. _ Lượt đồ cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Kỳ. _ Bản đồ Nam Kỳ lục tỉnh. _ Hình ảnh một số nhân vật lịch sử như Trương Định, Phan Thanh Giản, Nguyễn Trung Trực, Nuyễn Hữu Huân,… 2. Tư liệu: _ Sách giáo khoa Lịch sử 11, Nxb Giáo Dục Việt Nam. _ Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên)(2012), Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo Dục Việt Nam. _ Đinh Xuân Lâm (chủ biên)(2013), Đại cương Lịch sử Việt Nam – tập 2, Nxb Giáo dục Việt Nam. _ Nguyễn Thị Côi, Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường THPT (tập 1 – Lịch sử Việt Nam), Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội.. Lop11.com.
<span class='text_page_counter'>(2)</span> _ Nguyễn Văn Ánh – Trần Thái Hà – Trịnh Định Tùng, Tư liệu Lịch sử 10, Nxb Giáo Dục Hà Nội. _ Trịnh Tiến Thuận – Nguyễn Xuân Trường (2007), Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sử 10, Nxb Hà Nội. III. TIỀN TRÌNH GIẢNG DẠY 1. Ổn định lớp 2. Kiểm tra bài cũ Những nội dung chính của Lịch sử thế giới hiện đại 1917-1945. 3.Giảng bài mới Ngày 31/8/1858 thực dân Pháp nổ súng chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ngay từ đầu, quân dân ta đã anh dũng chiến đấu chống quân xâm lược. Với sức mạnh quân sự Pháp ngày càng mở rộng chiến tranh xâm lược, song đi đến đâu chúng cũng vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của nhân dân ta. Để hiểu được cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp và cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta từ 1858 – 1873, chúng ta cùng tìm hiểu bài học hôm nay. Hoạt động của GV-HS. Nội dung cơ bản. _Gv giới thiệu “Lược đồ các nước Đông Nam Á cuối XIX – XX”. Qua đó, Gv trình bày về âm mưu xâm lược của thực dân phương Tây nói chung và thực dân Pháp nói riêng đối với vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Thông qua một số câu hỏi gợi mở như: + Vị trí của Đông Nam Á có vai trò như thế nào. + Tại sao đến giữa thế kỉ XIX, khu vực Đông Nam Á lại trở thành miếng mồi ngon cho bọn tư bản phương Tây tranh nhau xâu xé? _ GV giảng thêm: Đây là khu vực không chỉ có vị trí địa lý quan trọng, mà còn là nơi có nền văn hóa lâu đời, phong phú, đông dân, tài nguyên. Các dân tộc ở khu vực này từ lâu đã là những quốc gia độc lập, đạt đến trình đô văn minh cao, chứ không phải là nơi dân cư lạc hậu mà thực dân phương Tây tự nhận “có sứ mệnh đến khai hóa” họ. Ngược lại sự thống trị của thực dân phương Tây đã là trở ngại lớn cho sự phát triển hợp quy luật của nhân dân khu vực này. Nơi có khí hậu rất thích hợp cho phát triển nông nghiệp.. Lop11.com.
<span class='text_page_counter'>(3)</span> Bước vào nửa đầu thế kỉ XIX, chế độ phong kiến ở hầu hết các nước này đều lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc. Nhân cơ hội đó, các nước tư bản phương Tây tiến hành xâm lược các nước Đông Nam Á làm thuộc địa. + Trên bản đồ, tên các quốc gia được ghi rõ; những quốc gia thuộc Anh kí hiệu bằng chữ (A); những nước thuộc Pháp kí hiệu bằng chữ (P); những nước thuộc Hà Lan kí hiệu bằng chữ (H); những nước thuộc Tây Ban Nha kí hiệu là chữ (T); những nước thuộc Bồ Đào Nha ký hiệu là (B). + Nhìn vào bản đồ, Ấn Độ bị Anh thôn tính gần hết; Inđônêsia lọt vào tay Hà Lan; Philippin thuộc Tây Ban Nha; Miến Điện, Mã Lai, Xingapo thuộc Anh; Việt Nam, Lào, Campuchia thuộc Pháp…Nhật Bản không phải là thuộc địa nhưng cũng bị bức bách mở cửa thông thương. Trong khu vực chỉ có Xiêm (Thái Lan) được gọi là nước “độc lập” nhưng đã kí hàng loạt hiệp ước nhượng bộ với Anh, Hà Lan, Pháp và Mỹ. Như vậy, đến cuối thế kỉ XIX, các nước Đông Nam Á đã lần lượt rơi vào tay các nước tư bản phương Tây.. Hoạt động 1: Nhóm - Giáo viên(Gv) đặt câu hỏi cho từng nhóm đã chia: + Nhóm 1: Nêu tình hình chính trị Việt Nam đến giữa thế kỉ XIX. + Nhóm 2: Nêu tình hình kinh tế Việt Nam đến giữa thế kỉ XIX. + Nhóm 3: Trình bày những chính sách sách về quân sự, ngoại giao ở Việt Nam giữa thế kỉ XIX. + Nhóm 4: Nêu tình hình xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.. I. LIÊN QUÂN PHÁP-TÂY BAN NHA XÂM LƯỢC VIỆT NAM. CHIẾN SỰ Ở ĐÀ NẴNG NĂM 1858. 1. Tình hình Việt Nam đến giữa thế kỉ XIX trước khi thực dân Pháp xâm lược. Học sinh thảo luận, cử đại diện trả lời. - Gv nhận xét, chốt ý. Gv giảng thêm: * Chính trị: Bộ máy chính quyền triều Nguyễn được xây dựng + Chính trị: là quốc gia phong kiến. Lop11.com.
