Tải bản đầy đủ (.doc) (56 trang)

SỰ THỐNG NHẤT BIỆN CHỨNG GIỮA lí LUẬN và THỰC TIỄN và sự vận DỤNG QUY LUẬT này vào QUÁ TRÌNH đổi mới ở VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (382.83 KB, 56 trang )

-0-

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THỂ DỤC THỂ THAO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Mơn : Triết học

Đề tài : “SỰ THỐNG NHẤT BIỆN CHỨNG GIỮA LÍ LUẬN VÀ THỰC
TIỄN VÀ SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY VÀO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI
Ở VIỆT NAM ”

Người hướng dẫn : Ths Phạm Thị Vân
Học viên
: Phạm Đình Vũ
Ngành :
Giáo Dục Học
Mã : 8140101

TP.HỒ CHÍ MINH, Tháng 07 năm 2019


-1-


-2-

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Tình hình nghiên cứu
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài


4. Phương pháp nghiên cứu
5. Ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực tiễn
6. Kết cấu của đề tài
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN
1.1.PHẠM TRÙ THỰC TIỄN VÀ PHẠM TRÙ LÝ LUẬN
1.1.1.Phạm trù thực tiễn
1.1.2.Phạm trù lí luận
1.2.MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ BẢN CHẤT CỦA NHẬN THỨC TRONG
TRIẾT HỌC
1.2.1.Quan niệm về bản chất của nhận thức trong triết học trước Mác
1.2.2.Quan niệm về bản chất của nhận thức trong triết học Mác – Lênin
CHƯƠNG 2
SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1.VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC
2.1.1. Thực tiễn là cơ sở của nhận thức
2.1.2.Thực tiễn là động lực của nhận thức
2.1.3. Thực tiễn là mục đích của nhận thức


-3-

2.1.4. Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
2.2.SỰ TÁC ĐỘNG TRỞ LẠI CỦA LÍ LUẬN ĐỐI VỚI THỰC TIỄN
2.2.1.Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn
2.2.2.Lý luận mở đường và hướng dẫn hoạt động thực tiễn
2.2.3.Lý luận và thực tiễn là sự thống nhất
2.3.SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.3.1.Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong công cuộc đổi mới ở Việt

Nam
2.3.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO


-4-

PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, lý luận nhận thức, vấn đề cải tạo thực tiễn
nền kinh tế luôn thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng.Ngày nay, triết học
là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển của bất cứ hình thái kinh tế
nào. Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và thực tiễn, phương pháp
biện chứng… luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt động thực
tiễn, xây dựng và phát triển xã hội. Nếu xuất phát từ một lập trường triết học
đúng đắn, con người có thể có được những cách giải quyết phù hợp với các
vấn dề do cuộc sống đặt ra. Việc chấp nhận hay không chấp nhận một lập
trường triết học nào đó sẽ khơng chỉ đơn thuần là sự chấp nhận một thế giới
quan nhất định, một cách lý giải nhất định về thế giới, mà còn là sự chấp nhận
một cơ sở phương pháp luận nhất định chỉ đạo cho hoạt động.
Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ
nghĩa Mác. Lênin đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là triết
học của chủ nghĩa Mác. Cho đến nay, chỉ có triết học Mác là mang tính ưu việt
hơn cả. Trên cơ sở nền tảng triết học Mác – Lênin, Đảng và Nhà nước ta đã
học tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướng chỉ
đạo chính xác, đúng đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp với hồn
cảnh đất nước. Mặc dù có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi song

chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, từng


-5-

bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các nước trong khu vực và thế giới về
mọi mặt. Chính những thành tựu của xây dựng chủ nghĩa xã hội và qua mười
năm đổi mới là minh chứng xác đáng cho vấn đề nêu trên .Vì vậy, em quyết
định chọn đề tài “Sự thống nhất biện chứng giữa lí luận và thực tiễn và sự vận
dụng quy luật này vào quá trình đổi mới ở Việt Nam ”.
2. Tình hình nghiên cứu
Sự tất thắng của chủ nghĩa cộng sản, sự thay thế xã hội tư bản chủ nghĩa
bằng xã hội cộng sản chủ nghĩa trong tiến trình lịch sử của nhân loại là một
quy luật khách quan. Việt Nam hiện nay đang ở vào thời kỳ quá độ, chúng ta
đã bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy
trong quá trình phát triển, luôn luôn nảy sinh những mâu thuẫn cần giải quyết.
Với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chính phủ, chúng ta đã có những chiến
lược và sách lược đúng đắn.
Trên cơ sở nền tảng của chủ nghĩa Mác- Lênin, đặc biệt là lý luận triết
học Mác- Lênin, chúng ta đã vạch rõ được con đường phát triển kinh tế đúng
đắn đó là: ”ln ln xuất phát từ thực tiễn, tơn trọng và hoạt động theo quy
luật khách quan.’(Trích’Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI”). Từ
năm 1986, chúng ta đã tổng kết được những bài học kinh nghiệm quý báu để
đổi mới và cải cách kinh tế. Xây dựng một nền kinh tế thị trường, một nền
kinh tế nhiều thành phần, lành mạnh chính là sự vận dụng sáng tạo quan điểm
chỉ đạo của Đảng vào thực tiễn hoàn cảnh trong nước và trên thế giới. Những
quan điểm đổi mới, tiến bộ đó là sự tơn trọng hồn tồn những lý luận nhận
thức và thực tiễn chi phối nền kinh tế.



