BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP HỌC KỲ
MÔN: TRIẾT HỌC MÁC LÊ - NIN
ĐỀ BÀI:07
“Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để lý giải về sự
lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam"
HỌ VÀ TÊN
MSSV
LỚP
:
:
:
Hà Nội, 2021
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................3
NỘI DUNG.......................................................................................................3
I. Khái niệm lý luận và thực tiễn....................................................................3
1.1. Thực tiễn:.............................................................................................3
1.2. Lý luận:................................................................................................3
II. Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn....................................4
2.1. Thực tiễn có vai trị quyết định đối với lý luận....................................4
2.2. Lý luận có tính độc lập tương đối và tác động tích cực trở lại thực
tiễn...............................................................................................................4
III. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn..................................4
IV. Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để lý giải về
sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.......................8
KẾT LUẬN.....................................................................................................12
2
MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh đất nước đang quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, việc
nghiên cứu và vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn vào
thực tiễn xã hội nước ta là một việc làm vơ cùng quan trọng và cần thiết. Vì
vậy em xin lựa chọn phân tích đề tài “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn để lý giải về sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam” làm đề tài cho bài tập lớn học kỳ của mình.
Do kiến thức và kinh nghiệm cịn nhiều hạn chế, bài làm khơng tránh
khỏi những thiếu sót, kính mong thầy (cơ) góp ý và chỉnh sửa.
Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I. Khái niệm lý luận và thực tiễn
1.1. Thực tiễn:
Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế
giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra
những tri thức về thế giới khách quan. Thực tiễn có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, thực tiễn là hình thức hoạt động đặc thù người. Khái niệm
thực tiễn đặc trưng cho hoạt động sống của xã hội loài người.
Thứ hai, thực tiễn là hoạt động người nhằm cải tạo tự nhiên và xã
hội.Đây là điểm khác biệt của thực tiễn so với hoạt động nhận thức.
Thứ ba, thực tiễn là hoạt động được chủ thể tiến hành để đạt tới mục
đích được đặt ra từ trước.
Thứ tư, thực tiễn mang tính chất lịch sử xã hội. Đó là những đặc điểm
chung của thực tiễn mà nhiều tác giả đã nhất trí.
1.2. Lý luận:
Theo nghĩa chung nhất, lý luận là sự khái quát hóa những kinh nghiệm
thực tiễn, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên, xã hội đã được tích lũy
trong suốt quá trình tồn tại của nhân loại.
3
Như vậy, lý luận là sản phẩm cao cấp của nhận thức, là tri thức về bản
chất, quy luật của hiện thực khách quan. Nhưng do là sản phẩm của nhận
thức, nên lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
II. Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
2.1. Thực tiễn có vai trị quyết định đối với lý luận.
Sở dĩ như vậy vì thực tiễn là hoạt động vật chất, sản xuất ra mọi thứ,
còn lý luận là sản phẩm tinh thần, phản ánh thực tiễn.
Thực tiễn là cơ sở, động lực của lý luận. Tức là, thực tiễn là bệ phóng,
cung cấp các nguồn lực cho lý luận. Thực tiễn còn vạch ra tiêu chuẩn cho lý
luận. Thông qua hoạt động thực tiễn, lý luận mới được vật chất hóa, hiện thực
hóa, mới có sức mạnh cải tạo thế giới khách quan.
2.2. Lý luận có tính độc lập tương đối và tác động tích cực trở lại
thực tiễn.
Lý luận có vai trị rất lớn đối với thực tiễn, tác động trở lại thực tiễn,
góp phần làm biến đổi thực tiễn thơng qua hoạt động của con người.
Lý luận là “kim chỉ nam” cho hành động, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo
thực tiễn. Lênin khẳng định: “Khơng có lý luận cách mạng thì cũng khơng thể
có phong trào cách mạng”. Lý luận khi thâm nhập vào quần chúng thì biến
thành sức mạnh vật chất. Lý luận có thể dự kiến được sự vận động của sự vật
trong tương lai, chỉ ra những phương hướng mới cho sự phát triển của thực
tiễn.