<span class='text_page_counter'>(4)</span> trên cơ sở nguyên lý quyền hành to quá mức, sự lục đục, tranh chấp quyền lực trong triều đình vì vậy mà ngày càng căng thẳng. Những sự kiện lớn như Minh Mạng thù hằn Lê Văn Duyệt, đến việc Tự Đức giết anh, rối tiếp đó là vụ thợ lính và lính xây Vạn Niên Cơ, cuối cùng là những vụ thảm sát trong triều đình…Tất cả những điều đó làm cho nội bộ triều đình nhà Nguyễn ngày càng mục nát, đưa triều Nguyễn đến chổ lâm nguy. * Kinh tế: Kinh tế khủng hoảng biểu hiện ở việc nhà Nguyễn không thể kiềm chế nỗi và không kiểm soát được việc cường hào chiếm đoạt ruộng đất, ruộng đất tư của nông dân. Nó là tài sản lớn nhất và cũng là nguồn thu quan trọng nhất. Giờ đây phần lớn ruộng đất rơi vào tay địa chủ, cường hào từ đó nông dân mất mùa, dẫn đếnxung đột giữa nông dân và địa chủ, cường hào ngày càng gay gắt. Về công thương nghiệp cũng bế tắc, ngay từ năm Gia Long thứ 2 nhà Nguyễn đã thi hành chính sách “bế quan tỏa cảng”. Qua thời Minh Mạng, Thiệu Trị chính sách sách này tiếp tục thi hành, đến Tự Đức thì ngày càng nghiêm ngặt hơn. Chính sách tai họa này đã làm cho giao thương đình trệ, sinh ra thiếu tiền, thiếu lính, thiếu phương tiện cần thiết để củng cố an ninh quốc phòng. Như vậy chính sách ức thương đối với bên trong và tỏa cảng bên ngoài đã làm cản trở sự phát triển của toàn bộ đất nước. * Quân sự: Quân đội không được cải cách, sức đề kháng không được tăng cường. * Ngoại giao: Ngoài việc thi hành chính sách cấm đạo, các vua triều Nguyễn còn phạm phải một loạt các sai lầm như đàn áp đạo thiên chúa, ra sức tiền hành các cuộc chiến tranh xâm lược các nước láng giềng, từ đó trút thêm nỗi khổ lên đầu nhân dân tạo nên sự thù hằn chia rẽ giữa nhân dân trong nước và các dân tộc trên bán đảo Đông Dương. * Xã hội: Với những chính sách thống trị hà khắc của nhà Nguyễn làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân lao động với triều đình phong kiến ngày càng gay gắt, quyết. Lop11.com. độc lập, có chủ quyền song CĐPK đã lâm vào khủng hoảng, suy yếu.. + Kinh tế: Nông nghiệp sa sút, ruộng đất tập trung trong tay địa chủ cường hào, mất mùa, đói kém xảy ra.. Công thương nghiệp đình đốn. Chính sách “bế quan tỏa cảng” của nhà Nguyễn làm nước ta cô lập với bên ngoài.. + Quân sự: lạc hậu, yếu kém. + Đối ngoại: sai lầm “cấm đạo”, đuổi giáo sĩ, làm rạn nứt khối đoàn kết dân tộc, tạo kẻ hở cho kẻ thù lợi dụng.. + Xã hội: Mâu thuẫn xã hội sâu sắc. Các cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình nổ ra khắp nơi..
<span class='text_page_counter'>(5)</span> liệt làm bùng nổ hơn 500 cuộ khởi nghĩa của nông dân từ thời Gia Long đến Tự Đức, trong đó có nhiều cuộc khởi nghĩa lớn làm lung lay nền thống trị của vương triều Nguyễn như khởi Nghĩa Phan Bá Vành, Lê Văn Khôi, Lê Duy Lương… + Với sự khủng hoảng trên các mặt kinh tế, chính trị đã tác động mạnh đến tình hình xã hội lúc bấy giờ. Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi tiêu biểu như khởi nghĩa Phan Bá Vành ở Nam Định, Thái Bình; Lê Duy Dương ở Ninh Bình, Lê Văn Khôi ở Gia Định… + Sự khủng hoảng của nước ta giữa thế kỉ XIX, đã dẫn tới nguy cơ: Cuộc khủng hoảng của nước ta giữa thế kỉ XIX đã dẫn đến nguy cơ bị thực dân Pháp xâm lược. _ Gv hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung thông 2. Thực dân Pháp ráo riết chuẩn qua một số câu hỏi: bị xâm lược Việt Nam 1. Việt Nam tiếp xúc với các nước phương Tây từ khi nào, thông qua con đường gì? 2. Tại sao từ thế kỉ XIX, CNTB lại đẩy mạnh Đọc thêm xâm chiếm thị trường và thuộc địa ở Đông Dương? 3. Những hành dộng chứng tỏ thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị xâm lược Việt Nam. 4. Nguyên nhân thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp diễn ra như thế nào? Quân dân ta kháng chiến chống Pháp ra sao? Chúng ta sẽ tìm hiểu ở phần tiếp theo. Hoạt động 2: Cá nhân, tập thể. - Gv: Tại sao Tây Ban Nha (TBN) lại liên minh với Pháp tấn công nước ta? 3. Chiến sự ở Đà Nẵng năm 1858 Vì có một số giáo sĩ TBN bị triều đình nhà Nguyễn giam giữ và giết hại. - Gv: Vì sao Pháp chọn Đà Nẵng(ĐN) làm mục tiêu tấn công đầu tiên? HS quan sát Lược đồ vị trí của Đà Nẵng trả lời câu hỏi. - Gv giảng thêm: Pháp lựa chọn Đà Nẵng làm nơi tấn công đầu tiên vì. Lop11.com.
