Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (162.15 KB, 10 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>I. SỐ "HĂM HAI" CỦA NHỮNG NGƯỜI TÙ</b>
Trong thời gian làm luận án ở École Normale Supérieure de Fontenay/ Saint
Cloud, tôi được anh bạn người Italia Mauro Usai kể cho nghe một câu chuyện thú
vị mà theo anh là nội dung của một bộ phim: Trong nhà giam nọ, đám tù khổ sai,
sau mỗi ngày lao động như trâu ngựa dưới đòn roi của cai ngục, chỉ có một thú tiêu
khiển là nghe một người trong bọn họ kể chuyện tiếu lâm. Người kể chuyện rất
từng trải, có duyên và có tài bịa đặt, nhưng thời gian giam giữ quá lâu, cuối cùng cả
kho tiếu lâm lẫn tài bịa đặt của anh ta đều cạn kiệt. Nghe đi nghe lại mãi, đám tù
nhân thuộc lịng khơng chỉ các chuyện mà cả thứ tự của chúng trong vốn liếng của
người bạn tù. Vì thế, thay vì kể chuyện, gã tù nhân có duyên kể chuyện kia chỉ cần
xướng lên một con số, chẳng hạn "hăm hai", là tất cả cười ồ. Điều này dần dần trở
thành thói quen một cách tự nhiên. Thế rồi một hơm trại có tù nhân mới: chẳng khó
khăn gì chúng ta cũng có thể hình dung bộ dạng ngớ ngẩn của anh ta trong khi đám
tù nhân cũ ôm bụng cười vì nghe con số "hăm hai" tưởng chừng vơ nghĩa ấy.
Thực ra chuyện tù nhân dùng các con số hay các loại ký hiệu khác nhau, trong
đó có ký hiệu ngơn ngữ, chẳng hạn tiếng lóng, để thơng tin và trốn tránh sự kiểm
soát của cai ngục là điều khơng có gì lạ. Nhưng với tơi, con số hăm hai của đám tù
nhân trong câu chuyện thâm thuý này lại gợi những suy nghĩ khác: nó là một ví dụ
tuyệt vời về điển tích.
Trong các từ điển hoặc sách giáo khoa, điển tích thường được định nghĩa như
là những câu chuyện ghi chép trong sách vở và được trích dẫn hoặc dẫn ý. Cuốn <i><b>Sổ</b></i>
<i><b>tay văn học</b></i> (A Handbook to literature) của C. Huge Holman và
William Harmon, chẳng hạn, định nghĩa điển tích là "lối
nói dẫn chiếu vắn tắt đến một hình tượng, sự kiện hay
đề tài lịch sử và văn học"[1]<sub>. </sub>
Trong tiếng Việt, chúng ta thường gặp hai từ "điển tích" và "điển cố". Từ điển
của Nguyễn Văn Khôn viết<i><b>:</b></i><b> "</b><i><b>Điển:</b></i> Kinh điển. Thường. Phép tắc. Chủ trương. Coi
sóc việc gì. Cầm cố. Họ. Tích: Xưa, trước, lâu, ban đêm. Họ. <i><b>Cố:</b></i> Bền, vững bền.
Kín đáo. Sẵn, vốn đã. Nhiều lần. Bỉ lậu. Cố nhiên, tất nhiên. Họ. <i><b>Điển tích:</b></i><b> Sự tích </b>
chép trong sách vở xưa. <i><b>Điển cố:</b></i> Điển cũ tích xưa; sự tích, luật lệ cũ".
Như vậy, "điển cố" là khái niệm rộng hơn và không chỉ bao gồm những sự
tích chép trong sách vở. Tuy nhiên, trên thực tế hai từ này vẫn được dùng lẫn lộn.
