Tải bản đầy đủ (.docx) (70 trang)

2012

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (559.94 KB, 70 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>Phần A - Tóm tắt các kết quả nổi bật của đề tài </b>
<b>1. Kết quả nổi bật của đề tài</b>


Sau q trình phân tích và tổng kết kết quả từ 716 bệnh án thu thập
tại PKNT-BVBNĐTƯ trong giai đoạn từ tháng 10/2007 đến tháng
4/2012, trong đó có 693 bệnh án phù hợp điều kiện để chọn vào nghiên
cứu chúng tơi đã tìm ra một số kết quả nổi bật như sau:


<b>Về tỉ lệ bệnh nhân còn sống và vẫn tiếp tục điều trị ARV: Tỉ lệ bệnh</b>
nhân còn sống và tiếp tục ARV tính từ thời điểm bắt đầu điều trị vào năm
2008, 2009, 2010 và 2011 đến 4/2012 lần lượt là 89,5; 93,6; 88,4; 94,8 và
98,6%.


<b>Kết quả về lượng tăng trung vị tế bào CD4: Trung vị tế bào CD4 của</b>
toàn bộ bệnh nhân trong nghiên cứu này ln tăng lên trong suốt q trình
54 tháng điều trị. Tại thời điểm bắt đầu điều trị ARV trung vị CD4 là 90 tế
bào/mm3<sub>, sau sáu tháng đầu trung vị CD4 tăng lên xấp xỉ 190 tế bào/mm</sub>3
và đạt được > 250 tế bào/mm3<sub> sau 18 tháng, sau 54 tháng đạt được hơn</sub>
400 tế bào/mm3<sub>.</sub>


Chúng tôi đã khảo sát sự tăng của trung vị tế bào CD4 ở các nhóm
bệnh nhân bắt đầu điều trị ở các mức CD4 khác nhau bao gồm các nhóm
có CD4 ≤ 100; 101-250 và >250 tế bào/mm3 <sub>trong thời gian 54 tháng điều</sub>
trị. Chúng tôi đã đưa ra được biểu đồ tổng hợp về sự tăng của trung vị tế
bào CD4 của các nhóm nêu trên, giúp các bác sĩ lâm sàng tiên đốn được
số lượng CD4 có thể đạt được của bệnh nhân sau mỗi 6 tháng dựa trên số
lượng CD4 ban đầu của bệnh nhân.


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

dưới ngưỡng phát hiện ở các nhóm điều trị trong khoảng tháng thứ 2-6;
7-12; 13-18; 19-24; 25-30; 31-36; 37-42; 43-48 và 49-54 lần lượt là:
60,19%; 78,69%; 83,81%; 86,44%; 87,57%; 90,14%; 91%; 96,08%;


87,0% và 88,0%. Tỉ lệ thất bại điều trị (VL>1000 copy/ml) ở các khoảng
tháng 7-12; 13-18; 19-24; 25-30; 31-36; 37-42; 43-48 và 49-54 lần lượt là:
4,83%; 3,33%; 3,95%; 3,78%; 4,23%; và 4%.


<b>Kết quả về sự so sánh HIV VL của 2 nhóm bệnh nhân có tiền sử điều</b>
<b>trị ARV trước khi đến PKNT–BVBNĐTƯ và bệnh nhân khơng có</b>
<b>tiền sử điều trị ARV trước khi điều trị tại PKNT-BVBNĐTƯ: Chúng</b>
tôi nhận thấy những bệnh nhân có tiền sử điều trị ARV trước đó có tỉ lệ
thất bại VL cao hơn nhóm bệnh nhân bắt đầu điều trị ARV tại
PKNT-BVBNĐTƯ có ý nghĩa thơng kê ở các tháng thứ 6, 12 và 48. Sự khác biệt
về kết quả của HIV VL của 2 nhóm này ở các tháng cịn lại khơng có ý
nghĩa thống kê.


<b>Kết quả về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị ARV:</b> Chúng tơi
nhận thấy giới nữ; có gia đình; bắt đầu điều trị ARV khi lượng tế bào CD4
cao; khơng có tiền sử bị nhiễm trùng cơ hội hoặc bị lao; không đồng
nhiễm viêm gan B hoặc C là các yếu tố ảnh hưởng tới việc tiếp tục ARV,
với tỉ lệ tiếp tục ARV cao hơn có ý nghĩa thống kê so với giới nam; độc
thân; CD4 khi bắt đầu điều trị thấp; có tiền sử NTCH hoặc lao; đồng
nhiễm viêm gan B hoặc.


<b>Đóng góp mới của đề tài</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

lâm sàng ước lượng được lượng tế bào CD4 có thể đạt được của các bệnh
nhân sau mỗi 6 tháng điều trị.


<b>Hiệu quả về kinh tế.</b>


<b>Áp dụng từ biểu đồ lượng tăng trung vị tế bào CD4: Dựa vào kết</b>
quả đạt được từ biểu đồ của sự tăng trung vị của tế bào CD4 các nhà lâm


sàng học và các nhà hoạch định chính sách có thể ước lượng được số
lượng thuốc dự phòng NTCH thứ phát và tiên phát như Cotrimoxazol,
Intraconazol và Fluconazol cho nhóm bệnh nhân cần phải điều trị để mua
cho đúng và tiết kiệm kinh phí.


<b>Hiệu quả về xã hội.</b>


<b>Áp dụng từ tỉ lệ sống sót sau các năm: Qua q trình phân tích số</b>
liệu nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỉ lệ sống và tiếp tục điều trị của bệnh
nhân sau 1 năm (nhóm bắt đầu ARV từ 2011) là 98,6%; sau 2 năm (nhóm
bắt đầu ARV từ 2010) là 94,8; sau 3 năm (nhóm từ bắt đầu ARV từ 2009)
là 88,4% và nhóm sau 4 (nhóm từ bắt đầu ARV từ 2009) là 93,6%. Kết
quả này sẽ giúp khích lệ bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tin tưởng vào một
tương lai tốt đẹp, tuổi thọ trung bình tăng lên cùng với ARV.


<b>Áp dụng từ kết quả về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị</b>
<b>ARV: Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng những bệnh nhân điều trị sớm sẽ có</b>
kết quả tốt, kết quả này sẽ giúp cho những đối tượng nằm trong nhóm đối
tượng có nguy cơ cao bị HIV đi xét nghiệm sàng lọc sớm, và điều trị sớm
để đạt kết quả tốt hơn.


<b>2. Đánh giá thực hiện đề tài đối chiếu với đề cương nghiên cứu đã</b>
<b>được phê duyệt.</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

<b>Thực hiện mục tiêu nghiên cứu- đạt được hai mục tiêu chính của</b>
nghiên cứu.


<b>Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến của bản đề cương </b>


Do thời gian có hạn, nhóm nghiên cứu khơng kịp phân tích sự khác


nhau về thất bại điều trị trên lâm sàng, miễn dịch và VL như dự kiến trong
đề cương


<b>Đánh giá việc sử dụng kinh phí.</b>


Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 79,4 triệu đồng.


Trong đó kinh phí sự nghiệp khoa học: 79,4 triệu đồng.


<b>3. Các ý kiến đề xuất: Chủ yếu tập trung vào đề xuất về quản lý</b>
<b>Đề xuất về tài chính.</b>


Cần cấp kinh phí sớm hơn ngay khi đề cương được phê duyệt để viện
có thể triển khai nghiên cứu sớm, có nhiều thời gian để phân tích hơn và
sẽ đạt kết quả tốt hơn.


Nếu được xin cấp thêm kinh phí để nhóm nghiên cứu viết bài để gửi
đi đăng tại các tạp chí khoa học trong nước và quốc tế.


<b>Đề xuất về quản lý khoa học công nghệ </b>


Đề nghị cho một hướng dẫn cụ thể, chính xác về đề cương chuẩn,
format của đề cương - có ví dụ về tất cả các giấy tờ đi kèm để nhóm
nghiên cứu có thể thực hiện nhanh chóng, khơng phải sửa chữa nhiều.


Với các đề tài tiếp theo, đề nghị cho nhóm nghiên cứu gửi ý tưởng và
các mục tiêu trước, nếu như hội đồng khoa học của CPC HIV/AIDS đồng
ý với các ý tưởng đó thì chúng tơi sẽ viết đề cương chi tiết để nộp và bảo
vệ đề cương.



</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5></div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

<b>ĐẶT VẤN ĐỀ</b>
<b>Lý do chọn đề tài nghiên cứu</b>


Theo báo cáo của UNAIDS, số lượng người sống chung với
HIV/AIDS (NCH) trên thế giới vẫn đang tiếp tục tăng và đã đạt đến xấp
xỉ 33 triệu người cuối năm 2009. Số người người nhiễm mới trong năm
2009 là 2.6 triệu, số lượng NCH đã tăng từ 8 triệu năm 1990 lên tới 33
triệu năm 2009. Đặc biệt, số lượng nhiễm mới hàng năm và số người chết
nguyên nhân do AIDS giảm đi đáng kể do số người được điều trị liệu
pháp thuốc kháng virút (ART) tăng nhanh [40].


Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tính đến cuối năm 2008 ước
tính có khoảng 4 triệu NCH đang điều trị ART ở các nước kém và đang
phát triển. Độ bao phủ của ART đã tăng từ 7% năm 2003 lên 42% năm
2009 trên toàn thế giới. Số lượng người chết nguyên nhân do AIDS cũng
giảm mạnh từ 2.8 triệu người/năm vào cuối 2003 xuống 1.9 triệu
người/năm cuối 2008 [40].


Việt Nam là một nước đang phát triển và cũng bị ảnh hưởng lớn của
đại dịch HIV/AIDS. Theo báo cáo của cục phòng chống HIV/AIDS Việt
Nam (CPCHIV/AIDS), số người nhiễm HIV tại Việt Nam phổ biến nhất
là đối tượng nghiện chích ma tuý. Từ khi ca đầu tiên nhiễm HIV được
phát hiện vào năm 1990, số lượng người nhiễm HIV đã tăng lên nhanh
chóng và đạt đỉnh khoảng 260 ngàn người vào năm 2006 [9].


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

Số lượng NCH ở Việt Nam được điều trị ART đã tăng lên từ thấp
hơn 10% năm 2003 lên khoảng 45% năm 2009. Theo chiến lược phòng
chống HIV/AIDS quốc gia dự định sẽ bao phủ đến 70% số NCH nhận
được ART trong năm 2012 [6].



Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương (BVBNĐTƯ) là một trong số
ít những đơn vị đầu tiên có điều trị bệnh nhân HIV/AIDS nội trú và đặc
biệt đã triển khai phòng khám ngoại trú (PKNT) cho người nhiễm
HIV/AIDS từ năm 2003. Tính đến tháng 4 năm 2012, tích lũy có hơn
2000 NCH đã nhận được dịch vụ chăm sóc điều trị ngoại trú tại đây và
tích luỹ có khoảng 1050 bệnh nhân đã được điều trị ART.


Đáp ứng với sự tăng lên nhanh chóng về số lượng bệnh nhân, với sự
tiến bộ của thế giới về công cuộc chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS
BVNĐTƯ cũng đã được trang bị nhiều máy móc, kỹ thuật mới, hiện đại
phục vụ cho việc chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS như máy đếm tế bào
CD4 các loại, chẩn đoán nhiễm trùng cơ hội như kỹ thuật nội soi phế quản
để tìm căn nguyên gây bệnh đường hô hấp, đếm tải lượng virút HIV, giải
trình tự gen để chẩn đốn xác định HIV kháng thuốc.


Trong giới hạn hợp tác nghiên cứu với Nhật Bản, bệnh nhân điều trị
ARV tại PKNT – BVBNĐTƯ đã được kiểm tra xét nghiệm CD4, tải
lượng virút mỗi mỗi 6 tháng, chính vì vậy hiệu quả điều trị của bệnh nhân
được đánh giá rất chính xác. Mặc dù BVBNĐTƯ là đơn vị đầu tiên áp
dụng đo tải lượng virút thường quy, nhưng cho đến nay cũng chưa có báo
cáo cụ thể nào về kết quả điều trị ART xác định bằng đo tải lượng HIV tại
Việt Nam.


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

<b>trị ARV và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân điều trị ARV tại Bệnh</b>
<b>viện Bệnh Nhiệt Đới Trung Ương từ tháng 10/2007 đến 4/2012”.</b>


<b>Mục tiêu nghiên cứu</b>


<b>1.</b> Đánh giá kết quả điều trị ART về lâm sàng, miễn dịch
và virút học trên những bệnh nhân điều trị ARV tại phòng khám


ngoại trú Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới Trung Ương từ 10/2007 đến
4/2013.


<b>2.</b> Khảo sát các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị tại
PKNT-BVBNĐTƯ trong khoảng thời gian này.


<b>Các giả thuyết nghiên cứu</b>


1. Tỉ lệ bệnh nhân còn sống và tiếp tục điều trị ARV tại
PKNT-BVBNĐTƯ từ 10/2007 đến 4/2012 là cao hơn 90%.


2. Bệnh nhân có CD4 thấp ở thời điểm bắt đầu điều trị
ARV sẽ có kết quả điều trị khơng tốt bằng những bệnh nhân có
CD4 cao.


</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

<b>CHƯƠNG I</b>


<b>TỔNG QUAN TÀI LIỆU</b>


<b>1.1 Tình hình điều trị ARV và những tiến bộ đạt được về ARV trên</b>
<b>thế giới và tại Việt Nam</b>


<b>1.1.1 Trên thế giới</b>


Kể từ khi ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào năm 1981tại
Mỹ, căn bệnh truyền nhiễm này đã là nỗi kinh hoàng cho nhân loại
nguyên nhân là do số người nhiễm HIV được phát hiện ở khắp các nước
trên thế giới và cũng bởi chưa có thuốc chữa khỏi HIV.


Tuy vậy chỉ ít năm sau đó các nhà khoa học đã phát hiện ra thuốc ức


chế HIV đầu tiên vào năm 1987 và liên tiếp sau đó là rất nhiều thuốc và
nhóm thuốc kháng HIV với tiến bộ vượt bậc như sau:


Năm 1987, thử nghiệm điều trị đầu tiên với thuốc AZT
(Azydothimidine) được thực hiện.