<span class='text_page_counter'>(6)</span> các lí do sau đây: ĐN có một vị trí chiến lược quan trọng, đây là 1 hải cảng sâu và rộng, tàu chiến có thể ra vào dễ dàng. ĐN nằm trên con đường thiên lí Bắc – Nam và có thể sang Lào. Nếu chiếm được ĐN, Pháp sẽ thực hiện được kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Pháp không thể trực tiếp vào cửa biển Thuận An, bởi vì Huế là thủ phủ của triều đình nhà Nguyễn, nên ở đây có sự phòng thủ chắc chắn, đặc biệt là việc phòng thủ bờ biển. Mặt khác, Thuận An là một cửa biển nhỏ, tàu chiến không thể ra vào dễ dàng ra vào và thuận lợi như cửa biển ĐN… Hậu phương của ĐN có đồng bằng Nam – Ngãi (Quảng Nam – Quảng Ngãi) trù phú, là cơ hội để Pháp có thể lợi dụng để thực hiện chiến lược “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. ĐN là cổ họng của kinh thành Huế, chỉ cách Huế khoảng 100km, nếu khi chiếm ĐN thì chỉ cần vượt qua đèo Hải Vân là có thể tấn công được Huế, đây là con đường ngắn nhất, nhanh chóng nhất và ít hao tốn tiền của, nhân lực của Pháp trong cuộc chiến xâm lược. Hơn nữa, tại ĐN có nhiều người theo đạo Thiên Chúa và nhiều giáo sĩ, gián tiếp đội lốp thầy tu, con buôn… hoạt động từ trước; họ trở thành những người đi tiên phong, vạch đường cho Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược. - Gv đặt câu hỏi: Dựa vào lược đồ chiến sự Đà Nẵng năm 1858, hãy cho biết chiến sự ở ĐN diễn ra như thế nào? Học sinh suy nghĩ, tường thuật lại trận đánh. Giáo viên tường thuật lại trận đánh ở Đà Nẵng: + Xuất phát từ bán đảo Hải Nam (Trung Quốc) quân Pháp kết hợp với quân Tây Ban Nha đưa tàu chiến xuống phía Nam, lấy cớ bảo vệ các giáo sĩ. Chiều tối ngày 31/8/1858, Liên quân Pháp – TBN với khoảng 3000 binh lính và sỹ quan, bố trí chiến thuyền dàn trận trước cửa biển Đà Nẵng.. Lop11.com. * Thủ đoạn của Pháp: _ Chiếm Đà Nẵng làm bàn đạp tấn công ra Huế, buộc triều Nguyễn đầu hàng, nhanh chóng kết thúc chiến tranh.. * Hành động của Pháp: - 31/8/1858, Liên quân P – TBN dàn trận trước cửa biển ĐN..
<span class='text_page_counter'>(7)</span> Âm mưu chiếm Đà Nẵng làm căn cứ rồi tấn công ra Huế buộc nhà Nguyễn đầu hàng. +Sáng ngày 1- 9-1858, Genouilly gửi một tối hậu thư cho viên trấn thủ Đà Nẵng, bảo phải nộp tất cả thành trì và pháo đài phòng vệ cho Pháp, hạn trong hai giờ phải trả lời. Dĩ nhiên, không thể nào có phúc đáp từ phía Việt Nam, vì viên chức địa phương không đủ thẩm quyền để trả lời, còn Huế thì hai giờ ngắn ngủi, không thể nào liên lạc được. Chưa hết giờ hẹn quân Pháp đã bắn hàng trăm phát đại bác lên đất liền rồi đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà. ( Khái niệm: Tối hậu thư là thư giử, được xem là lá thư cuối cùng, nêu những yêu cầu, điều kiện bắt buộc đối phương phải theo; nếu không sẽ bị tấn công, trừng phạt). Hình 49: Bán đảo Sơn Trà có núi bao bọc, ngoài biển tạo thành một vịnh kín gió nước sâu, tàu lớn có thể ra vào dễ dàng. Các tàu chiến Pháp và Tây Ban Nha, từ các tàu chiến quân Pháp – Tây Ban Nha xuống các xuồng chở quân tiến đánh vào đất liền. - Gv đặt câu hỏi: Trước hành động đó, quân và nhân dân ta có thái độ như thế nào? Hs suy nghĩ, trả lời. - Gv nhận xét, chốt ý. Trước tình hình đó, triều đình Huế vội phái nhiều quân tăng cường lực lượng phòng thủ, Nguyễn Tri Phương được cử làm chỉ huy ở mặt trận Quảng Nam để lo việc chống giặc. Nhưng ông không chủ động tấn công tiêu diệt giặc mà chỉ huy động nhân dân đắp lũy chạy dài từ bờ biển vào phía trong, để bao vây địch ngoài mé biển, chặn không cho chúng tiến sâu vào nội địa. Quân dân ta anh dũng chiến đấu đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch. Phối hợp với quân triều đình thực hiện “vườn không nhà trống” di tản cư vào bên trong để giặc khỏi bắt đi lính, nộp lương thực hay cung cấp tin tức. Chiến thuật này không phải là không có hiệu quả, mấy lần liên quân P – TBN tìm cách đánh sâu vào đều bị quan quân triều đình đánh bật trở ra và thiệt hại nặng nề. - Gv đặt câu hỏi: Âm mưu của Pháp đánh chiếm. Lop11.com. - 1/9/1858, Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà - mở đầu cuộc xâm lược VN, thực hiện âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh”.. - Quân dân ta đẩy lùi các đợt tấn công của địch, thực hiện “vườn không nhà trống” gây cho địch nhiều khó khăn..
