BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ QUỲNH NHI
NGHIÊN CỨU IN VITRO
SỰ KHÍT KÍN VÙNG CHĨP RĂNG
GIỮA BA PHƯƠNG PHÁP TRÁM BÍT ỐNG TỦY
LUẬN VĂN THẠC SĨ RĂNG - HÀM - MẶT
Thành phố Hồ Chí Minh - 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ QUỲNH NHI
NGHIÊN CỨU IN VITRO
SỰ KHÍT KÍN VÙNG CHĨP RĂNG
GIỮA BA PHƯƠNG PHÁP TRÁM BÍT ỐNG TỦY
Chuyên ngành: RĂNG - HÀM - MẶT
Mã số: 8720501
LUẬN VĂN THẠC SĨ RĂNG - HÀM - MẶT
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. NGÔ THỊ QUỲNH LAN
2. PGS.TS. PHẠM VĂN KHOA
Thành phố Hồ Chí Minh - 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được cơng bố trong bất
kì luận văn nào khác.
Tác giả
Nguyễn Thị Quỳnh Nhi
MỤC LỤC
ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ VIỆT-ANH............................................................i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT................................................................ ii
DANH MỤC BẢNG......................................................................................... iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ.................................................................................... iv
DANH MỤC HÌNH............................................................................................v
MỞ ĐẦU............................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Vật liệu trám bít ống tủy...................................................................... 5
1.2. Các phương pháp trám bít ống tủy..................................................... 12
1.3. Các phương pháp đánh giá vi kẽ vùng chóp răng.............................. 15
1.4. Nghiên cứu vi kẽ vùng chóp răng trong và ngoài nước.....................21
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................... 26
2.2. Địa điểm nghiên cứu............................................................................27
2.3. Phương tiện nghiên cứu....................................................................... 27
2.4. Phương pháp nghiên cứu..................................................................... 29
2.5. Mô tả biến số........................................................................................40
2.6. Xử lý và phân tích số liệu.................................................................... 44
2.7. Vấn đề y đức trong nghiên cứu........................................................... 45
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ
3.1. Tỉ lệ phần trăm thấu quang của ống tủy sau khi trám bít trên phim
X quang hai chiều ngoài trong và gần xa ......................................... 46
3.2. Chiều dài phẩm nhuộm thâm nhập vào ống tủy sau trám bít............. 49
3.3. Thời gian trám bít ống tủy của ba phương pháp................................. 51
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
4.1. Mẫu và phương pháp chuẩn bị mẫu nghiên cứu................................. 52
4.2. Đánh giá độ khít kín của ống tủy sau trám bít thơng qua hình ảnh
X quang hai chiều thế.........................................................................58
4.3. Đánh giá độ khít kín của ống tủy sau trám bít thơng qua
chiều dài phẩm nhuộm thâm nhập vào ống tủy................................. 62
4.4. Thời gian trám bít ống tủy...................................................................70
4.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu................................... 71
4.6. Hạn chế của nghiên cứu...................................................................... 72
4.7. Ý nghĩa và ứng dụng của đề tài...........................................................73
KẾT LUẬN......................................................................................................75
KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG NGHIÊN CỨU.............................. 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ VIỆT- ANH
TIẾNG VIỆT
TIẾNG ANH
Lèn dọc sóng liên tục
Continuous wave condensation
Lèn ngang nguội
Cold lateral condensation
Phương pháp trám bít một cơn
Mono cone obturation technique
Phương pháp dịch chuyển chất lỏng
Fluid filtration method
Phương pháp thâm nhập phẩm nhuộm
Dye penetration method
Phương pháp loại bỏ phẩm nhuộm
Dye extraction method
Phương pháp điện hóa học
Electrochemical method
Trâm dũa K
K-file
Trâm quay NiTi
Rotary Ni-Ti instrument
Vi kẽ vùng chóp
Apical microleakage
Xi măng trám bít
Sealer
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐLC
: độ lệch chuẩn
HD
: hàm dưới
HT
: hàm trên
GX
: gần xa
mm
: milimet
NC
: nghiên cứu
NT
: ngoài trong
NiTi
: Nickel - Titanium
RCN
: răng cối nhỏ
RCL
: răng cối lớn
SSOT
: sửa soạn ống tủy
TBOT
: trám bít ống tủy
ZOE
: oxyt kẽm- eugenol
Micro-CT
: micro computed tomography
DANH MỤC BẢNG
STT
BẢNG
NỘI DUNG
TRANG
1
1.1
Tóm tắt các nghiên cứu trong và ngồi nước về
21
vi kẽ giữa ba phương pháp trám bít ống tủy lèn
dọc sóng liên tục, lèn ngang nguội và một côn.