Lý luận khoa học làm cho hoạt động của con người trở nên chủ động,
tự giác, hạn chế tình trạng mị mẫm, tự phát. Vì vậy, Bác Hồ đã ví “khơng có
lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”.
Tuy nhiên, do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao của sự phản ánh hiện
thực nên lý luận có thể xa rời thực tiễn và trở nên ảo tưởng. Khả năng tiêu cực
đó càng tăng lên nếu lý luận đó lại bị chi phối bởi những tư tưởng không khoa
học hoặc phản động. Vì vậy, phải coi trọng lý luận, nhưng khơng được cường
điệu vai trò của lý luận, coi thường thực tiễn và tách rời lý luận với thực tiễn.
III. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Giữa lý luận và thực tiễn giường như hai mặt tương đối độc lập với
nhau nhưng lại có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Trong
4
đó thực tiễn ln ln giữ vai trị quyết định. Sự thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn bắt nguồn từ mối quan hệ giữa con người và thế giới khách quan.
Con người ln tác động tích cực vào thế giới khách quan, tự nhiên và xã hội,
cải biến thế giới khách quan bằng thực tiễn. Trong q trình đó sự phát triển
nhận thức của con người và sự biến đổi thế giới khách quan là hai mặt thống
nhất. Điều đó quy định sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
trong hoạt động sinh tồn của cá nhân và cộng đồng.
Lý luận hình thành và phát triển được xuất phát từ thực tế và đáp ứng
nhu cầu thực tiễn. Quá trình phát triển nhận thức của con người nhất thiết dẫn
đến sự hình thành lý luận. Đó không chỉ là sự tổng kết, khái quát từ lịch sử
nhận thức mà còn từ nhu cầu của thực tiễn. Thực tiễn phong phú đa dạng,
luôn vận động và biến đổi, nhưng để hình thành lý luận, trước hết lý luận phải
đáp ứng thực tiễn. Con người nhận thúc hiện thực khách quan để giải quyết
những vấn đề con người quan tâm. Năng lực của con người ngày càng được
nâng cao chính nhờ khả năng thơng qua hoạt động phản ánh, khái quát thành
tri thức lý luận. Trong sự vô cùng, vô tận của hiện thực khách quan, con người
không hề choáng ngợp mà bằng mọi biện pháp để nhận thức. Lồi người có
khả năng trở thành chủ thể nhận thức để phản ánh sự vô tận của hiện thực
khách quan, nhưng để đáp ứng hoạt động thực tiễn của con người. Đó là
những lý luận mang tính phương pháp cho hoạt động cải tạo hiện thực khách
quan. Mọi hoạt động của con người đều nhằm đạt hiệu quả cao. Lý luận,
trước hết phải đáp ứng mục đích đó. Quan hệ giữa người với người, giữa
người với tự nhiên đòi hỏi con người phải có lý luận sâu sắc về chúng. Con
người hình thành lý luận chủ yếu để làm phương pháp cho hoạt động sáng tạo
tri thức, phát minh sáng chế những tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt nhằm
nâng cao năng lực sáng tạo của con người. Do đó hệ thống lý luận nào góp
phần giải quyết đúng đắn, phù hợp mục đích của con người thì được con
người quan tâm khái qt. Vì lẽ đó lý luận phải đáp ứng nhu cầu phát triển
của thực tiễn.
Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận khoa học; ngược lại, lý luận
khoa học phải được vận dụng vào thực tiễn, kiểm nghiệm trong thực tiễn, tiếp
tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn. C.Mác đã từng nói, người thợ xây
không bao giờ tinh xảo như con ong xây tổ nhưng người thợ xây hơn hẳn con
5
ong ở chỗ, trước khi xây dựng một cơng trình họ đã hình thành được hình
tượng của cơng trình ấy trong đầu họ. Tức là hoạt động của con người là hoạt
động có ý thức. Ban đầu hoạt động của con người chưa có lý luận chỉ đạo,
song con người phải hoạt động để đáp ứng nhu cầu tồn tại của mình. Thơng
qua đó, con người khái qt thành lý luận. Từ đó những hoạt động của con
người muốn có hiệu quả nhất thiết phải có lý luận soi đường hoạt động thực
tiễn của con người mới trở thàng tự giác, có hiệu quả và đạt được mục đích
mong muốn. Lý luận đóng vai trị soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả
năng định hướng mục tiêu xác định lực lượng biện pháp thực hiện. Lý luận
còn dự báo được khả năng phát triển cũng như các mối quan hệ của thực tiễn,
dự báo được những rủi ro có thể xảy ra, những hạn chế những thất bại có thế
có trong q trình hoạt động. Như vậy lý luận không chỉ giúp con người hoạt
động hiệu quả mà còn là cơ sở để khắc phục những hạn chế và tăng năng lực
hoạt động của con người. Mặt khác lý luận cịn có vai trị giác ngộ mục tiêu,
lý tưởng liên kết các cá nhân thành cộng đồng, tạo thành sức mạnh to lớn của
quần chúng trong cải taọ tự nhiên và cải tạo xã hội. Chính vì vậy, C.Mác đã
khẳng định: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự
phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ lực lượng vật
chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm
nhập vào quần chúng”.
Mặc dù lý luận mang tính khái quát cao song nó cịn có tính lịch sử, cụ
thể. Do đó khi vận dụng lý luận chúng ta cần phân tích một cách cụ thể mỗi
tình hình cụ thể. Nếu vận dụng máy móc giáo điều, kinh viện thì chẳng những
hiểu sai giá trị của lý luận mà còn làm phương hại đến thực tiễn, làm sai lệch
sự thống nhất tất yếu giữa lý luận và thực tiễn.
Lý luận hình thành là kết quả của nhận thức lâu dài và khó khăn của
con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn tuy đa dạng
phong phú nhưng không phải khơng có tính quy luật. Tính quy luật của thực
tiễn được khái quát dưới hình thức lý luận. Mục đích của lý luận khơng chỉ là
phương pháp mà cịn là định hướng cho hoạt động thực tiễn. Đó là định
hướng mục tiêu, biện pháp sử dụng lực lượng, định hướng giải quyết các mối
quan hệ trong hoạt động thực tiễn. Khơng những thế, lý luận cịn định hướng
mơ hình của hoạt động thực tiễn. Vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn,
6
trước hết từ lý luận để xây dựng mơ hình thực tiễn theo những mục đích khác
nhau của q trình hoạt động, dự báo các diễn biến, các mối quan hệ lực
lượng tiến hành và những phát sinh của nó trong quá trình phát triển để phát
huy các nhân tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm đạt kết quả cao
hơn.
Lý luận tuy là lơgíc của thực tiễn, song lý luận có thể lạc hậu hơn so
với thực tiễn. Vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải bám bám
sát diễn biến của thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những khiếm
khuyết của lý luận, hoặc có thể thay đổi lý luận cho phù hợp với thực tiễn.
Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn còn được làm sáng tỏ cụ thể hơn
khi xem xét nó từ quan hệ giữa chủ thể và khách thể. Thực tiễn là khâu trung
gian cơ bản giữa chủ thể và khách thể, thực tiễn là hình thức liên hệ thực tại
khách quan nhờ đó chủ thể tự đối tượng hóa bản thân, các ý định, các mục
đích của mình. Điều này cho thấy thực tiễn và lý luận không thể tuyệt đối độc
lập với nhau. Bởi vì quan hệ lý luận giữa con người và khách thể không bao
giờ tách rời, biệt lập với thực tiễn. Hơn nữa, lý luận bao giờ cũng phục tùng
thực tiễn, phục vụ thực tiễn và lý luận bao giờ cũng phát triển trên cơ sở cải
tạo thực tiễn của xã hội. Vì vậy khơng có sự đối lập giữa lý luận và thực tiễn,
tính độc lập của lý luận chỉ là tương đối, lý luận cách mạng không phải hoàn
toàn là thực tiễn cách mạng, tuy nhiên do lý luận được sinh ra bởi các nhu cầu
của thực tiễn xã hội nên lý luận cách mạng trở thành một bộ phận của thực
tiễn xã hội.
Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao
trong sự phản ánh hiện thực nên lý luận có khả năng xa rời thực tiễn và trở
thành ảo tưởng. Vì thế, khơng được cường điệu vai trị của lý luận, mặt khác
không được xem nhẹ thực tiễn và tách rời lý luận với thực tiễn. Điều đó cũng
có nghĩa là phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong nhận thức khoa học và hoạt động cách mạng. Nếu không bám sát thực
tiễn cuộc sống chúng ta sẽ khơng thể có lý luận, khơng thể có khoa học,
không xác định nổi bất kỳ đề tài khoa học nào với đúng nghĩa của nó. Và lý
luận trở thành lý luận suông.
Trên cơ sở nhận thức và vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn phải chống bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Chúng ta coi
7
trọng kinh nghiệm thực tiễn và khơng ngừng tích luỹ vốn kinh nghiệm quý
báu đó. Song chỉ dừng lại ở trình độ kinh nghiệm, thỏa mãn với vốn kinh
nghiệm của bản thân, coi kinh nghiệm là tất cả, tuyệt đối hóa kinh nghiệm
đồng thời coi nhẹ lý luận, ngại học tập, nghiên cứu lý luận, ít am hiểu lý luận,
khơng quan tâm tổng kết kinh nghiệm để đề xuất lý luận thì sẽ rơi vào lối suy
nghĩ giản đơn, tư duy áng chừng, đại khái, phiến diện thiếu tính lơ gic, tính hệ
thống, do đó, trong hoạt động thực tiễn thì mị mẫm, tuỳ tiện, thiếu tính đồng
bộ về lý luận trong tất cả các lĩnh vực do vậy dễ rơi vào bệnh kinh nghiệm
chủ nghiã.
Tóm lại, quan hệ giữa lý luận và thực tiễn là một quá trình mang tính
lịch sử xã hội cụ thể. Đây là quan hệ thống nhất biện chứng nắm bắt được tính
biện chứng của q trình đó là tiền đề quan trọng bậc nhất giúp chúng ta có
một lập trường thực tiễn sáng suốt, tránh được chủ nghĩa thực dụng, máy
móc. Điều đó cũng có nghĩa là phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn trong nhận thức khoa học và hoạt động cách mạng. Như Bác
Hồ đã khẳng định: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc
căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn khơng có lý luận hướng dẫn
thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý
luận suông”.
IV. Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để lý
giải về sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Nguyễn Ái Quốc là một trong số ít các nhà yêu nước đầu tiên ở các
nước thuộc địa tiếp thu được “ánh sáng kỳ diệu” từ bản Luận cương của
V.I.Lênin, nhận thức và nắm bắt được xu hướng phát triển của thời đại mới từ
sau Cách mạng Tháng Mười Nga. Sự kiện Người bỏ phiếu tán thành gia nhập
Quốc tế Cộng sản, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp (tháng 12/1920) có
ý nghĩa quan trọng: trở thành người cộng sản đầu tiên của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động Việt Nam, chính thức đưa cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc ở nước ta vào quỹ đạo cách mạng vô sản thế giới, gắn liền độc lập dân
tộc với chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đây là “sự khẳng định một hướng đi mới,
nguyên tắc chiến lược mới, mục tiêu và giải pháp hoàn toàn mới, khác về căn
bản so với các lãnh tụ của các phong trào yêu nước trước đó ở Việt Nam; đưa
cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo của cách mạng vô sản, tức là sự
8
nghiệp cách mạng ấy phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy hệ
tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng”.