<span class='text_page_counter'>(8)</span> Đà Nẵng có được không? Vì sao? Hs suy nghĩ, trả lời câu hỏi. - Gv nhận xét, chốt ý. Kết quả sau 5 tháng tiến hành chiến tranh Pháp chỉ chiếm được bán đảo Sơn Trà không có người và mấy làng ven biển cũng có người. Trong lúc đó khó khăn của chúng ngày càng tăng lên thêm do không hợp khí hậu nên binh lính ốm đau và chết nhiều trong khi thuốc men lại thiếu, tiếp tế khó khăn. Vì vậy, chiến tranh có thể kéo dài hơn dự kiến của Pháp. Hoạt động 3: Cá nhân và tập thể. - Kết quả: Quân Pháp – TBN bị cầm chân tại bán đảo Sơn Trà suốt 5 tháng , kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” bước đầu bị thất bại. II. CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP Ở GIA ĐỊNH VÀ CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM KỲ TỪ NĂM 1859 ĐẾN NĂM 1862. - Gv đặt câu hỏi: Ý đồ của Pháp đánh Gia Định? HS quan sát lược đồ, Gv đặt câu hỏi gợi mở: + Pháp thực hiện ý đồ của mình như thế nào? + Pháp gặp phải khó khăn nào khi chiếm được thành?. + P gặp khó khăn như vậy, triều đình có tận dụng được cơ hội đánh Pháp được hay không?. + Quyết tâm của nhân dân ta và thái độ của triều đình ntn?. Gv giảng thêm: _ Vì không chiếm được ĐN nên Pháp quay vào chiếm Gia Định. Tuy nhiên, âm mưu của địch lần 1. Kháng chiến ở Gia Định này khác với so với lần đánh ĐN lần trước. Chúng muốn cắt đường tiếp tế bằng cách chiếm Gia Định và Nam Kì mà chúng biết là kho lúa gạo của triều đình Huế; mặt khác nhằm tránh được sự tiếp tế của triều đình Huế mà chúng đã được biết không phải là yếu kém như bọn giáo sĩ Pháp báo cáo. Gia Định xa Trung Quốc theo đó tránh được sự can thiệp của nhà Thanh, đánh Gia Định xong sẽ theo đường sông Mê Kong đánh chiếm Cao Miên làm chủ lưu vực sông Mê Kong. Thông qua đó, Pháp xúi giục nhân dân một số nước gần đó như Xiêm, Philippin nổi dậy chống nhà Nguyễn. Mặt khác, lúc này tư bản Pháp cần phải hành động gấp vì tư bản Anh sau khi chiếm Singapo và Hương Cảng cũng đang ngấp ngé chiếm Gia Định để nối liền 2 cửa biển trên. _Gv miêu tả kiến trúc của thành Gia Định: Thành Gia Định mới cũng được xây dựng theo kiến trúc Vauban nhưng nhỏ hơn nhiều, dễ bị bắn. Lop11.com.
<span class='text_page_counter'>(9)</span> phá hơn và chỉ có bốn pháo đài bốn góc so với tám pháo đài của thành Bát Quái cũ. Tường thành cao 20 m dài trên 475 m được làm từ đá granite, gạch và đất. Xung quanh thành có hào nước bao bọc; sức chứa tới khoảng 1 vạn dân, nhưng lúc đó chỉ có khoảng 1000 quân canh giữ. _ Ngày 9/2/1859, quân Pháp do Đờ giơ-nuy chỉ huy đã đến Vũng Tàu, chúng nhân chóng dàn trận và bắn đại bác vào Vũng Tàu, mở đầu cho việc đánh chiếm Gia Định. Đến 15/2/1859, quân Pháp tiến sát chân thành Gia Định. Ngày 16/2/1859, quân Pháp đến Gia Định. _ Sáng ngày 17/2/1859, dựa vào hỏa lực mạnh, Pháp cho quân đổ bộ tấn công thành. Quan quân triều đình có chống trả nhưng không thành, lúc này trong thành có khoảng 200 khẩu đại bác, một số vũ khí khác đặc biệt là lương thực. Trận chiến diễn ra ác liệt cho đến trưa thì Pháp chiếm được thành. Kể lại vụ việc trong sách Địa chí Tp.HCM tập 1 có đoạn viết: Kho thóc thành Gia Định cháy mãi hai năm mà khói còn nghi ngút. Hai mươi bốn tháng nắng mưa không làm tắt được đám cháy này. Quân Pháp cũng cướp giật, đốt luôn nhiều phố xá, thôn xóm dân cư. Quân Pháp gặp khó khăn: Tuy quân Pháp chiếm được thành chỉ trong một buổi sáng nhưng quân Pháp không thể giữ nổi thành trước phong trào kháng chiến của nhân dân ta: + Các đội dân binh chiến đấu anh dũng chặn đánh, quấy rối, tiêu diệt địch. + Kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” thất bại. + Pháp chuyển sang kế hoạch “chinh phục từng gói nhỏ”. Trước tình hình đó, triều đình đã bỏ lỡ cơ hội chống Pháp. Tháng 3/1860, triều đình cử Nguyễn Tri Phương vào Gia Định xây dựng phòng tuyến Chí Hoà để chặn giặc, nhưng lại bị động đối phó, thiếu quyết tâm chống Pháp. Gv giới thiệu thêm về Đại đồn Chí Hòa: Thành dài 3km, rộng 1km, xây bằng gạch, đá ong và đất sét rất kiên cố, cao 3,5m dày 2m, có nhiều lỗ châu mai. Trong thành chia làm 5 khu, có thể hổ trợ. Lop11.com. * Hành động của Pháp: - 9/2/1859, Pháp tới Vũng tàu. - 16/2/1859, Pháp tới Gia Định - 17/2/1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Định. Quân triều đình tan rã nhanh chóng.. - Đầu 1860, Pháp gặp khó khăn lực lượng mỏng vì phải chia sẽ với các chiến trường khác, không hợp khí hậu, bị quân ta phục kích..
