BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trường Đại Học Sư Phạm Thể Dục Thể Thao TP.Hồ Chí
Minh
BÀI TIỂU LUẬN
Đề Tài:PHÂN TÍCH QUY LUẬT PHÁT TRIỂN TÂM
LÝ TRẺ EM VÀ CHỨNG MINH HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ
TRẺ EM
Bộ Môn: TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI & TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM
GIẢNG VIÊN: TS. PHẠM MINH QUYỀN
Sinh viên: TRẦN HỒNG VŨ CĐ42A
Ngày 21 tháng 7 năm 2020
LỜI NĨI ĐẦU
Tâm lý con người và tâm lý động vật luôn ln phát triển. Tuy nhiên tính chất và nội dung
của quá trình phát triển trong thế giới động vật và ở con người khác nhau. Cơ chế chủ yếu của sự
phát triển tâm lý động vật là sự truyền kinh nghiệm từ thế hệ trước đến thế hệ sau bằng quy luật
di truyền sinh học. Đặc điểm của các chức năng tâm lý người là chúng được phát triển trong quá
trình trẻ lĩnh hội kinh nghiệm - lịch sử, theo quy luật di truyền xã hội hay kế thừa văn hoá.
Nên người là quá trình đứa trẻ lĩnh hội kinh nghiệm xã hội - lịch sử được loài người sáng
tạo ra và giữ lại trong nền văn hoá, bằng hoạt động của chính trẻ em và ln ln được người lớn
hướng dẫn - tức là giáo dục. Đây chính là cơ chế của sự phát triển tâm lý trẻ em.
-Phân tích cơ chế này, ta nhận thấy những điều kiện đó là những mối quan hệ giữa nền văn
hoá với sự phát triển của trẻ, giữa hoạt động của chính trẻ với sự phát triển của nó, giữa những
điều kiện sinh học với sự phát triển của trẻ...
-Những mối quan hệ này đều mang tính phổ biến và tính tất yếu khách quan, vì vậy nó
mang tính quy luật.
-Những đặc điểm và quy luật phát triển tâm lý của trẻ em là đối tượng của tâm lý học trẻ
em. Tâm lý học trẻ em nghiên cứu những sự kiện và quy luật phát triển hoạt động, phát triển các
quá trình và phẩm chất tâm lý và sự hình thành nhân cách của trẻ trong sự phát triển của nó.
-Là một ngành của khoa học tâm lý, tâm lý học trẻ em cũng tuân theo những nguyên tắc,
cơ sở lý luận của những luận thuyết tạo nên phương pháp luận của tâm lý học đại cương. Nhưng
sự phát triển tâm lý của trẻ em còn chịu sự tác động của những quy luật riêng và có những đặc
điểm đặc trưng tạo nên nhiệm vụ đặc biệt của tâm lý học trẻ em. Những nghiên cứu của tâm lý
học trẻ em hướng vào các đặc điểm, quy luật riêng biệt đó của sự phát triển trẻ em.
Mục Lục
1.PHÂN TÍCH QUY LUẬT PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TRẺ EM:
1.1XÉT TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA MỖI CÁ THỂ:
1.2XÉT SỰ PHÁT TRIỂN GIỮA TRẺ NÀY VỚI TRẺ KHÁC:
1.3 QUY LUẬT TRONG SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ CỦA TRẺ
EM:
1.3.1 MỘT LÀ, TÍNH MỀM DẺO VÀ KHẢ NĂNG BÙ TRỪ:
1.3.2 HAI LÀ, TÍNH TỒN VẸN CỦA TÂM LÍ:
1.3.3 BA LÀ, TÍNH KHƠNG ĐỒNG ĐỀU CỦA SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ:
1.4 QUY LUẬT PHÁT TRIỂN KHÔNG ĐỒNG ĐỀU TRONG SỰ PHÁT TRIỂN
TÂM LÝ TRẺ EM:
2.HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN
TÂM LÝ TRẺ EM:
2.1.VĂN HOÁ XÃ HỘI VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TRẺ EM:
2.2 GIAO TIẾP VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH TRẺ EM:
2.3.HOẠT ĐỘNG VỚI SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TRẺ EM:
2.4.ĐIỀU KIỆN SINH HỌC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TRẺ EM:
2.5.GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TRẺ EM:
Hết
PHÂN TÍCH QUY LUẬT PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TRẺ EM
VÀ CHỨNG MINH HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ẢNH HƯỞNG
ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TRẺ EM
1.PHÂN TÍCH QUY LUẬT PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TRẺ EM:
-Nắm được các quy luật phát triển tâm lý của trẻ em sẽ giúp chúng ta hạn chế tối đa được
những ảnh hưởng xấu cũng như thúc đẩy những tác động tốt đến trẻ em.Trẻ em là lứa tuổi dễ
chịu tác động và ảnh hưởng của điều kiện xã hội, điều kiện nuôi dưỡng. Những tác động dù xấu
hay tốt đến tâm lý của trẻ em đều góp phần sâu sắc hình thành thói quen và tính cách của trẻ em.
-Việc tìm hiểu về các quy luật phát triển tâm lý của trẻ em không chỉ là nhiệm vụ của các
nhà tâm lý học mà còn là nhiệm vụ của cha mẹ, thầy cơ và của tồn xã hội. Nắm được các quy
luật phát triển tâm lý của trẻ em sẽ giúp chúng ta hạn chế tối đa được những ảnh hưởng xấu cũng
như thúc đẩy những tác động tốt đến trẻ em.
-Tính khơng đồng đều của sự phát triển tâm lý cịn thể hiện ở chỗ có sự khác biệt về sự
phát triển tâm lý giữa các cá nhân trong cùng một độ tuổi.
1.1 XÉT TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA MỖI CÁ THỂ:
Sự phát triển của mỗi cá thể đều mang tính khơng đồng đều. Trong tiến trình đó, có giai
đoạn sự phát triển được thực hiện với một tốc độ nhanh chóng, lại có giai đoạn tốc độ
chậm chạp hơn.
Đặc biệt tuổi càng nhỏ thì tốc độ phát triển càng nhanh. Đối với trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
thì tốc độ phát triển nhanh đến mức mà sự thay đổi có thể tính được trong hàng tháng,
thậm chí hàng tuần.
4 tháng tuổi trẻ giữ được đầu mình, phối hợp đầu, hai mắt, hai tay, tự lẫy sấp, ngửa.
5 tháng có thể sử dụng hai tay, làm cử chỉ, nắm chân đưa lên miệng.
Trẻ em gồm nhiều độ tuổi khác nhau, mỗi độ tuổi lại có sự phát triển riêng. Ví dụ ở giai
đoạn từ 0 đến 15 tháng trẻ em hay trẻ sơ sinh có một số quy luật tâm lý cơ bản sau: Trẻ chủ
yếu giao tiếp xúc cảm trực tiếp với người lớn; Sự phát triển vận động, hoạt động với đồ vật
và định hướng vào môi trường xung quanh.