-6-

Đứng trên quan điểm triết học Mác- Lênin, ta càng có cơ sở để khẳng
định những khởi sắc trong mười năm đổi mới cho dến nay từ sau Đại hội
Đảng lần thứ VI là những thành cơng mang tính tất yếu do chúng ta đã vận
dụng đúng đắn các quy luật khách quan vào cải tạo thực tiễn. Chúng ta đã tơn
trọng những bước phát triển có tính quy luật của lịch sử, không đi ngược lại
“guồng quay” của lịch sử.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
Ln ln gắn lý thuyết với thực hành, nắm vững kiến thức thông qua
sự hiểu biết sâu rộngvấn đề là một phương châm hành động của chúng ta
trong thời đại mới. Nghiên cứu lý luận nhận thức và thực tiễn là một sự nghiên
cứu sâu rộng của triết học trong mối liên quan với phát triển kinh tế và phát
triển xã hội.
Hơn thế nữa, đứng trước ngưỡng cửa thế kỷ 21, khi mà xu thế hội nhập
đang tăng cao, nền kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ thì các hành động
đều xuất phát từ quá trình nhận thức và cải tạo thực tiễn là phương châm chỉ
đạo và hoạt động của Đảng, Nhà nước ta.Muốn phát triển kinh tế vững mạnh
thì phải ln đặt nó với mối quan hệ với những khoa học khác, đặc biệt là triết
học. Sự thành công hay thất bại, phát triển hay lạc hậu của bất cứ nền kinh tế
nào là do có lập trường triết học đúng đắn. Bởi vì xuất phát từ một lập trường
triết học đúng đắn, con người có thể có được cách giải quyết phù hợp với
những vấn đề do cuộc sống đặt ra. Còn ngược lại, xuất phát từ một lập trường
triết học sai lầm, con ngưịi khó có thể tránh khỏi hành động sai lầm. Trong
hoạt dông kinh tế, một lập trường triết học đúng đắn là tối cần thiết. Chỉ có
triết học Mác – Lênin mới có được những tính ưu việt này.


-7-


4. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài chủ yếu dựa trên thế giới quan và phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử .Ngồi ra ,
đề tài cịn sử dụng phương pháp khác như : phương Pháp phân tích - tổng hợp,
hệ thống - cấu trúc, Lơgic - lịch sử trong quá trình giải quyết các vấn đề được
nêu ra ở niên luận.đồng thời tổng hợp các phương pháp nghiên cứu dưới gốc độ
tiếp cận của triết học lịch sử theo hệ thống quy nạp ,diễn dịch .
5. Ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực tiễn
Đại hội Đảng lần thứ VI đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong
quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam. Trước văn kiện này, những bài học
kinh nghiệm đã được rút ra trong triết học Mác – Lênin và Đảng ta lấy đó làm
“kim chỉ nam’ cho hoạt động của mình. Triết học là một bộ phận cấu thành
của chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ rõ; triết học của chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa
duy vật. Nhưng Mác không dừng lại ở chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII mà
những thiếu sót chủ yếu nhất của nó là máy móc, siêu hình và duy tâm khi
xem xét các hiện tượng xã hội. C.Mác và Ănghen đã khắc phục những thiếu
sót ấy, đẩy triết học tiến lên hơn nữa bằng cách tiếp thu một cách có phê phán
và có chọn lọc những thành quả của triết học cổ điển Đức và nhất là của hệ
thống triết học Hêghen. Trong những thành quả đó thì thành quả chủ yếu là
phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển dưới hình thức tồn diện
nhất, sâu sắc nhất và thốt hẳn được tính phiến diện. Nhưng phép biện chứng
của Hêghen là phép biện chứng duy tâm nên Mác và Ănghen đã cải tạo nó.
Chính trong q trình cải tạo này, Mác và Ănghen đã gắn phép biện chứng
Hêghen với thực tiễn, phát triển tiếp tục chủ nghĩa duy vật cũ, đẩy nó lên
thành chủ nghĩa duy vật bịên chứng.Vì vậy chính Mác và Ănghen đã xây dựng


-8-

một triết học mới với thế giới quan duy vật nhất quán trong việc nhận thức xã

hội. Cơ sở của những lí luận trong học thuyết đó là những quy luật khách quan
và thực tiễn xã hội (“Triết học Mác- Lênin”- Chương trình cao cấp. Tập I;Tập
san triết học).Vậy trong quá trình xây dựng nên triết học Mác, C.Mác và
Ănghen đã luôn đi từ thực tiễn và những quy luật khách quan để định hướng
lý luận nghiên cứu. Những lý luận đó vì thế có cơ sở khoa học vững chắc,
khơng sa vào siêu hình hay nhị ngun luận như các nhà triết học đi trước.
Để chỉ đạo hoạt động được đúng đắn, triết học Mác- Lênin chính là nền
tảng bền vững cho mọi mục tiêu, phương hướng phát triển mọi mặt của Đảng
và Nhà nước ta.
6. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm 2 chương và 5 tiết
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN
Vấn đề thống nhất giữa lý luận và thực tiễn giữ vai trò rất quan trọng trong
triết học xã hội chủ nghĩa Mác.Tầm quan trọng đó được chỉ rõ: “Quan điểm về
đời sống về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận
thức”1.Thực tiễn hiện nay, trên thế giới và đặc biệt trong công cuộc xây dựng và
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự
quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay đã
và đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi trên phương diện lý luận khoa học phải
nghiên cứu, tổng hợp thành lý luận chỉ đạo thực tiễn, điều chỉnh hoạt động thực
tiễn theo đúng hướng, đạt hiệu quả cao. Kinh nghiệm đấu tranh, bảo vệ và xây
dựng tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã đem lại cho chúng ta bài học vô giá là. Bởi