<span class='text_page_counter'>(10)</span> nhau chiến đấu. Góc thành gai góc chằng chịt. Ngoài thành có hào sâu đầy nước ngăn cách, có hào che, hào chông. Cách chân thành hàng trăm mét có bố trí cậm bẫy. Trong thành có 150 khẩu đại bác đủ cỡ, và vô số vũ khí thông thường, có hàng chục nghìn binh sĩ chính quy và dân binh. Tuy nhiên, việc xây dựng đại đồn Chí Hòa chỉ là chiến thuật phòng thủ bị động, trong tư thế “thủ hiểm”. Trái lại với triều đình, nhân dân đã anh dũng chiến đấu chống thực dân Pháp. Hàng nghìn “nghĩa dũng” dưới sự lãnh đạo của _ Tháng 7/1860, nhân dân tiếp tục Dương Bình Tâm chỉ huy đã xung phong đánh đồn tấn công địch ở đồn Chợ Rẫy, triều Chợ Rẫy, vị trí quan trọng trên phòng tuyến của đình xuất hiện tư tưởng chủ hoà. địch. Kết quả Pháp sa lầy ở hai nơi : Đà Nẵng và Gia Kết quả: Pháp không mở Định rộng đánh chiếm được Gia Định, ở vào thế tiến thoái lưỡng nan. Hoạt động 4: Cả lớp cá nhân - Gv đặt câu hỏi: Sau điều ước Bắc Kinh, Pháp đã có những hành động gì? Học sinh theo dõi sách giáo khoa, suy nghĩ trả lời. - Giáo viên nhận xét, chốt ý. Gv giảng: Sau khi kết thúc thắng lợi ở Trung Quốc với điều ước Bắc Kinh (25/10/1860), Pháp bắt đầu rãnh tay hơn trong vấn đề Nam Kinh. Tháng 2/1861, đô đốc Sác-ne đưa 4000 quan và 70 tàu tăng viện cho Gia Định. Mục tiêu của Pháp lúc này là tấn công Đại đồn Chí Hòa. * Giáo viên sử dụng lược đồ “Chiến trường Gia Định” (1859 – 1861)để tường thuật chiến sự ở đây: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu những tình tiết chủ yếu sau: Sáng ngày 24-2-1861, chúng bắt đầu nổ súng công phá Chí Hòa. Trận đánh diễn ra ác liệt trong hai ngày (24, 25-2-1861). Quân triều đình chống đỡ kịch liệt nhưng không đối phó nổi sức mạnh hỏa lực của địch. Cuối cùng, đại đồn Chí Hòa bị giặc chiếm, chiến lũy bị vỡ, Nguyễn Tri Phương bị thương, quan quân phải rút chạy về Biên Hòa. Tin thất thủ đại đồn làm chấn động cả triều đình và làm cho quân sĩ ở mặt trận hết sức hoang mang.. Lop11.com. 2. Kháng chiến lan rộng ra các tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Hiệp ước 5/6/1862 * Hành động của Pháp. - 23/2/1861, quân Pháp tấn công đồn Chí Hòa.. - Sau đó Pháp chiếm Định Tường (4/1861), Biên Hòa (12/1861), Vĩnh Long(3/1862)..