Trong tiến trình phát triển có những giai đoạn phát cảm của một vài chức năng tâm lý,đặc
biệt là sự chín muồi của hệ thần kinh khiến cho một chức năng tâm lý nào đó phát triển rất
nhanh.
Sự phát triển ngôn ngữ diễn ra đặc biệt nhanh từ 2 - 5 tuổi, đặc biệt tuổi lên 3. Đây là thời
kỳ phát cảm ngôn ngữ. Tuổi mẫu giáo xúc cảm thẩm mỹ phát triển mạnh (kể chuyện, đọc
thơ rất diễn cảm).
Phát hiện ra những thời kỳ phát cảm để giúp nhà giáo dục tìm cách phát triển những chức
năng tâm lý đó thật đúng lúc. Nếu để chậm hoặc sớm q thì sự phát triển sẽ khó thực hiện
Trẻ mẫu giáo thích hát múa và học hát múa nhanh nếu bỏ qua giai đoạn này thì sẽ khó phát
triển về mặt này.
Trẻ lên 3 học nói - nói nhanh, hay “xun tạc” ngơn ngữ - do đó tập và uốn nắn ngôn ngữ
cho trẻ.
Trẻ 5 - 6 tuổi mà bắt làm tốn chưa đúng lúc thì gây hiệu quả nghiêm trọng.
1.2 XÉT SỰ PHÁT TRIỂN GIỮA TRẺ NÀY VỚI TRẺ KHÁC:
-Trong quá trình phát triển, mỗi đứa trẻ trải qua con đường phát triển theo cách riêng của
mình với những tốc độ, nhịp độ, khuynh hướng riêng. Sự phát triển khơng đồng đều đó thể hiện ở
chỗ có những trẻ giai đoạn phát triển xuất hiện sớm hoặc chậm hơn so với những trẻ khác. Có
những thời kỳ chuyển biến tương đối chậm, từ từ trong suốt thời gian dài. Có những thời kỳ thay
đổi rõ rệt, nhảy vọt có liên quan đến sự biến mất những nét tâm lý cũ và xuất hiện những nét tâm
lý mới.
-Sự khác biệt này rõ rệt trong từng dạng hoạt động riêng biệt cũng như nhịp độ phát triển
các quá trình và phẩm chất tâm lý. Trong cùng một nhóm trẻ, cháu thì vẽ được những bức tranh
rất có ý nghĩa, cháu thì khơng thể vẽ được. Cháu thì múa rất đẹp đúng nhịp theo sự hướng dẫn
của cô, cháu thì vụng về lúng túng. Có trẻ thì ham hiểu biết, hay đưa ra những câu hỏi, có trẻ thì
thờ ơ với mọi sự vật, hiện tượng.
-Bên cạnh những khác biệt về nhịp độ và tốc độ phát triển, ở trẻ em còn bộc lộ những khác
biệt trong các phẩm chất tâm lý cá nhân như tính cách, năng lực, hứng thú...
-Có trẻ điềm đạm, có trẻ hiếu động, nghịch ngợm, có trẻ ham thích một cái gì đó, có trẻ
chẳng tỏ ra hứng thú gì...Tất cả điều này tạo ra những khuynh hướng phát triển khác nhau giữa
các trẻ và tạo ra cái riêng, không lặp lại của trẻ. Nguyên nhân của sự phát triển không đồng đều
giữa những đứa trẻ. Tính khơng đồng đều trong sự phát triển tâm lý được quy định bởi sự tác
động của rất nhiều điều kiện:
-Sự phát triển tâm lý trẻ phụ thuộc vào môi trường và giáo dục. Môi trường sống khác
nhau, điều kiện sống và giáo dục khác nhau tạo ra những nhân cách và những hứng thú, phẩm
chất nhân cách, trình độ phát triển trí tuệ khác nhau. Thái độ của trẻ đối với thế giới khách quan
không giống nhau: Thực chất khơng bao giờ có sự đồng nhất về điều kiện sống và giáo dục đối
với 2 đứa trẻ cho dù là hai đứa trẻ sinh đôi cùng trứng và bố mẹ đối xử, chăm sóc chúng như
nhau. Nhưng những đứa trẻ này vẫn không giống nhau về sự phát triển tâm lý mà nguyên nhân
chính là trẻ biểu lộ trong thái độ đối với thế giới, với môi trường xung quanh. Thái độ này phủ
định các đặc điểm cá nhân của sự phát triển tâm lý của trẻ.
-Sự phát triển tâm lý của trẻ còn phụ thuộc vào mức độ tích cực của trẻ tham gia hoạt
động. Hoạt động của mỗi đứa trẻ bị thúc đẩy bởi động cơ khác nhau. Nội dung hoạt động khác
nhau, kỹ năng hoạt động khác nhau do đó tạo ra kết quả hoạt động khác nhau. Kết quả hoạt động
khác nhau dẫn tới mức độ phát triển tâm lý sâu sắc khác nhau. Hoạt động của trẻ diễn ra trong
không gian thời gian khác nhau điều đó làm cho chất lượng của hoạt động khác nhau ở mỗi đứa
trẻ. Điều kiện sinh học khác nhau tạo nên sự khác nhau về khí chất, cá tính, về sự phát triển nhân
lực, trí tuệ, ngôn ngữ... giữa trẻ với nhau.
-Nói chung, tính tích cực hoạt động của trẻ giữ vị trí quan trọng trong sự phát triển tâm lý.
Tuy nhiên thái độ đối với thế giới vẫn là nguyên nhân chính trong sự phát triển khơng đồng đều
ấy.
-Sự phát triển không đồng đều này giúp chúng ta trong công tác giáo dục làm sao không
rập khuôn, áp đặt trẻ, tơn trọng cá tính riêng của trẻ. Sự phát triển tâm lý của trẻ cịn phụ thuộc
vào mức độ tích cực của trẻ tham gia hoạt động. Hoạt động của mỗi đứa trẻ bị thúc đẩy bởi động
cơ khác nhau. Nội dung hoạt động khác nhau, kỹ năng hoạt động khác nhau do đó tạo ra kết quả
hoạt động khác nhau. Kết quả hoạt động khác nhau dẫn tới mức độ phát triển tâm lý sâu sắc khác
nhau.
-Hoạt động của trẻ diễn ra trong không gian thời gian khác nhau điều đó làm cho chất
lượng của hoạt động khác nhau ở mỗi đứa trẻ. Sự phát triển tâm lý của trẻ em tuần hoàn toàn
tuân theo các quy luật từ xã hội. Dù có tinh tế, cá tính nổi trội đến đâu, mà thiếu vắng vai trò của
giáo dục và điều kiện sống, thì trẻ vẫn khơng thể hướng đến một thực thể toàn diện được.