Năm 1989 người ta đưa ra các hướng dẫn điều trị AZT cho những
người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS trên cơ sở số lượng tế bào TCD4
của người bệnh.


Đến năm 1996, thế giới bắt đầu sử dụng phác đồ điều trị phối hợp ít
nhất ba loại thuốc (HAART). Chương trình điều trị thuốc ARV từ đó đã
làm giảm đáng kể các trường hợp tử vong do AIDS, ước tính từ năm 1996
đến hết năm 2009 đã có khoảng 14,4 triệu năm tuổi thọ được cứu sống
nhờ điều trị ARV [20].


Hiện nay thuốc kháng HIV, có rất nhiều loại và rất đa dạng bao gồm
5 nhóm sau [12]:


- Nhóm 1: Thuốc ức chế men sao chép ngược nucleoside.


</div>
<span class='text_page_counter'>(10)</span><div class='page_container' data-page=10>

- Nhóm 3: Thuốc ức chế men protease.


- Nhóm 4: Thuốc ức chế hịa màng/xâm nhập.
- Nhóm 5: Thuốc ức chế men tích hợp.


Cùng với sự phát triển của các loại nhóm thuốc khác nhau, y học
cũng ghi nhận những sự tiến bộ vượt bậc trong việc kết hợp các loại thuốc
để tạo ra các phác đồ đơn giản, tiện lợi giúp bệnh nhân đạt được sự tuân
thủ điều trị thuốc tối ưu như: kết hợp 3 trong 1 của AZT/3TC/NVP hay


D4T/3TC/NVP khoảng một thập kỷ trước hay gần đây là sự kết hợp tuyệt
vời 1 viên /ngày của Atripla (TDF/3TC/EEFV) được rất nhiều NCH trên
thế giới sử dụng.


Bên cạnh sự phát triển nhanh chóng của các loại thuốc ARV là sự
tiến bộ không ngừng về quan niệm và tiêu chuẩn để điều trị ARV cho
NCH. Theo WHO năm 2006, tiêu chuẩn để bắt đầu điều trị ARV cho
bệnh nhân là khi số lượng tế bào CD4 < 250tb/ mm3<sub> [56] nhưng đến năm</sub>
2006 tiêu chuẩn lại được nâng lên là CD4 ≤ 350 tế bào/mm3<sub> [57]. </sub>


Gần đây, tại các cuộc hội thảo về HIV/AIDS trên toàn thế giới đều
vang lên khẩu hiệu là điều trị ARV để dự phòng, với nghiên cứu nổi tiếng
HTPN 052 trên những cặp bạn tình bất đối xứng đã chứng minh rằng điều
trị ARV sớm khi tế bào CD4> 350 đã làm giảm nguy cơ lây truyền
HIVqua đường tình dục đến 96% [46].


</div>
<span class='text_page_counter'>(11)</span><div class='page_container' data-page=11>

Cuối cùng, chúng ta cũng phải kể đến xét nghiệm giải trình tự gen để
chẩn đoán HIV kháng thuốc khi bệnh nhân đang điều trị ARV. Xét
nghiệm này sẽ được chỉ định cho các bệnh nhân có nồng độ HIV VL >
1000 copy/mm3<sub> để xét nghiêm sự đột biến kháng thuốc của HIV giúp các</sub>
nhà lâm sàng học có thể lựa chon loại thuốc ARV nhạy cảm với bệnh
nhân.


Tóm lại, trải qua hơn 30 năm, chúng ta phải thực sự ghi nhân sự tiến
bộ nhanh chóng trong cơng cuộc chẩn đoán, điều trị và theo dõi bệnh nhân
HIV/AIDS, giúp cải thiện cuộc sống, tăng tuổi thọ mong đợi của NCH
trên tồn cầu.


<b>1.1.2 Ở Việt Nam</b>



Hệ thống chăm sóc hỗ trợ người nhiễm HIV tại cộng đồng đã được
khởi động từ năm 1996 và chương trình điều trị chỉ tập trung vào các bệnh
viện tuyến trung ương như Bệnh Viện Bệnh Nhiệt Đới Trung Ương và
Bệnh Viện Bệnh Nhiệt Đới Thành Phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2005
chương trình điều trị ARV mới thực sự được mở rộng dưới sự hỗ trợ về
kỹ thuật và tài chính của các chương trình như: Quỹ tồn cầu, Life-Gap và
tổ chức HAIVN.


</div>
<span class='text_page_counter'>(12)</span><div class='page_container' data-page=12>

Do vậy, trong thời gian trước 2009 NCH ở Việt Nam phần lớn sử
dụng phác đồ D4T/3TC/NVP, khoảng 2008-2009 đến 2011 chủ yếu là
phác đồ AZT/3TC/NVP và từ năm 2011 đến nay bệnh nhân sử dụng
TDF/3TC/EFV đang tăng dần lên. Tuy nhiên do sự dung nạp thuốc của
từng cá thể là khác nhau, các phác đồ bậc 1 được sử dụng rất đa dạng bao
gồm cả AZT/3TC/EFV, TDF/3TC/NVP, AZT/3TC/TDF...


Theo hướng dẫn của BYT và tình hình thuốc sẵn có của từng giai
đoạn.Trước 2007 phác đồ bậc hai chủ yếu là ABC/DDI/NFV từ sau 2007
phác đồ bậc 2 chủ yếu được sử dụng là TDF/3TC/LPV/r [1][2]. Tuy vậy,
cũng có nhiều loại khác nhau như ABC/DDI/ LPV/r, AZT/3TC/ LPV/r...
tuỳ theo từng cá thể.


Cùng với sự thay đổi về phác đồ ARV tiêu chuẩn, BYT cũng đã thay
đổi về tiêu chuẩn điều trị ARV cho bệnh nhân. Theo hướng dẫn quốc gia
năm 2005, bệnh nhân được điều trị ARV khi có tiêu chuẩn tế bào CD4
<200 tế bào/mm3<sub> hoặc bệnh nhân ở giai đoạn lâm sàng 3,4 [1]. Tiêu chuẩn</sub>
về tế bào CD4 được nâng lên là 250 ở hướng dẫn quốc gia về chẩn đoán
và điều trị HIV/AIDS năm 2009 và 350 trong năm 2011 [2][5].


Ngoài ra, BYT cũng trang bị máy đếm tế bào CD4 trong cả nước
giúp cho bệnh nhân có thể tiếp cận điều trị ARV sớm, dễ dàng. Gần đây


BYT cũng đã ban hành quy trình theo dõi và chẩn đoán thất bại điều trị
phác đồ bậc 1 và quy trình làm xét nghiệm đo tải lượng virus để giúp các
nhà lâm sàng học chẩn đoán sớm thất bại điều trị ARV bậc 1 cho bệnh
nhân [11].


</div>
<span class='text_page_counter'>(13)</span><div class='page_container' data-page=13>

Xét nghiệm được dùng để đánh giá sự đáp ứng của điều trị ARV là
đo tải lượng virút HIV (VL), mục đích của việc điều trị ARV là làm giảm
VL trong máu dưới ngưỡng phát hiện [13], [54].


<b>1.2.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới về tải lượng virút trước</b>
<b>khi điều trị ARV.</b>


Xét nghiệm được dùng để đánh giá sự đáp ứng của điều trị ARV là
đo tải lượng virút HIV (VL), VL của bệnh nhân ở thời điểm chẩn đoán
nhiễm HIV thường là rất cao. Trung vị tải lượng virút của bệnh nhân ở
thời điểm phát hiện ARV tại một phòng tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện
(VCT) ở một bệnh viện ở miền bắc Mozambique (bệnh nhân chưa hề
được điều trị ARV) là > 4,19 log 10 bản sao/ml chiếm tới 88,42%. Số còn
lại (11.58%) bệnh nhân là có VL > 400 bản sao/ml [51].


Theo một nghiên cứu khác ở Pháp trung vị VL thời điểm đăng ký
khám bệnh (chưa ARV) là 4.4 log10 bản sao/ml [24] và ở một nghiên cứu
khác tại Togo tại thời điểm ban đầu chưa ARV, thì trung vị VL là
2,8log(10) HIV-1 RNA bản sao/ml [53].


<b> 1.2.1.2 Những nghiên cứu trên thế giới về tải lượng virút HIV</b>
<b>sau khi điều trị ARV.</b>


Sau khi điều trị ARV được >6 tháng lượng virút HIV bị ức chế mức
tối đa và thường có tỉ lệ cao số bệnh nhân đạt được VL dưới ngưỡng phát


hiện và đã được báo cáo ở nhiều nghiên cứu hác nhau.


Theo báo cáo của một nghiên cứu ở Beaumont có 93% số bệnh nhân
đang điều trị ARV > 6 tháng đạt được mức tải lượng virut là < 50 bản
sao/ml [48]. Nghiên cứu ở Togo nêu trên, thì sau 48 tuần có tới 82,4 bệnh
nhân đạt được VL dưới ngưỡng phát hiện [54].


</div>
<span class='text_page_counter'>(14)</span><div class='page_container' data-page=14>

(1,100-7,900,000), sau khoảng thời gian trung vị là 36 tháng có 85.2% số bệnh
nhân đạt được tải lượng virút dưới ngưỡng phát hiện (< 80 bản sao/ml)
[57] hay 84,2 % đạt dưới ngưỡng phát hiện 50 bản sao /ml ở một nghiên
cứu tương tự [37].


<b>1.2.2 Những nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị ARV bằng</b>
<b>miễn dịch học trên thế giới (tế bào CD4)</b>


Miễn dịch của bệnh nhân HIV được đo bằng số lượng tế bào Cd4. Ở
người bình thường tế bào CD4 đo được dao động từ 700-1000 tế bào/mm3
[13]. Người bị nhiễm HIV lượng CD4 giảm xuống thấp chỉ có vài trăm,
vài chục thậm chí khơng đếm được. Mục đích của điều trị ARV là làm
tăng tế bào Cd4 của bệnh nhân [55], [11] và cũng đã có nhiều nghiên cứu
chỉ ra rằng lương tế bào CD4 của bệnh nhân được cải thiện rõ dệt sau khi
điều trị ARV.


<b>1.2.2.1 Những nghiên cứu về số lượng tế bào CD4 truớc khi điều</b>
<b>trị ARV trên thế giới</b>


Mặc dù nhân loại đã chung sống với HIV/AIDS được hơn 30 năm,
nhưng hầu hết bệnh nhân phát hiện ra nhiễm HIV thường ở giai đoạn
muộn. Ở nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh nhân bắt đầu phát hiện nhiễm
HIV ở con số rất thấp trung vị lần lượt là 176 và 143 tế bào/ml ở các nước


đang và kém phát triển [57] hoặc có thể cao hơn là 313 tế bào/ml ở các
nước phát triển [24].


<b>1.2.2.2 Những nghiên cứu về số lượng tế bào CD4 sau khi điều trị</b>
<b>ARV trên thế giới</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(15)</span><div class='page_container' data-page=15>

nghiên cứu ở Togo [54]. Khi bắt đầu ARV ở CD4 trung vị là 395 tế
bào/ml thì sau 6 và 9 năm điều trị số lượng tế bào CD4 tăng được thêm
trung bình lần lượt là 218 và 322 tế bào/ml [37].


<b>1.2.3 Những nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị bằng lâm sàng</b>
<b>học trên thế giới</b>


Theo như định nghĩa về mục đích điều trị ARV của HAIVN, sau khi
điều trị ARV bệnh nhân sẽ khỏe mạnh, ít và tiến tới không mắc các bệnh
nhiễm trùng cơ hội hay gặp phải ở người bị suy giảm miễn dịch mắc phải.


Thực tế đã chứng minh ở một nghiên cứu sau trung bình 36 tháng
điều trị, bệnh nhân đã tăng trung bình 8,8 kg, số bệnh nhân có bệnh nhiễm
trùng cơ hội (NTCH) giảm từ 263 xuống chỉ còn 9 ca [53]. Một nghiên
cứu theo dõi khác trong 10 năm đã giảm số bệnh nhân ở giai đoạn lâm
sàng AIDS từ 36,3% xuống chỉ còn 1,7 % [57].


<b>1.3 Những nghiên cứu về đánh giá kết quả điều trị ARV ở Việt Nam</b>
<b> Ở Việt Nam, do điều kiện kinh tế còn khó khăn lên các nghiên cứu</b>
về đánh giá kết quả điều trị ARV chủ yếu là trên lâm sàng và miễn dịch
học.


<b>1.3.1 Những nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị ARV bằng số</b>
<b>lượng tế bào CD4 tại Việt Nam.</b>



Theo báo cáo của những nghiên cứu gần đây của Việt Nam, hầu hết
các bệnh nhân đều cho kết quả tốt về sự tăng trung vị tế bào CD4 sau khi
điều trị ARV.


</div>
<span class='text_page_counter'>(16)</span><div class='page_container' data-page=16>

274 tế bào/mm3<sub> máu, sau 18 tháng là 371 tế bào/mm</sub>3<sub> máu, sau 24 tháng là</sub>
395 tế bào/mm3<sub> máu [14]. </sub>


Ở một nghiên cứu khác của CPC HIV/AIDS (2010) bắt đầu với
trung vị CD4 thấp hơn nhận thấy rằng: sau 6 tháng trung vị CD4 tăng
thêm 91 tế bào/mm3 <sub>máu, sau 12 tháng tăng thêm 137 tế bào, sau 24 tháng</sub>
tăng 206 tế bào [8]. Hay 1 báo cáo ở Thanh Hóa cũng cho thấy trung vị số
lượng TCD4 tăng 153 tế bào/mm3<sub> [16] và Tác giả Tô Minh Huệ và cộng</sub>
sự cũng báo cáo tỷ lệ bệnh nhân có số lượng tế bào CD4 tăng sau 6 tháng
điều trị là 93,7%, sau đó giảm nhẹ tại thời điểm sau 12 tháng điều trị
88,9%[18].


