1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐÀO KHÁNH LINH
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
TỪ THỰC TIỄN TẠI TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành : Luật hiến pháp và luật hành chính
Mã số
: 8 38 01 02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI - NĂM 2019
2
Cơng trình được hồn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thúy Vân
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành
chính Quốc gia.
Địa điểm: Phòng
nhà A, Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ Học
viện Hành chính Quốc gia.
Số: 77 - Đường Nguyễn Chí Thanh - Quận Đống Đa - TP. Hà Nội.
Thời gian: vào hồi
giờ
phút ngày
tháng
năm 2019.
Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên
trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia.
3
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính
sách lớn của Đảng và Nhà nước ta đối với người lao động nhằm từng bước
mở rộng và nâng cao đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người
lao động khi gặp rủi ro như bị ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,
thai sản, hết tuổi lao động, qua đời. Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất
nước trong thời gian vừa qua, chính sách BHXH cũng được điều chỉnh, thay
đổi để phù hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế đất nước, với nguyện vọng
của người lao động góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động
ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất
nước, bảo vệ tổ quốc.
Vĩnh Phúc là một tỉnh có thế mạnh thu hút đầu tư về cơng nghiệp và
giáo dục, công tác BHXH trong thời gian qua được quan tâm và ưu tiên đặc
biệt. Vai trò của pháp luật về BHXH, đảm bảo chính sách cho đối tượng tham
gia BHXH ngày càng được phát huy. Tuy nhiên, BHXH chưa khai thác hết
tiềm năng và thế mạnh. Đặc biệt từ khi có Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg
của Thủ tướng Chính Phủ Về việc chuyển Bảo hiểm Y tế Việt Nam sang Bảo
hiểm Xã hội Việt Nam, mặc dù BHXH có những bước phát triển nhưng nhiều
vấn đề phát sinh bên cạnh đó gây bức xúc trong đời sống xã hội. Xuất phát từ
những lý do nêu trên em đã chọn đề tài “Pháp luật về bảo hiểm xã hội - từ
thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài Luận văn tốt nghiệp chương trình sau đại
học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính tại Học viện Hành
chính Quốc gia.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Ở nước ta trong
những năm gần đây đã có nhiều đề tài, cơng trình nghiên cứu về BHXH nhằm
phân tích những ưu điểm và hạn chế của chính sách và đề ra những giải pháp
hồn thiện chính sách về BHXH. Trước hết phải kể đến các cơng trình sau: 2
- Đỗ Văn Sinh: “Hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam” - Trần Quang
Lâm: “Bảo hiểm Y tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa” - Nguyễn Văn Khánh: “Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực
4
phi chính thức ở Việt Nam”. - Đặng Ngọc Liên: “Quản lý thu BHXH đối với
khu vực kinh tế tư nhân tại Hà Nội” Ngồi ra cịn nhiều bài báo, tạp chí
chuyên ngành nghiên cứu đánh giá những vấn đề BHXH đang đặt ra như
quản lý, mở rộng đối tượng tham gia BHXH. Đề xuất các giải pháp chi trả
bảo hiểm đúng đối tượng, thời gian. Cũng như biện pháp hành chính, chế tài
đối với những đối tượng trốn tránh trách nhiệm BHXH. Với đề tài luận văn
này, tác giả nghiên cứu mọt cách tập trung và tương đối toàn diện pháp luật
BHXH từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài luận văn - Mục đích: Nghiên cứu
cơ sở lý luận, pháp luật về BHXH và thực trạng thực hiện pháp luật về bảo
hiểm xã hội tại tỉnh Vĩnh Phúc, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn
thiện pháp luật và đảm bảo thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội. - Nhiệm
vụ nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu trên, luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ
sau: + Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản và quy định pháp luật về bảo
hiểm xã hội; + Nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội
tại tỉnh Vĩnh Phúc; đánh giá kết quả, hạn chế của pháp luật về bảo hiểm xã
hội từ thực tiễn thực hiện pháp luật tại tỉnh Vĩnh phúc; + Trên cơ sở các
nghiên cứu trên, căn cứ quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển bảo
hiểm xã hội, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, đảm bảo thực hiện
pháp luật về bảo hiểm xã hội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn - Đối tượng nghiên
cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là các quy định pháp luật về
bảo hiểm xã hội. - Phạm vi nghiên cứu: Về không gian: Nghiên cứu thực
trạng thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, bao
gồm hoạt động về bảo hiểm xã hội của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa
bàn tỉnh. Về thời gian: Nghiên cứu hoạt động về bảo hiểm xã hội của các cơ
quan, tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2014 - 2018.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, vận dụng các
5
quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh.
- Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác
giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: thống kê, phân tích, tổng hợp,
so sánh. + Phương pháp thống kê: thống kê những số liệu thực tế qua các năm
về bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. + Phương pháp phân tích:
tách biệt các nội dung, vấn đề BHXH để nghiên cứu sâu sắc, kỹ lưỡng. +
Phương pháp tổng hợp: nghiên cứu các nội dung, vấn đề trong tổng thể để
đánh giá một cách toàn diện về pháp luật BHXH. + Phương pháp so sánh: so
sánh về đối tượng tham gia BHXH, về tình hình quản lý thu, chi BHXH, về
thực trạng chấp hành, áp dụng, sử dụng pháp luật về BHXH qua các năm.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn - Ý nghĩa lý luận: Luận văn
góp phần làm sáng tỏ, sâu sắc thêm các vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội. - Ý
nghĩa thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho
các cơ quan hữu quan trong q trình hồn thiện pháp luật cũng như thực hiện
pháp luật về bảo hiểm xã hội. Luận văn có thể được sử dụng như một tài liệu
tham khảo trong công tác nghiên cứu pháp luật về bảo hiểm xã hội.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Luận văn có 3 Chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và pháp luật về bảo hiểm xã hội
Chương II: Thực trạng thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tại tỉnh
Vĩnh Phúc
Chương III: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và đảm bảo
thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1. Cơ sở lý luận về bảo hiểm xã hội
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội Luật BHXH được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thơng qua ngày
20 tháng 11 năm 2014 đã định nghĩa BHXH một cách khái quát, toàn diện.
"Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của
người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ
sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội". Khái niệm BHXH theo Luật BHXH năm
2014 được sử dụng trong tồn bộ nghiên cứu của luận văn.
1.1.2. Vai trị của bảo hiểm xã hội - BHXH phòng ngừa rủi ro, ổn định
cuộc sống cho NLĐ: Khi còn sức lao động, còn khả năng lao động, NLĐ
tham gia quan hệ lao động, được hưởng lương và mang lại lợi nhuận cho
NSDLĐ. Đối tượng của BHXH là người lao động nói chung, BHXH ở nước
ta áp dụng đối với người lao động làm công ăn lương, cán bộ, công chức và
một số đối tượng khác. - BHXH là “tấm lá chắn”, “lưới an toàn” của xã hội
với chế độ trợ cấp đa dạng, toàn diện, ổn định: Các nguyên nhân gây ra rủi ro
rất nhiều nên nhu cầu bảo hiểm xã hội của các thành viên trong xã hội cũng
rất đa dạng. - Cụ thể hóa “cơng bằng xã hội”: Đặc điểm “hưởng thụ theo đóng
góp” trong luật bảo hiểm xã hội chính là sự cụ thể hóa “cơng bằng xã hội”
bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống. “Hưởng thụ theo đóng góp” trong
bảo hiểm xã hội khơng hồn tồn giống nhau như áp dụng “phân phối theo
lao động” trong luật lao động. 6
1.2. Pháp luật về bảo hiểm xã hội
1.2.1. Khái niệm pháp luật về bảo hiểm xã hội Pháp luật về BHXH là
hệ thống các quy tắc xử sự chứa đựng trong Hiến pháp, luật và các văn bản
dưới luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, quy định các chế
độ, chính sách BHXH, quyền và trách nhiệm của NLĐ, của cơ quan, tổ chức
7
và cá nhân tham gia BHXH, tổ chức BHXH, quỹ BHXH, thủ tục thực hiện
BHXH và quản lý nhà nước về BHXH.
