BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
-----------------
ĐẶNG THỊ XUYẾN
NHẬN THỨC VỀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ DẤU HIỆU
CẢNH BÁO ĐỘT QUỴ Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH
TẠI THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
TP. HỒ CHÍ MINH - 2020
.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
-----------------
BỘ Y TẾ
ĐẶNG THỊ XUYẾN
NHẬN THỨC VỀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ DẤU HIỆU
CẢNH BÁO ĐỘT QUỴ Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TẠI
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, ĐẮK LẮK
Ngành: Nội khoa (Thần Kinh)
Mã số: 8720107
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐINH HỮU HÙNG
TP. Hồ Chí Minh – 2020
.
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Những số liệu và kết
quả ghi trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai cơng bố trong bất kỳ
cơng trình nào khác.
Tác giả
Đặng Thị Xuyến
.
LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành tốt khóa học và bản luận văn thạc sĩ này, tôi xin chân thành cảm
ơn sâu sắc đến:
• Ban Giám Hiệu, Phịng Sau Đại học, Bộ môn Thần Kinh của Trường Đại
học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo điều kiện thuận lợi để tơi
được học tập và hồn thành bản luận văn.
• Ban Giám hiệu và Ban Chủ nhiệm khoa Y Dược của Trường Đại học
Tây Nguyên, đã tạo điều kiện thuận lợi để tơi được học tập và hồn thành
khóa học của mình.
• Tất cả các Thầy Cơ trong Bộ mơn Thần Kinh của Trường Đại học Y
Dược Thành phố Hồ Chí Minh, đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, động viên
tơi trong suốt q trình học tập.
• Thầy Đinh Hữu Hùng, đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tơi trong
suốt q trình học tập và nghiên cứu.
• Trung tâm Y tế Thành phố Buôn Ma Thuột và các Anh Chị cán bộ y tế
tuyến cơ sở đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện tối đa để tơi có thể
hồn thành bản luận văn này.
• Tất cả Bạn bè và Anh Chị đồng nghiệp đã nhiệt tình chỉ bảo, giúp đỡ,
động viên tơi trong suốt q trình học tập.
• Bố mẹ đã sinh ra và ni dưỡng tôi khôn lớn nên người, và tất cả các
thành viên trong đại gia đình đã động viên, giúp đỡ và khuyến khích tơi
trong suốt q trình học tập.
Tác giả
Đặng Thị Xuyến
.
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình và biểu đồ
Trang
MỞ ĐẦU……………………………………………………………
1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU………………………….
3
1.1. Định nghĩa và phân loại đột quỵ………………………………...
3
1.2. Gánh nặng của đột quỵ …………………………………………
3
1.3. Các yếu tố nguy cơ của đột quỵ…………………………………
5
1.4. Một số dấu hiệu cảnh báo thường gặp của đột quỵ…………….
15
1.5. Một số nghiên cứu liên quan đến sự nhận thức về các yếu tố nguy
cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ……………………………………..
19
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
27
2.1. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………
27
2.2. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………
28
2.3. Cách khắc phục sai số……………………………………………
35
2.4. Đạo đức trong nghiên cứu……………………………………….
36
.
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU………………………….
38
3.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu……………………………
38
3.2. Tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh
báo của đột quỵ………………………………………………………
43
3.3. Một số yếu tố liên quan với tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu
tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ…………………………….
46
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN……………………………………………
52
4.1. Tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh
báo của đột quỵ………………………………………………………...
52
4.2. Một số yếu tố liên quan với tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu
tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ…………………………….
58
KẾT LUẬN…………………………………………………………...
68
KIẾN NGHỊ………………………………………………………….
69
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BMI
Body Mass Index (Chỉ số khối cơ thể)
Cs
Cộng sự
DHCB
Dấu hiệu cảnh báo
ĐQ
Đột quỵ
ĐTĐ
Đái tháo đường
HDL-C
High Density Lipoprotein Cholesterol (Cholesterol tỉ trọng cao)
KTC
Khoảng tin cậy
LDL-C
Low Density Lipoprotein Cholesterol (Cholesterol tỉ trọng thấp)
OR
Odds ratio (Tỉ suất chênh)
RLLM
Rối loạn lipid máu (Rối loạn mỡ máu)
RR
Relative Risk (Nguy cơ tương đối)
THA
Tăng huyết áp
TIA
Transient Ischeamic Attack (Thiếu mãu não thoáng qua)
YTNC
Yếu tố nguy cơ
.
DANH MỤC CÁC BẢNG
Thứ tự Tên bảng
Trang
3.1
Phân bố trình độ học vấn theo dân tộc
40
3.2
Phân bố trình độ học vấn theo nghề nghiệp
42
3.3
Một số yếu tố về tiền sử của đối tượng tham gia nghiên cứu
43
3.4
Tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo
43
3.5
Tỉ lệ các yếu tố nguy cơ đột quỵ được người dân kể đến
44
3.6
Tỉ lệ các yếu tố nguy cơ đột quỵ được người dân kể đến (tiếp theo)
45
3.7
Tỉ lệ các dấu hiệu cảnh báo đột quỵ được người dân kể đến
45
3.8
Tỉ lệ các dấu hiệu cảnh báo đột quỵ khác được kể đến
46
3.9
Mối liên quan giữa tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ
đột quỵ và tuổi, giới tính, dân tộc
3.10
Mối liên quan giữa tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ
đột quỵ và học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân
3.11
49
Mối liên quan giữa tỉ lệ nhận thức không đạt về các dấu hiệu cảnh
báo đột quỵ và trình độ học vấn, nghề nghiệp và tình trạng hơn nhân
3.14
48
Mối liên quan giữa tỉ lệ nhận thức không đạt về các dấu hiệu cảnh
báo đột quỵ và tuổi, giới tính, dân tộc
3.13
47
Mối liên quan giữa tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ
đột quỵ và tiền sử bệnh
3.12
46
50
Mối liên quan giữa tỉ lệ nhận thức không đạt về các dấu hiệu cảnh
báo đột quỵ và tiền sử bệnh
.