<span class='text_page_counter'>(11)</span> Trong lúc triều đình bàng hoàng, lục đục luận tội khi mất đồn Chí Hòa. Pháp nhanh chóng chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) và một tỉnh miền Tây là Vĩnh Long. _ Gv đặt câu hỏi: Cuộc kháng chiến của nhân dân miền Đông Nam Kì (1861-1862) có những thắng lợi tiêu biểu nào? Học sinh theo dõi sách giáo khoa, suy nghĩ trả lời. _ Giáo viên nhận xét, chốt ý. Gv giảng: Có một số trận đánh tiêu biểu như: Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đã đốt cháy tàu Ép-pê-răng (Hy vọng) của Pháp trên sông Nhựt Tảo, tiêu diệt gọn số địch trên tàu (10-12-1861). Giáo viên cung cấp thêm về Nguyễn Trung Trực: tên thật là Nguyễn Văn Lịch, quê ở phủ Tân An, Định Tường (nay thuộc Long An). Khi Pháp xâm lược ông cùng nhân dân đứng lên chống Pháp, ông nổi tiếng với chiến công đánh tan tàu chiến Ép-pê-răng của Pháp. Sau trận đánh đó, ông được triều đình phong chức Quản cơ trấn giữ Hà Tiên. Với thắng lợi trên, thực dân Pháp phải thú nhận : “Đây là một trận đau đớn làm cho tinh thần người Việt phấn khởi và gây cảm xúc sâu sắc trong một số người Pháp”. _ Gv đặt câu hỏi: Trước tình hình đó, triều Nguyễn có hành động gì? Học sinh theo dõi sách giáo khoa, suy nghĩ trả lời. _ Giáo viên nhận xét , chốt ý . Sau khi Pháp chiếm được ba tỉnh miền Đông, chúng vấp phải khó khăn do cuộc kháng chiến của nhân dân ta, làm cho chúng chưa thể bình định ngay miền Đông. Giữa lúc đó, triều đình lại chủ động “nghị hòa”, điều đó làm cho Pháp thấy ngạc nhiên và may mắn. Tháng 5/1862, vua Tự Đức sai người thông báo cho phía Pháp, và đề nghị giảng hòa đồng thời cử một phái đoàn đến Sai Gòn (28/5/1862) do Phan Thanh Giản Dẫn đầu. Đến ngày 5/6/1862, hiệp ước Nhâm Tuất chính thức được kí kết. _ Gv đặt câu hỏi: Dựa trên nội dung của bản hiệp. Lop11.com. * Cuộc kháng chiến của nhân dân: Pháp triển mạnh + Các nghĩa quân của Trương Định, Trần Thiện Chính,…chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công. + 10/12/1861, nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực đánh chìm tàu Ép-pê-răng của Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông. * Thái độ của triều đình: - 5/6/1862, triều đình Huế ký Hiệp ước Nhâm Tuất nhượng hẳn cho Pháp 3 tỉnh miền Đông Nam Kì..
<span class='text_page_counter'>(12)</span> ước Nhâm Tuất. Em có suy nghĩ gì về nội dung của bản hiệp ước? Qua đó, hãy nhận xét về thái độ của triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ?. Học sinh suy nghĩ, phát biểu. _ Gv nhận xét, chốt ý. Sau khi bản hiệp ước Nhâm Tuất được kí kết. Điều đó cho thấy thái độ và trách nhiệm của triều đình nhà Nguyễn là không kiên quyết chống giặc, không phát huy tinh thần quyết tâm chống giặc của nhân dân, đi ngược lại với nguyện vọng của nhân dân, vi phạm quyền lợi dân tộc. Qua đó, thể hiện sự yếu kém về trình độ và nhận thức của nhà Nguyễn lúc bấy giờ. _ Gv: Theo em vì sao triều đình nhà Nguyễn lại chấp nhận kí hiệp ước Nhâm Tuất? Học sinh suy nghĩ, trả lời. _ Gv nhận xét, bổ sung: Triều đình nhà Nguyễn chập nhận là vì: + Trong hoàn cảnh này thì việc nghị hòa là hợp lí hơn, Phan Thanh Giản cho rằng ông muốn lùi một bước để tiến, vả lại trước đây mình chỉ ngoại giao với các nước như Trung Quốc, Champa mà thôi nên chưa hiểu rõ về các nước phương Tây. Điều đó, cho thấy sự chênh lệch về trình độ giữa ta và địch lúc bấy giờ. Đồng thời nhà Nguyễn lấn cấn trong vấn đề giữ lại tỉnh Vĩnh Long. + Không đủ sức để vừa chống giặc ở Nam Kỳ vừa chống lại các cuộc nổi dậy chống triều đình ở Bắc Kỳ. + Không tin tưởng ở năng lực chiến đấu của nhân dân. + Có ảo tưởng thông qua thương thuyết có thể lấy lại các tỉnh đã mất.. * Đánh giá: + Đây là một hiệp ước mà theo đó Việt Nam phải chịu nhiều thiệt thọi, vi phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam. + Hiệp ước chứng tỏ thái độ nhu nhược của triều đình, bước đầu nhà Nguyễn đã đầu hàng thực dân Pháp.. III.CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA NHÂN DÂN NAM KÌ SAU HIỆP Hoạt động 1: Cá nhân và tập thể - GV: Sau khi hiệp ước Nhâm Tuất được kí kết, ƯỚC 1862 triều đình nhà Nguyễn có những hành động gì? Học sinh suy nghĩ trả lời. - Gv nhận xét, chốt ý. 1.Nhân dân ba tỉnh miền Đông Gv giảng: tiếp tục kháng chiến sau Hiệp ước Với việc hiệp ước Nhâm Tuất được kí kết với 1862 những điều khoản nặng nề như triều đình đã ra lệnh bãi binh, tạo cơ sở cho địch đàn áp nghĩa quân. Tuy - Bất chấp sự ngăn cấm của triều. Lop11.com.