Tư duy lý luận về lựa chọn con đường cách mạng vô sản, độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản,
độc lập dân tộc gắn liền với CNXH của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đáp ứng
hai câu hỏi lớn đặt ra cho dân tộc Việt Nam: làm thế nào để giải phóng dân
tộc khỏi ách cai trị của đế quốc, thực dân, giành lại nền độc lập, tự do cho
nhân dân; lựa chọn con đường, phương thức nào để bảo vệ, xây dựng và phát
triển đất nước phù hợp với xu thế đi lên của thời đại mới. Nói cách khác, với
việc lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn, chủ trương “làm tư sản dân
quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”, Nguyễn Ái
Quốc đã giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, giải phóng dân
tộc kéo dài 2/3 thế kỷ: “Lịch sử dường như đã chuẩn bị sẵn cho dân tộc Việt
Nam đi vào thời kỳ hiện đại bằng miếng đất sẵn sàng được gieo trồng, và
bằng những nông phu sẵn hạt giống trong tay. Miếng đất ấy là nhân dân có
truyền thống đấu tranh bất khuất; giống đó là chủ nghĩa Mác - Lênin; người
thứ nhất gieo giống đó là Nguyễn Ái Quốc”.
Sự lựa chọn con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH
của Nguyễn Ái Quốc dựa trên cơ sở lý luận và khoa học, dựa trên thực tiễn
vận động và đòi hỏi của phong trào cách mạng Việt Nam. Từ nghiên cứu lý
luận, tổng kết thực tiễn, Người đi đến kết luận: “Muốn cứu nước và giải
phóng dân tộc, khơng có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Đường lối độc lập dân tộc gắn liền với CNXH được nêu lên trong Cương lĩnh
chính trị đầu tiên, phản ánh sự lựa chọn khách quan của chính thực tiễn - lịch
sử, phù hợp với sự vận động của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của
thời đại, đáp ứng nguyện vọng và nhu cầu bức thiết của đại đa số các tầng lớp
nhân dân Việt Nam: “Đối với nước ta, khơng cịn con đường nào khác để có
độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh
rằng đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm
1930 với sự ra đời của Đảng ta trong lúc các phong trào cứu nước từ lập
trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm lịch
sử đều lần lượt thất bại”.
9
Đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, khơng cịn con đường nào
khác ngoài con đường đi lên CNXH; cách mạng Việt Nam trở thành một bộ
phận của cách mạng thế giới, vận động và phát triển theo quỹ đạo cách mạng
vô sản và trào lưu phát triển của thời đại mới từ sau Cách mạng Tháng Mười
Nga: “Hồ Chí Minh đã chọn con đường Lênin, con đường Cách mạng Tháng
Mười Nga. Đối với Người, đó là “cẩm nang thần kỳ” đưa cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc đến thành công; và trên thực tế, thắng lợi của cách mạng Việt
Nam đã xác nhận tính đúng đắn của sự lựa chọn đó”.
Thực tiễn vận động và phát triển của cách mạng Việt Nam sau năm
1930 cho thấy: sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản theo tư tưởng Cách
mạng Tháng Mười Nga, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự lựa chọn
sáng suốt, duy nhất đúng đắn, với vai trò to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí Minh, người tìm đường, mở đường và dẫn đường cho dân tộc Việt
Nam.
Đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản
Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với cách mạng Việt Nam, ngay từ đầu,
CNXH không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà đã thực sự là động lực thúc đẩy
lịch sử phát triển: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là
sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí
Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Qua các giai đoạn cách
mạng khác nhau, khuynh hướng chính trị bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tiến
lên CNXH ở nước ta đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn, ăn sâu bám rễ
trong lòng xã hội Việt Nam.
Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt, là đường lối chiến lược nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam
được khẳng định rõ trong Cương lĩnh đầu tiên năm 1930, các văn kiện của
Đảng và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ
sung, phát triển năm 2011). Đây vừa là bài học lớn, xuyên suốt quá trình lãnh
đạo cách mạng trong 90 năm qua, vừa là cội nguồn dẫn đến mọi thắng lợi của
cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và cơng
cuộc xây dựng CNXH, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước.
Mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH dưới sự lãnh đạo của
Đảng chính là động lực to lớn động viên, tập hợp, huy động sức mạnh tinh
10
thần, vật chất của toàn dân vượt qua những thử thách cam go của lịch sử.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ chính là
thắng lợi của trí tuệ, văn hố và bản lĩnh Việt Nam, của khát vọng và ý chí
độc lập dân tộc, thống nhất đất nước đi lên CNXH.