2
3.2
Tỉ lệ phần trăm (phần trăm) thấu quang trên
48
phim tia X chiều ngoài trong và gần xa của ba
phương pháp trám bít ống tủy.
3
3.3
Chiều dài phẩm nhuộm trung bình của ba
50
phương pháp trám bít ống tủy.
4
3.4
Thời gian trám bít ống tủy của ba phương pháp.
51
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT BIỂU ĐỒ
1
4.1
NỘI DUNG
TRANG
Biểu đồ tỉ lệ phần trăm thấu quang trong vùng
60
ống tủy được trám bít bằng ba phương pháp
khảo sát trên phim tia X theo chiều ngoài
trong của răng.
2
4.2
Biểu đồ tỉ lệ phần trăm thấu quang trong vùng
60
ống tủy được trám bít bằng ba phương pháp
khảo sát trên phim tia X theo chiều gần xa của
răng.
3
4.3
Biểu đồ chiều dài phẩm nhuộm thâm nhập
vào ống tủy được trám bít bằng ba phương
pháp.
67
DANH MỤC HÌNH
STT
HÌNH
NỘI DUNG
TRANG
1
2.1
Hình ảnh X quang răng sau trám bít ống tủy
36
và hình ảnh tương ứng được xử lý bằng phần
mềm ImageJ vùng ống tủy cần khảo sát theo
chiều ngoài trong và gần xa.
2
2.2
Răng sau khi được làm trong có thể thấy rõ
38
phẩm nhuộm thâm nhập vào ống tủy sau trám
bít.
3
2.3
Răng trong suốt đựng trong lọ thủy tinh đậy
38
kín chứa methyl salicylate có nhãn ghi mã số
mỗi răng.
4
2.4
Vùng chóp răng được quan sát dưới kính hiển
39
vi soi nổi độ phóng đại 16 lần.
5
2.5
Kính hiển vi soi nổi có kết nối với máy ảnh
40
kỹ thuật số sử dụng trong nghiên cứu.
6
2.6
Mở hình ảnh bằng phần mềm ImageJ chế độ
8 bit.
41
7
2.7
Cài đặt thông số về chiều dài và điểm ảnh
41
8
2.8
Xác định vị trí cách chóp 6 mm
41
9
2.9
Chuyển dạng màu để khảo sát độ cản quang
42
của ống tủy
10
2.10
Ống tủy sau khi được chuyển màu
42
11
2.11
Xác định ống tủy và các vùng thấu quang cần
42
khảo sát, đo kích thước. Kết quả đọc ở cột
“area” thu được diện tích các vùng cần đo.
Sau đó lấy tổng vùng thấu quang chia cho
tổng vùng ống tủy khảo sát ghi nhận được kết
quả tỉ lệ phần trăm thấu quang trên phim tia X
12
3.12
Hình ảnh X quang răng sau trám bít ống tủy
47
theo chiều ngồi trong và gần xa, ống tủy
được trám bít có độ cản quang đồng nhất của
khối vật liệu và khơng có thấu quang giữa
khối vật liệu trám bít và mơ răng.
13
3.13
Hình ảnh X quang răng sau trám bít ống tủy
theo chiều ngồi trong: độ cản quang đồng
nhất trong khối vật liệu trám bít ống tủy, và X
quang chiều gần xa: độ cản quang xen lẫn
thấu quang trong ống tủy sau trám bít.
47
i
14
3.14
Hình ảnh chóp răng có và khơng có phẩm
49
nhuộm thâm nhập vào ống tủy.
15
4.15
Mẫu răng được trám bít ống tủy bằng phương
pháp lèn dọc sóng liên tục quan sát dưới KHV
hình ảnh cơn gutta-percha nóng chảy vào các
ống tủy phụ.