một trong những đặc điểm nổi bật của văn học trung đại Việt Nam, vốn chịu ảnh
hưởng văn học cổ và trung đại Trung Hoa. Do những nguyên nhân khác nhau, đã
hình thành một tâm thế, một phong cách của những người làm văn: trong hành văn
thường hay nhắc đến một sự tích xưa hoặc một vài câu thơ, câu văn cổ để diễn tả ý
mình, nhưng đây khơng phải là trích dẫn nguyên văn, mà là lối dùng lại vài chữ cốt
gợi nhớ được đến tích cũ ấy, câu văn cổ ấy. Lối này được gọi chung là dùng điển
cố, bao gồm phép dùng điển và dùng chữ"[2]<b><sub>. </sub></b>
Sự lẫn lộn này thật ra cũng không phải là trầm trọng, và có lẽ nó bắt nguồn từ
thực tế là khái niệm "văn" trong các nền văn hoá chịu ảnh hưởng của Trung Quốc
rộng hơn nhiều so với khác niệm "văn học" trong các nền văn hoá phương Tây. Vì
lẽ đó, nếu trong tiểu luận này tơi dùng thuật ngữ "điển tích" thì cũng xin được hiểu
theo nghĩa rộng hơn này.
Tuy nhiên, tôi chỉ có thể đồng ý một nửa với nhận xét trên đây của Lại
Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường. Trước hết, quả thật là trong văn học cổ đại
và trung đại ở Việt Nam cũng như ở một số nước Viễn Đơng, điển tích được được
sử dụng rất thường xuyên. Nhưng trong văn học của phương Tây, hay của bất cứ
khu vực nào, điển tích cũng được sử dụng nhiều khơng kém. Ta có thể khẳng định
Thứ hai, mặc dù Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường, cũng như nhiều
nhà nghiên cứu văn học cả ở phương Đông lẫn phương Tây, đã khơng sai khi đề
cập đến điển tích như một nguồn cảm hứng sáng tạo, một kho mô típ, hoặc như một
thủ thuật trong cách hành văn, tơi tin rằng sự phổ biến rộng rãi của điển tích có một
lý do sâu xa hơn nhiều. (Quan niệm về điển tích như một nguồn cảm hứng hoặc
một kỹ thuật như trên cũng phổ biến ở người đọc bình thường. Chính vì thế, dùng
điển tích, nhất là dùng nhiều điển tích, cũng giống như dùng nhiều trích dẫn,
thường bị coi là một cách để khoe khoang kiến thức và lòe bịp thiên hạ).
Chúng ta hãy thử đặt câu hỏi: Tại sao điển tích được dùng nhiều đến thế? Và
nguyên lý vận hành của điển tích là gì?
Ngun lý tiết kiệm có thể thấy ở tất cả các hoạt động của con người, và nó
đã được Herbert Spencer phân tích trong <i><b>Ngun lý của phong cách</b></i> (The
Philosophy of style). Ở đây, tơi chỉ muốn đưa ra những ví dụ minh họa mà thật ra ta
chẳng cần phải động não nhiều để có. Quy luật tiết kiệm chính là lý do khiến chúng
ta sáng tạo nên những từ viết tắt như OPEC, UN, USA...Đó cũng là lý do khiến
chúng ta có xu hướng rút gọn các từ. Người Việt nói con Su thay cho con Suzuki,
người Pháp nói prof thay cho professeur, người Mỹ nói Caddy thay cho Cadillac...
Nguyên lý tiết kiệm cũng chính là lý do khiến chúng ta khó chịu với những kẻ
ba hoa, dài dịng. Người Việt có câu: "Rượu ngon uống lắm cũng say/ Người khơn
<i>nói lắm cũng hay ra rồ!"</i> Thật ra, chúng ta khó chịu với kẻ dài dịng khơng phải vì
anh /chị ta nói dài. Một bài nó chuyện dài, thậm chí rất dài, nhưng đầy ắp ý tưởng
vẫn có thể lôi cuốn người nghe cho đến câu cuối cùng. Những câu chuyện của nàng
Sheherazade trong <i><b>Một nghìn một đêm lẻ</b></i> đã cứu nàng sống thốt khơng chỉ vì
Tiết kiệm chính là bản chất của việc dùng điển tích: thay vì kể cả một câu
chuyện dài, người ta có thể, và trên thực thế bắt buộc, chỉ đưa ra một tín hiệu, như
con số "hăm hai" của những người tù, cho phép dẫn chiếu đến nó mà thơi.