-9-

chúng ta đều biết rằng ,thực tiễn là những hoạt động có tính lịch sử- xã hội làm
biến đổi thế giới tự nhiên và xã hội, còn lý luận là hệ thống những tri thức được
khái quát từ thực tiễn, phản ánh mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của

thế giới khách quan.Vì vậy trong cơng cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Đảng và Nhà nước luôn quán triệt quan điểm này. Bởi vì, những vần đế như lý
luận nhận thức, thực tiễn, phương pháp biện chứng…luôn là cơ sở là phương
hướng là tôn chỉ cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội. Nếu
chúng ta nhận thực một cách đúng đắn thì có thể giải quyết được các vấn đề mà
cuộc sống đang đặt ra.
Trên cơ sở nền tảng triết học Mác-Lênin, Đảng và Nhà nước ta luôn học
tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướng chỉ đạo
chính xác, đúng đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnh đất
nước. Mặc dù có những khiếm khuyết khơng thể tránh khỏi song chúng ta luôn
đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước
ta tiến kịp trình độ các nước trong khu vực và thế giới về mọi mặt.
1.1.PHẠM TRÙ THỰC TIỄN VÀ PHẠM TRÙ LÝ LUẬN
1.1.1.Phạm trù thực tiễn
Phạm trù thực tiễn không phải chỉ là phạm trù lý luận nhận thức, không
phải chỉ là phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng mà còn là một trong
những phạm trù nền tảng, cơ bản của toàn bộ triết học Mac-Lênin, xung quanh
vấn đề thực tiễn đã có rất nhiều các trường phái triết học bàn đến.
Quan điểm của các nhà triết học duy tâm về thực tiễn
Theo các nhà triết học duy tâm , thực tiễn được hiểu là hoạt động tinh
thần chứ không phải là hoạt động hiện thực, hoạt động cảm tính của con người.
Pitago cho rằng “con số là bản chất của tất cả những cái đang tồn tại.Con số sinh


- 10 -

ra tính đa dạng của thế giới , thiết lập nên “trật tự” vũ trụ và “trật tự’ xã hội.Cho
nên nhận thức cấu tạo và quy luật của thế giới chính là nhận thức những con số
chi phối, điều khiển thế giới, vạn vật.Theo ơng cái gì tồn tại là cái có số đo và
chỉ có cái đo được thì mới tồn tại. Pitago cho rằng tất cả mọi thứ đều có thể giải

thích được bằng những con số, trong đó bao gồm cả những ý nghĩ về công lý
hay sự phạm tội chẳng hạn”3
Trong hệ tư tưởng Đức Mac-Ăngghen đã chỉ trích “phái Heghen trẻ cho
rằng những quan niệm, ý niệm, khái niệm, nói chung những sản phẩm của ý
thức mà họ gán cho là có một sự tồn tại độc lập, đều là những xiềng xích thực sự
đối với con người, giống như phái Heghen già tuyên bố và coi chúng là những
sợ dây ràng buộc thực sự đối với xã hội loài người, cho nên dĩ nhiên là phái
Heghen trẻ chỉ tiến hành đấu tranh với ảo tưởng đó của ý thức mà thơi. Vì theo
họ tưởng, những quan hệ của con người, tất cả mọi hành động và cử chỉ của con
người, mọi xiềng xích và giới hạn đối với con người đều là sản phẩm ý thức của
họ, nên phái Hegel trẻ đã đề xuất một cách hoàn toàn logic với con người một
mệnh đề đạo đức là: đổi ý thức hiện nay của mình lấy ý thức con người , có tính
phê phán hay ích kỷ và do đó, xóa bỏ những giới hạn đối với mình.Địi hỏi đổi ý
thức như vậy thì chẳng khác gì địi hỏi giải thích một cách khác đang tồn tại,
nghĩa là thừc nhận cái đang tồn tại bằng cách giải thích nó khác đi.Mặc dầu họ
đã dùng những lời lẽ khoa trương dường như “làm đảo lộn thế giới”, các nhà tư
tưởng của phái Hêghen trẻ vẫn là những kẻ đại bảo thủ. Những người trẻ nhất
trong bọn họ đã tìm được những từ ngữ chính xác để chỉ hoạt động của họ, khi
họ tuyên bố rằng họ chỉ đấu tranh chống lại “những cái nói”. Họ chỉ qn một
điều là ngồi những câu nói ra họ chẳng có gì khác hơn để chống lại những câu
nói ấy của thế giới thơi” 4 . Nhìn chung chủ nghĩa duy tâm chỉ giới hạn thực tiễn


- 11 -

với ý niệm, ở hoạt động tư tưởng, thực chất họ đã gạt bỏ vai trò của thực tiễn
khỏi nhận thức lý luận khoa học.
Quan niệm của các nhà triết học duy vật trước Mác về thực tiễn
Các nhà triết học duy vật trước Mac đã có cơng lớn trong việc phát triển
thế giới quan duy vật, đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và thuyết

không thể biết.Tuy nhiên hạn chế lớn nhất của họ là khơng thấy được vai trị, ý
nghĩa của thực tiễn đối với nhận thức lý luận khoa học, họ hoàn toàn thiếu quan
điểm thực tiễn, ngay cả Feuerbach – nhà triết học duy vật trước Mác cũng không
thấy được hoạt động vật chất cảm tính có tính năng động của con người. Mác đã
nhận xét “ Đành rằng so với các nhà duy vật “thuần túy” thì Feuerbach có ưu
điểm lớn là ông thấy rằng con người cũng là một “đối tượng cảm giác”; chứ
không phải là “hoạt động cảm giác được”, vì cả ở đây nữa, ơng vẫn bám vào lý
luận và không xem xét con người trong mối quan hệ xã hội nhất định của họ,
trong những điều kiện sinh hoạt nhất định của họ, những điều kiện làm cho họ
trở thành những con người đúng như họ đang tồn tại, thì Feuerbach cũng khơng
bao giờ đi tới được những con người đang tồn tại và hành động thực sự, mà ông
vẫn cứ dừng lại ở một sự trừu tượng : “ Con người”, và có thể nhận ra con người
“hiện thực, cá thể, bằng xương, bằng thịt” chỉ trong tình cảm thơi, nghĩa là ơng
khơng biết đến những “ quan hệ con người”, “giữa người với người”, nào khác,
ngồi tình u và tình bạn, hơn nữa lại là tình u và tinh bạn được lý tưởng
hóa.Ơng khơng phê phán những điều kiện sinh hoạt hiện tại. Như vậy Feuerbach
không bao giờ hiểu được rằng thế giới cảm giác được là tổng số những hoạt
động sống và cảm giác được của những cá nhân họp thành thế giới ấy, vì vậy khi
ơng nhìn thấy chẳng hạn một đám đói, cịi cọc, kiệt quệ vì lao động và ho lao,
chứ khơng phải những người khỏa mạnh thì ơng phải lẩn trốn và trong “quan