51
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Thứ tự
Tên hình và biểu đồ
2.1
Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu
34
3.1
Phân bố theo nhóm tuổi
38
3.2
Phân bố theo giới tính
39
3.3
Phân bố theo dân tộc
39
3.4
Phân bố theo trình độ học vấn
40
3.5
Phân bố theo nghề nghiệp
41
3.6
Phân bố theo tình trạng hơn nhân
42
.
Trang
MỞ ĐẦU
Cho đến hiện nay, đột quỵ luôn là một vấn đề thời sự của y học trên thế
giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển [59]. Trên toàn cầu, gánh nặng do
đột quỵ gây ra đã và đang ngày càng gia tăng rất nhanh. Trong đó, tỉ lệ tử vong
tăng 41%, mới mắc tăng 66%, hiện mắc tăng đến 84% [48] và có 85% trường
hợp tử vong là ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Bên cạnh đó, đột
quỵ đang có xu hướng ngày càng trẻ hóa, ảnh hưởng rất lớn đến những người
đang trong độ tuổi lao động [46], [48], [65]. Thực tế cho thấy người bệnh bị
đột quỵ có thể chịu nhiều tàn tật và những biến chứng nghiêm trọng, lâu dài
như mất ngủ, trầm cảm, sa sút trí tuệ, động kinh,...Tại nước ta, số liệu cập nhật
cũng chỉ ra rằng gánh nặng đột quỵ đang ngày càng gia tăng. Theo Lê Thị
Hương và cộng sự (cs), tỉ lệ hiện mắc đột quỵ trong cộng đồng ở nước ta ở mức
cao [5] và theo Islam và cs thì mỗi năm có khoảng 200.000 người mắc bệnh và
có hơn 50% trường hợp bị tử vong [57].
Trong khi đó, theo Feigin và cộng sự, hơn 90% gánh nặng do đột quỵ gây
ra trên tồn cầu là có liên quan chủ yếu với các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi
được của đột quỵ như tăng huyết áp, đái tháo đường, hút thuốc lá, rối loạn lipid
máu, béo phì, ít hoạt động thể lực,…[49]. Điều này trở nên quan trọng hơn khi
tỉ lệ các yếu tố này đã và đang ngày càng gia tăng nhanh cùng với sự phát triển
của xã hội và sự già hóa của dân số [8], [59]. Hơn nữa, gánh nặng đột quỵ còn
liên quan chặt chẽ với việc nhập viện sớm của bệnh nhân [3].
Như vậy, để góp phần làm giảm gánh nặng của đột quỵ, chúng ta cần có
những biện pháp dự phịng ngun phát thích hợp và đồng thời bệnh nhân đột
quỵ cần đến bệnh viện càng sớm càng tốt [61]. Để thực hiện tốt điều này thì
người dân cần có nhận thức tốt về các yếu tố nguy cơ (YTNC) và dấu hiệu cảnh
báo (DHCB) của đột quỵ (ĐQ). Theo y văn, trên thế giới đã có rất nhiều tác giả
nghiên cứu vấn đề này. Điển hình, theo nghiên cứu của Olorukooba và cs tại
.
Nigeria thì có tới 78,2% người dân có nhận thức không đạt về YTNC đột quỵ
[79]. Mặt khác, Pandian và cs cũng đã chỉ ra rằng tỉ lệ người dân nhận thức
khơng đạt về YTNC và DHCB của ĐQ cịn ở mức cao (71,9% và 77,6%) [83].
Cùng với đó, một số yếu tố có liên quan với nhận thức của người dân cũng đã
được nghiên cứu như tuổi, học vấn,…[19], [27], [53], [76]. Tại Việt Nam, Vũ
Anh Nhị, Lê Văn Tuấn và cộng sự cũng đã nghiên cứu về nhận thức YTNC và
DHCB ở bệnh nhân đột quỵ và người nhà của bệnh nhân đột quỵ [9]. Theo Lý
Thị Kim Thương và Đinh Hữu Hùng, tỉ lệ nhận thức đạt về YTNC và DHCB
của người dân tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai còn rất thấp [11]. Tuy nhiên,
số lượng nghiên cứu đề cập đến vấn đề này ở người dân trong cộng đồng còn
tương đối hạn chế.
Tại Đắk Lắk, một tỉnh miền núi, có khí hậu đặc thù với nhiều người đồng
bào dân tộc sinh sống, đã có một số nghiên cứu cho thấy đột quỵ và các YTNC
tương ứng là một thách thức lớn đối với sức khỏe trong cộng đồng người dân
[4], [10]. Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào khảo sát về
nhận thức YTNC và DHCB của đột quỵ trong cộng đồng. Xuất phát từ những
cơ sở đã nêu trên và với mong muốn góp phần làm giảm gánh nặng của đột quỵ
tại Đắk Lắk, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nhận thức về các yếu tố
nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ ở người trưởng thành tại Thành phố Buôn
Ma Thuột, Đắk Lắk”.
Mục tiêu nghiên cứu
1. Xác định tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu
cảnh báo đột quỵ ở người trưởng thành tại Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh
Đắk Lắk.
2. Xác định một số yếu tố liên quan với tỉ lệ nhận thức không đạt về các
yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ ở người trưởng thành tại Thành
phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI ĐỘT QUỴ
1.1.1. Định nghĩa
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, đột quỵ trước đây và hiện nay vẫn thường
gọi là “tai biến mạch máu não” được định nghĩa là một tình trạng bệnh lý của
não biểu hiện bởi các khiếm khuyết thần kinh xảy ra đột ngột với các triệu
chứng khu trú hơn là lan tỏa, tồn tại hơn 24 giờ hoặc bệnh nhân bị tử vong trong
vòng 24 giờ, loại trừ nguyên nhân chấn thương sọ não. Khái niệm đột quỵ
khơng bao gồm những trường hợp chảy máu ngồi màng cứng, chảy máu dưới
màng cứng hoặc chảy máu não do chấn thương, nhiễm khuẩn hay u não [7].
1.1.2. Phân loại
Đột quỵ hiện nay được thành 2 loại chính: Đột quỵ thiếu máu não hay nhồi
máu não, chiếm khoảng 80-85% các trường hợp đột quỵ, và đột quỵ xuất huyết
gồm xuất huyết trong não nguyên phát và xuất huyết khoang dưới nhện, chiếm
tỉ lệ 15-20% [7].