-Phát triển là khái niệm mà tất cả trẻ em đều trải qua. Theo đó, sự phát triển tâm lý của trẻ
em là tiến trình trẻ dần học và thuần thục các kỹ năng cao hơn theo độ tuổi. Chẳng hạn, kỹ năng
ngồi, bò, tập đi, tập nói, leo trèo, chơi cùng bạn bè,…
-Sự phát triển của trẻ về tâm lý thể hiện ở các khía cạnh, bao gồm:
Sự phát triển về nhận thức ở trẻ: Là quá trình trẻ học các kỹ năng và cách thức giải quyết
vấn đề trong môi trường xung quanh mình. Ví dụ, học cách khám phá, cách nghiên cứu
các hiện tượng, học kỹ năng phán đoán, suy luận,…
Sự phát triển vận động: Bao gồm cả vận động tinh – sử dụng cơ, ngón tay, chân cho hoạt
động chi tiết nhỏ như cầm muỗng, xâu kim,…Và vận động thô – bao gồm việc sử dụng các
cơ lớn như học ngồi, học leo trèo, học chạy, đá bóng,…
Sự phát triển lời nói và ngơn ngữ: Là khả năng hiểu và bộc lộ ngơn ngữ. Ví dụ, trẻ quay
đầu lại khi được gọi tên, biết chỉ vào mẹ và nói “Mẹ”.
Sự phát triển về cảm xúc, tình cảm, quan hệ xã hội: Bao gồm kỹ năng giao tiếp, tương tác,
cũng như khả năng tự điều tiết cảm xúc bản thân. Ví dụ, trẻ 4 tháng tuổi có thể nở “nụ cười
xã hội”, 10 tháng tuổi biết giơ tay tạm biệt,…
1.3 QUY LUẬT TRONG SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ CỦA TRẺ EM:
-Tâm lý con người và tâm lý động vật ln ln phát triển. Tuy nhiên tính chất và nội dung
của quá trình phát triển trong thế giới động vật và ở con người khác nhau. Cơ chế chủ yếu của sự
phát triển tâm lý động vật là sự truyền kinh nghiệm từ thế hệ trước đến thế hệ sau bằng quy luật
di truyền sinh học. Đặc điểm của các chức năng tâm lý người là chúng được phát triển trong quá
trình trẻ lĩnh hội kinh nghiệm - lịch sử, theo quy luật di truyền xã hội hay kế thừa văn hố.
1.3.1 MỘT LÀ, TÍNH MỀM DẺO VÀ KHẢ NĂNG BÙ TRỪ:
-Trẻ em có hệ thần kinh rất mềm dẻo, linh hoạt. Dựa trên cơ sở đó, những yếu tố từ mơi
trường, giáo dục có thể tác động làm thay đổi tâm lý trẻ. Ví dụ: đứa trẻ bị tổn thương tâm lý vì sự
bạo hành gia đình, trở nên nhút nhát, mặc cảm, tự ti có thể sẽ cảm thấy hạnh phúc, tự tin hơn nếu
gia đình thay đổi cách hành xử theo hướng tích cực, thầy cơ và bạn bè quan tâm, giúp đỡ.
-Tính mềm dẻo này còn sản sinh khả năng linh hoạt bù trừ. Khi một chức năng nào đó của
trẻ yếu đi, lập tức một chức năng khác sẽ nổi trội lên để bù trừ lại. Ví dụ, một đứa trẻ câm điếc từ
nhỏ, nhưng khả năng đàn và hoạt động các ngón tay lại vô cùng xuất sắc. Hoặc, một đứa trẻ yếu
kém ngôn ngữ giao tiếp, nhưng lại thể hiện sự tài hoa qua khả năng hội họa.
-Sự mềm dẻo, linh hoạt đó cũng tạo ra khả năng bù trừ trong sự phát triển tâm sinh lý của
trẻ. Có nghĩa là khi một chức năng sinh lý, tâm lý nào đó bị thiếu sót, hạn chế thì sẽ có một chức
năng khác được tăng cường để bù đắp lại. Ví dụ: những người khiếm thị (khả năng nhìn bị suy
giảm nghiêm trọng hoặc mất đi hồn tồn) thường có thính giác (khả năng nghe) rất nhạy cảm;
Người tự ti về ngoại hình, sức khỏe thường có xu hướng cố gắng bù trừ bằng cách nỗ lực học
giỏi, cư xử tốt để được mọi người ghi nhận…
-Hệ thần kinh của trẻ em rất mềm dẻo. Dựa trên tính mềm dẻo của hệ thần kinh mà tác
động của giáo dục có thể làm thay đổi tâm lí trẻ. Tính mềm dẻo cũng tạo khả năng bù trừ, khi
một chức năng tâm lí hoặc sinh lí nào đó yếu hoặc thiếu thì những chức năng tâm lí khác được
tăng cường, phát triển mạnh hơn để bù đắp hoạt động không đầy đủ của chức năng bị yếu hay bị
hỏng. Nếu khuyệt tật của thị giác được bù đắp bằng sự phát triển mạnh mẽ hoạt động của thính
giác. Trí nhớ kém có thể được bù trừ bằng tính tổ chức cao, tính chính xác của hoạt động.
-Đó là một số quy luật cơ bản của sự phát triển tâm lí trẻ em. Nhưng những quy luật đó chỉ
là một xu thế của sự phát triển tâm lí của trẻ có thể xảy ra. Những quy luật đó có sau so với ảnh
hưởng của mơi trường (trong đó có giáo dục). Sự phát triển và ngay cả tính độc đáo của những
xu thế đó cũng phụ thuộc vào điều kiện sống của trẻ em (trước hết là giáo dục). Sự phát triển tâm
lí của trẻ em không tuân theo quy luật sinh học, mà tuân theo quy luật xã hội. Dù có bộ óc tinh vi
đến đâu chăng nữa, nhưng không sống trong xã hội loại người thì trẻ cũng khơng thể trở thành
thực thể người với đầy đủ tính xã hội của nó.
1.3.2 HAI LÀ, TÍNH TỒN VẸN CỦA TÂM LÍ:
-Tính trọn vẹn trong tâm lý trẻ được hiểu là sự tổng hợp lại các trạng thái tâm lý. Quy luật
này thể hiện ở việc trẻ bắt đầu hiểu rõ, gọi tên được các dạng cảm xúc, tình cảm mình trải qua.
Tổng hợp các trạng thái tình cảm này lại, có thể phát triển thành những tình cảm lớn hơn, như
tình yêu nước, tình bằng hữu,…Vì tâm lý con người, theo thời gian, phát triển theo hướng toàn
vẹn, bền vững, và thống nhất. Sự định hình nhân cách trẻ sau này như thế nào, là phụ thuộc và sự
phát triển tâm lý của trẻ em trong 6 năm đầu đời.
-Quy luật toàn vẹn trong tâm lý trẻ còn phụ thuộc vào động cơ hành vi chủ đạo của các bé.