- 12 -

niệm cao hơn” và trong “ sự bù trừ”, lý tưởng “trong lồi”, nghĩa là ơng lại rơi
vào chủ nghĩa duy tâm, đúng ở chỗ mà người duy vật cộng sản chủ nghĩa nhìn
thấy cả sự tất yếu lẫn điều kiện của một sự cải tạo cả nền công nghiệp lẫn cơ cấu
xã hội”4 . Như vậy ông đã đề cao hoạt động lý luận và xem hoạt động lý luận là
hoạt đích thực của con người. Như vậy ông đã coi thường hoạt động thực tiễn,
xem thực tiễn là cái gì có tính chất con bn, bẩn thiểu và khơng hiểu được vai

trị của thực tiễn đối với nhận thức cải tạo thế giới.Chủ nghĩa duy vật trước Mác
đã thừa nhận về khả năng nhận thức con người và coi nhận thức là sự phản ánh
hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người.Tuy nhiên do hạn chế bởi
tính trực quan, siêu hình nên chủ nghĩa duy vật trước Mác đã coi nhận thức là sự
phản ánh trực quan, là bản sao chép nguyên xi trạng thái bất động của sự vật. Họ
chưa thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức. Như vậy có thể nói, tất
cả các trào lưu triết học trước Mác- Lênin đều quan niệm sai lầm hoặc phiến
diện về nhận thức, những vấn đề về lý luận nhận thức chưa được giải quyết một
cách khoa học, đặt biệt chưa thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
Quan điểm của Chủ nghĩa Mac Lênin về thực tiễn
Chủ nghĩa Mac-Lênin cho rằng con người tự làm ra lịch sử của mình
nhưng khơng phải bằng hoạt động lý luận mà bằng hoạt động thực tiễn, cải tạo
thế giới hiện thực.Chính Mac-Ăngghen- Lênin là những người đầu tiên trong
lịch sử triết học đã đưa thực tiễn vào lý luận nhận thức, đã đưa quan điểm đúng
đắn về bản chất của thực tiễn.Do đó đã đem lại một quan điểm khoa học về vai
trò ý nghĩa của thực tiễn đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát
triển của xã hội loài người.Mác-Ănghen cho rằng: “ chúng ta không xuất phát
từ những điều kiện mà con người nói, tưởng tượng, hình dung, cũng khơng xuất
phát từ những con người chỉ tồn tại trên lời nói, trong ý nghĩ, trong tưởng tượng,


- 13 -

trong biểu tượng của người khác, để từ đó mà đi tới những con người bằng
xương bằng thịt; không, chúng ta xuất phát từ những con người đang hành động,
hiện thực và chính là xuất phát từ quá trình đời sống hiện thực của họ mà chúng
ta mơ tả sự phát triển của những phản ánh tư tưởng và tiếng vang tư tưởng của
quá trình đời sống ấy. Ngay cả những ảo tưởng hình thành trong đầu óc con
người cũng là những vật thăng hoa tất yếu của quá trình đời sống vật chất của
họ, một quá trình có thể xác định được bằng kinh nghiệm và gắn liền với những

tiền đề vật chất”. “Không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống
quyết định ý thức.Theo cách xem xét thứ nhất, người ta xuất phát từ ý thức, coi
đó là cá nhân sống’; theo cách thứ hai, là cách phù hợp với đời sống hiện thực,
người ta xuất phát từ chính ngay những cá nhân hiện thực và sống và coi ý thức
chỉ là ý thức của họ mà thôi”
Như vậy ,thực tiễn không phải bao gồm toàn bộ toàn bộ hoạt động của
con người mà chỉ là những hoạt động vật chất mà theo Mác hoạt động vật chất
là hoạt động cảm tính của con người. Nói thực tiễn là hoạt động vật chất, có
nghĩa là: trong q trình hoạt động thực tiễn, con người phải sử dụng các
phương tiện, công cụ vật chất, sức mạnh vật chất của mình tác động vào tự
nhiên, xã hội để cải tạo làm biến đổi chúng phù hợp với nhu cầu của mình, cho
nên hoạt động thực tiễn là sự tương tác giữa chủ thể và khách thể trong đó chủ
thể hướng vào việc cải tạo khách thể trên cơ sở đó mà nhận thức khách thể, vì
vậy thực tiễn trở thành mắt khâu trung gian nối liền ý thức con người với thế
giới bên ngoài.Thực tiễn là những hoạt động vật chất mang tính chất lồi, hoạt
động vật chất đó khơng thể được tiến hành chỉ bằng từng con người riêng lẻ mà
phải bằng hoạt động đông đảo của quần chúng nhân dân trong xã hội; đó là hoạt
động của nhiều tầng lớp, nhiều giai cấp, chủ thể là cả xã hội ở một giai đoạn lịch


- 14 -

sử nhất định. Do đó xét về nội dung cũng như về phương thức thực hiện, thực
tiễn có tính lịch sử -xã hội.
Thực tiễn của con người được tiến hành dưới nhiều hình thức.Trong quá
trình hoạt động cải tạo thế giới, con người tạo ra một hiện thực mới, một “thiên
nhiên thứ hai”. Đó là thế giới của văn hóa tinh thần và vật chất, những điều kiện
mới cho sự tồn tại của con người, những điều kiện này khơng được giới tự nhiên
mang lại dưới dạng có sẵn. Đồng thời với q trình đó, con người cũng phát
triển và hồn thiện bản thân mình.Chính sự cải tạo hiện thực thông qua hoạt