1.2. GÁNH NẶNG CỦA ĐỘT QUỴ
ĐQ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật trên toàn thế giới [59].
Số liệu thống kê cho thấy, trong năm 2010 cả thế giới có đến 16,9 triệu người
mắc mới, 33 triệu người hiện mắc, 5,9 triệu người chết và 102 triệu người tàn
tật do ĐQ. Bên cạnh đó, phần lớn những người sống sót sau ĐQ phải chịu
những khuyết tật nặng nề như trầm cảm (61,1%), thay đổi trương lực cơ (trên
55%) và hậu quả là giảm khả năng vận động (88%), mất thăng bằng (54,43%),
giảm khả năng di chuyển (54,16%) [30]. Vấn đề này là gánh nặng lớn cho gia
đình và xã hội, bên cạnh đó ĐQ cịn là gánh nặng kinh tế nặng nề vì chi phí
chăm sóc, chi phí cho việc khơng tham gia sản xuất để tạo ra của cải vật chất.
.
Cụ thể, trong năm 2017, 32 quốc gia ở Châu Âu đã tiêu tốn 60 tỷ Euro liên
quan đến ĐQ, trong đó 47% cho gánh nặng kinh tế do ĐQ gây ra mà ước tính
đến 27% chi phí cho sự chết sớm và nghỉ việc của những người bị ĐQ [73].
Đặc biệt, có sự khác biệt về gánh nặng ĐQ giữa các quốc gia mà chủ yếu
các gánh nặng này tập trung ở các nước có thu nhập thấp và trung bình với
52,5% tỉ lệ hiện mắc, 68,6% tỉ lệ mắc mới, 70,9% tỉ lệ tử vong và 77,7% tỉ lệ
tàn tật [45]. Trong khi tỉ lệ mắc mới chuẩn hóa theo tuổi có xu hướng giảm ở
các nước phát triển thì con số này lại tăng đáng kể ở các nước đang phát triển.
Bằng chứng cho thấy gánh nặng do đột quỵ đã giảm mạnh ở các quốc gia có
thu nhập cao như Áo, Ý, Đức, Iceland với tỉ lệ tử vong giảm 20% đến 50%
trong khoảng thời gian từ 1975-2005 thơng qua việc kiểm sốt tốt các yếu tố
nguy cơ của đột quỵ [37]. Trong khi tỉ lệ tử vong và tàn tật vẫn không ngừng
tăng lên với 4,85 triệu người chết và 91,4 triệu người tàn tật mỗi năm ở các
nước có thu nhập thấp và trung bình [75].
Bên cạnh đó, tàn tật do ĐQ có xu hướng ngày càng trẻ hóa. Cụ thể, từ
năm 1990 đến 2013 tỉ lệ tàn tật do ĐQ trên toàn thế giới tăng đến 25% ở nhóm
tuổi từ 20-64 [67]. Theo nghiên cứu của Giang và cs ở Thụy Điển công bố năm
2017 cho thấy tỉ lệ hiện mắc ĐQ thiếu máu não cục bộ ở người trẻ (< 45 tuổi)
tăng theo thời gian (từ năm 1995 đến năm 2010) [52]. Thêm vào đó, một số dữ
liệu khác cũng đã chỉ ra rằng 2/3 tổng số bệnh nhân ĐQ xảy ra ở những người
dưới 70 tuổi [47]. Trong năm 2010, có đến 5,2 triệu người (31%) bị ĐQ ở nhóm
dân số dưới 65 tuổi, mà con số này phần lớn từ các nước có thu nhập thấp là
74000 người (89%) và trung bình là 4 triệu người (78%) [45]. Bằng chứng cho
thấy sự thay đổi này có liên quan đến những yếu tố nguy cơ về lối sống như hút
thuốc lá, chế độ ăn không hợp lý (ăn mặn, ăn nhiều đường), sử dụng đồ uống
có cồn, ít vận động thể lực [94]. Và còn nhiều những bằng chứng gần đây cũng
cho thấy sự gia tăng ĐQ ở người trẻ tuổi có liên quan đến sự gia tăng những
.
YTNC truyền thống như tăng huyết áp (THA), đái tháo đường (ĐTĐ) và thừa
cân/béo phì [66].
Ở Việt Nam, tỉ lệ mắc mới ĐQ tăng từ 213,58/100.000 người mỗi năm
(năm 1990) đến 254,78/100.000 người mỗi năm (năm 2010) [45]. Ước tính mỗi
năm cả nước có hơn 200.000 người mắc ĐQ và hơn 50% trường hợp tử vong
[57]. Một nghiên cứu gần đây của Lê Thị Hương và cs cho thấy tỉ lệ hiện mắc
ĐQ ở Việt Nam là 1,62% [5]. Mặt khác, kết quả điều tra của Bộ Y tế công bố
năm 2016 cho thấy so với năm 2010, hầu hết các YTNC của các bệnh khơng
lây nhiễm nói chung và ĐQ nói riêng (nhóm tuổi 25-64) đều có sự gia tăng tỉ
lệ theo thời gian [2].
Những điều trên cho thấy, gánh nặng ĐQ không ngừng tăng lên và là
điều đáng phải quan tâm nhiều hơn nữa trong mọi nỗ lực làm giảm gánh nặng
bệnh tật không chỉ riêng ở từng quốc gia nào, chính phủ nào mà cịn là trách
nhiệm của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội.
1.3. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA ĐỘT QUỴ
1.3.1. Vai trò của các yếu tố nguy cơ của đột quỵ
1.3.1.1. Các yếu tố nguy cơ khơng thay đổi được
Tuổi cao
Tuổi tác có thể được xem như dấu ấn của quá trình phơi nhiễm với nhiều
yếu tố nguy cơ khác của ĐQ [37]. Theo thời gian, nguy cơ mắc ĐQ tăng dần
và người ta thấy sau tuổi 55, cứ 10 năm tỉ lệ này sẽ tăng gấp đôi. Tuổi không
thể thay đổi được nhưng việc ăn uống điều độ và sinh hoạt hợp lý có thể làm
chậm q trình thối hóa do tuổi tác gây ra [12], [14].