Trong “chiếc nôi” của giáo dục, trẻ dần mở rộng giá trị sống, kinh nghiệm xã hội. Từ đó, hành vi
chủ đạo của các bé dần mang màu sắc cá nhân hơn. Nghĩa là, các bé ngày càng tự giác, tuân thủ
quy luật xã hội, bộc lộ rõ cá tính riêng của mình. Trẻ thường hành động vì muốn đạt được một
mục đích nào đó, hoặc thỏa mãn một nhu cầu cá nhân nào đó. Khi trưởng thành, mục đích này
dần mang tính xã hội hơn. Trẻ mang trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội đậm đặc hơn, vừa muốn thỏa
mãn bản thân, vừa tuân thủ theo các nền tảng đạo đức xã hội. Tất cả thúc đẩy trẻ hướng đến phát
triển bản thân toàn diện và tích cực. Cùng với sự phát triển của xã hội, tâm lí của con người ngày
càng có tính trọn vẹn, thống nhất và bền vững. Sự phát triển tâm lí đã chuyển biến dần các trạng
thái tâm lí thành các đặc điểm tâm lí cá nhân. Tâm lí trẻ nhỏ phần lớn là một tổ hợp thiếu hệ
thống với những tâm trạng rời rạc khác nhau. Theo thời gian và những tác động từ mơi trường
cùng q trình học hỏi của trẻ, những tâm trạng đó dần chuyển thành các nét tình cách. Ví dụ:
những tâm trạng, hành vi khó chịu, bực bội, cáu gắt diễn ra trong thời gian dài sẽ hình thành tính
cách nóng nảy, hấp tấp.
-Tính trọn vẹn của tâm lí phụ thuộc khá nhiều vào động cơ hành vi của trẻ. Cùng với giáo
dục, cùng với sự mở rộng kinh nghiệm sống, những động cơ hành vi của trẻ ngày càng trở nên tự
giác, có ý nghĩa xã hội và ngày càng bộc lộ rõ trong nhân cách của trẻ. Trẻ mẫu giáo thường hành
động vì muốn thỏa mãn một điều gì đó và động cơ đó thay đổi ln trong một ngày. Những thiếu
niên và thanh niên thường hành động do động cơ xã hội, do tinh thần nghĩa vụ, do sự phát triển
tồn diện của bản thân thúc đẩy.
1.3.3 BA LÀ, TÍNH KHÔNG ĐỒNG ĐỀU CỦA SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ:
-Sự phát triển tâm lý trẻ em diễn ra không đồng đều và nhiều thay đổi, biến động liên tục.
Xét trong cùng một cá nhân, ở những giai đoạn khác nhau, sự phát triển tâm lý cũng diễn ra khác
nhau. Ví dụ: sự phát triển tâm lý ở trẻ nhỏ diễn ra vơ cùng nhanh chóng nhưng lại thiếu ổn định.
Ngược lại, bước vào tuổi trưởng thành, sự phát triển tâm lý chậm lại nhưng mang tính ổn định
hơn.
-Tính Khơng Đồng Đều Của Sự Phát Triển Tâm Lý Ở Trẻ Em. Bên cạnh đó, cùng một cá
nhân, cùng một giai đoạn vẫn có thể xảy ra trường hợp những chức năng tâm lý phát triển ở
những mức độ khác nhau. Ví dụ: ở trẻ nhỏ, do trải nghiệm sống có hạn, trẻ chưa hình thành được
nhân cách đặc trưng nên chức năng định hướng của tâm lý bị hạn chế. Tuy nhiên, chức năng điều
chỉnh lại vô cùng mạnh mẽ, điều này giúp trẻ linh hoạt, nhanh nhạy trong việc học hỏi, tiếp thu
để ngày càng hoàn thiện.
-Sự phát triển tâm lý trẻ em diễn ra một cách không đồng đều và đầy biến động, có nghĩa là trong
điều kiện bất kỳ, thậm chí ngay cả trong điều kiện thuận lợi nhất của việc giáo dục thì những biểu
hiện tâm lý, những chức năng tâm lý khác nhau…cũng thể phát triển ở mức độ như nhau. Có
những giai đoạn các em phát triển bình thường, nhưng cũng có những giai đoạn đột biến, phát
triển một cách tối ưu của một biểu hiện nào đó.Tính khơng đồng đều của sự phát triển tâm lý cịn
thể hiện ở chỗ có sự khác biệt về sự phát triển tâm lý giữa các cá nhân trong cùng một độ tuổi.
Bên cạnh đó, cịn có sự khác biệt về tâm lý giữa các cá nhân trong cùng một độ tuổi. Sở dĩ có
điều này là do sự khác biệt giữa yếu tố bẩm sinh, môi trường sống và cách thức giáo dục được
thừa hưởng của mỗi cá nhân.
1.4 QUY LUẬT PHÁT TRIỂN KHÔNG ĐỒNG ĐỀU TRONG SỰ PHÁT TRIỂN TÂM
LÝ TRẺ EM:
-Trên đây là 3 quy luật cơ bản của sự phát triển tâm lí trẻ em. Sự phát triển tâm lý của trẻ
em diễn ra dưới hình thức xuất hiện những mâu thuẫn giữa các khả năng hiện có với yêu cầu mới
của điều kiện sống và hoạt động. Việc giải quyết những mâu thuẩn này chính là động lực của sự
phát triển tâm lý. Sự phát triển tâm lý của em có tính kế tục, giai đoạn trước chuẩn bị cho giai
đoạn sau, có ảnh hưởng đến giai đoạn sau. Sự phát triển tâm lý trẻ em diễn ra trong sự thống
nhất, sự tác động lẫn nhau giữa các hiện tượng tâm lý của trẻ. Điều đó cho thấy q trình hình
thành, phát triển tâm lý diễn ra vô cùng phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau.
Tuy nhiên, chính điều đó đã tạo nên sự đa dạng, phong phú của các cá nhân cũng như xã hội. Để
làm tốt công tác giáo dục, ngoài việc nắm vững những nguyên tắc trên, địi hỏi các bậc phụ
huynh, thầy cơ giáo cần phải hiểu được những đặc điểm tâm lý đặc trưng của trẻ, tránh rập
khn, máy móc, áp đặt, cần phải tơn trọng cá tính riêng của trẻ và tìm ra cách thức phù hợp nhất
để trẻ phát huy tối đa năng lực của mình.
- Sự phát triển tâm lý của trẻ em không tuân theo quy luật sinh học, mà tuân theo quy luật
xã hội. Dù có bộ óc tinh vi đến đâu chăng nữa, nhưng khơng sống chung trong xã hội lồi người
thì trẻ cũng khơng thể trở thành thực thể người với đầy đủ tính xã hội của nó.
2. HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ
TRẺ EM:
-Trẻ em không phải người lớn thu nhỏ lại. Sự khác nhau giữa trẻ em và người lớn là sự
khác nhau về chất. Trẻ em là trẻ em, nó vận động, phát triển theo quy luật của trẻ em. Ngay từ
khi cất tiếng khóc chào đời, đứa trẻ đã là một con người, một thành viên của xã hội, có nhu cầu
giao tiếp với người lớn. Việc nuôi nấng, dạy dỗ trẻ phải theo kiểu người. Mỗi thời đại khác nhau
có trẻ em riêng của mình.