<span class='text_page_counter'>(13)</span> vậy, nhân dân ta vẫn tiếp tục đứng lên chống Pháp bằng nhiều hình thức: các sĩ phu yêu nước dùng văn thơ cổ vũ cho phong trào yêu nước; các phong trào văn sĩ, văn thân trước sự xâm lược của thực dân Pháp, mỗi người đều đứng lên đấu tranh bằng năng lực của mình. Ví như cụ Nguyễn Đình Chiểu tuy mù nhưng ông có một lòng yêu nước sâu sắc, bằng ngòi bút của mình ông đã viết nhiều bài nhằm lên án tội ác của thực dân Pháp như chạy Tây, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc,… _ Sau khi ba tỉnh miền Đông bị triều đình cắt cho Pháp, nhân dân tiếp tục chống Pháp tiêu biểu là phong trào “tị địa”. _ Gv giảng thêm về phong trào “tị địa”: có nghĩa là bỏ đi nơi khác sống, không chịu cộng tác với Pháp. Từ đó,gây cho Pháp nhiều khó khăn trong việc tổ chức và quản lý những vùng đất mà chúng chiếm được. Ngoài phong trào tị địa, phong trào đấu tranh của các sĩ phu yêu nước còn có các cuộc đấu tranh vũ trang của nhân dân. Trong đó, tiêu biểu là cuộc kháng chiến của Trương Định. + Trương Định là con trai của Trương Cầm (võ quan cấp thấp của triều đình Huế) quê ở Quảng Ngãi. Vì có công chiêu mộ dân khai hoang lập ấp nên ông được triều đình cử làm Quản Cơ đồn điền. Khi Pháp chiếm thành Gia Định, ông chiêu mộ nông dân đồn điền theo triều đình chống Pháp. Khi đại đồn Chí Hòa thất thủ ở về Gò Công chiêu mộ thêm nghĩa quân đứng lên lập căn cứ quyết tâm chống Pháp lâu dài. Địa bàn hoạt động của nghĩa quân là cả một vùng đất rộng từ ven sông Soài Rạp cho đến Gò Công, Mỹ Tho, Tân An và sát cạnh Gia Định – Chợ Lớn, nhưng căn cứ chính là Gò Công. Ở những nơi hiểm yếu đều có đặt đồn lũy canh giữ để chặn đường tiến công của giặc. Nghĩa quân ngày đêm luyện tập, mua sắm vũ khí, tích trữ lương thực, chuẩn bị chiến đấu lâu dài. Hoạt động của nghĩa quân làm cho Pháp rất lo ngại. Năm 1862, do việc nghị hòa, triều đình buộc ông phải giải binh, và điều ông về làm lãnh binh An Giang. Nhưng ông đã khước từ lệnh của triều dình, được sự ủng hộ của nhân dân, ông đã ở lại lãnh đạo nhân dân chống Pháp, phất cao là cờ “Bình Tây đại. Lop11.com. đình phong trào đấu tranh tiếp tục dâng cao .. - Phong trào “tị địa” gây cho địch nhiều khó khăn. - Bên cạnh mục tiêu chống đế quốc, phong trào đã thể hiện rõ mục tiêu chống phong kiến đầu hàng.. * Khởi nghĩa Trương Định: + Sau hiệp ước Nhâm Tuất Triều đình yêu cầu bãi binh, nhưng Trương Định chống lệnh triều đình, quyết tâm ở lại chống Pháp.. + 1862, phất cao lá cờ “Bình Tây đại nguyên soái” chống địch..
<span class='text_page_counter'>(14)</span> nguyên soái”. Chính hoạt động của nghĩa quân càng cổ vũ thêm tinh thần yêu nước của nhân dân. + Phân tích và tường thuật hình 51/sgk: đây là quan cảnh buổi phong soái cho Trương Định. Buổi lễ diễn ra ở một vùng nông thôn ở Nam Kỳ. Khi triều đình điều ông về An Giang, nhân dân đã mời ông ở lại và suy tôn ông lên làm Bình Tây đại nguyên soái, với sự chứng kiến của đông đảo nhân dân, họ rất phấn khởi và hào hùng. Một bên là dân địa phương, các bô lão và những người già để lãnh đạo nhân dân đứng lên chống giặc. Đối lập với dân địa phương là vua quan lại tỏ ra ngạc nhiên và hoảng sợ, ngựa quay đầu lại để chuẩn bị lên đường, quân lính thí nhớt nhát. Họ làm lễ đài bằng gỗ, đặt hương án ở trên, phía sau những bức trướng có ghi dòng chữ “Bình Tây đại nguyên soái”. Trong buổi lễ, Trương Định giơ tay đón nhận thanh kiếm do một cụ già có uy tín, đại diện cho nhân dân trao tặng và suy tôn ông làm Bình Tây đại nguyên đại. * Gv hướng dẫn học sinh tìm hiểu lược đồ cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam kỳ (Hình 52/113sgk): Sau khi biết được căn cứ của phong trào là Tân Hòa. Ngày 28/2/1863, Pháp cho quân tấn công Tân Hòa (Gò Công), nghĩa quân anh dũng chiến đầu sau đó rút lui bảo toàn lực lượng, về căn cứ mới ở Tân Phước. Nhờ có tay sia dẫn đường, Pháp đã tìm ra căn cứ mới của Trương Định. Ngày 20/8/1864, Pháp bất ngờ tấn công vào căn cứ Tân Phước. Nghĩa quân chống trả quyết liệt, Trương Định trúng đạn gãy xương sống, không muốn rơi vào tay giặt nên ông rút gươm tự sát để bảo toàn khí tiết. - Gv đặt câu hỏi: Em có suy nghĩ gì về sự hi sinh của Trương Định? Học sinh suy nghĩ, trả lời. - Gv nhận xét, chốt ý Sự hi sinh anh dũng của Trương Định đã để lại niềm tiếc thương vô hạn trong nhân dân, tăng thêm lòng yêu nước và căm thù giặc. Cuộc khởi nghĩa của ông là một nguồn cổ vũ to lớn đối với phong trào yêu nước vừa là sự cảnh tỉnh sâu sắc đối với bọn thực dân bán nước.. Lop11.com. + 28/2/1863, Pháp tấn công căn cứ Tân Hòa nghĩa quân chiến đầu dũng cảm, sau 3 ngày phải rút lui để bảo toàn lực lượng.. + 20/8/1864, Pháp tấn công vào căn cứ Tân Phước, Trương Định hi sinh. + Kết quả: cuộc khởi nghĩa thất bại + Ý nghĩa: Là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu cho tinh thần quật khởi của nhân dân Nam Kỳ, hình thành trận tuyến của nhân dân, bước đầu thực hiện nhiệm vụ chống Pháp và chống.