Giới tính
Nam giới thường có tỉ lệ mắc ĐQ nhiều hơn so với nữ giới từ 1,5 đến 2 lần.
Tuy nhiên ở nhóm tuổi từ 35 - 44 và trên 85 tuổi, tỉ lệ mới mắc ở nữ cao hơn ở nam.
Việc dùng thuốc tránh thai cũng làm tăng tỉ lệ mắc ĐQ ở phụ nữ trẻ [12], [29], [55].
.
Tiền sử gia đình
Tiền sử gia đình có bố hoặc mẹ bị ĐQ đều làm tăng nguy cơ bị bệnh này.
Có nhiều cơ chế liên quan đến hiện tượng này như di truyền các yếu tố nguy
cơ của ĐQ, di truyền tính nhạy cảm đối với các nguy cơ này, giống nhau về
văn hóa, lối sống và tương tác giữa yếu tố di truyền và ngoại cảnh. Các bất
thường về di truyền có thể làm bộc lộ các yếu tố nguy cơ như THA, ĐTĐ, rối
loạn lipid máu (RLLM), rối loạn đông máu [38].
Tiền sử bản thân bị đột qụy
Theo y văn, bệnh nhân bị ĐQ thiếu máu não cục bộ phải đối mặt với nguy
cơ tái phát rất cao, nhất là trong năm đầu tiên. Điển hình theo Wang và cs, tỉ
suất tái phát ĐQ tích lũy tại thời điểm một năm lên tới 17,7% [99].Thêm vào
nữa, theo Đinh Hữu Hùng thì tỉ suất tái phát ĐQ tích lũy tại thời điểm 30 ngày,
90 ngày, 6 tháng và 1 năm lần lượt tương ứng là 6%, 11,9%, 16,1%, 23,3% [4].
1.3.1.2. Nhóm các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được
Tăng huyết áp
THA là YTNC hàng đầu chịu trách nhiệm về việc làm gia tăng tỉ lệ ĐQ
trên toàn thế giới. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh điều đó, với 41,6% tỉ lệ đột
quỵ ở Thái Lan liên quan đến THA, con số này là 62,5% ở Sri Lanka và 35,24%
ở Trung Quốc [31], [54], [71].
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỉ lệ nhận thức về tình
trạng THA đã hạn chế cịn thêm vấn đề kiểm sốt huyết áp trên những người
có THA cịn chưa được tốt. Chẳng hạn, nghiên cứu ở Ấn Độ cho thấy tỉ lệ THA
chuẩn hóa theo tuổi là 34,4% trong đó chỉ có 62,3% biết mình có THA và chỉ
có 75,3% được điều trị và 22,3% kiểm sốt được huyết áp [92]. Ở Việt Nam,
một nghiên cứu tại Đà Nẵng cho thấy 27,3% có THA nhưng điều đáng lưu ý ở
đây là hơn hai phần ba số người THA trong nghiên cứu đó khơng biết là mình
bị THA [50]. Tỉ lệ THA gia tăng theo tuổi, với 7,3% ở nhóm tuổi 18-39, 32,2%
.
ở nhóm 40-59, 64,9% ở nhóm trên 60 tuổi và có tỉ lệ cao hơn ở nam giới so với
nữ ở độ tuổi từ 18- 59 [101].
Hút thuốc lá
Một vài nghiên cứu với quy mô lớn đã chứng minh rằng hút thuốc làm tăng
nguy cơ ĐQ, đặc biệt là người có tiền sử hút thuốc lá nặng. Nghiên cứu
Framingham và nghiên cứu tim ở Honolulu nhận thấy việc ngưng hút thuốc sẽ
làm giảm nguy cơ ĐQ. Những người ngưng hút thuốc được 5 năm thì nguy cơ
ĐQ của họ khơng cịn khác biệt với nhóm khơng hút thuốc [7].
Về mặt cơ chế, hút thuốc lá có thể làm tăng nồng độ fibrinogen, tăng
hematocrit, tăng kết tập tiểu cầu, tăng co mạch, giảm hoạt động tiêu sợi huyết,
làm biến đổi nồng độ lipid mà quan trọng nhất là làm giảm yếu tố bảo vệ High
Density Lipoprotein Cholesterol (HDL - C) và tất nhiên từ đó sẽ phát sinh xơ
vữa động mạch [20].
Hút thuốc lá là YTNC thuộc về hành vi, cùng với chế độ ăn khơng hợp lý
và ít hoạt động thể lực chịu trách nhiệm cho 66,3% gánh nặng tàn tật do ĐQ
gây ra [59]. Châu Á là khu vực tiêu thụ thuốc lá lớn nhất với bảy quốc gia nằm
trong nhóm mười quốc gia có mức độ tiêu thụ thuốc lá lớn nhất thế giới. Trong
đó, Trung Quốc là nước dẫn đầu với 301 triệu người hiện đang hút thuốc, chiếm
28,1% số người lớn hút thuốc theo thống kê năm 2010. Các nước khác trong
khu vực Đông Á cũng có tỉ lệ tương đương với 24,2% ở Hàn Quốc năm 2014,
Mongolia 27,7% năm 2009 [65].
Bệnh tim
Có nhiều bệnh lý tim mạch khác nhau gây nguy cơ ĐQ: bệnh mạch vành,
suy tim sung huyết, rung nhĩ, bệnh van tim, bệnh viêm mạch. Điều trị các bệnh
này làm giảm nguy cơ ĐQ [7].
Các cục huyết khối trong tim hình thành khi có ứ trệ máu trong tim, thường
gặp nhất là trong rung nhĩ. Các cục huyết khối này có thể vỡ ra, di chuyển theo
.
dòng máu lên các động mạch não và làm tắc các mạch máu này, gây ra ĐQ.