<b>1.3.2 Những nghiên cứu về đánh giá kết quả điều trị ARV về lâm</b>
<b>sàng học ở Việt Nam</b>


Những nghiên cứu ở Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy
rằng, hầu hết các bệnh nhân đều có diễn biến lâm sàng tốt, tăng cân, tỉ lệ
sống sót và tiếp tục duy trì ARV cao cụ thể là:


Nghiên cứu về thực trạng điều trị ARV tại tỉnh Đắc Lắc (2009) cho
kết quả: hầu hết bệnh nhân tiếp cận với ARV khi đã ở giai đoạn lâm sàng
3, 4; bệnh nhân có tiến triển về cân nặng rất rõ rệt, sau 24 tháng đạt được
cân nặng trung bình của một người Việt Nam khỏe mạnh [21].


Kết quả phân tích hồ sơ bệnh án của 1072 bệnh nhân tại một số tỉnh


ở Việt Nam do Nguyễn Văn Kính và cộng sự thực hiện năm 2008-2009
cho kết quả: cân nặng trung bình của bệnh nhân so với thời điểm bắt đầu
điều trị tăng 2 kg; tỷ lệ bệnh nhân duy trì phác đồ bậc 1 sau 12 tháng là
89,8%, sau 24 tháng là 87,1% [14].


</div>
<span class='text_page_counter'>(17)</span><div class='page_container' data-page=17>

[8]. Hay một nghiên cứu tại Thanh Hóa năm 2010 ở trên cũng đưa ra kết
quả: sau 6 tháng điều trị, 85,2% bệnh nhân đã hết nhiễm trùng cơ hội,
trung bình cân nặng tăng 3,1kg [17].


Nghiên cứu đánh giá kết quả chương trình điều trị ARV tại huyện
Mai Sơn, tỉnh Sơn La giai đoạn 2009-2010 cho kết quả: 73% BN có cân
nặng tăng sau 6 tháng điều trị và duy trì ở tỷ lệ 73% tại thời điểm sau 12
tháng điều trị; 87,3% BN khơng cịn biểu hiện NTCH sau 6 tháng điều trị
và duy trì tỷ lệ 87,3% tại thời điểm sau 12 tháng điều trị [18].


Một nghiên cứu khác được thực hiện tại quận Thốt Nốt, TP Cần Thơ
năm 2011 cho kết quả: Hiệu quả điều trị đạt thấp ở 6 tháng đầu điều trị
(44,7%) và tăng dần sau 12 tháng (72,7%) và 24 tháng là 77,3%; chỉ số
tăng cân đạt thấp nhất ở cả 3 thời điểm: 6, 12 và 24 tháng (tương ứng
70,2%, 77,3%, 81,8%) [16].


Kết quả báo cáo thu thập chỉ số cảnh báo HIV kháng thuốc sớm năm
2011 cũng chỉ ra tỉ lệ duy trì điều trị ARV sau 12; 24 và 36 tháng lần lượt
là 82,1; 78,4 và 73,8 trên toàn quốc [7].


<b>1.4 Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị</b>
Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị đã được tổng kết ở nhiều
nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên các yếu tố này thay đổi theo các điều
kiện kinh tế xã hội và nhân chủng học của từng cá thể bệnh nhân nói riêng
hay của từng nhóm người, khu vực nói chung. Các yếu tố này bao gồm:


virút, thuốc, bệnh nhân, nhân và nhân viên y tế.


<b>1.4.1 Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả</b>
<b>điều trị trên thế giới</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(18)</span><div class='page_container' data-page=18>

Yếu tố đầu tiên thuộc về virút học phải kể đến là các chủng, loại
virút HIV khác nhau đã được chứng minh là có sự đáp ứng điều trị với
ART với mức độ khác nhau [47], [41], [31], [23]. Tuy vậy tại Việt Nam
chủng HIV – 1 là phổ biến vì vậy trong nghiên cứu này chúng tôi sẽ
không đề cập đến chủng virút là yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị
ARV.


Sự đột biến kháng thuốc cũng đã được ghi nhận trên những bệnh
nhân chưa điều trị ARV bao giờ. Tỉ lệ này là cao hơn ở các nước phát
triển và thấp hơn ở các nước đang phát triển [39], [58], [38], [49], [43].
Chính vì vậy có những bệnh nhân không đáp ứng với ARV ngay cả ở lần
đầu tiên điều trị. Trong nghiên cứu này, bệnh nhân không được xét
nghiệm VL và xét nghiệm gen kháng thuốc trước khi điều trị ARV vì vậy
yếu tố này cũng khơng được phân tích và đề cập đến.


Thứ 3 là bệnh nhân có thể bị lây nhiễm chủng HIV đã kháng thuốc từ
người khác, chính vì vậy khi chưa điều trị ARV thì thuốc cũng đã khơng
có hiệu quả. Hơn nữa, trong qua trình điều trị, bệnh nhân tuân thủ thuốc
rất đều nhưng do bệnh nhân vẫn tiếp tục có hành vi nguy cơ lây nhiễm
HIV từ người khác như: quan hệ tình dục khơng an tồn, tiêm chích
mat chung dụng cụ vì vậy đã lây chủng HIV kháng thuốc từ người khác
và kết quả là cũng bị kháng thuốc.


Tóm lại, yếu tố về virút học là yếu tố đầu tiên và rất quan trọng trong
việc quyết định lựa chọn phác đồ ARV cũng như yếu tố ảnh hưởng đến


kết quả của ART. Tuy vậy do điều kiện không cho phép, chúng tôi sẽ đề
cập vấn đề này ở những nghiên cứu trong tương lai.


</div>
<span class='text_page_counter'>(19)</span><div class='page_container' data-page=19>

Các yếu tố về bệnh nhân bao gồm các yếu tố kinh tế xà hội và nhân
chủng học và yếu tố về bệnh của bệnh nhân cũng đã được chứng minh là
có ảnh hưởng đến kết quả điều trị ARV.


Thứ nhất xét về các yếu tố kinh tế xã hội bao gồm: tuổi, giới, nghề
nghiệp, trình độ học vấn, tình trạng hơn nhân, tình trạng lạm dụng rượu và
thuốc phiện được chứng minh rõ là có mối liên hệ với kết quả điều trị
ARV một cách gián tiếp do trực tiếp liên quan đến sự tuân thủ điều trị của
bệnh nhân [32] [44] [54] [59].


Thứ hai, tình trạng bệnh của bệnh nhân ở thời điểm phát hiện nhiễm
HIV và thời điểm bắt đầu điều trị ARV đã được chứng minh một cách rõ
ràng là có ảnh hưởng đến kết quả điều trị ARV. Những bệnh nhân ở giai
đoạn lâm sàng 4 (khi bắt đầu ARV) có khả năng gặp thất bại điều trị về
virút học cao hơn 5.2 lần so với những bệnh nhân ở giai đoạn lâm sàng 1
đến 3 [36]. Hay tỉ lệ chết cũng cao ở những bệnh nhân bắt đầu ARV muộn
hoặc có đồng nhiễm lao hay viêm phổi nặng [29] [25]. Và bệnh nhân có
NTCH ở thời điểm bắt đầu ARV cũng được báo cáo là có tỉ lệ chết cao
trong 1 năm đầu điều trị [33], [45].


Thứ ba, tình trạng đồng nhiễm của bệnh nhân với các bệnh mãn tính
khác như tiểu đường, cao huyết áp viêm gan virút B, viêm gan virút C…
cũng làm ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Bệnh nhân có đáp ứng điểu trị
ARV kém hơn khi có đồng nhiễm với viêm gan virút B và C và [22] [27].
Hay đồng nhiễm với viêm gan C được chứng minh là có sự liên quan đến
sự tiến triển của bênh gan trên bệnh nhân nhiễm HIV [34], [50].



</div>
<span class='text_page_counter'>(20)</span><div class='page_container' data-page=20>

Yếu tố về thuốc cũng đóng vai trị quan trọng trong sự liên quan đến
kết quả điều trị ARV đó là loại phác đồ mà bệnh nhân được bắt đầu điểu
trị và tiền sử bệnh nhân tự dùng ARV.


Yếu tố đầu tiên được nhắc đến là loại phác đồ ARV mà bệnh nhân
được bắt đầu điều trị cù thể là số lượng viên thuốc trong phác đồ được sử
dụng, tác dụng phụ của ARV, sự hoàn chỉnh của phác đồ điều trị làm ảnh
hưởng trực tiếp đến sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân và ảnh hưởng đến
kết quả điều trị [13].


Ở Việt Nam hầu hết bệnh nhân được bắt đầu điều trị bằng những
phác đồ cơ bản là tương tự nhau, tùy thuộc vào thời gian điều trị như đã
nêu ở mục 1.1.1.2 theo hướng dẫn của Bộ Y Tế. Bởi vậy trong khuân khổ
nghiên cứu này chúng tôi không đề cập đến các loại phác đồ làm ảnh
hưởng đến kết quả điều trị.


Yếu tố được chứng minh có liên quan đến kết quả điều trị ARV và
cũng là một yếu tố quan trọng đó là: tiền sử điều trị ARV trước khi bệnh
nhân đựoc quản lý và theo dõi tại cơ sở liên quan đén kết quả điều trị
ARV.


Những bệnh nhân có tiền sử điều trị ARV trước đó sẽ bị thất bại điều
trị về virút học hơn những bệnh nhân khác đã được chứng minh ở một
nghiên cứu ở Mỹ [51]. Hay sự khác biệt về kết quả điều trị ARV đã được
chứng minh là có ý nghĩa thống kê khi so sánh 2 nhóm có tiền sử điều trị
ARV trước và khơng có tiền sử điều trị ARV trước [26],[35].


</div>
<span class='text_page_counter'>(21)</span><div class='page_container' data-page=21>

<b>1.4.2 Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả</b>
<b>điều trị ARV tại Việt Nam</b>



<b>1.4.2.1 Những nghiên cứu về các yếu tố về bệnh nhân ảnh hưởng</b>
<b>đến kết qủa điều trị ở Việt nam.</b>


Một số nghiên cứu ở Việt Nam chỉ ra rằng bệnh nhân nữ có kết quả
điều trị tốt hơn nam giới [21] có gia đình, có việc làm ổn định thí có kết
quả điều trị ARV tốt hơn những bệnh nhân độc thân, công việc không ổn
định [16]. Một nghiên cứu của CPC HIV/AIDS cũng chỉ ra rằng tỉ lệ duy
trì phác đồ bậc 1 ở bệnh nhân IDU là thấp hơn so với bệnh nhân khơng
IDU [8].


Tóm lại, trong 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị đã được
tổng kết nêu trên, chúng tôi tập trung vào hai yếu tố là thuốc ARV và yếu
tố liên quan đến bệnh nhân để đưa ra được sự liên quan đến kết quả điều
trị cụ thể là:


Nhóm 1 bao gồm các yếu tố kinh tế xã hội và nhân chủng học của
bệnh nhân như: tuổi, giới, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, nơi cư trú; và
các NTCH bệnh nhân mắc phải ở thời điểm trước khi điều trị, bắt đầu điều
trị ARV, và đang điều trị ARV.


</div>
<span class='text_page_counter'>(22)</span><div class='page_container' data-page=22>

<b>CHƯƠNG II</b>


<b>ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU</b>
<b>2.1 Đối tượng nghiên cứu</b>


Đối tượng nghiên cứu là tất cả những bệnh nhân tham gia điều trị
ARV tại PKNT-BVBNĐTƯ từ tháng 10/2007 đến tháng 4/2012 được ≥ 6
tháng, có được làm xét nghiệm đo HIV VL.


<b>2.2 Địa điểm nghiên cứu </b>



Nghiên cứu sẽ được tiến hành tại phòng khám ngoại trú (PKNT) của
Bệnh Viện Bệnh Nhiệt Đới Trung Ương (BVBNĐTW) từ tháng 6 năm
2012 đến tháng 12 năm 2012.


<b>2.3 Phương pháp nghiên cứu</b>
<b>2.3.1 Thiết kế nghiên cứu</b>


Nghiên cứu này sẽ được tiến hành theo phương pháp cắt ngang, có
phân tích. Tồn bộ dữ liệu sẽ được lấy từ bệnh án có sẵn của bệnh nhân và
nhập vào bệnh án nghiên cứu được chúng tơi thiết kế phù hợp với nghiên
cứu. Sau đó được nhập vào phần mềm SPSS 16.0 để xử lý và phân tích số
liệu.


<b>2.3.2 Cỡ mẫu và kỹ thuật sẽ sử dụng</b>
<b>2.3.2.1 Cỡ mẫu</b>


Lấy tồn bộ thơng tin của các bệnh nhân đang và đã điều trị ARV tại
PKNT của BVBNĐTƯ đủ tiêu chuẩn nêu trên bao gồm cả những bệnh
nhân tử vong, bệnh nhân bỏ trị, bệnh nhân chuyển đi, bệnh nhân đang
điều trị ARV thỏa mãn các tiêu chí sau:


</div>
<span class='text_page_counter'>(23)</span><div class='page_container' data-page=23>

 Xác định HIV dương tính.


 Đã được điều trị ART ≥ 6 tháng.
 Được xét nghiệm HIV VL


 Hồn thành khóa tập huấn bắt buộc về tuân thủ


điều trị của Bộ Y Tế Việt Nam.


Tiêu chuẩn loại trừ:


 Đang điều trị ARV nhưng chưa đủ 6 tháng hoặc


chưa hề được xét nghiệm đo tải lượng và xét nghiệm CD4
thường quy.


<b>2.3.2.2 Kỹ thuật sẽ sử dụng</b>


Tồn bộ thơng tin sẽ được thu thập trực tiếp từ bệnh án của bệnh
nhân và được nhập vào mẫu thiết kế sẵn trong phần mềm SPSS. Chúng
tôi dự định sử dụng phần mềm SPSS các ứng dụng: mô tả tần xuất, tỉ lệ
phần trăm để mô tả sự phân bổ của các đặc điểm về kinh tế xã hội, nhân
khẩu học của bệnh nhân.


Những kỹ thuật phân tích 2 biến như: T-test, Chi-squard sẽ được sử
dụng để phân tích sự khác biệt trong kết quả điều trị trong từng yếu từng
yếu tố liên quan.


<b>2.4 Các chỉ số nghiên cứu</b>


<b>2.4.1 Các chỉ số về lâm sàng</b>


Cân nặng của bệnh nhân ở thời điểm trước điều trị ARV và sau mỗi
6 tháng điều trị.