66
MỞ ĐẦU
Điều trị nội nha là điều trị nha khoa nhằm loại bỏ vi khuẩn từ ống tủy đã
bị nhiễm khuẩn, ngăn ngừa sự tái nhiễm khuẩn vào ống tủy, mục đích bảo tồn
răng tự nhiên. Q trình điều trị nội nha gồm nhiều giai đoạn, bắt đầu từ việc
mở lối vào ống tủy, sau đó làm sạch hệ thống ống tủy bị viêm hoặc nhiễm
khuẩn, cuối cùng tiến hành trám bít ống tủy. Do đó, sự thành cơng của một ca
điều trị nội nha đến từ nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm việc làm sạch hệ
thống ống tủy bằng phương pháp cơ học và hóa học với các dụng cụ và dung
dịch bơm rửa ống tủy phù hợp; cho đến việc lựa chọn phương pháp và vật
liệu trám bít ống tủy để ngăn chặn sự tái nhiễm của vi khuẩn. Mục tiêu cuối
cùng của điều trị nội nha là sử dụng các vật liệu không độc hại để trám bít hệ
thống ống tủy kín hồn tồn theo ba chiều trong không gian để ngăn các vi
khuẩn di chuyển từ môi trường miệng và mô nha chu vào ống tủy qua lỗ chóp
chân răng gây tái nhiễm khuẩn ống tủy sau trám bít [71]. Ống tủy sau khi
được tạo dạng và bơm rửa làm sạch các chất bẩn, không cịn triệu chứng
viêm nhiễm sẽ được lau khơ và trám kín theo nhiều phương pháp và vật liệu
trám bít khác nhau.
Nhiều phương pháp trám bít ống tủy (TBOT) được các nhà lâm sàng áp
dụng tùy thuộc vào kinh nghiệm, thói quen và điều kiện kinh tế, có thể kể đến
một số kỹ thuật như lèn ngang nguội và nhiệt, lèn dọc nguội và nhiệt, trám bít
ống tủy bằng một cơn… Trám bít ống tủy bằng phương pháp lèn ngang nguội
là một kỹ thuật lâu đời nhưng hiện nay vẫn còn được sử dụng phổ biến vì tính
đơn giản và hiệu quả trên lâm sàng. Tuy nhiên phương pháp lèn ngang nguội
cần khá nhiều thời gian làm việc [14], không đồng nhất khối vật liệu trám bít
và giữa vật liệu với mô răng, và nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng lực trong
động tác lèn ngang có liên quan đến sự nứt dọc chân răng [19], [58]. Thuộc
nhóm sử dụng cơn nguội để trám bít ống tủy, ngày nay kỹ thuật trám bít ống
tủy bằng một cơn được dùng khá phổ biến vì đảm bảo được độ khít kín của
ống tủy nhưng khơng tốn quá nhiều thời gian làm việc như lèn ngang nguội,
đồng thời giảm lực tác động lên chân răng, hạn chế nứt gãy [68]. Sự rút ngắn
thời gian làm việc mang lại nhiều lợi ích đến bác sĩ và bệnh nhân, đem đến
một tâm trạng thoải mái khi điều trị nhưng vẫn đạt năng suất cao, đặc biệt
trong việc tạo dạng ống tủy chỉ với dụng cụ quay một trâm, thời gian sửa
soạn càng được rút ngắn một cách hiệu quả hơn. Q trình trám bít ống tủy
cũng trở nên đơn giản hơn với côn gutta-percha tương ứng với trâm sử dụng.
Hiện nay, phương pháp trám bít ống tủy có sử dụng nhiệt ngày càng phổ
biến và được sử dụng nhiều hơn trên lâm sàng do có ưu điểm là có thể trám
bít các ống tủy phụ một cách hiệu quả. Tuy nhiên khuyết điểm đáng chú ý
của phương pháp này là vật liệu trám bít có thể tràn ra mơ quanh chóp gây
viêm và nhiệt tỏa ra khi lèn có thể tác động đến mơ nha chu [22], [51]. Có
nhiều phương pháp trám bít sử dụng nhiệt khác nhau, tuy nhiên trong nghiên
cứu này, chúng tôi quan tâm đến kỹ thuật lèn dọc sóng liên tục, là kỹ thuật lai
giữa phương pháp lèn nhiệt và lèn ngang nguội [51].
Ngoài phương pháp trám bít ống tủy, điều quan trọng để đảm bảo một
ống tủy khít kín trong khơng gian ba chiều, khơng thể khơng nhắc đến vai trị
của xi măng trám bít. Cơn gutta-percha khơng tự dính với ngà chân răng, mà
cần có xi măng để gắn dính cơn tốt hơn vào ống tủy đã sửa soạn cũng như
liên kết các côn gutta-percha với nhau trong các trường hợp dùng cơn chính
và nhiều cơn phụ rời rạc. Lựa chọn loại xi măng trám bít có tính chất thích
hợp cũng rất quan trọng, góp phần vào thành cơng của một ca điều trị nội nha.
Có nhiều loại xi măng khác nhau, khơng chỉ đơn thuần là gắn dính mà cịn có
bổ sung thêm các hoạt chất kháng sinh, kháng viêm để thúc đẩy quá trình
lành thương và diệt khuẩn trong nội nha. Loại xi măng thường được sử dụng
trong nghiên cứu nội nha là loại xi măng có chất căn bản nhựa, được nghiên
cứu là có mức gây vi kẽ thấp và độ phân rã ít sau khi trám bít ống tủy [77],
[86]. Vì vậy trong nghiên cứu này, loại xi măng trám bít ống tủy chúng tơi sử
dụng là xi măng có chất căn bản là nhựa.