động thực tiễn là cơ sở của tất cả những biểu hiện khác có tính tích cực, sáng tạo
của con người.Con người khơng thích nghi một cách thụ động mà thơng qua
hoạt động của mình, tác động một cách tích cực để biến đổi và cải tạo thế giới
bên ngồi. Hoạt động đó chính là thực tiễn
Hình thức cơ bản đầu tiên của hoạt động thực tiễn là hoạt động sản xuất
vật chất. Đây là hoạt động thực tiễn quan trọng nhất, nguyên thủy nhất và cơ bản
nhất, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội lồi người và quyết định
các hình thức khác của hoạt động thực tiễn.Thực tiễn sản xuất vật chất là tiền đề
xuất phát để hình thành những mối quan hệ đặc biệt của con người với thế giới,
giúp con người thốt ra khỏi khn khổ tồn tại của các lồi vật.
Thực tiễn cịn là hoạt động chính trị -xã hội, hoạt động này xuất hiện khi
xã hội phân chia thành giai cấp, đó là hoạt động đấu tranh giai cấp, đấu tranh
giải phóng dân tộc, đấu tranh cho hịa bình, đấu tranh chính trị là hoạt động đấu
tranh cách mạng nhằm cải tạo, biến đổi xã hội, phát triển các quan hệ xã hội, chế
độ xã hội, đồng thời làm địa bàn rộng rãi cho hoạt động sản xuất và tạo ra những
môi trường xã hội xứng đáng với bản chất con người bằng cách đấu tranh giai
cấp và cách mạng xã hội .Trong bức thư gửi công nhân và nông về việc chiến


- 15 -

thắng côn-tsắc Lênnin đã viết: “Muốn bảo vệ chính quyền của cơng nơng để
chống bọn ăn cướp, tức bọn địa chủ và bọn tư bản,chúng ta phải có Hồng quân
mạnh mẽ.Chúng ta đã chứng tỏ, bằng hành động chứ khơng phải bằng lời nói,
rằng chúng ta có khả năng thành lập được Hồng quân, rằng chúng ta đã học
được cách chỉ huy Hồng quân và đánh thắng bọn tư bản, mặc dầu bọn này được
những nước giàu có nhất trên thế giới tiếp tế dồi dào về vũ khí và qn trang,
qn dụng.Những người Bơn-sê-vích đã chứng tỏ điều đó bằng hành động.Tất
cả những cơng nhân và nơng dân, nếu có ý thức, thì phải tin vào những người
Bơ-sê-vích, nhưng khơng phải tin trên lời nói mà tin vào cơ sở kinh nghiệm của

hành triệu và hàng triệu người ở U-ran và Xi-bi-ri” Như vậy hoạt động đấu tranh
chính trị xã hội giữ vai trị quan trọng để cải tạo và biến đổi xã hội sao cho tốt
đẹp hơn.
Cùng với sự ra đời và phát triển của khoa học, một hình thức cơ bản khác
của hoạt động thực tiễn cũng xuất hiện đó là hoạt động thực nghiệm khoa học.
Cần lưu ý, chỉ những hoạt động thực nghiệm khoa học chứ khơng phải tồn bộ
hoạt động khoa học vì thực tiễn trong hoạt động khoa học có cả hoạt động lý
thuyết và lý luận khoa học.
Từ những hình thức cơ bản trên, những hình thức khơng cơ bản của hoạt
động thực tiễn hình thành, đó là: các hoạt động nghệ thuật; giáo dục; tôn giáo;
đạo đức…, sở dĩ gọi là khơng cơ bản vì những hình thức này chúng được hình
thành và phát triển từ những hình thức cơ bản, chúng phụ thuộc vào những hình
thức cơ bản, chúng là những hình thức thực tiễn tái sinh. “Như vậy, hoạt động
của con người rất đa dạng và phong phú.Chúng được thể hiện trong tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội.Tuy nhiên khái quát lại ta thấy có hai dạng hoạt
động cơ bản và bao trùm nhất: hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần.Trong


- 16 -

đó hoạt động vật chất là nền tảng tồn bộ đời sống xã hội, nó quy định hoạt
động tinh thần” .
Từ những sự phân tích ở trên, ta có thể rút ra kết luận về thực tiễn như
sau: Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mụch đích, mang tính
lịch sử- xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.Chúng ta cũng
có thể hiểu thực tiễn là: “phạm trù triết học chỉ toàn bộ hoạt động vật chất của
con người cải tạo thế giới khách quan( giới tự nhiên, xã hội, con người cùng ý
thức của nó)” .
1.1.2. Phạm trù lý luận
Song với phạm trù thực tiễn trong triết học Mác-Lênin là phạm trù lý

luận. Sự phát triển nhận thức loài người tất yếu dẫn đến sự xuất hiện lý luận, lý
luận là sự phát triển cao của nhận thức đồng thời thể hiện trình độ của nhận
thức. Lý luận là một hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản
ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giới khách quan.
Để có lý luận nhận thức nhận loại phải trải qua hai trình độ
Tri thức kinh nghiệm
Đây là loại tri thức chủ yếu thu được từ quan sát kinh nghiệm, nẩy sinh
trực tiếp từ thực tiễn, từ lao động, sản xuất đến đâu tranh xã hội hoặc các thí
nghiệm.Có hai loại tri thức kinh nghiệm đó là tri thức kinh nghiệm thơng thường
và tri thức kinh nghiệm khoa học.Tri thức kinh nghiệm thông thường cịn gọi là
tri thức tiền khoa học, nó thu được từ những sự quan sát hàng ngày trong đời
sống xã hội, trong lao động sản xuất, những kinh nghiên này được tổng kết trong
các câu ca dao tục ngữ:
“Nhất nước nhì phân
Tam cần tứ giống”


- 17 -

“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng,bay vừa thì răm”
“Chóp đơng nhay nháy,gà gáy thì mưa
Tháng ba mưa đám, tháng tám mưa cơn
Gío heo mây chẳng mưa dầm thì bảo giật”
“Đêm trời tang trăng sao khơng tỏa
Ấy là điềm mưa gió tới nơi
Đêm nào sao dáng xanh trời
Ấy là nắng ráo yên vui suốt ngày
Những ai chăm việc cấy cày
Điềm trời trong đó liệu xoay việc làm