-Từ lúc sinh đến lúc chết, con người luôn lớn lên về mặt thể chất, cảm xúc, tâm trí, tinh
thần… Tuy nhiên, chính trong thời thơ ấu mà sự tăng trưởng xảy ra nhanh nhất- chỉ trong vài
năm đầu đời, chúng ta trở thành một em bé hoàn toàn độc lập, rồi thành một trẻ chạy lon ton
thích khám phá, rồi đến một trẻ thích đặt câu hỏi, đến một trẻ vị thành niên có ý thức và người
thanh niên đầy tự tin.
-Các yếu tố chi phối sự hình thành và phát triển tâm lý trẻ em bao gồm: (1)Văn hoá xã hội
và sự phát triển tâm lý trẻ em.(2) Giao tiếp với sự phát triển nhân cách. (3) Hoạt động với sự phát
triển tâm lý.(4) Điều kiện sinh học và sự phát triển tâm lý trẻ em. (5) Giáo dục và sự phát triển
tâm lý trẻ em.
2.1.VĂN HOÁ XÃ HỘI VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TRẺ EM:
-Khái niệm văn hoá thường bị đồng nhất với khái niệm học vấn và khái niệm văn minh.
Nhưng tất cả những khái niệm này không giống nhau. Học vấn chỉ ra mức độ, khả năng trí tuệ
của con người. Cịn văn minh đồng nghĩa với văn hố khi đối lập văn hố với bạo tàn, nhưng
thơng thường văn minh được dùng để chỉ trình độ phát triển nhân loại đạt được ở thời kì lịch sử
nào đó.Ví dụ: Văn minh nơng nghiệp, văn minh tin học. Nói tới văn hố là nói tới con người, nói
tới xã hội loài người cùng với toàn bộ thành tựu phát triển của nó. là sự hồn thiện con người,
hồn thiện xã hội.
-Văn hố có hai hình thái: Văn hố vật chất
và văn hố tinh thần. Văn hố cịn có các sản
phẩm vật chất như cơng trình kiến trúc, đồ thủ
cơng mĩ nghệ, công cụ sản xuất...Tuy nhiên sự
phân chia này cũng chỉ là tương đối. Cái gọi là
văn hoá vật chất thực ra chỉ có giá trị tinh thần
khi chúng thể hiện sự tài hoa của người lao động
gửi gắm vào đó. Vậy, nền văn hố có vai trị như
thế nào đối với sự phát triển tâm lý trẻ em?
-Nếu xét q trình hình thành lịch sử xã
hội lồi người thì con người là chủ nhân sáng tạo
ra tồn bộ sản phẩm văn hoá, những sản phẩm
này hợp thành tinh hoa văn hố - nó tác động đến
con người, bồi dưỡng tâm hồn, rèn luyện ý chí,
hình thành nhân cách con người. Xét về quá trình
của một đứa trẻ - ngay từ khi ra đời trẻ đã có sẵn một thế giới văn hố của loài người và nền văn
hoa xã hội là nguồn gốc của sự phát triển tâm lý của trẻ.
-Thoát ly khỏi xã hội lồi người đứa trẻ khơng thể trở thành người bình thường. Đứa trẻ
được thừa hưởng bộ não người, nhưng nếu khơng có xã hội lồi người thì những mầm mống
mang tính người khơng được phát triển.
(Ví dụ trẻ lạc vào rừng bị sói ni...) để trở thành người thì điều kiện diễn ra sự phát triển của
đứa trẻ chính là xã hội lồi người .
-Trong nền văn hố xã hội chứa đựng toàn bộ kinh nghiêm tri thức của lồi người, đó là
nội dung cơ bản để phát triển tâm lý, nhân cách cho trẻ.
-Nền văn hoá xã hộ nói chung hay nói hẹp hơn là mơi trường xã hội bao gồm các điều kiện
vật chất của đời sống xã hội, chế độ nhà nước, hệ thống quan hệ sản suất và quan hệ xã hội... và
diện mạo xã hội của con người được quy định trước hết bởi ở chỗ con người sinh ra trong môi
trường xã hội như thế nào? văn minh hay lạc hậu, ở trình độ văn hố nào?
-Trẻ sinh ra và sự phát triển tâm lý của nó bị khống chế bởi nền văn hố mà nó tiếp xúc.
Nền văn hố xã hội, kinh nghiệm lịch sử xã hội là nguồn gốc và nội dung của sự phát triển tâm
lý.
-Lồi người khơng có sự đồng nhất vì có sự khác biệt khá lớn về điều kiện và cách sống,
về sự phong phú của hoạt động vật chất và tinh thần, về trình độ phát triển năng lực tâm lý và
khác nhau về văn hố. Như vậy: do điều kiện, hồn cảnh kinh tế và tiến bộ xã hội khác biệt có
thể tạo nên trình độ khác nhau của trẻ em các dân tộc ở các miền khác nhau trên thế giới và giữa
các vùng trong cùng một đất nước.
-Môi trường tự nhiên chỉ tác động đến trẻ thông qua môi trường xã hội, qua hoạt động lao động,
hoạt động xã hội... Sự khác biệt của các nền văn hoá ấy tạo ra sự khác biệt tâm lý giữa trẻ với
nhau. Song ở cùng một nền văn hoá như nhau mỗi đứa trẻ cũng khác nhau bởi vì mỗi đứa trẻ tiếp
nhận nền văn hố ấy theo cách riêng của mình.
2.2 GIAO TIẾP VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH TRẺ EM:
-Theo tâm lý học: Giao tiếp là hoạt động
xác lập, vận hành các mối quan hệ giữa người
với người nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất
định.Vai trò của giao tiếp. Giao tiếp là điều
kiện tồn tại của cá nhân và xã hội.
- Giao tiếp là điều kiện tồn tại của con người.
Nếu khơng có giao tiếp với người khác thì con
người khơng thể phát triển, cảm thấy cơ đơn và
có khi trở thành bệnh hoạn. Nếu khơng có giao
tiếp thì khơng có sự tồn tại xã hội, vì xã hội
ln là một cộng đồng người có sự ràng buộc,
liên kết với nhau.
- Qua giao tiếp chúng ta có thể xác định được các mức độ nhu cầu, tư tưởng, tình cảm, vốn sống,
kinh nghiệm…của đối tượng giao tiếp, nhờ đó mà chủ thể giao tiếp đáp ứng kịp thời, phù hợp với
mục đích và nhiệm vụ giao tiếp. Từ đó tạo thành các hình thức giao tiếp giữa cá nhân với cá
nhân, giữa cá nhân với nhóm, giữa nhóm với nhóm hoặc giữa nhóm với cộng đồng. Giao tiếp là
nhu cầu sớm nhất của con người từ khi tồn tại đến khi mất đi. Từ khi con người mới sinh ra đã có
nhu cầu giao tiếp, nhằm thỏa mãn những nhu cầu của bản thân. Ở đâu có sự tồn tại của con người
thì ở đó có sự giao tiếp giữa con người với con người, giao tiếp là cơ chế bên trong của sự tồn tại
và phát triển con người.