Mặc dù có nhiều kỹ thuật và xi măng trám bít ống tủy khác nhau, nhưng
vẫn khơng thể loại bỏ hồn tồn vi kẽ- con đường cho vi khuẩn xâm nhập gây
tái nhiễm ống tủy và là một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại trong
nội nha. Chính vì vậy, trên thế giới nhiều nghiên cứu vi kẽ vùng chóp đã
được thực hiên để đánh giá hiệu quả trám bít của các phương pháp và các loại
xi măng, đặc biệt đối với các kỹ thuật và vật liệu mới. Tại Việt Nam, nghiên
cứu của Trần Thị Anh Thư năm 2011 [3] đánh giá vi kẽ vùng chóp giữa hai
phương pháp lèn ngang và phương pháp một côn với côn thuộc hệ thống
Protaper trên răng cối nhỏ hàm dưới. Nghiên cứu chỉ ra sự khác nhau khơng
có ý nghĩa thống kê về vi kẽ giữa hai kỹ thuật này. Tuy nhiên, hiện nay các
phương pháp trám bít ống tủy ngày càng hiện đại hơn nhưng chưa có nghiên
cứu nào tại Việt Nam so sánh về phương pháp lèn dọc sóng liên tục, lèn
ngang nguội và trám bít một cơn để các nhà lâm sàng có lựa chọn phù hợp
cho việc điều trị nội nha. Với mong muốn làm sáng tỏ thêm vấn đề này,
chúng tôi thực hiện nghiên cứu với các mục tiêu sau:
MỤC TIÊU TỔNG QT
So sánh mức độ khít kín vùng chóp răng giữa ba phương pháp trám bít
ống tủy: lèn dọc sóng liên tục, lèn ngang nguội và một côn với xi măng trám
bít có chất căn bản nhựa trên đối tượng răng cối nhỏ hàm dưới một ống tủy.
MỤC TIÊU CHUYÊN BIỆT
1. So sánh tỉ lệ phần trăm độ thấu quang của ống tủy sau trám bít trên
phim tia X hai chiều thế: chiều ngoài trong và gần xa thân răng của ba
phương pháp lèn dọc sóng liên tục, lèn ngang nguội, một côn.
2. So sánh chiều dài phẩm nhuộm thâm nhập vào ống tủy qua vùng chóp
chân răng của ba phương pháp lèn dọc sóng liên tục, lèn ngang nguội và một
côn.
3. So sánh thời gian làm việc của ba phương pháp trám bít ống tủy: lèn
dọc sóng liên tục, lèn ngang nguội và một cơn.
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 VẬT LIỆU TRÁM BÍT ỐNG TỦY
Trám bít ống tủy là một bước quan trọng khi kết thúc quá trình điều trị và
quyết định sự thành công của việc nội nha. Ống tủy sau khi được sửa soạn và
khơng cịn triệu chứng sẽ được trám bít bằng các vật liệu phù hợp để đảm bảo
tính khít kín theo khơng gian ba chiều, ngăn khơng cho các vi khuẩn xâm
nhiễm từ môi trường miệng và từ vùng mơ nha chu vào ống tủy. Vật liệu
trám bít ống tủy gồm vật liệu đặc và bán đặc kết hợp với xi măng trám bít
nhằm lấp đầy khoảng trống trong ống tủy chính và các ống tủy phụ ở những
răng có hệ thống ống tủy phức tạp.
Lịch sử của vật liệu trám bít ống tủy trải qua nhiều giai đoạn với các
thành phần khác nhau. Theo nhiều nghiên cứu cho đến nay [13], [38], [63],
[73], vật liệu trám bít ống tủy lý tưởng cần đáp ứng được các đặc tính sau:
Về phương diện đặc tính kỹ thuật, vật liệu trám bít ống tủy phải đảm
bảo ổn định về mặt kích thước, khơng co; khơng tan trong dịch mơ, phản
ứng đông cứng không bị biến đổi trong môi trường ẩm; dính tốt, khít sát
với mơ ngà hoặc các vật liệu phối hợp; không bị rỗ xốp hay hấp thu nước
tạo môi trường cho vi khuẩn phát triển; không làm đổi màu răng.