1.2.2. Vai trò của pháp luật về bảo hiểm xã hội Thứ nhất, pháp luật
BHXH tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động BHXH. Thứ hai, pháp luật về
BHXH ra đời góp phần ổn định cuộc sống người lao động tham gia BHXH.
Thứ ba, pháp luật về BHXH tạo cơ hội để thực hiện trách nhiệm trợ giúp khó
khăn cho các thành viên trong xã hội. Thứ tư, pháp luật về BHXH tạo điều
kiện để người sử dụng lao động thể hiện trách nhiệm đối với người lao động.
Thứ năm, pháp luật về BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.
1.2.3. Chủ thể pháp luật bảo hiểm xã hội
1.2.3.1. Người lao động, đại diện tập thể lao động và người sử dụng lao
động, đại diện người sử dụng lao động Trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, các
chủ thể tham gia bảo hiểm xã hội là người lao động và người sử dụng lao
động. Trong đó, người lao động bao gồm công nhân trong các doanh nghiệp
tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, cán bộ công chức, viên chức nhà nước thuộc
các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Trong các quan hệ pháp luật về
BHXH, đại diện tập thể lao động và đại diện người sử dụng lao động cũng có
thể tham gia khi cần thể hiện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao
động hay người sử dụng lao động. 7
1.2.3.2. Cơ quan bảo hiểm xã hội Ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam
được chính thức ra đời ngày 16/2/1995, đến nay đã gần 30 năm, vinh dự được
Đảng và Nhà nước giao trọng trách tổ chức thực hiện những chính sách trụ
cột chính của hệ thống an sinh xã hội. Bảo hiểm xã hội là một trong những
chính sách an sinh xã hội đặc biệt quan trọng. Chính sách BHXH là tiêu chí
của tiến bộ, bình đẳng và cơng bằng xã hội, là một trong những nhân tố cơ
bản thể hiện sự văn minh và phát triển của quốc gia.
1.2.4. Nội dung pháp luật về bảo hiểm xã hội
1.2.4.1. Các chế độ bảo hiểm xã hội Ở nước ta hiện nay, có hai loại
hình BHXH cơ bản: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện: BHXH bắt buộc là
8
loại hình BHXH mà NLĐ và người SDLĐ bắt buộc phải tham gia; BHXH tự
nguyện là loại hình BHXH mà NLĐ tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức
đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng BHXH.
1.2.4.2. Quỹ bảo hiểm xã hội Thu được coi là nguồn cơng tác trọng tâm để
hình thành quỹ BHXH, thực hiện tốt công tác thu sẽ đảm bào việc thực hiện
pháp luật BHXH được triệt để. Quỹ bảo hiểm xã hội hình thành và hoạt động
tạo ra khả năng giải quyết những rủi ro của tất cả những người tham gia với
tổng dự trữ ít nhất, giúp cho việc dàn trải rủi ro được thực hiện theo cả hai
chiều không 23 gian và thời gian.
1.2.4.3. Thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm pháp luật về bảo hiểm
xã hội Trong đời sống kinh tế - xã hội các quy định của pháp luật thường
được các chủ thể pháp luật nghiêm chỉnh thực hiện. Tuy nhiên, do nhiều
nguyên nhân khác nhau, trong xã hội vẫn có các chủ thể bất chấp các quy
định của pháp luật dẫn đến sự vi phạm pháp luật. Vi phạm pháp luật là hành
vi của các cá nhân hoặc tổ chức cụ thể, được thể hiện dưới dạng hành động
hoặc không hành động.