Nhiều chống càng tốt niều cột càng bền”9
Trong quá trình phát triển của xã hội hai loại tri thức này càng thân nhập
lẫn nhau, bổ sung và hoàn thiện cho nhau.Vai trị của tri thức kinh nghiệm khơng
thể thiếu được trong cuộc sống hành ngày của con người và càng có vai trị quan
trọng trong đấu tranh cách mạng, nhất là trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Hạn chế của tri thức kinh nghiệm chỉ đem lại sự hiểu biết về các mặt riêng
rẽ, về các mối liên hệ bên ngồi của sự vật mang tính riêng lẻ tẻ rời rạc.Ở trình
độ kinh nghiệm chưa nắm bắt được cái tất yếu sâu sắc nhất, mối liên hệ bản chất
nhất của sự vật hiện tượng, vì vậy Lênin cho rằng sự biểu tượng gần như sự vật
nhưng lại xa sự vật hơn.
Tri thức lý luận
Là tri thức khái quát từ tri thức kinh nghiệm, nó tồn tại trong hệ thống
khái niệm, phạm trù quy luật của lý luận nói chung. Khác với tri thức kinh
nghiệm, tri thức kinh nghiệm mang tính trừu tượng; do vậy, nhận thức lý luận là


- 18 -

nhận thức hướng vào bản chất của quy luật của sự vật hiện tượng.Hạn chế của
tri thức lý luận là do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao trong phản ánh hiện thực
nên dễ dẫn đến khả năng lý luận xa rời thực tiễn và trở thành ảo tưởng giáo điều,
đó là những hệ tư tưởng khơng khoa học phản động và độc quyền về chân lý.Vì
vậy, phải coi trọng lý luận nhưng không được cường điệu vai trò lý luận, coi
thực tiễn, tách rời thực tiễn, xa rời thực tiễn. Mac-Ăngnghen cho rằng: “các
nguyên lý không phải là điểm xuất phát của sự nghiên cứu mà là kết quả cuối
cùng của nó; những ngun lý ấy khơng phải được ứng dụng vào giới tự nhiên
và lịch sử loài người, mà được rút ra từ giới tự nhiên và lịch sử lồi người;
khơng phải giới tự nhiên và loại người phải phù hợp với các nguyên lý, mà trái
ngược lại các nguyên lý chỉ đúng trong chừng mực chúng phù hợp với giới tự
nhiên và lịch sử” .

Ở đây chúng ta cần phải xét thực tiễn và hoạt động khác nhau ở điểm
nào? Có rất nhiều tác giả đã đồng nhất hai khái niệm này với nhau, nhưng ở đây
hoạt động, chúng ta có thể hiểu theo nghĩa chung nhất là phương thức tồn tại
và phát triển hiện thực lịch sử. Một số tác giả đã dựa vào câu nói của Mác “Đời
sống xã hội, về thực chất, là có tính chất thực tiễn”- để đồng nhất hai khái niệm
“thực tiễn và hoạt động”. Ở đây chúng ta không thể đồng nhất hai khai niệm
“thực tiễn” và “hoạt động”. Câu nói mang tính ngun tắc của đó của Mác cần
phải được hiểu là: Thực tiễn là phương thức mà con người tác động qua lại với
thế giới và cải tạo thế giới đó. Mác đem quan điểm đó đối lập lại với quan điểm
của chủ nghĩa duy vật trực quan của PhơBách.

CHƯƠNG 2


- 19 -

2.1.SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1.Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Thực tiễn ln giữ một vai trị vơ cùng quan trọng trong q trình nhận
thức.Nó được biểu hiện ở chỗ thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mụch đích của
nhận thức lý luận khoa học.
2.1.1. Thực tiễn là cơ sở của nhận thức
Mác-Ăngghen nhận định: “Cũng như tất cả các khoa học khác, toán học
sinh ra từ những nhu cầu thực tiễn của con người: từ việc đo diện tích các
khoảnh đất và việc lường dung tích của những đồ chứa, từ những việc đếm thời
gian và từ cơ học. Nhưng cũng như trong mọi lĩnh vực của tư duy, đến một trình
độ phát triển nào đó, những quy luật được rút ra bằng con đường trừu tượng hóa
từ thế giới hiện thực, cũng bị tách khỏi thế giới hiện thực, bị đem đối lập với thế
giới hiện thực như là một cái gì độc lập, như là những quy luật từ bên ngồi mà
thế giới phải thích ứng.Tình hình là như vậy trong nhà nước trong một xã hội và

nhà nước; tình hình cũng như vậy chứ khơng khác đối với mơn tốn học thuần
túy, nó được áp dụng về sau trong thế giới, mặc dù nó được mượn từ chính thế
giới đó và chỉ biểu hiện một phần những hình thức liên hệ vốn có của thế giới
đó-và chính chỉ vì thế mà tốn học nói chung mới có thể ứng dụng được” . Con
người ln ln có nhu cầu khách quan là phải giải thích và cải tạo thế giới, điều
đó bắt buộc con người phải tác động trực tiếp vào các sự vật, hiện tượng bằng
hoạt động thực tiễn của mình, làm cho các sự vật vận động, biến đổi qua đó bộc
lộc các thuộc tính, những mối liên hệ bên trong.Các thuộc tính và mối liện hệ đó
được con người ghi nhận chuyển thành những tài liệu cho nhận thức, giúp cho
nhận thức nắm bắt được bản chất của các quy luật phát triển của thế giới. Như
vậy ở đây Mác-Ăngnghen cho chúng ta biết con người quan hệ với thế giới