-Một đứa trẻ sinh ra được kế thừa về sinh học từ tổ tiên,cha mẹ để trở thành người. Nhưng
nếu chỉ một mình đối diện với thế giới xung quanh, đứa trẻ sẽ không thể tiếp thu kinh nghiệm xã
hội lịch sử của lồi người. Chỉ khi thơng qua giao tiếp với người lớn, đứa trẻ thoả mãn nhu cầu
của nó về tình cảm và sau đó nó sử dụng giao tiếp để lĩnh hội các hoạt động khác nhau mà phát
triển tâm lý.
-Sự giao tiếp với người lớn quyết định xu hướng và nhịp độ phát triển của trẻ. Trong thực
tế, người ta đã tìm thấy những đứa trẻ sống với lồi vật (sói), khơng được giao tiếp với con
người, những đứa trẻ này đã không trở thành người được vì những tiềm năng vốn có của con
người đã bị mất đi hoặc bị thối hố trong q trình thích nghi với đời sống của loài vật.
-Thực tế cho thấy, những đứa trẻ lớn lên trong trại tế bần, về thể chất và tâm lý, ngôn ngữ
phát triển kém, vận động chậm., tính tình khơng bình thường, ln cáu gắt, cục cằn…Ngun
nhân tình trạng đó là do trẻ khơng được giao tiếp với người lớn, mặc dầu được nuôi dưỡng tốt.
-Giao tiếp giữa trẻ em với người lớn gồm các dạng sau:
• Giao tiếp tình cảm giữa trẻ với người lớn.
• Giao tiếp thơng qua hoạt động với đồ vật (giao tiếp cơng việc).
• Khi trẻ chuyển sang trị chơi.
• Giao tiếp tình cảm giữa trẻ với người lớn
-Giao tiếp đã diễn ra trước khi trẻ biết thực hiện những hoạt động đơn giản với các đối tượng
(đồ vật) - đó chính là giao tiếp xúc cảm trực tiếp. Dạng giao tiếp này xuất hiện vào tháng thứ hai.
Mặc dù, bé chưa hiểu được lời nói và hành động của người lớn, song đã thích thú ở cạnh người
lớn, biết nhìn chăm chăm vào người lớn, biết đáp lại lời nói hay nụ cười người lớn giành bé và
trẻ được tiếp xúc với đồ vật thông qua tiếp xúc với người lớn từ đó mà các phẩm chất tâm lý sơ
đẳng đầu tiên được hình thành.
-Tạo sự tương tác với trẻ.
-Theo TS Hồng Nhi, “giao tiếp cảm xúc” là quá trình trao đổi thơng tin giữa hai bên có mong
muốn biểu đạt cảm xúc của chính minh, lắng nghe, thấu hiểu cảm xúc của đối phương và sau đó
để có phản ứng cảm xúc phù hợp.
-Từ khi còn rất nhỏ trẻ đã có thể đưa ra những tín hiệu giao tiếp với mẹ, điều quan trọng là
người mẹ cần nhận ra và đáp lại để tạo sự tương tác với trẻ. Nếu người mẹ khơng chú ý mà bỏ
qua thì dần dần trẻ có xu hướng khơng muốn giao tiếp với mẹ vì nhiều lần khơng được đáp trả.
Thời gian này người mẹ không tiếp xúc nhiều với trẻ cho đến khi trở lại trạng thái cân bằng.
Người mẹ trầm cảm có thể hồi phục sau vài tháng nhưng để lại tác hại vô cùng to lớn do thời
gian trầm cảm để lại.
-Vì theo nghiên cứu cho thấy, trẻ nhìn những người tươi cười lâu hơn nhìn những người nhăn
nhó, khó chịu. Nhưng một thời gian dài người mẹ khơng chơi đùa, vui cười với trẻ sẽ khiến trẻ
không hứng thú khi giao tiếp với mẹ.
• Giao tiếp thông qua hoạt động với đồ vật (giao tiếp cơng việc).
-Trong thời kì này các đồ vật thường thu hút sự chú ý của trẻ không phải vì chính bản thân đồ
vật mà là sự kích thích của người lớn (khi người lớn đưa đồ vật vào tay trẻ). Khi đứa trẻ dùng đồ
vật thì nó trở nên độc lập hơn và cùng hoạt động với người lớn. Chính trong hoạt động này trẻ
nắm được cơng dụng của đồ vật, cách sử dụng trí tuệ của trẻ chuyển sang bước phát triển mới.
-Hoạt động với đồ vật là hoạt động chủ đạo của trẻ tạo nên những biến đổi về chất trong tâm lý
trẻ. VD: Khi cho trẻ tiếp xúc qủa cam (hoặc đồ chơi qủa cam), phải cho trẻ được gọi tên, phân
biệt mầu sắc, hình dạng, kích thước qủa cam thơng qua việc trẻ được sờ, nắm, nhìn….Hoặc khi
cho trẻ xếp hình phải cho trẻ được gọi tên loại đồ chơi đó, nhận biết về mầu sắc, hình dạng, kích
thước, cơng dụng, thuộc tính (nhựa, gỗ, mút…) của các khối đó. Đồng thời rèn cho trẻ kỹ năng
xếp chồng và xếp cạnh nhau, sau đó đặt tên cho sản phẩm mà trẻ xếp: Ngôi nhà, đường tàu….
Giữa gia đình và cơ giáo nên có sự kết hợp thường xuyên với nhau để có thể thống nhất nội dung
giáo dục trẻ trong tháng, trong tuần. VD: Tháng 4 có nội dung giáo dục về phương tiện giao
thơng trên cạn. Vậy bố mẹ có thể cùng kết hợp với cô giáo bằng cách trên đường cho bé đi học
có thể hỏi trẻ về tất cả các loại phương tiện giao thơng gặp trên đường, trị chuyện với trẻ về các
cột đèn giao thơng khi nào thì các loại xe được đi và khi nào phải dừng lại…
• Khi trẻ chuyển sang trị chơi.
-Thì việc trẻ bắt chước hành vi của người lớn chứng tỏ trẻ có nhu cầu và quan tâm thường
xuyên với người lớn. Lúc này, khơng những trẻ có nhu cầu khám phá thế giới của người lớn mà
còn muốn gia nhập vào thế giới đó, muốn được sống, làm việc như người lớn.
-Nếu cho rằng chơi chỉ là chơi thì đã đến lúc chúng ta, phải suy nghĩ khác đi. Chơi để sáng
tạo. Ví dụ, rượt đuổi là hình thức của chơi để hoạt động thể chất kết hợp với chơi theo nhóm bởi
vì các con sẽ phải liên tục di chuyển, song song việc học luật chơi và tuân thủ luật chơi.Điều đó
được thể hiện trong trò chơi Đồ Vật Theo Chủ Đề (ĐVTCĐ). Khi chơi, trẻ mô phỏng lại cuộc
sống và quan hệ của người lớn, từ đó dẫn đến sự phát triển tâm lý.