<b>II. ĐIỂN TÍCH VĂN HỌC VÀ ĐIỂN TÍCH ĐỜI SỐNG</b>
Trong câu chuyện về đám tù nhân của Mauro, tại sao khi nghe con số "hăm
hai" đám tù nhân cũ phá lên cười, còn gã tù nhân mới lại không? Câu hỏi đưa ta
đến một câu hỏi có tính khái qt hơn: cơ chế vận hành của điển tích là gì?
Chẳng cần phải khó khăn lắm, chúng ta cũng có thể nhận thấy rằng để một
điển tích vận hành được, cần phải có các điều kiện sau đây:
<i>1. Tính thân thuộc: Điều kiện tiên quyết để sử dụng một điển tích là nó phải </i>
được những người trong cuộc biết trước. Nói cách khác, nó phải là một ký ức
chung của người dùng điển tích và người nghe điển tích.
<i>2. Tín hiệu hố (hay mã hoá): "Con ngựa thành Troy" gọi lên câu chuyện </i>
chiến tranh ở thành phố Ha Lạp cổ đại kia bởi lẽ nó là một tín hiệu quy ước giữa
những người có chung ký ức về câu chuyện ấy. Ở đây, tín hiệu quy ước có vai trị
giống như vai trị của cái tên: nó dẫn chiếu đến một cá nhân cụ thể trong xã hội.
ở Troy). Điều kiện cần thiết để việc dùng điển thực hiện được là tín hiệu phải nằm
Trong câu chuyện về những người tù, một quá trình tương tự cũng diễn ra: gã
tù nhân mới không cười, bởi lẽ anh ta không biết nội dung câu chuyện mang số
"hăm hai", trong khi đám tù nhân cũ đều biết. Nói cách khác, anh ta khơng có
chung với đám tù nhân cũ một ký ức chung mà con số "hăm hai" dẫn chiếu đến khi
nó được đặt trong một hệ thống quy ước - ở đây là danh sách các truyện tiếu lâm.
Đến đây, chúng ta có thể suy ra một định nghĩa khái quát hơn về điển tích:
<i>Điển tích là một ký ức chung của một cộng đồng người được ký hiệu hố và có thể </i>
<i>được dẫn chiếu đến bằng cách phát và nhận tín hiệu đó trong một hệ thống nhất </i>
<i>định.</i>
Trong định nghĩa này, "chung" là một tính từ cực kỳ quan trọng: điển tích chỉ
là điển tích đối với những ai chia xẻ ký ức chung về nó. Giống như con số "hăm
hai" chỉ là một câu chuyện tiếu lâm đối với đám tù nhân cũ, "Con ngựa thành Troy"
chỉ là điển tích đối với những ai đã biết về câu chuyện ấy mà thôi.
Nếu chúng ta chấp nhận định nghĩa điển tích như trên, chúng ta cũng buộc
phải chấp nhận rằng khái niệm và vai trị của điển tích cần được mở rộng hơn nhiều
so với những cách hiểu thông thường.
Trước hết, bên cạnh các điển tích sách vở chúng ta cịn có các điển tích đời
<i>sống. Thật vậy, trong cuộc sống hàng ngày, có vơ số những câu chuyện, sự kiện, ý </i>
tưởng...mà chỉ là chung cho những thành viên của một cộng đồng người nhất định.
Đó là những ký ức chung của họ. Cũng giống như các câu chuyện tiếu lâm của đám
tù nhân trong câu chuyện của Mauro, những ký ức chung trong cuộc sống cũng
được tín hiệu hóa - bằng con số, tên gọi, cử chỉ, hay bất kỳ một dấu hiệu nào đó -
mà để dẫn chiếu đến, người ta chỉ cần nhắc đến trong một hệ thống cho phép nhận
Điển tích đời sống thực ra là cái được sử dụng thường xuyên hơn ta nghĩ rất
nhiều, cả trong giao tiếp, sinh hoạt lẫn trong văn học nghệ thuật, mặc dù thường
không mấy ai để ý. Chúng ta có lẽ ai cũng đã từng bị lạc vào một ngày hội lớp, một
buổi liên hoan công ty, hay bị ghép vào một bàn tiệc đám cưới với những người
hoàn toàn xa lạ: sau mấy câu xã giao, chúng ta hoá thành một kẻ vụng về, ngốc
nghếch. Giống như người tù mới trong câu chuyện của Mauro, khi họ cười, chúng
ta chẳng hiểu vì sao họ cười, khi họ nổi giận, ta chẳng hiểu vì sao họ giận. Điều này
cũng rất rõ và là một phần quan trọng của cái mà chúng ta thường gọi là "cú sốc
văn hoá" khi đến một xứ sở khác. Chẳng hạn, tiếng Pháp của bạn có thể khơng tồi,
nhưng nếu chưa từng đến Pháp, bạn có thể phải ngẩn người, trong một toa tàu điện
ngầm Paris, trước những điều người Pháp trao đổi với nhau.