- 20 -

không phải bắt đầu bằng lý luận mà bằng thực tiễn, chính từ trong hoạt động
thực tiễn cải tạo thế giới buộc con người phải nhận thức thế giới do đó mà nhận
thức lý luận –khoa học ở con người mới được hình thành và phát triển .
Tri thức của con người thu được dưới dạng trực tiếp hoặc gián tiếp đều nảy sinh
từ hoạt động thực tiễn, do đó khơng có thực tiễn thì khơng có nhận thức, khơng
có lý luận và khơng có khoa học.Mác viết: “ Nếu ta khơng thể phán đốn một
người, mà chỉ căn cứ vào ý kiến của chính người đó đối với bản thân, thì ta cũng
khơng thể phán đốn một thời đại đảo lộn nào đó mà chỉ căn cứ vào ý thức của
thời đại ấy. Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của cuộc
sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất của xã hội
với những quan hệ sản xuất”12. Mặc khác, nhờ có hoạt động thực tiễn mà các
giác quan con người ngày càng được hoàn thiện, năng lực tư duy logic không
ngừng được củng cố và phát triển; các phương tiện nhận thức ngày càng tinh vi,
hiện đại, có tác dụng “nối dài” các giác quan con người trong nhận thức thế giới.
Chẳng hạn, các môn khoa học quản lý ra đời nhằm giúp các nhà quản lý tìm ra

các biện pháp nâng cao nâng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế. MácĂngnghen cũng đã nhận định: “ Từ trước tới nay, khoa học tự nhiên cũng như
triết học đã hoàn toàn coi thường ảnh hưởng của hoạt động con người đối với tư
duy của họ. Hai mơn ấy một mặt chỉ biết có tự nhiên, mặt khác chỉ biết có tư
tưởng. Nhưng chính việc người ta biến đổi tư nhiên, chứ không phải chỉ một
mình giới tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp
của tư duy con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc
người ta đã học cải biến tự nhiên.Vì thế mà quan niệm tự nhiên chủ nghĩa về
lịch sử - như nó thể hiện ít nhiều ở Đrê-pơ và những nhà khoa học tự nhiên
khác- cho rằng chỉ có giới tự nhiên mới tác động đến con người, chỉ có những


- 21 -

điều kiện tự nhiên mới quyết định ở khắp mọi nơi sự phát triển lịch sử của con
người, quan niệm ấy là phiến diện, nó quên rằng con người cũng tác động trở lại
tự nhiên, cải biến tự nhiên và tạo cho mình những điều kiện sinh tồn mới.Từ cái
“ tự nhiên” của nước Đức vào thời mà những người Giec-manh định cư ở đó, thì
cịn lại rất ít. Diện tích đất , khí hậu thực vật, động vật, cả bản thân con người
đều biến đổi không ngừng và tất cả những cái đó là do sự hoạt động của con
người, cịn những sự thay đổi khơng có sự đóng góp của con người , xảy ra
trong thời gian ấy trong tự nhiên của nước Đức thì thật không đáng kể” 13 . Như
vậy qua hoạt động thực tiễn, não bộ của con người ngày càng phát triển hơn, các
giác quan ngày càng hoàn thiện hơn. Thực tiễn là nguồn tri thức đồng thời cũng
là đối tượng của nhận thức. Chính hoạt động thực tiễn đã đặt ra nhu các nhu cầu
cho nhận thức, tạo ra các phương tiện hiện đại giúp con người đi sâu tìm hiểu tự
nhiên. “Nếu như sau cái đêm tăm tối của đên trường trung cổ, các ngành khoa
học đột nhiên sống lại với một sức mạnh không ngờ và bắt đầu phát triển nhanh
chóng một cách kỳ diệu, thì sự kỳ diệu ấy cũng chính là nhờ sản suất mà có.
Một là, từ cuộc viễn chinh của Thập tự quân, công nghiệp đã đã tiến những bước
khổng lồ, và đã đẻ ra những một loạt những sự việc mới thuộc cơ học ( nghề dệt,

nghề làm đồng, những cối xay). Thuộc hóa học ( nghề nhuộm, luyện kim, rượu)
và thuộc lý học (các loại kinh); các sự việc ấy không những đã cung cấp rất
nhiều tài liệu để quan sát, mà bản thân chúng cịn là những phương tiện thí
nghiệm hồn tồn khác hẳn những phương tiện xưa kia và cho phép chế tạo ra
những cơng cụ mới.Có thể nói rằng chỉ từ lúc đó thì mới có thể có một nền khoa
học thực nghiệm thật sự có hệ thống. Hai là toàn thể Tây và Trung Âu bao gồm
cả Ba Lan, bây giờ phát triển trong một mối liên hệ khắn khít lẫn nhau, mặc dù
nước Italia nhờ nền văn minh thừa hưởng cua thời cổ , vẫn còn tiếp tục đứng ở


- 22 -

hàng đầu. Ba là, những phát hiện về địa lý,- thuần túy do việc chạy đua tìm lợi
nhuận thúc đẩy, do đó, xét đến cùng là do lợi ích của sản xuất thúc đẩy- đã mang
lại những tài liệu vô tận mà trước đây, người ta không thể đạt được trong các
lĩnh vực khí tượng học, động vật học, thực vật học và sinh học (của người).Bốn
là đã xuất hiện máy in.Bây giờ ngồi tốn học, thiên văn, và cơ học là những
ngành đã có từ trước ra- vật lý học hồn tồn tách khỏi hóa học (To- ri-sê-li, Gali-lê, dựa vào những cơng trình thủy lực cơng nghiệp, lần đầu tiên, nghiên cứu
sự vận động của chất lỏng, -xem Cléc Mác- xn). Bơi-lơ làm cho hóa học trở
thành một khoa học.Hác- vây nhờ phát hiện ra sự tuần hồn của máu nên cũng
biến hóa sinh lý học (con người và cả loài vật) thành một khoa học. Động vật
học và thực vật học vẫn là những môn khoa học chỉ làm cái việc là thu thập tài
liệu khi mơn cổ sinh vật học cịn chưa được sáp nhập vào đó- Quy –vi-ê- và
chẳng bao lâu sau đó, là sự phát hiện tế bào, và sự phát triển của ngành hóa học
hữu cơ. Nhờ đó, mới có thể có được các ngành khoa học thực sự.Vào cuối thế
kỷ trước, người ta đã đặt nền móng cho mơn gọi (một cách không đúng) là nhận
loại học, môn này bảo đảm sự quá độ từ hình thái học và sinh lý học con người
và nhân chủng học sang sử học” 14 . Như vậy con người muốn tồn tại và phát
triển phải tổ chức hoạt động thực tiễn; trong thực tiễn cả chủ thể và khách thể
đều bộc lộ những thuộc tính những quy luật,…để con người nhận thức