Giai đoạn lâm sàng, NTCH, tiền sử mắc Lao của bệnh nhân ở thời
điểm trước khi điều trị ARV tại PKNT-BVBNĐTƯ.


</div>
<span class='text_page_counter'>(24)</span><div class='page_container' data-page=24>

bệnh nhân bỏ trị tính đến thời điểm tháng 4/2012 sau 12, 24, 36, 48 tháng


điều trị.


<b>2.4.2 Các chỉ số về xét nghiệm</b>


Số lượng tế bào CD4 của bệnh nhân tại thời điểm trước điều trị ARV
tại PKNT-BVBNĐTƯ và sau mỗi 6 tháng sau khi điều trị ARV.


HIV VL của bệnh nhân ở thời điểm 6,12,18, 24, 30, 36, 42, 48 và 54
tháng điều trị ARV.


<b>2.5 Hạn chế của nghiên cứu</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(25)</span><div class='page_container' data-page=25>

<b>CHƯƠNG III</b>


<b>KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU</b>
<b>3.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân</b>


<b>3.1.1 Phân bố bệnh nhân theo giới và nhóm tuổi</b>


<b>Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân nghiên cứu theo giới</b>


Theo biểu đồ 3.1, tỉ lệ bệnh nhân nam trong nghiên cứu là 62,6 %, tỉ
lệ bệnh nhân nữ là 37,4%.


<b>Bảng 3.1. Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi</b>


<b>Nhóm tuổi</b> <b>Số bệnh</b>


<b>nhân</b>



<b>Tỉ lệ phần trăm (%)</b>
Nhóm tuổi


≤ 30 150 21,6


31- 40 395 57,0


41- 50 91 13,4


>50 56 8,0


Tuổi trung vị 34,5


Tuổi nhỏ nhất – lớn
nhất


18-75


</div>
<span class='text_page_counter'>(26)</span><div class='page_container' data-page=26>

nhất (8,0%). Tuổi trung vị của bệnh nhân trong nghiên cứu là 34,5 tuổi,
bệnh nhân trẻ nhất là 18 tuổi và bệnh nhân lớn tuổi nhất là 75 tuổi.


<b>3.1.2. Đặc điểm nghề nghiệp </b>


<b>Bảng 3.2. Phân bố nghề nghiệp của bệnh nhân nghiên cứu</b>


<b>Nghề nghiệp</b> <b>Số bệnh</b>


<b>nhân</b>


<b>Tỉ lệ phần trăm</b>


<b>(%)</b>


Nông dân 77 11,1


Công nhân 83 12,0


Tự do/Thất nghiệp 106 15,3


Công chức 126 18,2


Khác 301 43,4


Nghiên cứu đặc điểm nghề nghiệp cho thấy nhóm người nhiễm HIV
là các đối tượng khá đặc biệt, thể hiện qua số bệnh nhân có việc làm cụ
thể, ổn định là rất ít, cịn đa số họ là những người thất nghiệp hoặc lao
động tự do, trong thực tế có những bệnh nhân rất khó nói ra được cơng
việc thực sự mà họ đang làm.


<b>3.1.3. Tình trạng hôn nhân và nơi cư trú </b>


<b>Bảng 3.3. Đặc điểm tình trạng hơn nhân và nơi sống của bệnh nhân</b>


<b>Đặc điểm</b> <b>Số lượng</b>


<b>bệnh nhân</b>


<b>Phần trăm</b>
<b>100%</b>
Tình trạng hơn nhân



Có vợ, chồng 499 72,0


Khác 194 28,0


Nơi sống


Hà Nội 299 43,1


Tỉnh khác 394 56,9


</div>
<span class='text_page_counter'>(27)</span><div class='page_container' data-page=27>

từ nhiều tỉnh khác nhau, nhưng cao nhất vẫn là bệnh nhân đến từ Hà Nội
với tỉ lệ là 43,1%.


<b>3.1.4. Yếu tố nguy cơ</b>


<b>Biểu đồ 3.2. Phân loại yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV </b>


Nghiên cứu yếu tố nguy cơ lây nhiễm theo báo cáo của bệnh nhân
cho thấy có 28,2% số bệnh nhân cho rằng mình có thể bị nhiễm HIV
đường qua tiêm chích ma túy, tỉ lệ bệnh nhân báo cáo là bị lây qua đường
tình dục là cao nhất chiếm 62,6%. Tỉ lệ này cao như vậy là vì đã có 37,8%
bệnh nhân nữ ở đây và gần 100% họ khơng hề tiêm chích ma túy.


<b>3.1.5. Đặc điểm bệnh nhân trước khi bắt đầu điều trị ARV</b>
<b>3.1.5.1 Đăc Điểm về BMI của bệnh nhân</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(28)</span><div class='page_container' data-page=28>

<b>Bảng 3.4. Đặc điểm BMI của bệnh nhân trước khi bắt đầu ARV</b>


<b>BMI</b> <b>Số bệnh</b>



<b>nhân</b>


<b>Tỉ lệ phần trăm</b>
<b>(%)</b>


<18,5 212 31,6


18-25 430 64,1


>25 29 4,3


Trung vị 19.5


BMI thấp nhất – cao nhất 10.9-31.2


</div>
<span class='text_page_counter'>(29)</span><div class='page_container' data-page=29>

<b>Biểu đồ 3.3 Giai đoạn lâm sàng của bệnh nhân trước khi nhận ARV </b>
<b>tại PKNT-BVBNĐTƯ</b>


Theo biểu đồ 3.3, số bệnh nhân ở giai đoạn lâm sàng 1 chiếm tỉ lệ
cao nhất (46,3%). Tuy vậy có tới 38,7% bệnh nhân ở giai đoạn lâm sàng
4.


</div>
<span class='text_page_counter'>(30)</span><div class='page_container' data-page=30>

<b>Đặc điểm</b> <b>Số lượng</b> <b>Phần trăm</b>
<b>100%</b>
Đồng nhiễm viêm gan


HBsAg (+) 88 13,0


Anti HCV (+) 278 41,0



TS Nhiễm trùng cơ hội


Có 272 39,3


Không 419 60,7


Đã từng mắc Lao


Có 93 13,4


Khơng 598 86,6


Theo bảng 3.5 tỉ lệ bệnh nhân bị mắc NTCH chiếm tới 40% và tỉ lệ
có tiền sử mắc Lao là 13,7%. Trong số nhứng bệnh nhân được làm xét
nghiệm marker viêm gan B và C có 40% bệnh nhân có đồng nhiễm với
viêm gan C và 12% bệnh nhân có đồng nhiễm viêm gan B.


<b>3.5.1.4 Đặc điểm về tiền sử điều trị ARV trước khi nhận ARV tại</b>
<b>PKNT- BVBNĐTƯ</b>


<b>Biểu đồ 3.4. Tiền sử điều trị ARV</b>


Trong tổng số 693 bệnh nhân nghiên cứu, có 17,2% số bệnh nhân đã
được điều trị ARV trước khi chuyển đến điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt
đới Trung ương.


</div>
<span class='text_page_counter'>(31)</span><div class='page_container' data-page=31>

<b>Bảng 3.6. Chỉ số CD4 của bệnh nhân trước khi nhận ARV tại </b>
<b>PKNT-BNVNĐTƯ </b>


<b>Số lượng tế bào</b>


<b>CD4 (tế bào/mm3)</b>


<b>Số lượng</b> <b>Phần trăm</b>


<b>100%</b>


≤100 353 52,4


100-250 237 35,2


≥250 84 12,5


<i>Trung vị =90 ; SD =129 ; Nhỏ nhất = 0 ; lớn nhất = 954 </i>


Bảng 3.6 cho thấy CD4 tại thời điểm bệnh nhân được bắt đầu nhận
ARV tại PKNT-BVBNĐTƯ, mặc dù tiêu chuẩn CD4 để được điều trị
ARV được Bộ Y Tế nâng lên từ dưới 200 lên 250 năm 2009 và lên 350 tế
bào/ml năm 2011 nhưng trung vị CD4 ở thời điểm bắt đầu ARV của bệnh
nhân trong nghiên cứu này chỉ đạt 90 tế bào/mm3<sub>. Số liệu này chứng tỏ rất</sub>
nhiều bệnh nhân được phát hiện HIV ở giai đoạn rất muộn thậm chí CD4
bằng 0.


<b>3.2. Kết quả điều trị ARV</b>


Trong phần này chúng tôi sẽ mô tả kết quả điều trị của bệnh nhân
theo thứ tự lần lượt là lâm sàng, miễn dịch và virut học


<b>3.2.1. Thời gian điều trị ARV và tình hình chung điều trị ARV</b>
<b>của tồn bộ bệnh nhân tham gia nghiên cứu</b>



<b>3.2.1.1 Thời gian điều trị ARV tại PKNT-BVBNĐTƯ của nhóm </b>
<b>nghiên cứu</b>


<b>Bảng 3.7. Thời gian điều trị ARV</b>


Thời gian điều trị ARV (tháng) Số bệnh
nhân


Tỉ lệ (%)


</div>
<span class='text_page_counter'>(32)</span><div class='page_container' data-page=32>

25-48 247 36,1


≥ 48 130 19,0


Trung vị thời gian điều trị ARV 25


Min-max 6-153


Theo bảng 3.7, thời gian trung vị điều trị ARV của bệnh nhân trong
nghiên cứu là 25 tháng. Có 44,9% số bệnh nhân điều trị ARV từ 6-24
tháng.


<b>3.2.1.2 Tình hình chung</b>


<b>Biểu đồ 3.5 Tình hình chung</b>


Biểu đồ 3.5 cho thấy tình hình chung của 693 bệnh nhân trong
nghiên cứu này. Có 640 (92,4%) bệnh nhân còn sống tiếp tục điều trị
ARV tại PKNT-BVBNĐTƯ. Số bệnh nhân tử vong trong giai đoạn này
tại PKNT-BVBNĐTƯ là 33 bệnh nhân chiếm 4,7%. Có 7 bệnh nhân bỏ


trị chiếm 1% và có 12 bệnh nhân chuyển đi cơ sở khác điều trị.


</div>
<span class='text_page_counter'>(33)</span><div class='page_container' data-page=33>

<b>Biểu đồ 3.6 Tình hình bệnh nhân theo từng năm</b>


Biểu đồ 3.6 mơ tả tình hình chung của bệnh nhân theo từng thời điểm
mà bệnh nhân bắt đầu điều trị ARV. Có 19; 78; 112; 192 và 292 bệnh
nhân trong nghiên cứu này được bắt đầu điều trị ARV trong lần lượt các
năm 2007; 2008; 2009; 2010 và 2011, tính đến tháng 4 năm 2012 đã có
lần lượt 2(10,5%); 5(6,4%);10 (8,9%); 7(3,6%) và 2(0,6%) bệnh nhân tử
vong. Như vậy tỉ lệ còn sống và tiếp tục điều trị sau 5 năm, 4 năm, 3 năm,
2 năm, 1 năm tính đến thời điểm tháng 4 năm 2012 lần lượt là 89.5; 93,6;
88,4; 94,8 và 98,6%.


<b>3.2.2. Kết quả điều trị theo số lượng CD4</b>


Biểu đồ 3.7 dưới đây thể hiện trung vị CD4 của bệnh nhân sau mỗi 6
tháng điều trị ARV phác đồ bậc 1 và theo nhóm CD4 ở thời điểm bắt đầu
ARV tại PKNT-BVBNĐTƯ của bệnh nhân. Nhìn chung sự tăng CD4


</div>
<span class='text_page_counter'>(34)</span><div class='page_container' data-page=34>

trong cả q trình là khơng giống nhau. Trong 6 tháng đầu của quá trình
điều trị CD4 thường là tăng nhanh nhất đạt mức độ là xấp xỉ trung
bình100 tế bào/mm3<sub>. Các tháng sau sẽ tăng ít hơn chỉ đạt khoảng 30tế bào</sub>
hoặc 20 tế bào/mm3<sub> mỗi 6 tháng (biểu đồ).</sub>


Biểu đồ 3.7 cũng cho thấy trung vị tế bào CD4 trước khi điều trị
ARV của từng nhóm bệnh nhân khác nhau cụ thể là nhóm Cd4 ≤100 có
trung vị là 23tb/ mm3<sub>, nhóm (101-250) trung vị là 170 tế bào/mm</sub>3 <sub>và</sub>
nhóm bệnh nhân có CD4 >250 có trung vị là 292 tế bào/mm3<sub>. Đối với</sub>
nhóm bệnh nhân bắt đầu điều trị ở mức CD4≤ 100 tế bào/mm3 <sub>sẽ cần</sub>
khoảng 24 tháng để đạt được mức CD4 > 250 và cần khoảng 30 tháng để


đạt được mức CD4 >350 tế bào/mm3 <sub>. </sub>


</div>
<span class='text_page_counter'>(35)</span><div class='page_container' data-page=35>

<b>Biểu đồ 3.7 Biểu đồ biểu thị trung vị số lượng CD4 sau mỗi 6 thángtại</b>
<b>PKNT-BVBNĐTƯ (10/2007-4/2012)</b>


<b>3.2.2.1 Đánh giá thất bại điều trị bằng miễn dịch học ở thời điểm</b>
<b>12 tháng điều trị</b>


Chúng tôi đánh giá thất bại điều trị theo tiêu thất bại điều trị bằng tế
bào CD4 kết qủa cho thấy: trong 414 bệnh nhân có đủ kết quả CD4 ở thời
điểm bắt đầu điều trị, thời điểm sau 6 tháng và sau 1năm điều trị có
61(15%) bệnh nhân có thất bại về miễn dịch học (CD4 không tăng >100
trong suốt 1 năm điều trị hoặc CD4 giảm nhỏ hơn lúc bắt đầu điều trị hoặc
lượng CD4 nhỏ hơn giá trị cao nhất của bệnh nhân kể từ khi bắt đầu
ARV) (biều đồ 3.8).