cách trọn vẹn, người ta không chỉ cần hiểu được các quy luật cú pháp cũng như về
ngơn ngữ của một tác phẩm mà cịn phải hiểu được bối cảnh ấy, nếu không tác
phẩm sẽ bị mất đi rất nhiều giá trị, hoặc đôi khi khơng thể hiểu được. Tơi xin lấy
làm ví dụ cuốn tiểu thuyết nổi tiếng <i><b>Nỗi buồn chiến tranh</b></i> của Bảo Ninh và những
truyện ngắn trong tập <i><b>Những ngọn gió Hua Tát</b></i> của Nguyễn Huy Thiệp. Cả hai
nhà văn này đều là những nhà văn có thực tài và tôi rất khâm phục. Tuy nhiên, tôi
tin (và trên thực tế qua tiếp xúc với khá nhiều người nước ngoài), rằng khi được
dịch sang các thứ tiếng phương Tây, cuốn sách của Bảo Ninh sẽ gây được một
tiếng vang lớn hơn, thậm chí là lớn hơn nhiều, so với truyện ngắn của Nguyễn Huy
Thiệp. Vấn đề ở đây, theo tôi, không phải là văn tài của Nguyễn Huy Thiệp kém
hơn, hoặc những người dịch Nguyễn Huy Thiệp kém hơn, mà là tính chất của tác
phẩm. Chính ở đây, các điển tích đời sống đã có ảnh hưởng rất lớn.
Cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh có cấu trúc hiện đại kiểu phương Tây, các vấn
đề tác giả đặt ra là các vấn đề chung của mọi cuộc chiến tranh. Nếu chúng ta đổi
các địa danh, thay cây tre bằng cây bch dng, gi anh Phng l John hay
Những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp thì khác. Truyện ngắn của anh,
mặc dù rất sâu sắc và tài hoa, nhưng hàm chứa và dựa vào nhiều vấn đề đặc thù của
xã hội người Việt, đặc biệt là người Việt trong giai đoạn mấy chục năm vừa qua.
Những người không sống ở hoặc không am hiểu về Việt Nam trong vài thập kỷ
trước và sau 1975, sẽ không thể hiểu hết ý nghĩa của những thứ như "sổ đong gạo",
"thẻ đoàn viên", "tem phiếu"...và cả những nét chua chát trong những câu nói bình
thường đã trở thành thành ngữ. Những người không đọc văn học cổ Việt Nam và
Trung Quốc không thể cảm nhận hết cái hay của thứ văn được Nguyễn Huy Thiệp
khai quật và phả vào một tinh thần mới trong <i><b>Vàng lửa</b></i>, hay <i><b>Kiếm sắc</b></i>. Thậm chí
nhiều tên nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp cũng chứa đựng những ám chỉ mà khó
có một dịch giả nào có thể chuyển tải trọn vẹn đến cho những người đọc không
được chuẩn bị.
Tất nhiên không phải cuốn sách của Bảo Ninh không chứa đựng những vấn
đề tương tự, nhưng mức độ ít hơn rất nhiều. Vì thế, việc tiếp nhận tác phẩm của
Bảo Ninh thuận lợi hơn đối với các độc giả phương Tây.
thành thời vụ. Vì thế, mặc dù rất yêu văn chương của Nguyễn Huy Thiệp, tôi thú
thực là sau dăm bảy năm, đọc lại, tôi cảm thấy một số tác phẩm, chẳng hạn <i><b>Tướng </b></i>
<i><b>về hưu</b></i>, đã bớt đi một phần sức quyến rũ hồi nào.