Huyết khối thường xảy ra nhất là trong tâm nhĩ và tiểu nhĩ trái. Mặc dù nguyên
nhân chủ yếu hình thành và phát triển các cục huyết khối trong tâm nhĩ là do
các lực co bóp tâm nhĩ suy yếu khiến lưu thơng máu trì trệ, nhưng bên cạnh đó
cịn có thể có các yếu tố khác góp phần. Tuổi già, tiền căn có biến cố lấp mạch,
THA, ĐTĐ làm gia tăng tỉ lệ ĐQ trong rung nhĩ. Các bệnh tim kết hợp như suy
tim sung huyết, bệnh mạch vành, hẹp van 2 lá, van tim nhân tạo cũng làm tăng
nguy cơ ĐQ trên bệnh nhân rung nhĩ. Suy chức năng thất trái cũng là một yếu
tố nguy cơ nữa của ĐQ ở người có rung nhĩ [7]. Một cuộc điều tra tồn cầu về
tần suất mắc rung nhĩ trên những bệnh nhân ĐQ cho thấy, tỉ lệ rung nhĩ ở những
bệnh nhân ĐQ thiếu máu não là 28%. Tỉ lệ này cao nhất ở Bắc Mỹ với 35%,
tiếp đến là ở Châu Âu 33%, và thấp nhất là ở Châu Mỹ La tinh là 17% [84].
Uống nhiều rượu bia
Dùng rượu với lượng nhiều, uống thường xuyên mỗi ngày hoặc trong các
cuộc nhậu, làm tăng nguy cơ ĐQ. Ngược lại, uống rượu với lượng ít hay vừa
phải làm tăng HDL-C và làm giảm nguy cơ mạch vành, đồng thời không ảnh
hưởng đến nguy cơ ĐQ. Cơ chế uống rượu nhiều làm tăng nguy cơ ĐQ vẫn chưa
được biết chắc chắn, nhưng có một số biến đổi sau khi uống với lượng lớn làm
tăng hematocrit và tăng độ nhớt của máu, tăng số lượng tiểu cầu khi ngưng uống,
rối loạn nhịp tim, tăng huyết áp, phản ứng stress, bàng quang căng đều là những
biểu hiện bất lợi làm tăng nguy cơ ĐQ. Nhiều thử nghiệm vẫn cịn đang nghiên
cứu, nhưng đều có nhận định chung là nguy cơ ĐQ do uống nhiều rượu có thể
giảm xuống nếu ngưng uống rượu [7]. Tỉ lệ tiêu thụ nhiều rượu bia có sự khác
biệt giữa nam và nữ (nam giới dùng nhiều rượu/bia hơn so với nữ giới), tuổi
trung bình là 41,3 và có sự tương quan nghịch với trình độ học vấn. Bên cạnh
đó, trong nhóm những người uống nhiều rượu bia có kèm theo THA, hút thuốc
lá và chỉ số BMI cao hơn nhóm khơng uống nhiều rượu bia [98].
.
Rối loạn Lipid máu
Một bằng chứng hiển nhiên là tình trạng tăng cholesterol và triglycerides
trong máu có liên quan đến bệnh mạch vành, nhưng các nghiên cứu trước đây
chưa ghi nhận bằng chứng liên quan đến ĐQ. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần
đây đã tách riêng các phân nhóm ĐQ và ghi nhận tăng Low Density Lipoprotein
Cholesterol (LDL-C) là yếu tố nguy cơ cho ĐQ thiếu máu não cục bộ, nhưng
giảm LDL-C lại làm tăng nguy cơ xuất huyết não. Tần suất ĐQ cũng cao hơn
bình thường ở nhóm người gia đình có tăng lipid máu. Bằng phương pháp khảo
sát mạch máu qua siêu âm, chụp động mạch cản quang cho thấy tần suất xơ
vữa động mạch liên quan đến tăng nồng độ lipid máu [7].
Một nghiên cứu dịch tễ học về rối loạn lipid máu ở các nước Châu Á Thái
Bình Dương đã chỉ ra rằng tỉ lệ rối loạn lipid máu có sự khác nhau giữa các chủng
tộc, nhóm tuổi, giới tính, khu vực sinh sống và tình trạng kinh tế xã hội [72]. Riêng
ở các quốc gia Đơng Á, sự gia tăng nồng độ cholesterol tồn phần liên quan đến
sự già hóa dân số, sự thay đổi chế độ ăn và tốc độ đơ thị hóa [65].
Đái tháo đường hoặc rối loạn dung nạp glucose
Nhiều cơng trình nghiên cứu cho thấy, số bệnh nhân ĐTĐ có tần suất xảy
ra đột quỵ cao gấp 2,5 - 4 lần người bình thường (tùy theo nghiên cứu). Bệnh
nhân ĐTĐ thường có tập hợp các yếu tố nguy cơ như: THA, béo bụng, RLLM
và kháng Insulin. Một số yếu tố nguy cơ có ảnh hưởng đến sự đề kháng insulin
bao gồm: quá trọng, lối sống ít vận động, tăng đường máu, sử dụng nhiều thuốc.
Do ĐTĐ liên quan đến các yếu tố nguy cơ đột quỵ khác như xơ vữa động mạch,
THA, RLLM, các bệnh nhân ĐTĐ phải được xem xét các quá trình xảy ra đồng
thời và cần được điều trị tấn công và liên tục. Điều trị ĐTĐ là nhằm đưa đường
huyết về giới hạn bình thường và có thể giảm nguy cơ ĐQ [7].
ĐTĐ là một yếu tố nguy cơ độc lập quan trọng của ĐQ [18], [41]. Và tỉ lệ
người mắc ĐTĐ trên toàn thế giới được ước tính vẫn khơng ngừng tăng lên
.
theo thời gian. Thật vậy, trên toàn thế giới, con số người trưởng thành mắc bệnh
ĐTĐ đã tăng hơn hai lần trong vòng 30 năm qua, và tốc độ gia tăng này có sự
khác biệt giữa các khu vực. Chẳng hạn như ở Mỹ, tỉ lệ người trưởng thành mắc
ĐTĐ tăng gấp đơi trong vịng 40 năm qua, trong khi ở nhiều quốc gia Châu Á,
tỉ lệ mắc bệnh ĐTĐ đã tăng từ 3-5 lần trong vòng 30 năm. Ở Trung Quốc, tỉ lệ
mắc ĐTĐ có sự tăng với tốc độ khá nhanh từ 1% năm 1980 đến 11,6% năm
2010 [65]. Theo ước tính, tỉ lệ mắc ĐTĐ ở người trưởng thành (từ 20-79 tuổi)
là 6,4% vào năm 2010 và sẽ tăng lên 7,7% vào năm 2030 [93].