<span class='text_page_counter'>(15)</span> phong kiến đầu hàng. Sau khi chiếm ba tỉnh miền Đông, Pháp vẫn không dừng lại mà chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. 2. Thực dân Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ - Sau khi chiến được Cam-Pu-Chia, lấy cớ triều đình Huế vi phạm hiệp ước 1862 Pháp yêu cầu giao 3 tình Trước tình hình Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ, nhân miền Tây Nam Kì cho Pháp dân ba tỉnh miền tây chống Pháp. - Ngày 20/6/1867, Pháp dàn trận trước thành Vĩnh Long, ép Phan Thanh Giản phải nộp thành. - Từ ngày 20 đến 24/6/1867, Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kì - Gv hướng dẫn học sinh tìm hiểu lược đồ Cuộc (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) kháng chiến chống Pháp của nhân dân Nam Kỳ không tốn 1 viên . (1858-1873). 3. Nhân dân ba tỉnh miền Tây chống Pháp Học sinh quan sát chú ý ghi chép. Dựa trên lược đồ giáo viên xác định những trung tâm khởi nghĩa chông Pháp ở ba tỉnh miền Tây. - Sau khi mất 3 tỉnh miền Tây Nam + Tiêu biểu nhất là Phan Tôn – Phan Liêm với trung Kì phong trào kháng chiến của nhân tâm Ba Tri (Bến Tre), hoạt động mạnh trong một dân ta dâng cao. vùng rộng lớn dọc sông Cửu Long, qua các tỉnh Vĩnh - Phong trào “tị địa” vượt ra biển Long, Sa Đéc, Trà Vinh trong hai năm 1867-1868. Bình Thuận (Nam Trung Bộ) + Đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Nhân dân miền Tây kháng chiến anh Trực - người anh hùng nông dân với chiến công Nhật dũng tiêu biểu: Tảo (10/12/1861), có căn cứ ở Hòn Chông (Hà Tiên), đã vượt biển đổ bộ, chớp nhoáng tiêu diệt đồn + Khởi nghĩa của Trương Quyền Kiên Giang của địch (6-1867). + Anh em Phan Tôn, Phan Liêm ở + Ngoài ra còn có cuộc khởi nghĩa Long Trì (Mỹ Bến Tre. + Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực, Tho) năm 1875 của Nguyễn Hữu Huân. Sau đó, Gv hướng dẫn học sinh nhận xét, phong Đỗ Thừa Long ở Rạch Giá, Cà Mau. trào chống Pháp của nhân dân miền Nam dấy lên từ + Nguyễn Hữu Huân tiếp tục chống miền Đông, sau là các tỉnh toàn miền, làm cho quân Pháp ở Tân An, Mỹ Tho. địch hoảng sợ. Cuối cùng, do triều đình cố tình bỏ rơi, tìm cách ngăn cản, thậm chí tiếp tay cho Pháp đàn áp phong trào, các cuộc khởi nghĩa lần lượt thất bại. Tuy nhiên, phong trào chỉ tạm thời lắng xuống chứ không * Nhận xét: Phong trào diễn ra trong hoàn cảnh khó khăn nhưng rất hề bị dật tắt.. Lop11.com.
<span class='text_page_counter'>(16)</span> Đúng như lời Nguyễn Trung Trực đã khẳng khái quyết liệt, hình thức phong phú, các tuyên bố trước kẻ thù: “Bao giờ người Tây nhổ hết căn cứ được xây dựng khắp nơi cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”. nhưng cuối cùng thất bại do lực lượng chênh lệch.. IV. SƠ KẾT VÀ CỦNG CỐ a. Củng cố: Tình hình Việt Nam cuối thế kỉ XIX, bước vào giai đoạn khủng hoảng, suy yếu trầm trọng. Đồng thời, đứng trước âm mưu xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây mà cụ thể là Pháp. Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, quan quân triều đình từng bước đầu hàng, nhưng nhân dân cả nước lại cùng nhau kháng chiến chống Pháp, dù thất bại nhưng những cuộc khởi nghĩa đó có tác dụng cổ vũ thêm tinh thần yêu nước và ý chí kháng Pháp của dân ta. b. Dặn dò: học bài cũ và xem bài mới Lop11.com.
<span class='text_page_counter'>(17)</span>