Về đặc tính sinh học, vật liệu trám bít ống tủy dùng trên cơ thể người
nên phải đảm bảo khơng được gây độc tính tồn thân, khơng gây dị ứng
cho người bệnh và nhân viên y tế; không gây kích thích mơ tại chỗ; có
tính vơ khuẩn, kháng khuẩn; kích thích mơ quanh chóp lành thương.
Về đặc tính sử dụng, vật liệu trám bít ống tủy cần có tính cản quang
để khảo sát rõ trên phim tia X; dễ sử dụng và lấy ra khi cần.
Phân loại vật liệu trám bít
Vật liệu bán rắn: Gutta-percha, Resilon
Vật liệu trám bít cứng rắn hoặc có lõi: Cơn bạc, cơn có lõi vàng,
thép khơng gỉ, titanium và irridio-platinum
Xi măng hoặc bột nhão: Hydron, MTA, Calcium Phosphate, Gutta
Flow
Trải qua các loại vật liệu trám bít khác nhau, côn gutta-percha là vật liệu
đáp ứng được hầu hết các tính chất lý tưởng. Vì vậy hiện nay cơn
gutta-percha là loại vật liệu trám bít ống tủy phổ biến nhất. Tuy nhiên
gutta-percha khơng có đặc tính dính với mơ ngà nên cần sử dụng chung với
xi măng trám bít để tạo sự liên kết giữa các cây côn và giữa cơn với mơ răng,
đảm bảo độ khít kín tối đa trong q trình trám bít ống tủy.
1.1.1. Cơn gutta-percha
Gutta-percha được hình thành từ 2 từ “getah”- có nghĩa là nướu và
“pertja”- tên một loại cây theo tiếng Malay do được chiết xuất từ một số cây
nhiệt đới ở quần đảo Malaysia và Đông Nam Á. Gutta-percha được dùng
trong nha khoa vào những năm cuối thế kỉ XIX, là trans-isomer của
polyisoprene và chứa gần 60% cấu trúc tinh thể [13].
Về mặt hóa học, gutta-percha gồm 2 dạng là alpha và beta. Dạng alpha tự
nhiên, có tính mềm, dễ uốn, hơi dính được dùng trong các sản phẩm bơm
được do có tính chảy tốt. Dạng beta được dùng để chế tạo cơn trám bít ống
tủy.
Gutta-percha được trộn chung với các chất khác để tạo ra vật liệu trám bít
ống tủy. Theo Friedmann và cs, thành phần côn gutta-percha nha khoa chứa
gutta-percha (18-22%), oxit kẽm (59-76%), sáp/ nhựa (1-4%), muối sulfate
của kim loại (1-18%) [8], do đó cơn tạo được hình ảnh cản quang trên phim
tia X. Tỉ lệ các chất này thay đổi tùy theo nhà sản xuất và thêm một số thành
phần khác nhằm tạo ra cơn có độ cứng, độ giịn và độ bền kéo căng khác
nhau.
Có nhiều phân loại gutta-percha nhưng có thể đơn giản hóa và sắp xếp
vào 4 nhóm cơ bản sau [63]:
- Gutta-percha dạng chuẩn và không chuẩn. Dạng chuẩn khi cơn có độ
thn tương ứng với dụng cụ sửa soạn ống tủy bằng thép không gỉ
(2%) hoặc NiTi (4%, 6%), thường dùng làm cơn chính trong trám bít.
Dạng khơng chuẩn có độ thn lớn hơn so với cơn chuẩn, có đầu nhỏ
hơn phần thân, thường dùng làm cơn phụ trong phương pháp lèn
ngang.
- Gutta-percha có thể làm mềm, dẻo bằng nhiệt: phủ trên lõi cứng,
bơm vào ống tủy.
- Gutta-percha được làm mềm bằng dung mơi hóa học.
- Gutta-percha có thêm thuốc.
Hiện nay cơn gutta-percha được sử dụng phổ biến do có các đặc tính sau:
Đặc tính kỹ thuật: dễ uốn ở nhiệt độ phịng, thể tích khơng thay
đổi trong mơi trường miệng; có thể làm mềm, chảy côn bằng nhiệt hoặc
dung môi (chloroform, eucalyptol…) giúp côn chảy vào những ống tủy
phụ hoặc dễ hòa tan trong nội nha lại; khơng có tính dính với mơ ngà nên
phải dùng kèm với xi măng trám bít khi trám bít ống tủy.
Đặc tính sinh học: ít tính độc, ít kích thích mô, ít gây dị ứng nhất.
Đặc tính sử dụng: có độ cản quang trên phim tia X giúp đánh giá
độ khít kín khi trám bít ống tủy dễ dàng hơn, có thể lấy cơn ra khỏi ống
tủy bằng dụng cụ cơ học hoặc dung môi.