Thừa cân/ Béo phì
Tăng trọng lượng và béo phì (trọng lượng cơ thể tăng 10% trên trọng lượng
lý tưởng) thường liên quan đến áp lực mạch máu, cholesterol, đường máu, axit
uric và liên quan tử vong từ tim mạch. Giảm 5 - 10% trọng lượng cơ thể ở bệnh
nhân béo phì thường dẫn tới giảm áp lực mạch máu và các yếu tố liên quan.
Các chứng cứ về các bài tập sinh lý và đi bộ thường xuyên kết hợp với chế độ
ăn rau quả nghiêm ngặt và giảm các chất kích thích bất lợi khác sẽ làm giảm
các YTNC tim mạch đồng thời có thể làm hạn chế YTNC ĐQ. Thêm nữa, tất
cả các bệnh nhân ĐQ thiếu máu não cục bộ và thống thiếu máu não có q
trọng phải được khuyến cáo giảm cân, mục tiêu là duy trì chỉ số khối cơ thể
(BMI) từ 18,5 đến 24,9 kg/m²và vòng bụng < 90cm ở nữ và < 100cm ở nam
(IIb-C). Các bác sĩ lâm sàng nên khuyến khích bệnh nhân kiểm sốt cân nặng
thơng qua một chế độ cân bằng hợp lý giữa năng lượng ăn vào và hoạt động
thể lực [7].
Sự gia tăng cân nặng có liên quan đều đặn với sự gia tăng tỉ lệ ĐQ ở cả thể
nhồi máu não và xuất huyết não [68]. Một phân tích gộp về mối liên quan giữa
chỉ số khối cơ thể (BMI) và nguy cơ ĐQ quỵ trên 45.235 bệnh nhân từ 16
nghiên cứu đoàn hệ ở Nhật Bản cho thấy rằng: thừa cân hoặc béo phì đều có
liên quan với sự gia tăng nguy cơ ĐQ ở cả 2 giới [100]. Mối liên quan giữa ĐQ
.
ở người trẻ (từ 15-49 tuổi) cũng được nghiên cứu với nguy cơ tương đối là 1,57
[74]. Hơn nữa, một số tác giả khác cũng đã chứng minh rằng béo phì bụng là
một yếu tố có liên quan mạnh với nguy cơ ĐQ [58], [97].
Thiếu hoạt động thể lực
Hoạt động thể lực, tập vận động ở mức vừa phải, thường xuyên kiểm soát
trọng lượng cơ thể và mức tăng hoặc rối loạn lipid, giữ huyết áp ln về mức
bình thường là những biện pháp có lợi cho phịng ngừa tái phát ĐQ. Nhìn chung
luyện tập cơ thể đều đặn và đúng mức có thể làm thay đổi lối sống hàng ngày
ở trên bệnh nhân có nhiều YTNC ĐQ. Việc tăng cường giải trí, hoạt động thể
thao giúp cơ thể điều chỉnh những bất thường nhất là bệnh nhân có tăng lipid
máu và ĐTĐ. Những bài tập thể dục hoặc các phương pháp hoạt động như đi
bộ thường xuyên 6 lần/ tuần, thời gian mỗi lần từ 30-45 phút (những bệnh nhân
có bệnh tim, THA có khuyến cáo riêng). Trong những hoạt động ngoài trời
bệnh nhân cần khởi động chậm, bài tập địi hỏi ít dưỡng khí để tránh mệt mỏi
khi luyện tập [7].
Nghiên cứu tổng quan của Katzmarzyk và Janssen (2004) cho thấy rằng
thiếu vận động thể lực tăng nguy cơ ĐQ với RR=1,6 (KTC 95%: 1,42-1,8),
tương tự cũng tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch với RR=1,45, tăng nguy cơ bị
THA với RR=1,3 [62]. Ngược lại, hoạt động thể lực khơng những có tác dụng
phịng ngừa đột quỵ cũng như bệnh lý tim mạch mà cịn có tắc dụng trong điều
trị phục hồi chức năng sau ĐQ [51].
Chế độ ăn
Chế độ ăn giảm muối không những giảm nguy cơ ĐQ mà còn giảm đáng
kể nguy cơ bệnh mạch vành. Chế độ ăn tốt cho sức khỏe là chế độ ăn ít muối,
ít mỡ bão hịa, ăn nhiều rau xanh, ngũ cốc, trái cây, dầu olive, protein có nguồn
gốc từ thực vật. Lượng muối ăn hàng ngày được khuyên dùng cho người có
nguy cơ cao ĐQ là 2-3g mỗi ngày, cần đọc kỹ nhãn mác sản phẩm đóng gói vì
.
những loại sản phẩm này có chứa hàm lượng natri rất cao, nhất là thịt xơng khói
và bánh mì [95].
Stress/lo âu
Stress (căng thẳng) là YTNC có thể dẫn đến ĐQ. Khi bị stress, cơ thể tiết
quá mức những chất làm tăng nhu cầu oxy cơ tim nhất là adrenalin làm co mạch
vành, rối loạn chức năng đơng máu, thành mạch,…Ngồi ra stress và ĐQ có
thể liên quan với nhau do những người lo âu cịn có khuynh hướng hút thuốc
nhiều, ít vận động, uống rượu nhiều nên dễ mắc tim mạch hơn [12]. Một nghiên
cứu tổng quan tài liệu từ năm 1980 đến 2014 đã chứng minh stress tâm lý là
YTNC độc lập của ĐQ, nguy cơ quy trách ở những đối tượng có căng thẳng
chung hoặc căng thẳng trong công việc hay cuộc sống là 1,33 [28].