Chương 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BHXH TẠI TỈNH
VĨNH PHÚC
2.1. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tại
tỉnh Vĩnh Phúc
2.1.1. Yếu tố điều kiện kinh tế Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc Vùng Kinh tế
Trọng điểm Bắc Bộ1 , phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc và Tuyên Quang, Phía
Tây giáp Phú Thọ, phía Đơng và phía Nam giáp Thủ đơ Hà Nội. Tỉnh Vĩnh
Phúc có 9 đơn vị hành chính bao gồm: Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Phúc Yên, các huyện Bình Xun, Lập Thạch, Sơng Lơ, Tam Dương, Tam
Đảo, Vĩnh Tường, n Lạc. Tỉnh có diện tích tự nhiên 1.231,76 km2 , dân số
trung bình năm 2009 (theo tổng điều tra 01/4/2009) là 1.003,0 ngàn người,
năm 2010 là 1.010,4 nghìn người, mật độ dân số 820 người/km2 . Tỉnh lỵ của
Vĩnh Phúc là Thành phố Vĩnh Yên, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 50km và
9
cách sân bay quốc tế Nội Bài 25km.Vĩnh Phúc nằm trên Quốc lộ số 2 và
tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai, là cầu nối giữa vùng Trung du miền núi
phía Bắc với Thủ đơ Hà Nội; liền kề cảng hàng không quốc tế Nội Bài, qua
đường quốc lộ số 5 thơng với cảng Hải Phịng và trục đường 18 thơng với
cảng nước sâu Cái Lân. Vĩnh Phúc có vị trí quan trọng đối vùng KTTĐ Bắc
Bộ, đặc biệt đối với Thủ đô Hà Nội: Kinh tế Vĩnh Phúc phát triển sẽ góp phần
cùng Thủ đơ Hà Nội thúc đẩy tiến trình đơ thị hóa, phát triển cơng nghiệp,
giải quyết việc làm, giảm sức ép về đất đai, dân số, các nhu cầu về xã hội, du
lịch, dịch vụ của thủ đô Hà Nội. 1 Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc bao gồm
các tỉnh, Thành phố: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương,
Hải Phòng, Quảng Ninh 9
2.2. Các cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Phúc
2.2.1. Tổ chức các cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Phúc Ngành Bảo
hiểm xã hội Việt Nam được chính thức ra đời ngày 16/2/1995, đến nay đã gần
30 năm, vinh dự được Đảng và Nhà nước giao trọng trách tổ chức thực hiện
những chính sách trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội. Cơ quan BHXH
được tổ chức theo Nghị định số 94/2008/NĐCP của Chính phủ ngày
22/8/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của BHXH Việt Nam; Quyết định số 4857/QĐ-BHXH ngày 21/10/2008
của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn, và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội địa phương. 2.2.2.
BHXH tỉnh Vĩnh Phúc BHXH tỉnh Vĩnh Phúc là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm
xã hội Việt Nam, có chức năng giúp Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam tổ
chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội
tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm y tế tự;
quản lý quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh theo quy định
của BHXH Việt Nam và quy định của pháp luật. BHXH tỉnh Vĩnh Phúc chịu
sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam và chịu
sự quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn của Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh
Phúc. Bảo hiểm xã hội tỉnh có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản và trụ
10
sở riêng. 2.3. Thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tại tỉnh Vĩnh Phúc
2.3.1. Thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội
2.3.1.1. Công tác cấp sổ BHXH, thẻ BHYT trên địa bàn giai đoạn
2014-2018 Thực hiện cấp sổ BHXH: Sổ BHXH là cơ sở pháp lý để giải quyết
các chế độ BHXH, vì thế cơng tác cấp sổ BHXH luôn được cơ quan BHXH
tỉnh quan tâm thực hiện.
2.3.1.2. Thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc 10 a) Chế độ
ốm đau, thai sản b) Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp c) Hưu trí d) Tử tuất
2.3.2. Thực hiện các quy định về quỹ bảo hiểm xã hội Khi công tác quản lý
thu, quản lý chi được đảm bảo thực hiện tốt thì sẽ đảm bảo được sự cân đối
quỹ. Cho nên công tác quản lý thu, chi rất quan trọng và luôn được BHXH
tỉnh đặt lên hàng đầu. Trong những năm qua, quỹ BHXH của tỉnh Vĩnh Phúc,
luôn được quản lý chặt chẽ, cơng khai và minh bạch. Các chính sách, chế độ
được hạch tốn và quyết tốn đúng, đủ, kịp thời, khơng xảy ra sai sót, thất
thốt..