</div>
<span class='text_page_counter'>(36)</span><div class='page_container' data-page=36>

<b>Biểu đồ 3.8 Đánh giá thất bại bằng miễn dịch sau 12 tháng điều trị</b>
<b>3.2.2.2 Mối tương quan về thất bại điều trị bằng miễn dịch và VL</b>
<b>sau 12 tháng điều trị</b>


Bảng 3.8 Mối tương quan giữa thất bại điều trị bằng miễn dịch và virut học sau 12
tháng điều trị ARV


<b>Yếu tố</b> <b>Không tb MD</b> <b>tbMD</b> <b>(N=)Tổng</b> <b>P-value</b>


<b> %</b> <b>%</b> <b>N %</b>


Tải lượng virut(VL) 0,000


Không thất bại



(VL<50copies/ml) 87,3 12,7 267 100


Thất bại


(VL>1000copies/ml)


35,7 64,3 14 100


</div>
<span class='text_page_counter'>(37)</span><div class='page_container' data-page=37>

có thất bại về miễn dịch học ở tháng thứ 12 mà khơng có thất bại về virut
học. Như vậy VL có tính chất quyết định thất bại điều trị.


<b>3.2.3. Kết quả điều trị về HIV VL</b>


Với đặc trưng là tất cả bệnh nhân ở nghiên cứu này không bắt đầu
điều trị ARV cùng một thời điểm, vì vậy chúng tôi quyết định chia
khoảng VL của bệnh nhân như sau: VL6 báo cáo cho VL của bệnh nhân
từ sau khi ARV tại PKNT đến tháng thứ 6, cụ thể trong nghiên cứ này là
từ tháng thứ 2-6 (hình 3.6), VL12 cho khoảng (bệnh nhân ARV 7-12
tháng) … cho đến VL 54 (nhân ARV 48-54 tháng).


<b>3.2.3.1 Kết quả VL của toàn bộ nghiên cứu</b>


Biểu đồ 3.9 thể hiện kết quả về VL của toàn bộ bệnh nhân đã điều trị
ARV phác đồ bậc 1 tại PKNT-BVBNĐTƯ tham gia vào nghiên cứu này
theo thời gian điều trị. Tỉ lệ bệnh nhân đạt được VL đưới ngưỡng phát
hiện tăng lên trong những nhóm bệnh nhân điều trị ARV dài ngày hơn
(hình 3.6).


Sau sáu tháng đầu tiên, tỉ lệ bệnh nhân đạt được VL < ngưỡng phát


hiện là thấp nhất, chỉ hơn 60%, nhưng có tới hơn 30% bệnh nhân có tải
lượng virút là trong khoảng 50-1000 có thể đây là nhóm bệnh nhân bắt
đầu điều trị ARV lên chưa đủ thời gian để ức chế virút. Tỉ lệ bệnh nhân
thất bại điều trị cũng cao nhất ở nhóm ARV trong 6 tháng đầu, đây có thể
là nguyên nhân từ những bệnh nhân đã bị thất bại bậc 1 trước khi đến
khám và điều trị tại BVBNĐTƯ.


</div>
<span class='text_page_counter'>(38)</span><div class='page_container' data-page=38>

<b>Biểu đồ 3.9 Biểu đồ biểu thị VL sau mỗi 6 tháng của nghiên cứu</b>


Có 78,69; 83,81; 86,44; 87,57; 90,14; 91 và 96% bệnh nhân ở ở lần
lượt các nhóm 12, 18, 24, 30, 36, 42 và 48 đạt được VL dưới ngưỡng phát
hiện.


Tóm lại, đối tượng bệnh nhân là khác nhau, có những bệnh nhân bắt
đầu ARV tại PKNT đã bị nghi ngờ kháng thuốc do tiền sử ARV từ trước
đấy, do vậy để biết được hiệu quả thực sự của điều trị ARV tại


</div>
<span class='text_page_counter'>(39)</span><div class='page_container' data-page=39>

BVBNĐTƯ xin chuyển sang phần sau: so sánh kết quả về VL giữa nhóm
bệnh nhân có và khơng có tiền sử ARV.


<b>3.2.3.2 Mối tương quan về thất bại miễn dịch học và tải lượng</b>
<b>virut trung bình của bệnh nhân ở thời điểm 6 và 12 tháng đầu điều trị</b>
<b>ARV.</b>


<b>Bảng 3.9 Mối tương quan về VL trung bình ở tháng thứ 6, 12 và</b>
<b>thất bại miễn dịch học tháng 12 điều trị ARV</b>


<b>VL</b> <b>Thất bại về MD</b> <b>N</b>


<b>VL</b>



<b> Trung bình</b> <b>p</b>


vl_hiv6 Có 18 65595.50


0,000


Khơng 81 5507.15


vl_hiv12 Có 16 127510.19


0,002


Khơng 43 1548.49


Bảng 3.9 cho thấy trung bình VL của bệnh nhân bị thất bại điều trị
theo tiêu chuẩn miễn dịch học cao hơn nhiều so với trung bình VL của
bệnh nhân khơng bị thất bại về miễn dịch học ở thời gian 6 và 12 tháng,
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p=0,000 và 0,002 lần lượt theo thứ
tự.


<b>3.2.3.3 Sự khác biệt về kết quả VL theo nhóm tiền sử điều trị</b>
<b>ARV</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(40)</span><div class='page_container' data-page=40>

cao hơn nhóm chưa ARV và có ý nghĩa thống kê lần lượt p(6) = 0,000 và
p(12) = 0,001.


Sau 6 tháng điều trị, tỉ lệ thất bại điều trị của nhóm bắt đầu ARV tại
PKNT-BVBNĐTƯ là rất thấp, duy trì ở mức nhỏ hơn 4,3%. Tỉ lệ thất bại
điều trị ở nhóm có tiền sử ARV luôn ở mức cao là lần lượt là xấp xỉ 16, 7,


8, 5 ở tuần thứ 12, 18, 24, 30. Ở tuần thứ 36 tỉ lệ thất bại về VL bằng 0,
nhưng chỉ 6 tháng sau lại tăng lên lần lượt là xấp xỉ 8% và13% ở tuần thứ
42 và 48.


</div>
<span class='text_page_counter'>(41)</span><div class='page_container' data-page=41>

<b>Biểu đồ 3.10 So sánh tải lượng virut giữa 2 nhóm bệnh nhân có tiền</b>
<b>sử ARV và khơng có tiền sử ARV. </b><i>(Chú thích: VL (n)-bệnh nhân khơng có</i>
<i>tiền sử ARV, VL(h)-bệnh nhân có tiền sử ARV)</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(42)</span><div class='page_container' data-page=42>

<b>3.2.4. Tỉ lệ bênh nhân điều trị phác đồ ARV bậc 1 và bậc 2 </b>


<b>Biểu đồ 3.11 Tỉ lệ bệnh nhân hiện đang điều trị ARV phác đồ bậc1 và </b>
<b>bậc 2 (n=663)</b>


Biểu đồ 3.11 thể hiện tỉ lệ bệnh nhân đang dùng phác đồ ARV bậc 1
và bậc 2 trong tổng số những bệnh nhân đang còn sống và tiếp tục điều trị
ARV tại PKNT-BVBNĐTƯ trong thời điểm nghiên cứu. Trong 641 bệnh
nhân vẫn còn sống và tiếp tục ARV tại đây trong nghiên cứu này có
94,5% hiện đang dùng ARV phác đồ bậc 1 và chỉ có 35 bệnh nhân (5,5%)
đã đang dùng ARV phác đồ bậc 2.


</div>
<span class='text_page_counter'>(43)</span><div class='page_container' data-page=43>

<b>3.2.5 Sự khác biệt về tỉ lệ bệnh nhân chuyển phác đồ bậc 2 và tử</b>
<b>vong sau chuyển phác đồ bậc 2 theo tiền sử điều trị ARV trước đó.</b>


<b>Biểu đồ 3.11 Tỉ lệ bệnh nhân chuyển phác đồ bậc 2 và tử vong sau</b>
<b>chuyển phác đồ bậc 2 theo tiền sử điều trị ARV trước đó.</b>


Biểu đồ 3.11 thể hiện tỉ lệ bệnh nhân chuyển sang phác đồ bậc 2
trong 2 nhóm khác nhau (có tiến sử ARV và khơng có tiền sử ARV trước
khi nhận ARV tại PKNT-BVBNĐTƯ). Trong 134 bệnh nhân có tiền sử
ARV trước khi nhận ARV tại PKNT-BVBNĐTƯ có tới 25(18,7%) bệnh


nhân phải chuyển sang phác đồ bậc 2 và đã có 7 bệnh nhân (5,2%) chết
sau khi chuyển phác đồ bậc 2.


Trong khi đó chỉ có 18 bệnh nhân (3,1%) trên tổng số 581 bệnh nhân
khơng có tiền sử ARV trước khi nhận ARV tại PKNT-BVBNĐTƯ phải
chuyển sang phác đồ bậc 2 và chỉ có 2 (0,3%) bệnh nhân chết sau khi
chuyển sang ARV bậc 2.


</div>
<span class='text_page_counter'>(44)</span><div class='page_container' data-page=44>

Kết quả so sánh về sự khác biệt trong tỉ lệ chuyển bậc 2 ở 2 nhóm
bệnh nhân này sử dụng Chi-squard cho thấycó sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê với p < 0,001.


<b>3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị</b>
<b>3.3.1 Yếu tố kinh tế xã hội và nhân chủng học</b>


Bảng 3.10 Thể hiện sự khác biệt về kết quả điều trị giữa các yếu tố
khác nhau sử dụng kỹ thuật phân tích 2 biến - Chi Squard. Sự khác biệt về
kết quả điều trị của các yếu tố về giới, tình trạng hôn nhân và các yếu tố
nguy cơ được nhận ra là có ý nghĩa thống kê.


Tỉ lệ bệnh nhân nữ giới còn tiếp tục điều trị tại nghiên cứu này là cao
hơn nam giới, với p=0,001. Tương tự như vậy, bệnh nhân sống cùng vợ,
chồng hay bạn tình và bệnh nhân tự khai là bị lây truyền HIV qua đường
tình dục thì cũng có tỉ lệ duy trì điều trị ARV đến thời điểm 4/2012 là cao
hơn bệnh nhân sống độc thân và bị lây truyền HIV qua IDU với p= 0,000
(bảng 3.10).


</div>
<span class='text_page_counter'>(45)</span><div class='page_container' data-page=45>

<b>Bảng 3.10 So sánh kết quả điều trị ARV giữa các yếu tố về kinh tế xã</b>
<b>hội và nhân chủng học</b>



<b>Yếu tố</b>


<b>Tt ARV</b> <b>Chết</b>


<b>&bỏ trị </b>


<b>Tổng (N=)</b>
<b>χ2</b>


<b>P-value</b>
<b>%</b> <b>%</b> <b>N %</b>


Nhóm tuổi 4


0,9


0,179


≤30 97,4 2,6 150 100


31-40 92,8 7,2 395 100


41-50 92,1 7,9 91 100


>50 91,1 8,9 56 100


Giới 10,7 0,001


Nam 81,2 8,8 445 100



Nữ 97,4 2,6 271 100


Địa chỉ 0,2 0,901


Hà nội 93,7 6,3 299 100


Tỉnh khác 97,4 2,6 394 100


Nghề nghiệp 5,6 0,225


Nông dân 88,8 11,2 106 100


Công nhân 92,2 7,8 77 100


Cán bộ 94,0 6,0 83 100


Tự do 95,1 4,9 126 100


Khác 87,8 12,2 301 100


TT hôn nhân 20,0 0,000


Độc thân 87,0 13,0 194 100


Có đơi 96,1 3,9 499 100


Yếu tố nguy cơ 15,3 0,000


IDU 88,1 11,9 196 100



QHTD 96,2 3,8 438 100


</div>
<span class='text_page_counter'>(46)</span><div class='page_container' data-page=46>

<b>3.3.2 Yếu tố ban đầu về bệnh của bệnh nhân</b>


<b>Bảng 3.11 So sánh kết quả điều trị ARV giữa các yếu tố ban đầu về</b>
<b>bệnh của bệnh nhân điều trị ARV </b>


<b>Biến</b>


<b>Tt ARV</b> <b>Chết &</b>
<b>bỏ trị</b>


<b>Tổng</b>


<b>(N=)</b> <b>χ2</b> <b>P-value</b>


<b>%</b> <b>%</b> <b>N % </b>


<b>Cân nặng</b> 0,5 0,476


≤50 93,7 6,3 318 100


>50 95,0 5,0 375 100


<b>Số lượng tế bào CD4</b> 7,14 0.028


≤100 92,6 7,4 353 100
101-250 97,0 3,0 237 100
>250 97,6 2,4 84 100



<b>Tiền sử Nhiễm trùng cơ hội</b> 8,0 0,005


Không 95,6 4,2 419 100
Có 90,6 9,4 272 100


<b>Đã từng mắc lao</b> 7,3 0,007


Không 94,8 5,2 598 100
Có 87,8 12,2 93 100


<b>Giai đoạn lâm sàng</b> 20,6 0,000


Gđ1 97,4 2,6 313 100
Gđ2 98,1 1,9 34 100
Gđ3 91,7 8,3 67 100
Gđ4 88,8 11,2 261 100


<b>HbsAg (+)</b> 14,1 0,001


Không 94,2 5,8 588 100
Có 93,5 6,5 88 100


<b>Anti-HCV(+)</b> 23,2 0,000


Không 93,4 3,6 399 100
Có 90,8 9,2 278 100


<b>Tiền sử ARV trước khi đến PKNT</b> 0,0 0,823
Không 6,7 93,3 123 100



Có 6,2 93,7 569 100
<b> </b>


Yếu tố về số lượng CD4, tình trạng NTCH, tiền sử mắc lao và đồng
nhiễm viêm gan B, C được nhận ra là các yếu tố ảnh hưởng đến kết qủa
điều trị ARV có ý nghĩa thống kê (bảng 3.11).


</div>
<span class='text_page_counter'>(47)</span><div class='page_container' data-page=47>

hoặc C có tỉ lệ bệnh nhân cịn tiếp tục duy trì ARV tính đến 4/2012 cao
hơn so với bệnh nhân bắt đầu với CD4 thấp, bị NTCH, bị nhiễm Lao, ở
giai đoạn lâm sàng 3 và 4, đồng nhiễm viêm gan B hoặc C-theo thứ tự. Sự
khác với p lần lượt là 0,028; 0,005; 0,007; 0,000; 0,001 và 0,000.