-Ngoài các dạng giao tiếp với người lớn, trẻ còn giao tiếp với nhau. Hiện tượng này xuất hiện từ
tuổi lên ba, khi trẻ có nhu cầu chơi với nhau. Dạng giao tiếp này bộc lộ rõ nét nhất khi trẻ bước
vào tuổi trò chơi. Trò chơi ĐVTCĐ là điều kiện để trẻ giao tiếp cùng nhau – là điều kiện để hình
thành và phát triển nhân cách trẻ.
2.3.HOẠT ĐỘNG VỚI SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TRẺ EM:
-Theo tâm lý học: Hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong thế giới. Hoạt
động tạo nên mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với thế giới khách quan và với chính
bản thân mình, qua đó tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới (khách thể), cả về phía con người (chủ
thể). Vai trị của hoạt động. Hoạt động đóng vai trị quyết định đến sự hình thành và phát triển
tâm lý và nhân cách cá nhân thơng qua q trình:
-Việc đứa trẻ tiến tới những hình thức hoạt động mới - hoạt động chủ đạo tuỳ thuộc vào
toàn bộ hệ thống các điều kiện sống của đứa trẻ trong xã hội chứ không phải đơn thuần là sự dạy
dỗ của người lớn. Trong các cơng trình và lý thuyết hoạt động chủ đạo, nhà tâm lý học Xô Viết
Lêônchiep đã cho rằng không phải những chỉ tiêu về số lượng (tức là trẻ giành nhiều thì giờ nhất)
là những chỉ tiêu hàng đầu mà phải là những hình thức hoạt động mới về chất lượng có tác dụng
định hướng lại sự phát triển tâm lý của trẻ.
-Để xác định hoạt động chủ đạo - có 3 đặc điểm:
• Những hình thức hoạt động mới xuất hiện, chính hình thức mới này tạo ra những cấu tạo
mới trong tâm lý - tạo ra sự phát triển tâm lý.
• Những q trình tâm lý cá nhân tham gia được cấu trúc lại trong hoạt động chủ đạo (lần
đầu tiên trí tưởng tượng được phát triển mạnh trong trị chơi).
• Những chuyển biến tâm lý cơ bản diễn ra trong nhân cách trẻ (Ví dụ trong trị chơi trẻ học
được các chức năng xã hội và tiêu chuẩn hành vi tương ứng).
-Các cơng trình nghiên cứu sau đó về những đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ cho phép
chúng ta có thể có định nghĩa: “Hoạt động chủ đạo là hoạt động mà sự phát triển của nó quy định
những biến đổi chủ yếu nhất trong các quá trình và trong các đặc điểm tâm lý của nhân cách đứa
trẻ ở giai đoạn phát triển nhất định của nó”.
-Căn cứ vào sự thay đổi hoạt động chủ đạo theo đối tượng của nó trong tiến trình phát triển,
Đ.B. Encơnhin đã chia tiến trình đó với những lứa tuổi sau:
-Từ 0- 12 tháng- Hài Nhi: Hoạt động chủ đạo - Giao tiếp xúc cảm trực tiếp với người lớn.
-Từ 12-36 tháng- Ấu Nhi: Hoạt động chủ đạo - Hoạt động với đồ vật.
-Từ 3-6 tuổi- Mẫu Giáo: Hoạt động vui chơi (trung tâm là trò chơi ĐTCĐ).
-Từ 6-12 tuổi- Nhi đồng (Tiểu học): hoạt động học tập
-Từ 12-15 tuổi- Thiếu niên (THCS): Hoạt động chủ đạo - giao tiếp tình bạn thân tình.
-Từ 15-25 tuổi- Thanh niên (THPT): Hoạt động chủ đạo – gắn với xu hướng nghiệp và hoạt
động xã hội
-Trưởng thành (25-60 tuổi): Nghề nghiệp và quan hệ xã hội. Hoạt động nghề nghiệp và hoạt động
xã hội là chủ đạo
-Tuổi già (sau 60 tuổi): Quan hệ xã hôi
-
Bùng nổ hội chứng về hưu: Phản ứng cảm xúc nhạy bén, rất nhạy cảm, dễ mủi lòng, dễ hờn dỗi
“ Một già một trẻ bằng nhau”
-Bùng nổ hội chứng về hưu: Phản ứng cảm xúc nhạy bén, rất nhạy cảm, dễ mủi lòng, dễ
hờn dỗi “ Một già một trẻ bằng nhau”
-Hoạt động chủ đạo quy định sự phát triển tâm lý trẻ - nhưng vấn đề đặt ra là đứa trẻ tham
gia vào hoạt động đó như thế nào? Tính tích cực của hoạt động của con người trong quá trình
nhận thức thế giới xung quanh vơ cùng quan trọng, Vì càng tích cực hoạt động bao nhiêu thì thế
giới xung quang tác động trở lại càng tích cực bấy nhiêu, tức là tâm lý càng phát triển đa dạng và
phong phú.
-Đối với đứa trẻ, khơng có tính tích cực hoạt động thì khơng có sự tiếp xúc của trẻ đối với
mơi trường và do đó khơng thể phát triển. Tính tích cực của trẻ mẫu giáo lớn thể hiện ở những
câu hỏi về tự nhiên, xã hội... và chất lượng của những câu hỏi phụ thuộc vào sự tích cực hoạt
động của nó. Những hứng thú và lịng ham hiểu biết thúc đẩy trẻ luôn hoạt động.
2.4.ĐIỀU KIỆN SINH HỌC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TRẺ EM:
-Điều kiện sinh học là cơ sở di truyền
mà trẻ nhận được từ cha mẹ mình,đó là cấu tạo
giải phẫu sinh lý và những đặc điểm của cơ thể
như màu da, màu tóc, hình dáng, thân thể, đặc
biệt là hệ thần kinh và các mầm mống của con
người (tiếng nói, đi hai chân, tư duy và khả
năng tiếp nhận kinh nghiệm).
-Ngoài những yếu tố di truyền ra, điều
kiện sinh học còn bao gồm những yếu tố bẩm
sinh thường hình thành trong quá trình phát
triển bào thai. Cách sống của người mẹ, bệnh
tật, ảnh hưởng của tia phóng xạ, chất độc hố
học từ cha mẹ bị nhiễm ... tất cả sự giao động
của môi trường đều gây ra sự thay đổi trong chức năng và đôi khi trong cấu trúc giải phẫu của
thai nhi. Như vậy: Khi sinh ra đứa trẻ có đặc điểm di truyền từ cha mẹ, tổ tiên và có đặc điểm
bẩm sinh hình thành trong quá trình phát triển bào thai đó là điều kiện sinh học của sự phát triển.