chúng.Như vậy, thực tiễn đã cung cấp những tài liệu sinh động cho nhận thức,
mà khơng có chúng thì khơng thể có tri thức.Lịch sử phát triển khoa học đã
chứng minh rằng, mọi tri thức, lý luận dù là trực tiếp hay gián tiếp cũng đều bắt
nguồn từ thực tiễn .Thực tiễn không những cung cấp những tài liệu cho nhận
thức, mà còn làm xuất hiện những nhu cầu, đề ra nhiệm vụ và cung cấp những
công cụ, phương tiện để nhận thức giải quyết.Thự tiễn lớn nhất của nước ta hiện


- 23 -

nay là thực tiễn xây dựng nền kinh tế thị trường mới, nền văn hóa mới đậm đà
bản sắc dân tộc và chế độ xã hội : công bằng, bình đẳng, tiến bộ.Cơng cuộc đổi
mới tồn diện đất nước ta đã và đang đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới đòi
hỏi nhận thức, lý luận phải giải đáp: mơ hình về chủ nghĩa xã hội và con đường,
phương pháp xây dựng nó; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa.
2.1.2.Thực tiễn là động lực của nhận thức
Qúa trình biến đổi thế giới là một quá trình mà con người ngày càng đi sâu
vào nhận thức thế giới, khám phá những bí mật của thế giới, làm phong phú và
sâu sắc tri thức của mình về thế giới.Thực tiễn khơng ngừng biến đổi và phát
triển cho nên thực tiễn luôn đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát
triển của nhận thức, của lý luận, cho sự ra đời của các ngành khoa học. Thực
tiễn ln đặt ra những vấn đề mới địi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết,
khái quát kinh nghiệm thành lý luận mới, thúc đẩy sự ra đời và phát triển của
các ngành khoa học nhằm giải quyết những vấn đề mới nảy sinh.Nói về cách
mạng thế giới Lênin viết: “ Ăngnghen trong luận thuyết đó, đứng về mặt lý luận
để nêu lên vấn đề mà mọi cuộc cách mạng lớn đều đặt ra cho chúng ta trên thực
tiễn, một cách rõ ràng, và hơn nữa theo quy mơ hành động quần chúng, đó là
vấn đề mối quan hệ qua lại ,.giữa những đội vũ trang “đặc biệt” và “tổ chức vũ
trang tự động của dân cư”15. Chúng ta sẽ thấy vấn đề ấy được kinh nghiệm của

các cuộc cách mạng Nga minh họa cụ thể như thế nào”. Từ thực tiễn con người
sẽ nhìn nhận phán xét và đưa ra lý luận tri thức ngày càng sâu sắc hơn.Ngồi ra
thực tiễn cịn có tác dụng rèn luyện các giác quan của con người.Vào năm 1975
sau ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước chúng ta đã duy trì một nền
kinh tế tồn tại ba loại hình đó là : kinh tế tự cung tự cấp, kinh tế kế hoạch hóa


- 24 -

tập trung bao cấp (ở miền Bắc), kinh tế thị trường (đặc trưng ở miền nam).Với
sự áp đặt mang tính chủ quan nóng vội, cứng nhắc, chúng ta đã không quản lý
được hiệu quả các nguồn lực dẫn tới việc sử dụng lãng phí nghiêm trọng các
nguồn lực của đất nước.Tài nguyên bị phá hoại, sử dụng khai thác không hợp lý,
môi trường bị ô nhiễm. Nhà nước bao cấp và tiến hành bù lỗ phổ biến gây hậu
quả nghiêm trọng cho nền kinh tế.Sự tăng trưởng kinh tế chậm lại, tăng trưởng
kinh tế chỉ trên lý thuyết và giấy tờ.Hàng hóa sản phẩm trong thời gian đó trở
nên khan hiếm, không đáp ứng được nhu cầu trong nước, ngân sách thâm hụt
nặng nề ….cùng với nó là sự suy thoái về mặt con người và xã hội.Từ năm 1975
đến năm 1985, các thành phần kinh tế tư bản tư nhân cá thể bị tiêu diệt hoặc
khơng cịn điều kiện phát triển dẫn đến thực trạng tiềm năng to lớn của của các
thành phần kinh tế quốc doanh đã phát triển ồ ạt, tràn lan trên mọi lĩnh vực trở
thành địa vị độc tôn trong hầu hết các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ( trừ
ngành nông nghiệp, thành phần kinh tế tập thể là chủ yếu). Do phát triển tràn lan
lại quản lý theo cơ chế bao cấp, kế hoạch hóa tập trung nên nhà nước gặp nhiều
khó khăn trong việc quản lý, điều hành các doanh nghiệp quốc doanh, nhiều
doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ, lực lượng sản xuất khơng được giải
phóng, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng và tụt hậu.Đứng trước thực
tiễn trên chúng ta đã nhìn nhận sự lạc hậu về nhận thức lý luận trong thời kỳ quá
độ, đã có những thành kiến khơng đúng, trên thực tế, chưa thừa nhận. thật sự
những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan.Chúng ta đã ưu

tiên phát triển công nghiệp nặng một cách quá mức mà hiệu quả kinh tế phát
triển chậm.Hơn thế nữa, ta chưa chú ý đúng mức tới sản xuất nông nghiệp và
sản xuất hàng tiêu dùng nên đời sống nhân dân gặp khó khăn. Để khắc phục
khuyết điểm, chuyển biến được tình hình, Đảng ta trước hết phải thay đổi nhận


×