Như thế, trong các tác phẩm văn học, ngồi những điển tích văn học cịn có
vơ số các điển tích đời sống. Việc sử dụng điển tích đời sống mang tính phổ quát
<b>III. KÝ ỨC CỦA TỪ </b>
Khi nói đến điển tích, ta thường nghĩ đến một câu chuyện hay sự kiện, nhưng
thực ra mỗi thành ngữ cũng là một điển tích. Đằng sau những thành ngữ như "ba
chân bốn cẳng", "con ông cháu cha", hay "thượng cẳng chân hạ cẳng tay"... rất có
thể đã từng có một câu chuyện nay đã thất truyền, nhưng ngay cả những thành ngữ
như "mắt ốc nhồi", "đồ mặt mo"...cũng dẫn chiếu đến một ký ức chung, cái gọi là
"nghĩa" của thành ngữ.
Tương tự như vậy, mỗi từ, khi được phát âm hay viết ra trên giấy trong một
hệ thống nhất định, thật ra chỉ là một thứ ký hiệu được quy ước dẫn chiếu đến một
sự vật hay hiện tượng trong thiên nhiên hay xã hội, cái thường được gọi là "nghĩa".
Đó chính là một thứ điển tích. Giống như đối với bất kỳ loại điển tích nào, nội dung
của nó, ở đây là "nghĩa" của từ, chính là ký ức chung của một cộng đồng người.
Chẳng hạn, khi âm "MA" được phát lên, người Việt nghĩ đến "bóng ma", trong khi
người Pháp hiểu là "của tơi", còn người Italia lại hiểu là "nhưng". Đối với những
người khơng có chung ký ức đó, "MA" là một âm thanh hồn tồn vơ nghĩa. Điều
này cho ta thấy rằng từ vựng của một ngôn ngữ là tập hợp các điển tích đời sống
của một dân tộc, và một cuốn từ điển giải nghĩa của bất kỳ thứ tiếng nào về bản
chất cũng chỉ là một cuốn sưu tầm điển tích đời sống của dân tộc nói thứ tiếng ấy
mà thơi.
Vì mỗi từ về bản chất là những điển tích, chúng có những đặc điểm quan
trọng sau đây:
đồng nghĩa với bùn lầy và nghèo khổ. Tôi nhớ đến một nghiên cứu thú vị mà tơi
tình cờ đọc được đâu đó trong một tờ báo Pháp. Tại một trường tiểu học ở Paris,
người ta yêu cầu các em học sinh vẽ hình con gà. Kết quả là hơn một nửa số em vẽ
những con gà đã bị vặt lông, chặt đầu chặt chân, đặt trên đĩa hoặc trong tủ kính.
Con gà đối với các em chỉ đơn thuần là một thứ thực phẩm mà thôi!
Nghĩa của từ, và do đó cả tính nhập nhằng của nó, phụ thuộc vào nhiều yếu
tố: tầng lớp xã hội, địa phương, giới tính, giáo dục, độ tuổi...Trong một số trường
hợp, một từ có thể có những nghĩa hồn tồn trái ngược ngay trong một cộng đồng
ngơn ngữ. Ví dụ điển hình nhất là cuộc tranh cãi kéo dài nhiều thế hệ về các tên gọi
"tôm - tép" và "cào cào - châu chấu". Nhiều cuộc xô xát, thậm chí án mạng đã từng
xảy ra vì chuyện "tơm tép" này. Điều thú vị là lý luận của hai bên bao giờ cũng
giống hệt nhau:
Một bên: "Tôm là tôm, cá là cá. Tép là con giống tôm nhưng không bao giờ
lớn thành tôm được!"; Bên kia: "Đúng vậy, tôm là tôm, cá là cá. Tép con giống như
cá nhưng không bao giờ lớn thành cá được!"