</div>
<span class='text_page_counter'>(48)</span><div class='page_container' data-page=48>

<b>CHƯƠNG IV</b>
<b>BÀN LUẬN</b>
<b>4.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu </b>


<b>4.1.1 Các đặc điểm về kinh tế xã hội và nhân chủng học của bệnh</b>
<b>nhân</b>


Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu này là nam giới (62,2%) kết
quả này cũng tương tự như các báo cáo về dịch tễ HIV/AIDS ở Việt Nam
những năm gần đây của CPC HIV/AIDS [3], [6], [9].Kết quả này cũng
tương tự như những báo cáo của các nghiên cứu trên đối tượng bệnh nhân
HIV/AIDS đang điều trị ARV ở các nghiên cứu khác ở Việt Nam [8],
[12], [15], [17].


Hơn 90% bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu này nằm trong độ tuổi
lao động (bảng 3.1) kết quả này cũng phù hợp với tình hình dịch tễ về
HIV/AIDS ở Việt Nam [12], [9]. Đây cũng là một vấn đề rất đáng được
quan tâm vì những đối tượng này đang là lực lượng chính để sản xuất ra


của cải vật chất cho xã hội nếu như tình trạng sức khỏe của họ không tốt
sẽ làm ảnh hưởng đến nền kinh tế của gia đình họ và có thể ảnh hưởng
khơng nhỏ đến kinh tế của đất nước. Kết quả này một lần nữa nhắc nhở
những cán bộ làm trong lĩnh vực chẩn đốn và điều trị và dự phịng
HIV/AIDS trách nhiệm của bản thân họ.


</div>
<span class='text_page_counter'>(49)</span><div class='page_container' data-page=49>

khó khăn khi nói về nghề nghiệp của mình. Đây cũng chính là điểm cơ
bản trong những đặc điểm mà có thể tăng thêm tính phức tạp ở quần thể
NCH cũng như những khó khăn trong cơng tác tư vấn và duy trì việc tuân
thủ điều trị ARV liên tục và lâu dài hay việc phòng tránh lây nhiễm HIV
từ họ ra cộng đồng.


Do PKNT-BVBNĐTƯ nằm trong địa bàn thành phố Hà Nội cho nên
có tới 44% bệnh nhân sống ở Hà Nội (bảng 3.3). Đây có thể là một nhân
tố thuận lợi cho việc tuân thủ điều trị ARV cho bệnh nhân trong nghiên
cứu của chúng tơi.


Trong nghiên cứu này có gần 30% bệnh nhân tự nhận là có thể bị lây
truyền qua tiêm chích ma túy (biểu đồ 3.2). Con số này nhỏ hơn so với
con số báo cáo từ CPC HIV/AIDS về tình hình dịch tễ HIV ở Việt Nam
[3], [9]. Tuy vậy, qua kinh nghiệm thực tế chúng tôi thấy rằng đa số bệnh
nhân đến PKNT-BVBNĐTƯ để khám và điều trị khi được hỏi về đường
lây truyền sẽ trả lời là qua đường quan hệ tình dục khơng an tồn. Lý do
để họ nói tránh đi tình trạng sử dụng ma túy là vì hiện nay sử dụng ma túy
ở Việt Nam là bất hợp pháp. Do vậy tỉ lệ bệnh nhân bị lây qua IDU có thể
cao hơn con số đã được báo cáo.


<b>4.1.2 Các đặc điểm ban đầu về bệnh của bệnh nhân</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(50)</span><div class='page_container' data-page=50>

NHCH tại bệnh viện và được giới thiệu xuống PKNT sau khi bệnh ổn


định. Chính vì vậy có trung vị cân nặng của bệnh nhân là thấp.


Chính từ đặc điểm vừa nêu trên bệnh nhân ở nghiên cứu này cũng có
tới 36,3% ở giai đoạn lâm sàng 3,4 trước khi điều trị ARV; có tới hơn
40% đã có tiền sử mắc NHTC vá có tới 13,7 % bệnh nhân đã từng mắc
Lao và điều này cũng có thể giải thích tại sao trung vị tế bào CD4 ở thời
điểm bắt đầu điều trị ARV của bệnh nhân trong nghiên cứu này lại thấp
chỉ đạt 90 tế bào/mm3<sub>, thấp hơn ở một số nghiên cứu trong nước [8], [18]</sub>


và cũng thấp hơn so với các nghiên cứu khác trên thế giới [57], [24].
Ngoài ra các đặc điểm khác như tỉ lệ đồng nhiễm viêm gan B,C cao,
tỉ lệ bệnh nhân đã từng điều trị ARV trước đó cao (bảng 3.5) sẽ tạo lên
một thách thức cho kết quả điều trị tại đây [22], [51].


<b>4.2 Kết quả điều trị ARV</b>
<b>4.2.1 Kết quả chung</b>


Nhìn một cách tổng quan về kết qua của nghiên cứu này chúng tơi
thấy: tính đến thời điểm tháng 4/2012 có 641 bệnh nhân vẫn còn tiếp tục
ARV trên tổng số 693 bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu. Tỉ lệ bệnh
nhân cịn duy trì ARV sau 5; 4; 3; 2,1 và 5 năm lần lượt là 89.5; 93,6;
88,4; 94,8 và 98,6% (biểu đồ 3.7). Các tỉ lệ này cao hơn con số được báo
cáo trong chương trình quốc gia về thu thập chỉ số cảnh báo HIV kháng
thuốc sớm năm 2011[7].


</div>
<span class='text_page_counter'>(51)</span><div class='page_container' data-page=51>

gọi điện thoại đến thăm hỏi hoặc nhắc nhở hoặc khi bệnh nhân gặp bất kỳ
khó khăn gì đều nhận được sự cảm thơng chia sẻ và giúp đỡ từ bác sĩ, điều
dưỡng viên và các nhân viên khác của phòng khám.


Một điều quan trọng nữa cần phải nhắc đến để góp phần mang lại kết


quả điều trị tốt trong giai đoạn này tại đây chính là bệnh nhân được đo
HIV VL thường quy và những trường hợp nghi ngờ có thất bại điều trị sẽ
được xét nghiệm gen kháng thuốc và thay đổi ARV bậc 2 kịp thời.


Đây cũng chính là điểm khác biệt tạo lên tỉ lệ bệnh nhân sử dụng
phác đồ bậc 2 tại PKNT-BVBNĐTƯ trong giai đoạn này là thấp hơn so
với tỉ ARV bậc 2 chung tại đây (chung là xấp xỉ 10%, giai đoạn này là
5,5%- biểu đồ 3.10).


Tuy vậy tỉ lệ ARV bậc 2 ở giai đoạn này vẫn cao hơn so với con số
ARV bậc 2 của tồn quốc [7]. Điều này có thể liên quan tới những bệnh
nhân có tiền sử ARV trước khi đến nhận ARV ở BVBNĐTƯ, vì tỉ lệ phải
chuyển sang ARV bậc 2 trong số này lên tới 18,7% cao hơn khoảng 8 lần
so với con số chung của cả nước [7]. Nếu chỉ tính những bệnh nhân bắt
đầu ARV tại PKNT-BVBNĐTƯ thì tỉ lệ phải chuyển sang bậc 2 chỉ là
0,3% (biểu đồ 3.11) thấp khoảng 8 lần so với tỉ lệ ARV bậc 2 chung của
cả nước và 16 lần so với tỉ lệ bậc 2 trong nhóm có tiền sử ARV trước khi
đến đây (biểu đồ 3.11) [7].


<b>4.2.2 Kết quả về lượng tăng trung vị tế bào CD4</b>


Nghiên cứu này cho thấy sau 6 tháng đầu lượng CD4 tăng lên được
khoảng 100 tế bào/mm3<sub> (biểu đồ 3.7), kết quả này cũng tương tự như kết</sub>


</div>
<span class='text_page_counter'>(52)</span><div class='page_container' data-page=52>

Kết quả về lượng tăng trung vị của CD4 từng tháng này có thể giúp
bác sĩ lâm sàng ước lượng được mức độ tăng của CD4 cho từng đối tượng
bệnh nhân của họ và đây cũng có thể dùng làm một trong các dấu hiệu để
đánh giá thất bại điều trị sớm bằng miễn dịch học để đưa ra quyết định
kiểm tra tải lượng virút kịp thời để chẩn đoán thất bại điều trị cho bệnh
nhân trong điều kiện kinh tế còn hạn chế như ở Việt Nam.



Hơn nữa bằng việc chia nhóm bệnh theo số lượng tế bào CD4 tại thời
điểm ban đầu, chúng tôi cũng chỉ ra thời gian cần thiết trung bình để đạt
được các mốc CD4 mong đợi, cụ thể là cho nhóm bệnh nhân bắt đầu điều
trị khi CD4 ≤ 100 tế bào/ml, sẽ cần trung bình khoảng 24 tháng để CD4
đạt được ổn định lớn hơn 200 tế bào/ml trong vịng 6 tháng, trong khi
nhóm bắt đầu từ khoảng CD4 từ 100-250 thì chỉ cần 6 tháng.


Tương tự, nếu muốn đạt mức CD4 là 400, thì nhóm bắt đầu với CD4
<100 tế bào/ml sẽ phải mất 54 tháng, trong khi nhóm CD4 từ 100-250 tế
bào/ml chỉ mất 36 tháng, cịn nhóm CD4 lớn hơn 250tế bào/ml thì chỉ mất
khoảng 6 tháng, việc tăng nhanh tế bào CD4 sẽ làm giảm khả năng mắc
bệnh của bệnh nhân và tăng tỉ lệ sống sót của bệnh nhân.


Kết quả này giúp cho các bác sĩ lâm sàng tư vấn và giải đáp các câu
hỏi thường gặp về sự tăng CD4 của bệnh nhân, và cũng trả lời được câu
hỏi là bệnh nhân này trung bình có thể phải dùng Cotrimoxazol để dự
phòng nhiễm trùng cơ hội trong khoảng thời gian là bao nhiêu lâu.


</div>
<span class='text_page_counter'>(53)</span><div class='page_container' data-page=53>

Tóm lại, với việc đưa ra sơ đồ của sự tăng trung bình của tế bào CD4
trong mỗi 6 tháng, nghiên cứu này đã chỉ ra rất rõ ràng lợi ích của việc
phát hiện và điều trị HIV sớm. Đây là tài liệu để giúp các tư vấn viên tại
các phòng khám ngoại trú giải thích, tư vấn cho người bệnh, các bác sĩ có
thể tham khảo để đánh giá điều trị ARV, các nhà hoạch định chích sách
tham khảo để chuẩn bị kinh tế cho việc mua thuốc dự phòng thứ phát cho
bệnh nhân.


<b>4.2.3 Kết quả về HIV VL</b>


Đây là lần đầu tiên ở Bệnh Viện Bệnh Nhiệt Đới Trung Ương báo


cáo một nghiên cứu về kết quả HIV VL với số lượng bệnh nhân lớn và
trong thời gian dài như vậy và đây cũng là một trong ít những nghiên cứu
ở Việt nam công bố về kết quả này.


Kết quả trong toàn bộ nghiên cứu cho thấy tỉ lệ bệnh nhân đạt được
HIV VL dưới ngưỡng phát hiện sau 36 tháng là 90,14% - tỉ lệ này cao hơn
so với một nghiên cứu ở Chile chỉ đạt 85,20% bệnh nhân đạt dưới ngưỡng
phát hiện [57] hay một nghiên cứu khác chỉ đạt 84,2% HIV VL dưới
ngưỡng phát hiện sau 36 tháng [37].


Một nghiên cứu khác ở Togo cũng cơng bố kết quả là có 82,4% bệnh
nhân đạt được HIV VL dưới ngưỡng phát hiện sau 12 tháng [54], trong
khi đó nghiên cứu của chúng tơi cho kết quả là 83,81 % (biểu đồ 3.9) sau
12 tháng- như vậy tỉ lệ này là tương tự như nhau.


Tóm lại kết quả ức chế HIV VL trong nghiên cứu này đạt được cao
hơn hoặc bằng các nghiên cứu khác trên thế giới – kết qủa này chứng tỏ
một điều là bệnh nhân ở Việt Nam tuân thủ điều trị ARV rất tốt.


</div>
<span class='text_page_counter'>(54)</span><div class='page_container' data-page=54>

PKNT. Kết quả cho thấy tỉ lệ bệnh nhân đạt ức chế HIV VL dưới ngưỡng
phát của nhóm bệnh nhân khơng có tiền sử ARV cao hơn so với nhóm cịn
lại và có ý nghĩa thơng kê ở tuần tháng thứ 6, 12 và 48. Kết qủa này cũng
tương ứng với kết quả về tỉ lệ bệnh nhân phải đổi sang phác đồ bậc 2 ở
mỗi nhóm.


Chúng tôi cũng nhận thấy rằng, kết về HIV-VL của những bệnh nhân
bắt đầu ARV tại PKNT-BVBNĐTƯ là rất tốt. Sau thang thứ 12 có tới gần
85 % bệnh nhân đạt dưới ngưỡng phát hiện và tỉ lệ này tăng dần cho và dữ
ổn định trong khoảng từ (85-95%) cho suốt q trình nghiên cứu.



Điều này có nghĩa là, nếu như bệnh nhân đạt được HIV VL nhỏ hơn
ngưỡng phát hiện sau tuần thứ 12 thì 85% là bệnh nhân này sẽ đạt dưới
ngưỡng ở mỗi 6 tháng sau đấy (với điều kiện bệnh nhân tuân thủ điều trị
tốt). Từ kết quả nghiên cứu này chúng tơi có thể đề nghị rằng nên làm xét
nghiêm HIV VL cho những bệnh nhân trong khoảng 12 tháng đầu tiên sau
khi bắt đầu ARV để đánh giá mức độ đáp ứng của bệnh nhân với ARV
sau đấy việc tư vấn tuân thủ là quan trọng và để tiết kiệm chi phí thì chỉ
cần làm xét nghiệm HIV VL khi có dấu hiệu nghi ngờ kháng thuốc trên
miễn dịch hoặc lâm sàng.