Với các đặc tính nêu trên, gutta-percha có nhiều ưu điểm để trở thành vật
liệu trám bít phổ biến (so với cơn bạc hay cơn resilon): có thể làm mềm, lèn,
nhồi giúp cho cơn khít sát với thành ống tủy hơn; kích thước ổn định, độ co
trong mơi trường miệng thấp hay khơng có; tương hợp sinh học với mơ sống;
kháng khuẩn; không làm đổi màu răng; cản quang; dễ sử dụng; chi phí thấp.
Tuy nhiên gutta-percha có một số khuyết điểm đó là có thể bị kéo dài ra
nên có thể gây quá chóp khi động tác nhồi quá mạnh; cơn thiếu độ cứng chắc
nên khi trám bít phải từ côn 25 trở lên mới đủ độ cứng chắc cho ống tủy;
khơng tự dính vào ngà nên cần có xi măng trám bít.
1.1.2. Xi măng trám bít
Thành phần lỏng trong trám bít ống tủy, có chức năng nối dính các côn
với nhau và với thành ống tủy; giảm khoảng trống giữa các côn và giữa côn
với mô răng; tác dụng làm trơn dễ đặt côn; kháng viêm, kháng khuẩn; len vào
các ống tủy phụ làm tăng độ khít kín khi trám bít ống tủy.
Tuy nhiên, do tính chảy lỏng của xi măng nên khó kiểm sốt được xi
măng dư tràn vào mơ quanh chóp khi đặt q nhiều xi măng trong ống tủy
hoặc đưa xi măng vào bằng dụng cụ quay. Chính phản ứng hóa học trong q
trình đơng cứng của xi măng làm cho nó phóng thích chất độc, giảm khả
năng tương hợp sinh học với mô sống. Độc tính này giảm đáng kể khi xi
măng đơng cứng hoàn toàn. Hầu hết các loại xi măng đều bị tiêu khi tiếp xúc
với dịch mơ, điều này góp phần tạo nên vi kẽ sau khi trám bít ống tủy lâu
ngày. Vì vậy, thể tích xi măng trong ống tủy phải là tối thiểu và khơng được
trám bít ống tủy hồn tồn bằng xi măng trám bít.
Dựa vào thành phần chất căn bản, xi măng trám bít ống tủy có thể được
chia thành các nhóm [76]:
- Xi măng có chất căn bản là oxyt kẽm- eugenol (ZOE).
- Xi măng có chất căn bản là canxi hydroxyt.
- Xi măng có chất căn bản là glass-ionomer.
- Xi măng có chất căn bản là nhựa.
- Xi măng có chất căn bản là canxi silicat.
- Xi măng có chất căn bản là silicon.
1.1.2.1. Xi măng oxyt kẽm- eugenol (ZOE)
Loại này được sử dụng rộng rãi và đáp ứng được nhiều yêu cầu của xi
măng trám bít lý tưởng. Thành phần gồm bột ZnO (42%), phần lỏng eugenol
và các chất khác.
Xi măng này có tính kháng khuẩn, dễ sử dụng, dễ làm sạch, có tính cản
quang và chi phí thấp nên thường được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, khi đông
cứng xi măng gây độc cho tế bào và độc tính tạo ra trong q trình đơng cứng
kéo dài hơn các loại xi măng khác nên gây nhạy cảm cao. Hơn nữa, khi đông
cứng xi măng ZOE tạo thành vật liệu tương đối mềm, xốp, dễ phân ra trong
dịch mơ nên khơng đảm bảo được tính khít kín của ống tủy sau khi trám bít
một thời gian dài. Hiện nay loại xi măng có chất căn bản là ZOE còn được
thêm một số thuốc kháng viêm, kháng khuẩn vào thành phần để ngăn chặn
phản ứng đau có thể có sau điều trị nội nha. Tuy nhiên các hoạt chất này ngăn
chặn quá trình viêm tự nhiên của cơ thể nên làm chậm q trình lành thương
của mơ quanh chóp và có khả năng tạo điều kiện cho vi khuẩn tăng sinh.
Chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể chứng minh khả năng lành thương của tổn
thương quanh chóp khi trám bít ống tủy bằng các loại xi măng ZOE có thêm
thuốc.
Có 2 hình thức của xi măng ZOE: loại bột- nước, ví dụ Roth Root Canal
Cement (Roth International Ltd, Chicago, USA) hay 2 ống bột nhão, ví dụ
như Tubliseal (Kerr, Orange, USA).