1.3.2. Sự gia tăng các yếu tố nguy cơ theo thời gian
Mặc dù có nhiều chiến lược can thiệp để làm giảm gánh nặng ĐQ. Tuy
nhiên các số liệu thống kê cho thấy gánh nặng do ĐQ trên tồn cầu vẫn khơng
ngừng tăng lên theo thời gian. Điều này một phần do sự phát triển dân số và sự
già hóa của dân số. Bên cạnh đó cho thấy các chiến lược dự phịng ĐQ chưa
thực sự hiệu quả và chưa thực sự rộng khắp đặc biệt là việc kiểm soát các YTNC
của ĐQ [48], [59].
Bằng chứng từ nghiên cứu tổng quan của Feigin và cs cho thấy, có đến
90,5% gánh nặng bệnh tật toàn cầu do đột quỵ được quy cho những yếu tố nguy
cơ có thể thay đổi được như: THA, ĐTĐ, bệnh tim mạch, hút thuốc lá, RLLM,
béo phì, ít vận động thể lực, chế độ ăn không hợp lý,…[49]. Trong đó, chịu
trách nhiệm cho tàn tật do ĐQ thì những YTNC chuyển hóa (THA tâm thu, chỉ
số BMI cao, tăng cholesterol toàn phần, tăng đường máu, giảm mức lọc cầu
thận) là 72,1%, và những YTNC thuộc về hành vi (hút thuốc lá, chế độ ăn, ít
vận động) là 66,3% [59].
Bên cạnh việc có nhiều YTNC hàng đầu ảnh hưởng đến gánh nặng ĐQ thì
.
điều đáng nêu ra thêm ở đây là sự gia tăng chóng mặt theo thời gian của các
YTNC quan trọng này. Điều đó đã và đang làm cho gánh nặng của các bệnh
khơng lây nhiễm nói chung và ĐQ nói riêng, vốn đã rất nặng, nay còn nặng nề
hơn. Rõ ràng, đây là một thách thức rất lớn đối với nền y tế trên tồn cầu nếu
chúng ta khơng có những chiến lược và chương trình hành động kịp thời và
hiệu quả. Thật vậy, một nghiên cứu kéo dài 10 năm (2004 – 2014) của Otite và
cs là một dẫn chứng điển hình cho sự gia tăng các YTNC của ĐQ theo thời
gian. Kết quả đã cho thấy: tỉ lệ hiện mắc (đã được hiệu chỉnh theo tuổi và giới)
của các YTNC đối với ĐQ, bao gồm THA, RLLM, ĐTĐ, hút thuốc lá, và
nghiện rượu lần lượt là 79%, 47%, 34%, 15%, và 2%. Quan trọng hơn khi tỉ lệ
hiện mắc của các YTNC kể trên có sự gia tăng hằng năm với giá trị lần lượt là:
1,4%, 2%, 7%, 5%, và 7% [81].
Ở Việt Nam, kết quả điều tra của Bộ Y tế công bố năm 2016 cho thấy so
với năm 2010, hầu hết các YTNC của các bệnh khơng lây nhiễm nói chung và
ĐQ nói riêng (nhóm tuổi 25-64) đều có sự gia tăng tỉ lệ theo thời gian: (1) uống
rượu bia tăng từ 37,0% lên 44,8% (ở cả 2 giới), (2) thừa cân béo phì tăng từ
12,0% lên 17,5%, (3) rối loạn đường huyết khi đói tăng từ 1,5% lên 3,5%, (4)
tăng đường huyết tăng từ 2,6% lên 4,1%, (5) tăng huyết áp tăng từ 15,3% lên
20,3%. Trong đó, tỉ lệ người được phát hiện, quản lý điều trị THA, ĐTĐ còn
rất thấp [2].
Như vậy, trong chiến lược dự phòng ĐQ bao gồm cả dự phòng nguyên phát
và thứ phát cần chú trọng đến việc kiểm soát tốt các YTNC có thể thay đổi được
của ĐQ. Điểm cần chú ý và nói thêm là việc kiểm sốt tốt các YTNC của ĐQ cũng
mang lại lợi ích đáng kể cho một số bệnh không lây nhiễm khác như bệnh tim (bao
gồm cả bệnh mạch vành), bệnh ung thư, ĐTĐ, các bệnh phổi,…bởi lẽ các nhóm
bệnh lý này đều có chung một số YTNC quan trọng như hút thuốc lá, thiếu hoạt
động thể lực, uống rượu bia quá mức, và chế độ ăn khơng thích hợp [24], [47].
.
1.3.3. Tầm quan trọng của việc nhận biết các yếu tố nguy cơ
Biện pháp tốt nhất để làm giảm tỉ lệ mắc, tỉ lệ tử vong cũng như gánh
nặng bệnh tật do ĐQ là điều trị dự phịng khơng để cho ĐQ xảy ra bằng
cách kiểm soát tốt các YTNC của ĐQ [91].
Nhận thức của cá nhân về các YTNC của ĐQ là một vấn đề then chốt
cần được đề cập đến khi thiết lập mục tiêu phòng ngừa ĐQ nguyên phát và
thứ phát. Các lý thuyết phổ biến về hành vi sức khỏe, chẳng hạn như Mơ
hình Niềm tin Sức khỏe [89] hoặc Lý thuyết Động lực Bảo vệ [88] ủng hộ
tầm quan trọng của nhận thức về các YTNC của sức khỏe trong công tác
giáo dục sức khỏe và y tế dự phòng . Đánh giá thấp nguy cơ cá nhân có thể
làm giảm động lực thay đổi các YTNC thuộc về hành vi và có thể làm giảm
sự tuân thủ các chiến lược phòng ngừa y tế. Thực tế cho thấy có một lỗ
hổng lớn trong chiến lược dự phịng ĐQ, trong đó có đề cập đến vấn đề
thiếu nhận thức về ĐQ và các YTNC của nó, đó là một phần lý do dẫn đến
các YTNC thuộc về hành vi ít được sửa đổi và chưa thực sự có động lực để
sửa đổi [44], [48].