Và:
Một bên: "Cào cào đầu bằng, sao lại gọi là châu chấu!"; cịn bên kia: "Chính
châu chấu mới đầu bằng, sao lại lại gọi là cào cào!"
Những hoàn cảnh sống đặc biệt là nguyên nhân làm nảy sinh những từ hoặc
nghĩa chỉ lưu hành trong một cộng đồng hẹp hoặc rất hẹp, như những từ chuyên
mơn hay từ lóng. Những từ lóng trong nhà tù đơi khi cịn được tạo ra một cách cố ý
do nhu cầu phải trốn tránh sự kiểm soát của cai ngục hoặc giải toả những bức xúc
<i>2. Sự biến đổi của ngữ nghĩa: Số phận của từ ngữ cũng giống như số phận </i>
con người, cũng có sinh lão bệnh tử, cũng có nhục có vinh, cũng có rủi ro, may
mắn... Thử mở một tác phẩm văn học chỉ cách đây vài chục năm, chúng ta sẽ thấy
rằng rất nhiều từ hay cụm từ, như "tiêu chuẩn", "hợp tác", "đồng chí", "tư tưởng"...,
đã thay đổi rất nhiều về nghĩa. Rất nhiều từ và cụm từ khác, như "sổ gạo", "chính
uỷ", "vừa hồng vừa chuyên"..., thậm chí đã biến mất khỏi cuộc sống hàng ngày.
nữa, sự vận động khơng ngừng ấy chính dấu hiệu của một ngôn ngữ sống: sự vận
động của ngôn ngữ phản ánh sự vận động của cuộc sống xã hội.
Việc thay đổi ngữ nghĩa khiến cho sự tiếp nhận đơi khi gặp khó khăn. Nhưng
với tư cách là một ký ức có tính lịch sử, ngữ nghĩa và sự thay đổi của nó cũng là
một yếu tố quan trọng để tạo nên và lưu giữ màu sắc thời đại của tác phẩm. Có lẽ
chính vì thế mà rất nhiều người theo đạo Thiên Chúa ở các nước nói tiếng Anh
khơng ưa thích bản <i><b>Kinh Thánh</b></i> mới (The New International Version) bằng bản
<i><b>King James</b></i>. Những danh từ cổ, những đại từ và đuôi động từ nay khơng cịn dùng
nữa đem lại cho bản dịch cũ cái khơng khí và vẻ đẹp xa xăm, huyền bí và dường
như cả âm hưởng linh thiêng của giọng nói Đức Jesus Christ từ hai ngàn năm về
trước.
<i>3. Sự xâm nhập và ảnh hưởng lẫn nhau: Sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các </i>
ngôn ngữ cũng là hiện tượng phổ biến, trong đó đáng chú ý nhất đối với chúng ta là
sự vay mượn từ vựng. Đây cũng là một hiện tượng gây nhiều tranh cãi. Những
người phản đối lập luận rằng tại sao chúng ta phải nói "M.C", "book" hay
"marketing" trong khi có thể nói "Người dẫn chương trình", "đặt trước" và "tiếp
thị"? Người ủng hộ thì cho rằng phải dùng từ vay mượn mới chuyển tải hết được ý
nghĩa. Theo tơi, sở dĩ sự vay mượn từ vựng mang tính phổ qt là vì nó đáp ứng
một nhu cầu có thật, mặc dù đó khơng phải là nhu cầu ngơn ngữ mà là nhu cầu văn
<i>hố-xã hội. Thật ra mọi ngơn ngữ hồn tồn bình đẳng về khả năng, và khi có nhu </i>
cầu về ngữ pháp hay từ vựng, nó ln ln có khả năng đáp ứng đầy đủ và hoàn
hảo. Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên, đặc điểm của nền sản xuất cũng như trình độ
phát triển của các xã hội, cái đứng sau sự phát triển của ngôn ngữ, không bao giờ
giống nhau tuyệt đối. Khi người châu Á và châu Âu lần đầu tiên trông thấy quả cà
chua, dĩ nhiên họ cần phải gọi tên nó. Họ có hai cách lựa chọn: hoặc tạo ra một từ
mới từ vốn từ của mình (như người Việt đã làm), hoặc vay mượn một từ mới (là
cách của người Pháp với tomate, hay người Anh với tomato). Trong cả hai trường
hợp, họ tiếp nhận vào bộ nhớ của mình một ký ức mới về một loại quả mới được ký
hiệu bằng một từ mới. Một q trình tương tự ln diễn ra mỗi lần người ta gặp
một sự vật hay hiện tượng mới, nhưng khơng ai có thể chỉ ra quy luật tại sao một
cộng đồng người, trong những hoàn cảnh cụ thể, lại lựa chọn cách này hay cách
kia.