1.1.2.2. Xi măng có chất căn bản canxi hydroxyt
Xi măng chứa canxi hydroxyt duy trì sự sống của mơ tủy cịn lại, kích
thích q trình lành thương cũng như tạo mơ cứng ở lỗ chóp. Xi măng này
phóng thích Ca2+ và ion OH- có tác dụng điều trị. Tuy nhiên sự phóng thích
này làm mất thể tích của vật liệu và làm giảm tính khít kín của ống tủy sau
khi trám bít. Hơn nữa, loại xi măng này tuy có tính tương hợp sinh học cao
nhưng khả năng kháng khuẩn thấp hơn xi măng ZOE.
Một số ví dụ về nhóm xi măng có chất căn bản là canxi hydroxyt:
Sealapex (SybroEndo, Orange, USA), Apexit (Ivoclar Vivadent, Schaan,
Liechtenstein).
1.1.2.3. Xi măng có chất căn bản là glass ionomer
Xi măng glass ionomer dán vào ngà răng nên trám kín phần chóp và tính
tương hợp sinh học cao. Tuy nhiên, xi măng này có thể hịa tan trong dịch mơ
và ít hoạt chất kháng khuẩn hơn xi măng có chất căn bản là oxit kẽmeugenol và canxi hydroxit. Ngoài ra, thời gian đông ngắn, độ cứng cao nên
khiến cho việc điều trị lại và đặt chốt trong ống tủy gặp nhiều khó khăn. Do
đó loại xi măng này khơng được sử dụng phổ biến. Ketac-Endo (3M United
Kingdom plc, Bracknell, UK) là ví dụ cho dịng xi măng có glass-ionomer.
1.1.2.4. Xi măng có chất căn bản là nhựa
Xi măng có thành phần nhựa đầu tiên là AH26 (Dentsply Sirona,
Ballaigues, Switzerland) gồm chất căn bản là nhựa epoxy đông cứng chậm
khi trộn với chất hoạt hóa, có thành phần gồm bột và chất lỏng.
AH26 có tính dính cao, tính chảy tốt, kháng khuẩn, co nhẹ khi đơng cứng,
độ hịa tan thấp, khả năng trám kín rất tốt, nhưng gây phản ứng viêm lúc ban
đầu. Phản ứng này giảm dần sau vài tuần và xi măng dung nạp tốt với mơ
quanh chóp. Thời gian đơng cứng của xi măng là 36 tới 48 giờ ở nhiệt độ cơ
thể và 5-7 ngày ở nhiệt độ phòng. Xi măng có độc tính cao lúc mới trộn
nhưng giảm dần trong q trình đơng cứng, sau 24 giờ nó có độc tính thấp
nhất trong các loại xi măng trám bít ống tủy.
Hiện nay có thêm xi măng AH plus có tính chất vật lý tương tự AH26
nhưng tính tương hợp sinh học tốt hơn do thành phần không chứa
formaldehyde, dễ trộn hơn, ít hịa tan, tính chảy và tính cản quang tốt hơn,
thời gian đông nhanh hơn AH26 (khoảng 8 giờ).
Xi măng có chất căn bản là nhựa sau khi đơng rất cứng, ít hịa tan bởi
dung mơi hữu cơ nên đảm bảo được tính khít kín của ống tủy sau trám bít
thời gian dài. Ngồi ra, xi măng nhóm AH cịn dễ sử dụng và có tính cản
quang cao. Tuy nhiên, do tính chất khó hịa tan nên xi măng dư ở vùng quanh
chóp khó bị phân hủy và gây phản ứng viêm, triệu chứng sẽ giảm và hết sau
trám bít vài tuần. Với đặc tính cứng, xi măng khó làm sạch và gây khó khăn
trong trường hợp điều trị nội nha lại.
1.1.2.5. Xi măng có chất căn bản là canxi silicat
Một số loại xi măng trám bít được sủ dụng q chóp để kích thích lành
thương ở mơ quanh chóp sau phẫu thuật nội nha, cũng như thực hiện q
trình tạo chóp và đóng chóp với những răng nội nha có lỗ chóp mở rộng. Xi
măng có chất căn bàn là canxi silicat với thành phần cao chất căn bản là loại
xi măng được sử dụng vì có tính tương hợp sinh học cao. Một số ví dụ về loại
xi măng này có thể kể đến là iRoot SP (Innovative Bioceramix, Vancouver,
Canada), smartpaste bio (DRFP Ltd, Stanford, UK) và MTA Fillpex
(Angelus Soluỗừes Odontolúgicas, Londrina, Brazil) [52].