<b>4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị ARV</b>
<b>4.3.1 Các yếu tố về kinh tế xã hội</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(55)</span><div class='page_container' data-page=55>

Điều này có thể giải thích rằng, bệnh nhân nữ thường có ý thức tuân
thủ điều trị ARV tốt hơn nam giới vì vậy sẽ duy trì điều trị ARV cao hơn.
Hơn nữa những bệnh nhân IDU thường sẽ không tn thủ điều trị tốt như
bệnh nhân khơng IDU, cịn những bệnh nhân có gia đình sẽ nhận được sự
giúp đỡ của gia đình nên kết qảu điều trị sẽ tốt hơn.


<b>4.3.2 Các yếu tố ban đầu về bệnh của bệnh nhân</b>


Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, bệnh nhân có CD4 cao, khơng bị
lao hoặc nhiễm trùng cơ hội, không đồng nhiễm với viêm gan B,C à ở giai
đoạn lâm sàng 1 sẽ có kết quả điều trị ARV tốt hơn những bệnh nhân có
CD4 thấp, có tiền sử NHCH , tiền sử mắc Lao và đồng nhiễm viên gan
B,C kết qủa này cũng tương tự như các nghiên cứu khác ở Việt Nam và
trên thế giới [22], [27], [36], [25], [29], [33],[34], [45], [50].


Điều này chúng ta cũng có thể giải thích được rằng: thứ nhất, bệnh
nhân có CD4 cao thì điều trị ARV sẽ tăng nhanh hơn do vậy nguy cơ


nhiễm bị NHCH sẽ giảm đi nhanh chóng và bệnh nhân sẽ có tỉ lệ tử vong
thấp hơn. Thứ 2, những bệnh nhân mắc Lao hoặc NTCH trước khi điều trị
thường là những bệnh nhân phát hiện ra bệnh ở giai đoạn muộn lên tỉ lệ tử
vong sẽ cao hơn. Thứ 3, những bệnh nhân có đồng nhiễm với viêm gan B,
C sẽ có nhiều nguy cơ mắc bệnh như các thất bại về gan, các tác dụng phụ
do ARV hoặc các thuốc dự phòng nhiễm trùng cơ hội khác gây lên, do
vậy sẽ có tỉ lệ tử vong và bỏ trị cao hơn.


</div>
<span class='text_page_counter'>(56)</span><div class='page_container' data-page=56>

<b>CHƯƠNG V</b>


<b>KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ</b>
<b>5.1 Kết luận</b>


<b>Về kết quả điều trị ARV</b>


Tỉ lệ bệnh nhân còn sống và đang tiếp tục điều trị ARV tại
PKNT-BVBNĐTƯ sau 1 năm, 2 năm, 3 năm ,4 năm và 5 năm đều đạt cao hơn
các chỉ số đưa ra ở các nghiên cứu khác tại Việt nam.


Kết quả về miễn dịch của bệnh nhân là tốt, tương ứng với kết quả về
lâm sàng học. Đường cong mô tả về trung vị tăng CD4 đi lên, và trung vị
số lượng CD4 từ khi bắt đầu điều trị là 90tế bào/ml đã tăng lên được xấp
xỉ 400 tế bào/ml, sự tăng trong 6 tháng đầu là nhanh nhất đạt khoảng
trung bình 100 tế bào/ml. Nghiên cứu này cũng tìm ra được thời gian
trung bình cần thiết để bệnh nhân có CD4 ở các mức độ khác nhau đạt
được mức CD4 mong đợi.


Tỉ lệ đạt được VL <1000 trong cả nhóm nghiên cứu là khoảng 94%
sau tháng thứ 6, kết quả này cũng tương ứng với kết quả đạt được về lâm
sàng học (hình 4.4). Việc so sánh kết quả VL của 2 nhóm bệnh nhân có và


khơng có tiền sử ARV cho thấy rằng, những bệnh nhân điều trị tại
PKNT-BVBNĐTƯ có tỉ lệ thất bại về VL là <5% sau tháng thứ sáu, và việc
không tăng lên tỉ lệ thất bại theo thời gian chứng tỏ bệnh nhân ở đây có ý
thức tuân thủ điều trị rất tốt.


Ngược lại, những bệnh nhân có tiền sử ARV trước đấy có tỉ lệ thất
bại điều trị cao hơn, và tỉ lệ này cũng tăng lên và tích lũy theo thời gian.


</div>
<span class='text_page_counter'>(57)</span><div class='page_container' data-page=57>

Tỉ lệ bệnh nhân thất bại điều trị là cao hơn ở các yếu tố bệnh nhân
nam, IDUs, không sống chung cùng với bạn tình, có tiền sử NTCH, Lao,
đồng nhiễm viêm gan B,C giai đoạn lâm sàng 3 và 4, số lượng CD4 thấp.
<b>5.2 Kiến nghị</b>


Từ các kết quả tìm được chúng tơi có kiến nghị như sau:


<b>Từ kết quả về CD4: Áp dụng biểu đồ tăng trung vị CD4 theo thời</b>
gian của bệnh nhân trong công tác tư vấn, điều trị ARV cho bệnh nhân và
đây cũng có thể là một cơng cụ hữu ích cho các bác sĩ lâm sàng theo dõi
và đánh giá thất bại sớm cho bệnh nhân.


<b>Từ kết quả về các yếu tố ảnh hưởng đến kết qảu điều trị ARV:</b>
Bệnh nhân điều trị sớm, không mắc các bệnh NTCH sẽ có kết quả điều trị
tốt hơn vì vậy cần tăng cường cơng tác sàng lọc HIV cho đối tượng có
nguy cơ và tăng cường cơng tác giúp bệnh nhân được tiếp cận điều trị
ARV sớm.


</div>
<span class='text_page_counter'>(58)</span><div class='page_container' data-page=58>

<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO</b>
<b>Tài liệu Tiếng Việt</b>


<i><b>1</b></i> <b>Bộ y tế (2005), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị nhiễm HIV/AIDS</b>


(Ban hành kèm theo quyết định số 06/2005/QĐ-BYT ngày 07/3/2005
của Bộ trưởng Bộ y tế), Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.


<i><b>2</b></i> <b>Bộ y tế (2009), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS (Ban hành</b>
kèm theo Quyết định số 3003/QĐ-BYT ngày 19/8/2009 của Bộ trưởng
Bộ Y tế), Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.


<i><b>3</b></i> <b>Bộ y tế (2012), Báo cáo tình hình nhiễm HIV/AIDS quý II năm 2012,</b>
Hà Nội.


<i><b>4</b></i> <b>Bộ y tế (2011), Chiến lược quốc gia phịng, chống HIV/AIDS đến năm</b>
2020 và tầm nhìn 2030, Hà Nội.


<i><b>5</b></i> <b>Bộ y tế (2011), Quyết định về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung</b>
trong "Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS" Ban hành kèm
theo QĐ số 3003 ngày 19/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế., Hà Nội.


<i><b>6</b></i> <b>Bộ Y tế (2012), Báo cáo tình hình nhiễm HIV/AIDS và hoạt động</b>
phịng, chống HIV/AIDS năm 2011; Phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu
năm 2012, Hà Nội.


<i><b>7</b></i> <b>Bộ y tế (2012), Báo cáo kết quả chương trình thu thập chỉ số cảnh báo</b>
HIV kháng thuốc sớm và tình hình điều trị ARV năm 2011.


<i><b>8</b></i> <b>Cục phịng chống HIV/AIDS (2010), Kết quả đánh giá ban đầu đánh</b>
giá đáp ứng lâm sàng và miễn dịch ở bệnh nhân người lớn điều trị
ARV tại Việt Nam, Hội nghị khoa học quốc gia HIV/AIDS lần thứ IV,
Bộ Y tế, Hà Nội.


</div>
<span class='text_page_counter'>(59)</span><div class='page_container' data-page=59>

2009”. />



dung/Tinh-hinh-dich/Tinh_hinh_dich_nhiem_HIVAIDS_toan_quoc_nam_2009.


<i><b>10</b></i> <b> Cục Phòng Chống HIV/AIDS (2012), “cập nhật về dịch tễ học</b>
HIV/AIDS
2012”. />


dung/Tinh-hinh-dich/Tinh_hinh_dich_nhiem_HIVAIDS_toan_quoc_nam_2012.


<i><b>11</b></i> <b> Cục phòng chống HIV/AIDS (2011), Quy trình xét nghiệm đo tải</b>
lượng virus HIV cho bệnh nhân.


<i><b>12</b></i> <b> Phạm Thị Cầm Giang (2010), Đánh giá kết quả chương trình chăm</b>
sóc, hỗ trợ và điều trị thuốc kháng virus (ARV) tại quận Thốt Nốt,
thành phố Cần Thơ giai đoạn 2006-2009 Luận văn Thạc sĩ Y tế công
cộng, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội.


<i><b>13</b></i> <b> HAIVN (2012) “ Tài liệu giảng dạy về chẩn đoán và điều trị</b>
HIV/AIDS học phần 2”


<i><b>14</b></i> <b> Nguyễn Văn Kính (2009), Đánh giá tuân thủ và hiệu quả điều trị</b>
bằng thuốc kháng virus (ARV), Hà Nội.


<i><b>15</b></i> <b> Nguyễn Văn Kính và các cộng sự (2010), Đánh giá thực trạng sử</b>
dụng thuốc kháng virus HIV (ARV) tại một số địa phương, Hội nghị
Khoa học quốc gia về HIV/AIDS lần thứ IV, Bộ Y tế, Hà Nội.


<i><b>16</b></i> <b> Võ Thị Năm (2010), Xác định tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến việc</b>
tuân thủ điều trị ARV ở bệnh nhân HIV/AIDS tại TP Cần Thơ năm
2009, Hội nghị khoa học quốc gia về HIV/AIDS lần thứ IV năm 2010,
Bộ Y tế, Hà Nội.



</div>
<span class='text_page_counter'>(60)</span><div class='page_container' data-page=60>

<i><b>18</b></i> <b> Tô Minh Tuệ (2011), Đánh giá kết quả chương trình điều trị thuốc</b>
kháng retrovirus cho người nhiễm HIV/AIDS tại huyện Mai Sơn, tỉnh
Sơn La giai đoạn 2009-2010, Luận văn Thạc sĩ Y tế công cộng,
Trường Đại học y tế công cộng, Hà Nội.


<i><b>19</b></i> <b> Ủy ban quốc gia PC AIDS và PC tệ nạn ma túy mại dâm (2010),</b>
Báo cáo đánh giá Chiến lược quốc gia phịng, chống HIV/AIDS đến
năm 2010 và tầm nhìn 2020, Hà Nội.


<i><b>20</b></i> <b> Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương (2011), "Điều trị HIV", Bản tin</b>
HIV/AIDS. Số 249, 250.


<i><b>21</b></i> <b> Lê Đình Vinh, Chu Đức Thảo và Nguyễn Đình Tuấn (2010), Thực</b>
trạng điều trị kháng retrovirus cho người nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh
Đắc Lắc trong 3 năm 2007-2009, Hội nghị khoa học quốc gia về
HIV/AIDS lần thứ IV năm 2010, Bộ y tế, Hà Nội.


<b>Tài liệu tiếng anh</b>


<i><b>22</b></i> <b>Antonucci G et al (2005), Role of hepatitis C virus (HCV) viremia</b>
and HCV genotype in the immune recovery from highly active
antiretroviral therapy in a cohort of antiretroviral-naive HIV-infected
individuals. Clin Infect Dis. 2005 Jun 15;40(12):e101-9. Epub 2005
May 5


<i><b>23</b></i> Bocket L et al (2005), impact of human immunodeficiency virus type
1 subtype on first line antiretroviral therapy effectiveness. Virology
Department centre Hospitalier, France.


</div>
<span class='text_page_counter'>(61)</span><div class='page_container' data-page=61>

heavily antiretroviral-experienced HIV-1-infected patients. Centre


Hospitalier Universitaire Lariboisière, Paris, France.


<i><b>25</b></i> <b>Cuong do D et al, (2012) ‘Survival and causes of death among </b>
HIV-infected patients starting antiretroviral therapy in north-eastern
Vietnam’. Scand J Infect Dis. 2012 Mar;44(3):201-8. doi:
10.3109/00365548.2011.631937. Epub 2011 Nov 28


<i><b>26</b></i> <b>Chung MH et al (2009), ‘Impact of prior HAART use on clinical</b>
outcomes in a large Kenyan HIV treatment program’. Curr HIV Res.
2009 Jul;7(4):441-6.


<i><b>27</b></i> <b>De Luca A et al (2002), ‘Coinfection with hepatitis viruses and</b>
outcome of initial antiretroviral regimens in previously naive
HIV-infected subjects’. Arch Intern Med. 2002 Oct 14;162(18):2125-32.


<i><b>28</b></i> <b>Dean J et al (2011), Prevalence of HIV type 1 antiretroviral drug</b>
resistance mutations in Vietnam: a multicenter study.Ireland Vietnam
Blood-Borne Virus Initiative, Dublin, Ireland.


<i><b>29</b></i> <b>Etard JF et al (2006), ‘Mortality and causes of death in adults</b>
receiving highly active antiretroviral therapy in Senegal: a 7-year
cohort study’. AIDS. 2006 May 12;20(8):1181-9.


<i><b>30</b></i> <b>Fredriksen-Goldsen, K. I., Shiu, C. S., Starks, H., Chen, W. T.,</b>
<b>Simoni, J., Kim, H. J., Pearson, C., Zhao, H., Zhang, F, (2011).</b>
""You Must Take the Medications for You and for Me": Family
Caregivers Promoting HIV Medication Adherence in China." <i>AIDS</i>
<i>Patient Care STDS</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(62)</span><div class='page_container' data-page=62>

<i><b>32</b></i> <b>Gifford, A. L., Bormann, J. E., Shively, M. J., Wright, B. C.,</b>


<b>Richman, D. D., Bozzette, S. A. (2000), "Predictors of self-reported</b>
adherence and plasma HIV concentrations in patients on multidrug
antiretroviral regimens." <i>J Acquir Immune Defic Syndr</i>. 23(5):386-95


<i><b>33</b></i> <b>Gupta A et al (2011), ‘Early mortality in adults initiating</b>
antiretroviral therapy (ART) in low- and middle-income countries
(LMIC): a systematic review and meta-analysis’. PLoS One.
2011;6(12):e28691. doi: 10.1371/journal.pone.0028691. Epub 2011
Dec 29.