mượn từ ngoại quốc vì nhu cầu cái mới. Giống như những người kể chuyện tiếu
lâm không thể kể mãi một kiểu, trong cuộc sống có những lúc người ta muốn một
hình thức đặc biệt hơn cho một nội dung đã cũ: khi cần tỏ ra lịch sự, khi chia buồn
hay đơn thuần là muốn thay đổi một cái gì đó đã lỗi mốt.
Nguyên nhân thứ ba là sự thống trị về mặt chính trị mà một dân tộc áp đặt lên
dân tộc khác. Trong trường hợp này, dân tộc bị thống trị buộc phải sử dụng ngôn
ngữ của dân tộc thống trị trong hành chính, giáo dục và đôi khi, như trường hợp
Việt Nam thời Bắc thuộc hay nước Anh dưới sự thống trị của người Norman, cả
trong văn học nữa.
Cuối cùng, sự vay mượn có thể diễn ra đơn giản do sức ép về văn hố. Các
Ba đặc điểm trên đây cho ta thấy nghĩa của từ phụ thuộc vào các điều kiện
lịch sử, xã hội và trải nghiệm cá nhân của đến mức nào. Và đó chính là nguồn gốc
<i>tính biểu cảm của ngơn từ, cái có vai trị vơ cùng to lớn trong văn học, đặc biệt là </i>
trong thơ. Trong tiếp nhận của mỗi người, nghĩa của từ, cái ký ức chung giả định
kia, giống như một cánh bướm mong manh, chấp chới, không ngừng biến đổi. Vì
mỗi từ, về bản chất, là một điển tích, đúng hơn là một điển tích cuộc sống, nó bao
giờ cũng chỉ được hiểu một cách tương đối, gần đúng. Nó biến đổi cùng với cuộc
sống, và tuỳ thuộc vào sự am hiểu và tâm trạng của mỗi người mà nó có một
trường ngữ nghĩa cụ thể. Việc tìm một điển tích tương đương cho nó trong một
ngơn ngữ khác càng khó khăn hơn gấp bội. Tơi có đọc ở đâu đó một bài báo khoa
học, rằng khi dịch từ tiếng nọ sang tiếng kia, người ta chỉ có thể có khơng tới 300
từ tương ứng với nhau một cách cơ bản về ngữ nghĩa. Nếu xem xét cả các khác biệt
về ngữ pháp và truyền thống văn hố, điều đó có nghĩa là lối dịch mot-à-mot trên
thực tế không tồn tại.
Để hiểu được một tác phẩm nghệ thuật chúng ta khơng thể tách rời cội nguồn
xã hội, văn hố và lịch sử đã nuôi nấng và đã cấp cho các từ, cũng như các đơn vị
lớn hơn từ, những ý nghĩa cụ thể của chúng. Những điều này chúng tơi nói về ngơn
từ, nhưng cũng đúng với những sự vật khác: mỗi dáng cây, thế núi hay màu sắc,
hương vị gợi nhớ về những ký ức khác nhau. Nhạc sĩ Lê Tâm kể rằng trong thời
gian đi nghĩa vụ quân sự, anh thường xuyên phải lao động bên cạnh một xưởng nấu
nước mắm. Cùng với một băng nhạc ABBA, mùi nước mắm trở thành bạn đồng
hành của anh trong mấy năm liền. Sau này, mỗi lần nghe nhạc ABBA anh lại ngửi
thấy mùi nước mắm!
Vì vậy, nghiên cứu tác phẩm chỉ căn cứ vào văn bản chỉ là một ảo tưởng mà
thôi.