1.1.2.6. Xi mng cú chất căn bản là silicon
Sau khi đơng, xi măng có độ co thấp nên khả năng tạo vi kẽ thấp và có
tính tương hợp sinh học cao. Tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu để nêu lên
đầy đủ các ưu và nhược điểm của loại xi măng này [73]. Ví dụ cho nhóm xi
măng này là RoekoSeal (Coltene Whaledent, Altstätten, Switzerland) với
thành phần chất căn bản polydimethylsiloxane.
Sửa soạn xi măng
Xi măng có thể trộn trên kính hoặc giấy trộn. Có 2 phương pháp để thử độ
quánh đặc của xi măng:
1- Test chảy xuống (drop test): gom xi măng trên cây trộn và nhấc lên, xi
măng không được chảy trong 10-12 giây. Có thể dùng đầu trâm số 25 lấy một
lượng nhỏ xi măng và dốc thẳng đứng, xi măng khơng được chảy trong vịng
5-10 giây.
2- Test kéo dài (string-out test): gom xi măng trên cây trộn và nhấc nghiêng
từ từ, xi măng chảy dài ít nhất 2,5cm mà khơng bị đứt.
1.2. PHƯƠNG PHÁP TRÁM BÍT ỐNG TỦY
Có nhiều phương pháp trám bít khác nhau tùy theo kinh nghiệm và điều
kiện của nhà lâm sàng, có thể khái quát thành các phương pháp sau:
Trám bít ống tủy bằng gutta-percha nguội: kỹ thuật trám một côn, kỹ
thuật lèn ngang.
Trám bít ống tủy bằng cơn gutta-percha được làm mềm bằng nhiệt:
Côn gutta-percha được làm mềm trong ống tủy:
a. Lèn dọc: lèn tay, lèn máy.
b. Lèn ngang, dọc kết hợp.
c. Lèn nhiệt cơ học: cây lèn máy, kỹ thuật lai lèn ngang và lèn
máy.
Côn gutta-percha được làm mềm ngoài ống tủy:
a. Đựng trong ống bơm.
b. Gutta-percha mang trên những lõi cứng.
Trám bít ống tủy bằng côn gutta-percha được làm mềm bằng dung
môi: chloroform, halothane, eucalyptol.
Mỗi phương pháp trám bít ống tủy đều có những ưu và nhược điểm riêng.
Tuy nhiên trong nghiên cứu này, chúng tơi sẽ giới thiệu 3 phương pháp trám
bít ống tủy sử dụng tương đối phổ biến trên lâm sàng hiện nay tại Việt Nam,
đó là kỹ thuật lèn dọc sóng liên tục; kỹ thuật lèn ngang nguội và kỹ thuật
trám bít ống tủy bằng một cơn.
1.2.1. Trám bít ống tủy bằng phương pháp lèn dọc sóng liên tục
Kỹ thuật trám bít ống tủy bằng lèn dọc nhiệt được giới thiệu lần đầu tiên
bởi Schilder vào năm 1967 [72]. Phương pháp trám bít ống tủy này mang lại
hiệu quả cao trong việc bít kín các ống tủy phụ cũng như các ống tủy phức
tạp có sự phân nhánh hay hợp nhánh. Có nhiều phương pháp lèn dọc nhiệt, có
thể dùng dụng cụ tay hoặc máy. Nhìn chung, phương pháp lèn dọc nhiệt sử
dụng côn gutta-percha nguội phù hợp với trâm sửa soạn, sau đó dùng dụng cụ
nhiệt làm nóng chảy gutta-percha trong ống tủy cho gutta-percha chảy vào
các ống tủy phụ, sau đó dùng cây nhồi tay nhồi dọc phần gutta-percha nóng
chảy. Tiếp tục thực hiện như vậy đến khi gutta-percha kín chặt ở miệng ống
tủy.
Phương pháp này được nghiên cứu có thời gian làm việc ít hơn trám bít
ống tủy bằng lèn ngang nguội. Tuy nhiên điều đáng lưu ý ở phương pháp này
là sự tác động của nhiệt dụng cụ lèn lên mô nha chu, đặc biệt ở các răng cối
do lớp ngà chân răng của nhóm răng này mỏng hơn nhóm răng cửa và răng
nanh [22]. Ngồi ra, tỉ lệ xi măng q chóp khi trám bít ống tủy bằng phương
pháp này cao hơn các phương pháp trám bít ống tủy khác [45]. Vì vậy, nhà
lâm sàng cần cẩn thận về thời gian để dụng cụ nhiệt làm nóng chảy
gutta-percha trong ống tủy và kỹ thuật sử dụng xi măng trám bít để khơng
gây ảnh hưởng mơ nha chu của răng sau trám bít ống tủy.