Công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế do Đảng Cộng sản
Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo chính là sự tiếp tục con đường cách mạng
đã lựa chọn, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, vận dụng sáng tạo
và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều
kiện cụ thể của Việt Nam. Đường lối đổi mới do Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VI hoạch định, được bổ sung, phát triển qua các kỳ Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, X, XI và XII chính là sự nhận thức đúng đắn
hơn, khoa học hơn các quan điểm, nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt
Nam.
Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, Đảng ta đã không ngừng bổ sung,
hoàn thiện nhận thức, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta. Trên cơ sở đó, Đảng ta đề ra các chủ trương về hoàn
thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa; tập trung đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại
nền kinh tế để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh;
hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với
phát triển văn hóa, con người, giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ tài nguyên
môi trường; xây dựng và phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt
Nam; phát huy tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển, kết hợp sức mạnh
của khối đại đoàn kết toàn dân tộc với sức mạnh thời đại; kiên quyết, kiên trì
bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước đi đơi với giữ vững
mơi trường hịa bình, ổn định để phát triển; chủ động, tích cực hội nhập quốc
tế tồn diện, sâu rộng, giữ vững độc lập, tự chủ, bảo đảm lợi ích quốc gia dân
tộc trên hết và trước hết trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, bình đẳng,
cùng có lợi
á trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện sự nghiệp đổi mới,
hội nhập quốc tế cũng chính là q trình kiên quyết đấu tranh chống lại những
biểu hiện cơ hội, xét lại, xa rời những vấn đề có tính ngun tắc; kiên quyết
11
và triệt để đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi
lên CNXH ở Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Dân
tộc Việt Nam quyết không chấp nhận con đường nào khác ngồi con đường đi
lên CNXH, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”. Thực tiễn vận động và phát triển của cách mạng Việt Nam từ năm
1930 đến nay với những thắng lợi trong chiến tranh giải phóng dân tộc, thống
nhất đất nước, trong xây dựng CNXH, hội nhập quốc tế và đổi mới đất nước
đã chứng minh tính đúng đắn, cách mạng, khoa học và sáng tạo của sự lựa
chọn con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
KẾT LUẬN
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc
cơ bản, là linh hồn của triết học Mác - Lênin. Lần đầu tiên trong lịch sử triết
học, C.Mác đã phát hiện ra sức mạnh của lý luận chính là mối liên hệ của nó
với thực tiễn, cũng như sức mạnh của thực tiễn là ở mối quan hệ của nó với lý
luận. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là sự thống nhất biện chứng và
cơ sở của sự tác động qua lại ấy chính là thực tiễn. Thực tiễn ln ln vận
động, biến đổi, do đó lý luận cũng khơng ngừng đổi mới, phát triển; sự thống
nhất biện chứng giữa chúng - vì thế - cũng có những nội dung cụ thể và
những biểu hiện khác nhau trong mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử. Đất
nước Việt Nam bước vào thế kỷ XXI với những thành tựu to lớn đạt được
trong hơn 20 năm đổi mới. Có được những kết qủa đó là do Đảng cộng sản
Việt Nam đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mac-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng nước ta./.
12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) V.I.Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1997, tr.199200.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, H.2000, tr.127.
(3) Ban Tuyên giáo Trung ương, Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai
trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb
CTQG, H.2007, tr.110.
(4) Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ
XIX đến Cách mạng Tháng Tám; Thành công của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, tập 3, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr.39.
(5) Hồ Chí Minh, Tồn tập, tập 9, Nxb CTQG, H.2000, tr.314.
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VII, Nxb CTQG, H.1991, tr.109.
(7) Trịnh Nhu - Vũ Dương Ninh, Về con đường giải phóng dân tộc của
Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H.1996, tr.111.
(8) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.70.
(9) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb CTQG, H.2001, tr.83.
(10) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XII, Nxb CTQG-ST, H.2016, tr.69-70.
(11) />(12) />
13
14