Chính vì vậy nhận thức về các YTNC của ĐQ là điều vơ cùng quan
trọng để phịng ngừa khơng để cho ĐQ xảy ra cũng như được chăm sóc kịp
thời nếu ĐQ xảy ra [77]. Điều này đòi hỏi các tổ chức quản lý về Y tế cần
dựa trên chứng cứ khoa học tốt để đưa ra những khuyến cáo thích hợp về
phòng ngừa, thực hành, quản lý và điều trị các YTNC, bao gồm cả việc
giúp đỡ mọi người nhận ra các YTNC và đánh giá đúng nguy cơ mắc ĐQ
của riêng mình trong tương lai và cách làm giảm các nguy cơ này. Cụ thể,
theo Bejot và cs, việc kiểm sốt hiệu quả các YTNC hàng đầu có ý nghĩa
lớn trong chiến lược dự phòng ĐQ, bao gồm cả sự nâng cao hiểu biết của
người dân về các YTNC của ĐQ qua nhiều kênh thông tin khác nhau, đặc
biệt là ứng dụng tiện ích của điện thoại di động [25].
.
1.4. MỘT SỐ DẤU HIỆU CẢNH BÁO THƯỜNG GẶP CỦA ĐỘT QUỴ
1.4.1. Một số dấu hiệu cảnh báo
Về mặt lý thuyết, đặc tính của bệnh ĐQ là đột ngột, tiến triển nhanh đến
thiếu hụt thần kinh, bệnh diễn tiến nặng ngay từ đầu, mọi cố gắng của thầy
thuốc là làm sao có một nhận định đúng đắn nhất để xử trí kịp thời những tình
huống của bệnh, hạn chế tử vong và những biến chứng thường gặp khác do đột
quỵ gây ra. Một bệnh cảnh lâm sàng có đặc điểm:
- Khởi phát đột ngột, được hiểu khi bệnh nhân đang trong tình trạng sức khỏe
bình thường, đột ngột chuyển sang trạng thái bệnh lý mà biểu hiện bệnh chính là
xuất hiện các triệu chứng cục bộ hay khiếm khuyết về chức năng thần kinh [8].
- Tiến triển nhanh tới thiếu hụt thần kinh tối đa: Liệt, hôn mê, rối loạn vận
ngôn, rối loạn cảm giác…Tất cả các vùng não bị tổn thương đều bị, ngay sau
đó là các triệu chứng thiếu hụt thần kinh cũng đồng thời xuất hiện. Diễn tiến
này khơng bao giờ thối lui, diễn tiến của ĐQ là có xu hướng tiến triển nặng
lên để đạt mức tối đa mà tình trạng xuất huyết hoặc thiếu máu cấp xảy ra [8].
Các triệu chứng lâm sàng thường gặp:
- Đau đầu: Trong ĐQ, đau đầu thường đột ngột, rất mãnh liệt, đạt cường
độ đau ngay từ những phút đầu, giờ đầu. Đau đầu do xuất huyết khoang dưới
nhện, bệnh nhân mô tả “như búa bổ vào đầu” hoặc cảm giác đau như muốn nổ
tung. Đau đầu thường kèm theo nôn, gáy cứng và dấu màng não. Tuy nhiên
khoảng 20-30% trường hợp đau đầu khơng điển hình, một số ít không đau.
Trong xuất huyết não, khởi phát đau đầu cũng đột ngột, hiếm gặp dấu màng
não trừ trường hợp xuất huyết não-màng não hay xuất huyết tràn não thất và
khoang dưới nhện. Đau đầu thường kèm theo thiếu sót thần kinh tiến triển và
biến đổi ý thức. Các bệnh nhân nhồi máu não đơi khi có đau đầu chiếm khoảng
20%, mức độ nhẹ và thoáng qua, nhồi máu do tim thường gặp hơn do xơ vữa
động mạch [8].
.
- Chóng mặt, báo hiệu chức năng của bộ phận tiền đình ngoại vi hay trung
ương bị kích thích. Trong tai biến mạch máu não thường gặp chóng mặt tiền
đình trung ương. Nguyên nhân là do rối loạn tuần hoàn sau như huyết khối tiểu
não hoặc thân não, chảy máu hoặc thiếu máu cục bộ động mạch sống - nền
thoáng qua. Trong bối cảnh bệnh mạch máu não, hầu như chóng mặt bao giờ
cũng kết hợp với các triệu chứng khác của chức năng thân não hoặc tiểu não
như nystagmus, rối loạn vận nhãn, mất điều hòa vận động [8].
- Rối loạn thị giác: trong bệnh mạch máu não rối loạn thị giác thường gặp
nhất là mất thị giác và nhìn đơi. Mất thị lực một hay hai bên, trong bệnh mạch
máu não, nguyên nhân thiếu máu thị giác - võng mạc, do tắc động mạch hoặc
tĩnh mạch võng mạc trung tâm. Mù một mắt thoáng qua từ thiếu máu võng mạc
được biết từ lâu gọi là “mù Fugax” thường do tắc động mạch cảnh cùng bên,
kết quả là do rối loạn lưu lượng máu của mắt, hoặc cục nghẽn võng mạc có
nguồn gốc đoạn đầu trung tâm hệ động mạch cảnh, cũng có thể cục lấp mạch
từ tim [8].
- Rối loạn ngôn ngữ: Mất ngôn ngữ vận động xuất hiện khi tổn thương
vùng Broca (phần sau hồi trán 3). Trong rối loạn này, người bệnh mất khả năng
nói thành lời, nhưng căn bản vẫn giữ được khả năng am hiểu lời nói. Mất ngơn
ngữ giác quan do tổn thương vùng Wernicke, ở phần sau hồi thái dương trên.
Người bệnh mất khả năng am hiểu lời nói. Những câu chữ nghe thấy không gắn
liền với những biểu tượng, khái niệm, hoặc đối tượng tương ứng [8].
- Các rối loạn cảm giác: Khi bệnh nhân tổn thương não do nhồi máu hoặc
xuất huyết thì xuất hiện bất thường cảm giác, triệu chứng thường gặp là tê.
Triệu chứng này biểu hiện như một tổn thương chết hay một mất cảm giác. Trái
lại một cơn động kinh cảm giác thì hiện tượng đau nhói hay nhận cảm q
nhiều. Thơng thường mất cảm giác hay rối loạn cảm giác trong tai biến mạch
máu não thường kèm theo với liệt nửa người [8].
.