-Điều kiện sinh học còn ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của trẻ ở các điểm sau:
-Những chức năng tâm lý sơ đẳng của con người như các cảm giác gắn liền với giác quan.
Chất lượng hoạt động của các giác quan sẽ ảnh hưởng đến chức năng tâm lý bậc cao. Chẳng hạn,
người có tai thính sẽ ảnh hưởng tốt đến hình thành năng khiếu âm nhạc sau này, ngược lại nếu
thính giác kém thì khả năng âm nhạc sẽ được hình thành một cách khó khăn. Kiểu hoạt động thần
kinh cấp cao (mạnh, yếu, cân bằng hay không cân bằng, linh hoạt hay không linh hoạt) đều ảnh
hưởng đến các hoạt động tâm lý khiến cho khí chất mỗi người mang sắc thái riêng biệt.
-Ngày nay chúng ta thừa nhận rằng tính di truyền có thể bất lợi đối với sự phát triển trí tuệ,
tâm lý. Ví dụ: Sự uể oải, yếu kém của các tế bào vỏ bán cầu đại não ở con cái của những người
nghiện rượu, một số bệnh di truyền và tâm thần.
2.5.GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TRẺ EM:
-Trong giáo dục, vai trò của sự phát triển tâm lý trẻ em rất quan trọng. Sự định hình nhân
cách của một người khi trưởng thành phụ thuộc vào sự phát triển 6 năm đầu đời. Để có hướng
giáo dục phù hợp cho mỗi trẻ phát huy đầy đủ khả năng của mình, chúng ta cần tìm hiểu đặc
điểm phát triển của từng bé. Như chúng ta đều biết, giáo dục có ý vai trị quan trọng đối với nhân
cách trẻ, vì nhiều lý do:
-Giáo dục hướng trẻ đến một mục đích tốt đẹp về giá trị sống, giá trị kiến thức, cũng như
trong các mối quan hệ của trẻ với môi trường xung quanh, với người khác – một cách có tổ chức.
-Giáo dục đem đến cho trẻ những tiến bộ, thành tựu, ý chí luyện rèn mà các nhân tố khác
khơng thể làm được. Ví dụ, một em bé mới sinh ra khơng thể biết nói. Tuy nhiên, nếu được quan
sát người lớn nói chuyện nhiều, trẻ sẽ có cơ sở để bắt chước hoạt động cơ miệng theo. Cùng với
sự luyện tập của bố mẹ, khả năng ngôn ngữ của trẻ dần trở nên hoàn chỉnh hơn.
-Giáo dục giúp phát hiện những khả năng riêng của từng trẻ, từ đó, định hướng và có
phương pháp thúc đẩy phù hợp, nhân cách dần được hoàn thiện. Toàn bộ đời sống của đứa trẻ tuỳ
thuộc vào người lớn tổ chức hướng dẫn. Từ tuổi sơ sinh trẻ bắt đầu được giáo dục: Học ăn, học
nói, học sử dụng đồ vật. Lớn lên học chữ, học ứng xử giao tiếp. Chúng ta đã biết, cái gì sẽ xảy ra
nếu đứa trẻ khơng nhận được sự ảnh hưởng của người lớn? Đó chính là giáo dục.
-Giáo dục là gì? giáo dục là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của người lớn đối với trẻ
em nhằm hình thành ở trẻ những phẩm chất nhân cách đáp ứng được yêu cầu của xã hội. A.N
Lêônchiep đã khẳng định: “Sự phát triển của lịch sử xã hội lồi người khơng thể thiếu sự truyền
thụ tích cực cho thế hệ trẻ những thành tựu văn hoá của lồi người, khơng thể thiếu sự giáo
dục”.
-Hồ Chí Minh đã dạy: “ Hiền dữ phải đâu là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên”.
-Người lớn mang trong mình kinh nghiệm lịch sử xã hội của lồi người mà trẻ em phải
lĩnh hội. Chỉ nhờ sự hướng dấn của người lớn, trẻ em mới tiếp thu kho tàng quý báu đó một cách
có hiệu quả. Mỗi một lứa tuổi có một khả năng tiếp nhận riêng đối với mọi hình thức khác nhau
của giáo dục. Có những thời kì trong lứa tuổi mà một số hình thức giáo dục nào đó có tác động
đặc biệt mạnh mẽ đối với sự phát triển tâm lý. Các thời kì như vậy gọi là thời kì nhạy cảm (phát
cảm): Thời kì nhạy cảm của việc học nói từ 1,5 - 3 tuổi. Trong thời kì này trẻ học nói một cách dễ
dàng và điều này đem lại những thay đổi căn bản trong hành động và các quá trình tâm lý của trẻ
như tri giác, tư duy...
-Nếu vì lý do gì đó mà trẻ khơng bắt đầu học nói trước khi lên 3 thì việc học nói của trẻ
sau này sẽ rất khó khăn. Khuyết tật trong phát triển tâm lý do khơng nói được địi hỏi sự bù trừ
đặc biệt. Điều này thấy rõ ở các trẻ điếc - câm phải bắt đầu học nói sau 3 tuổi. Các trẻ này bị
chậm lại trong nhiều hoạt động và trong nhiều q trình và phẩm chất tâm lý như: Khơng chơi
được trị chơi, khơng vẽ được đồ vật, sự phát triển tri giác và tư duy đều bị chậm trễ. Khắc phục
những nhược điểm này địi hỏi phải có những có gắng sư phạm rất lớn không những để trẻ nắm
giữ được ngơn ngữ mà cịn đạt được các phương diện khác nữa. Lý do cần phải xác định các thời
kì phát cảm trong sự phát triển vì giáo dục tác động mạnh đến những phẩm chất tâm lý vừa mới
bắt đầu phát triển. Chính ở thời điểm này những phẩm chất đó mang tính chất mềm dẻo, uyển
chuyển, dễ được xoay vần theo mọi hướng. Còn đối với các phẩm chất đã hình thành rồi mà thay
đổi đi thì sẽ rất khó khăn.
-Tóm lại có 5 yếu tố chi phối sự hình thành và phát triển tâm lý trẻ em bao gồm: (1)Văn
hoá xã hội và sự phát triển tâm lý trẻ em.(2) Giao tiếp với sự phát triển nhân cách. (3)Hoạt động
với sự phát triển tâm lý.(4) Điều kiện sinh học và sự phát triển tâm lý trẻ em. (5) Giáo dục và sự
phát triển tâm lý trẻ em. Giáo dục mầm non Việt Nam hướng tới “giúp trẻ em phát triển về thể
chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ
em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và
phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và
phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và
cho việc học tập suốt đời”.
-Đánh giá trong giáo dục là một bộ phận hợp thành rất quan trọng của q trình giáo dục,
có vai trị phản hồi và tích cực trong việc điều chỉnh biện pháp tác động, hình thức tác động, nội
dung giáo dục… hướng đến đạt mục tiêu. Như vậy, các yếu tố trình bày ở trên chi phối sự hình
thành và phát triển tâm lý của trẻ em.
HẾT