<i><b>34</b></i> <b>Greub G et al (2000), ‘Clinical progression, survival, and immune</b>
recovery during antiretroviral therapy in patients with HIV-1 and
hepatitis C virus coinfection: the Swiss HIV Cohort Study’. Lancet.


2000 Nov 25;356(9244):1800-5


<i><b>35</b></i> Horberg M et al (2008). ‘Influence of prior antiretroviral experience
on adherence and responses to new highly active antiretroviral therapy
regimens’. AIDS Patient Care STDS. 2008 Apr;22(4):301-12. doi:
10.1089/apc.2007.0101


<i><b>36</b></i> <b>Huong DT et al (2011), Factors associated with HIV-1 virological</b>
failure in an outpatient clinic for HIV-infected people in Haiphong,
Vietnam. Int J STD AIDS. 2011 Nov;22(11):659-64. doi:
10.1258/ijsa.2011.010515.


<i><b>37</b></i> <b>Hoen B et al., (2007), Predictors of virological outcome and safety in</b>
primary HIV type 1-infected patients initiating quadruple antiretroviral
therapy: QUEST GW PROB3005.



</div>
<span class='text_page_counter'>(63)</span><div class='page_container' data-page=63>

National Center for HIV, STD, and TB Prevention, Centers for
Disease Control and Prevention, Atlanta, Georgia, United States of
America.


<i><b>39</b></i> <b>Jiamsakul A et al (2012), Comparison of predicted susceptibility</b>
between genotype and virtual phenotype HIV drug resistance
interpretation systems among treatment-naive HIV-infected patients in
Asia’: TASER-M cohort analysis.The Kirby Institute, University of
New South Wales, Sydney, Australia.


<i><b>40</b></i> <b>Joint United Nations Program on HIV/AIDS (UNAIDS), (2010).</b>
“UNAIDS report on global AIDS epidemic 2010. UNAIDS.
/>


<i><b>41</b></i> <b>Kantor R</b> (2006) ‘Impact of HIV-1 pol diversity on drug resistance
and its clinical implications. Curr Opin Infect Dis. 2006
Dec;19(6):594-606.


<i><b>42</b></i> <b> Kousiappa I et al (2009) Genetic analysis of HIV type 1 strains from</b>
newly infected untreated patients in cyprus: high genetic diversity and
low prevalence of drug resistance. Department of Biological Sciences,
University of Cyprus , 1678 Nicosia, Cyprus.


<i><b>43</b></i> Macveigh MS et al (2012), ‘Prevalence of Drug-Resistant HIV Type
1 at the Time of Initiation of Antiretroviral Therapy in Portland,
Oregon’. Department of Health, Multnomah County, Portland,
Oregon.


</div>
<span class='text_page_counter'>(64)</span><div class='page_container' data-page=64>

<i><b>45</b></i> <b>Moore DM et al (2011), ‘Determinants of early and late mortality</b>
among HIV-infected individuals receiving home-based antiretroviral
therapy in rural Uganda’. J Acquir Immune Defic Syndr. 2011 Nov


1;58(3):289-96. doi: 10.1097/QAI.0b013e3182303716.


<i><b>46</b></i> <b>Myron S et al (2011), Prevention of HIV-1 Infection with Early</b>
Antiretroviral Therapy, N Engl J Med 2011; 365:493-505August 11,
2011DOI: 10.1056/NEJMoa1105243


<i><b>47</b></i> <b>Pant Pai N, Shivkumar S, Cajas JM. (2012) Does genetic diversity</b>
of HIV-1 non-B subtypes differentially impact disease progression in
treatment-naive HIV-1-infected individuals? A systematic review of
evidence: 1996-2010.


<i><b>48</b></i> <b>Reyad A et al (2009)., ‘An audit on virological efficacy of </b>
anti-retroviral therapy in a specialist infectious disease clinic’, Waldron C,
Canning R, O'Shea D, Coakley P, McConkey S.


<i><b>49</b></i> <b>Readhead AC et al (2012), ‘Transmitted antiretroviral drug</b>
resistance in New York State, 2006-2008: results from a new
surveillance system’. The New York City Department of Health and
Mental Hygiene, HIV Epidemiology and Field Services Program, New
York, New York, United States of America.


<i><b>50</b></i> <b>Rockstroh JK et al (2005),‘Influence of hepatitis C virus infection on</b>
HIV-1 disease progression and response to highly active antiretroviral
therapy.’. J Infect Dis. 2005 Sep 15;192(6):992-1002. Epub 2005 Aug
11.


</div>
<span class='text_page_counter'>(65)</span><div class='page_container' data-page=65>

<i><b>52</b></i> <b>Serna-Bolea C et al., (2012) ‘Recent HIV-1 infection: identification</b>
of individuals with high viral load setpoint in a voluntary counselling
and testing centre in rural Mozambique’.



<i><b>53</b></i> <b>Saka B et al., (2012), Evaluation of antiretroviral treatment in a</b>
cohort of 1 620 HIV-infected patients in Togo. Department of
Infectious Diseases, University Medical Centre, Besancon, France


<i><b>54</b></i> <b>Tiyou, A., Belachew, T., Alemseged, F., Biadgilign, S. (2010).</b>
"Predictors of adherence to antiretroviral therapy among people living
with HIV/AIDS in resource-limited setting of southwest ethiopia."


<i>AIDS Res Ther</i>. 7:39


<i><b>55</b></i> <b>World Health Organization (WHO). (2010). "Antiretroviral therapy</b>
for HIV infection in adults and adolescents-Recommendations for a


public health approach".WHO.


/>


<i><b>56</b></i> <b>World Health Organization (WHO). (2006). "Antiretroviral therapy</b>
for HIV infection in adults and adolescents-Recommendations for a


public health approach".WHO.


/>


<i><b>57</b></i> <b>Wilson G, Wolff M </b>(2012), ‘A decade of antiretroviral therapy: a
profile of patients with 10 years of highly effective triple therapy.
Article in Spanish


</div>
<span class='text_page_counter'>(66)</span><div class='page_container' data-page=66></div>
<span class='text_page_counter'>(67)</span><div class='page_container' data-page=67>

<b>PHỤ LỤC</b>


<b>MẪU THU THẬP THÔNG TIN KHÁM LẦN ĐẦU TỪ BỆNH ÁN</b>
MS nghiên cứu: ……….



Mã bệnh nhân: <sub></sub><sub></sub><sub></sub><sub></sub><sub></sub><sub></sub>


Đối với các câu có [ ], chỉ đánh dấu 1 lựa chọn. Đối với các câu có , đánh
dấu mọi lựa chọn có thể.


<b>Thơng tin</b> <b>Lựa chọn</b>


Giới tính 1[ ] Nam 2[ ] Nữ 9 [ ] Khơng có thơng


tin


Có ghi rõ địa chỉ liên hề 1[ ] Có 2[ ] Không 9 [ ] Khơng có thơng


tin


Có số điện thoại của BN 1[ ] Có 2[ ] Không 9 [ ] Không có thơng


tin


Có tên người hỗ trợ 1[ ] Có 2[ ] Không 9 [ ] Khơng có thơng
tin


Có điạ chỉ người hỗ trợ 1[ ] Có 2[ ] Không 9 [ ] Khơng có thơng


tin


Có điện thoại người HT 1[ ] Có 2[ ] Không 9 [ ] Khơng có thơng


tin



Năm sinh __ __ __ __ 9 [ ] Không rõ


Nghề nghiệp Ghi rõ:


……….
Hôn nhân


1[ ]Chưa có gia đình 2[ ] Ly thân/ly dị 3[ ]


Góa


4[ ] Đang sống chung với vợ/chồng 5[ ]


Sống chung


Địa chỉ 1[ ] Hà Nôi 2[ ] Tỉnh


khác


Ghi ro tỉnh 4[ ] Khơng có thơng tin


Khẳng định HIV Ngày: __ __/__ __/__ __ 9 [ ] Khơng có thơng


tin


Yếu tố nguy cơ 1[ ] Có ghi lại 9 [ ] Khơng có thơng tin


Nếu có yếu tố nguy cơ
được ghi nhận, chọn các


lựa chọn sau


1. IDU 2. QHTD khơng an tồn
7. Khác………. 9. Không




Ngày đăng ký khám Ngày: __ __/__ __/__ __ 9 [ ] Khơng có thơng


tin


Bệnh nhân chuyển đến từ 1[ ] VCT 2[ ]
Tự đến


3[ ] Nhóm đồng đẳng 4[ ]
PK khác


5[ ] Khác……… 6[ ]
Không rõ


<i><b>Thông tin q trình chăm sóc và điều trị trước khi uống ARV</b></i>


<b>Lần khám đầu tiên (cùng ngày đăng ký hoặc ngay sau đó) Ngày: </b>__ __/__


__/__ __


Tiền sử lao 1[ ] Chưa bao giờ mắc


</div>
<span class='text_page_counter'>(68)</span><div class='page_container' data-page=68>

2. Đang điều trị, ngày khởi đầu nếu biết…./..../….tháng….
3. Đã điều trị xong, ngày kết thúc nếu biết…./..../….



Tiền sử trước khi đă ng
ký khám có NTCH


1[ ] Có 2[ ] Không 9[ ] Khơng có thơng tin


Nếu có, NTCH là gì Zona


Nấm họng
Nấm thực quản


Viêm thực quản do HSV
U mềm lây


Phát ban sẩn ngứa
Viêm nang lông tăng BC
ái toan


Penicillium marneffei
Sùi mào gà sinh dục
PCP


Toxoplasmosis
Viêm MN do
Cryptoccoccus


Bệnh lý não do HIV
Viêm võng mạc CMV
MAC



Tiêu chảy kéo dài >1
tháng


Sốt kéo dài >1 tháng
HC suy kiệt


Khác,…..


1[ ] Có 2[ ] Khơng
1[ ] Có 2[ ] Khơng
1[ ] Có 2[ ] Không
1[ ] Có 2[ ] Khơng
1[ ] Có 2[ ] Khơng
1[ ] Có 2[ ] Khơng
1[ ] Có 2[ ] Khơng
1[ ] Có 2[ ] Không
1[ ] Có 2[ ] Khơng
1[ ] Có 2[ ] Khơng
1[ ] Có 2[ ] Khơng
1[ ] Có 2[ ] Khơng
1[ ] Có 2[ ] Không
1[ ] Có 2[ ] Khơng
1[ ] Có 2[ ] Khơng
1[ ] Có 2[ ] Khơng
1[ ] Có 2[ ] Khơng
1[ ] Có 2[ ] Không
1[ ] Có 2[ ] Khơng


GĐ LS lần khám đầu GĐ 1 [ ] 2 [ ] 3 [ ] 4 [ ] 9[ ] Khơng có
thơng tin



NTCH lần khám đầu tiên 1[ ] Có 2[ ] Không


Nếu có, NTCH là gì Zona


Nấm họng
Nấm thực quản


Viêm thực quản do HSV
U mềm lây


Phát ban sẩn ngứa
Viêm nang lông tăng BC
ái toan


Penicillium marneffei
Sùi mào gà sinh dục
PCP


Toxoplasmosis
Viêm MN do
Cryptoccoccus


Bệnh lý não do HIV
Viêm võng mạc CMV
MAC


Tiêu chảy kéo dài >1
tháng



Sốt kéo dài >1 tháng
HC suy kiệt


Lao phổi


</div>
<span class='text_page_counter'>(69)</span><div class='page_container' data-page=69>

Lao ngoài phổi
Khác,…..


Cân nặng ___________kg 9[ ] Khơng có thơng tin


Chiều cao ___________ cm 9[ ] Khơng có thơng tin


Dự phịng cotrimoxazole 1[ ] Có 2[ ] Không


Tiền sử điều trị ARV


trước khi điều trị tại PK 1[ ] Có 2[ ] Không
Phác đồ trước đây lần 1


1[ ] Tự
túc


2[ ] PK


3[ ] PK
ngoại trú khác


4[ ]
Khác……….



1[ ] Phác đồ 1a: d4T + 3TC + NVP
2[ ] Phác đồ 1b: d4T + 3TC + EFV
3[ ] Phác đồ 1c: AZT + 3TC + NVP
4[ ] Phác đồ 1d: AZT + 3TC + EFV
5[ ] Phác đồ


khác:...
99 [ ] Khơng có thơng tin..


Từ____/_
__ /___đến
___/___/___
hoặc


[ ] đến
ngày uống ARV
ở PK


hoặc ….
tháng …. tuần
điều trị phác đồ
đó


Phác đồ trước đây lần 2
(nếu BN có nhiều hơn 1
phác đồ trong tiền sử)


1[ ] Tự
túc



2[ ] PK


3[ ] PK
ngoại trú khác


4[ ]
Khác……….


1[ ] Phác đồ 1a: d4T + 3TC + NVP
2[ ] Phác đồ 1b: d4T + 3TC + EFV
3[ ] Phác đồ 1c: AZT + 3TC + NVP
4[ ] Phác đồ 1d: AZT + 3TC + EFV
5[ ] Phác đồ khác:...
99 [ ] Khơng có thơng tin..


Từ____/_
__/___ đến
___/___/___
hoặc


[ ] đến
ngày uống ARV
ở PK


hoặc ….
tháng …. tuần
điều trị phác đồ
đó



HBsAg


</div>
<span class='text_page_counter'>(70)</span><div class='page_container' data-page=70></div>

<!--links-->
<a href=' /><a href=' dich/Tinh_hinh_dich_nhiem_HIVAIDS_toan_quoc_nam_2009'>2009”. </a>
<a href=' /><a href=' dich/Tinh_hinh_dich_nhiem_HIVAIDS_toan_quoc_nam_2012'>2012”. </a>
<a href=' /><a href=' />

<a href=' /> 20120302 - suy van tinh mach
  • 3
  • 504
  • 3
  • Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

    Tải bản đầy đủ ngay
    ×