2.3.3. Thực hiện các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm
pháp luật về bảo hiểm xã hội Công tác kiểm tra, giám sát luôn được BHXH
tỉnh Vĩnh Phúc chú trọng trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật BHXH.
Mặc dù mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH đã được tăng
lên theo quy định tại Nghị định số 86/2010/NĐ-CP, song thực tế mức xử phạt
này vẫn còn quá thấp, không đủ sức răn đe đối với những doanh nghiệp vi
phạm. Các hành vi vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật về BHXH đã được
quy định khá rõ và cụ thể trong Luật và các văn bản hướng dẫn. Điều này đã
giúp cho các bên tham gia BHXH tránh được những sai sót trong q trình
thực hiện, đồng thời giúp cho quá trình kiểm tra, thanh tra được dễ dàng,
thuận tiện.
2.4. Đánh giá chung về pháp luật bảo hiểm xã hội từ thực tiễn tỉnh Vĩnh
Phúc
2.4.1. Những ưu điểm của pháp luật bảo hiểm xã hội từ thực tiễn thực
hiện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Qua 5 năm triển khai pháp luật BHXH trên
11
địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, có thể khẳng định rằng pháp luật bảo hiểm xã hội có
vai trị 11 quan trọng đối với người lao động nói riêng và xã hội nói chung,
thể hiện những ưu điểm nhất định.
2.4.1.1. Pháp luật BHXH tích cực góp phần đảm bảo an sinh xã hội Đối
tượng tham gia BHXH ngày càng được mở rộng, cùng với đó là số người
tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH ngày càng tăng trên cả 3 loại hình
BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và BHTN. Số thu quỹ BHXH, BHTN
năm sau cao hơn năm trước. Đối với BHTN, là chính sách mới áp dụng từ đầu
năm 2009, nhưng số người tham gia và thụ hưởng chính sách này tăng rất
nhanh.
2.4.1.2. Các thủ tục BHXH ngày càng hoàn thiện, thuận tiện, dễ áp
dụng Các quy định về giải quyết và chi trả các chế độ BHXH, BHTN cho
NLĐ được triển khai khá đầy đủ, kịp thời, chính xác đúng quy định của pháp
luật, ít xảy ra sai sót; việc tiếp nhận hồ sơ giải quyết và chi trả các chế độ
BHXH, BHTN được BHXH tỉnh áp dụng theo mơ hình một cửa, thường
xun rà sốt giảm các thủ tục hành chính và ứng dụng tốt các trương trình
cơng nghệ thơng tin, rút ngắn thời gian nên được NSDLĐ, NLĐ đồng tình
hưởng ứng. 2.4.1.3. Pháp luật BHXH quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các
cơ quan quản lý nhà nước trong BHXH, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản
lý Pháp luật BHXH đã quy định nhiệm, vụ quyền hạn của các cơ quan quản lý
nhà nước trong BHXH, tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan thực hiện quản lý
nhà nước trong lĩnh vực này. Công tác quản lý nhà nước về pháp luật BHXH
trong tỉnh được tăng cường, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản quản lý,
chỉ đạo thực hiện chế độ, chính sách pháp luật BHXH; sự phối hợp giữa cơ
quan BHXH với Sở LĐ-TB&XH và các ngành, các cấp ngày càng chặt chẽ,
thường xuyên và đồng bộ hơn. 12
2.4.2. Những hạn chế của pháp luật bảo hiểm xã hội từ thực tiễn tỉnh
Vĩnh Phúc
2.4.2.1. Pháp luật về BHXH còn chưa đồng bộ, chưa phù hợp với thực
tế Các văn bản pháp luật về BHXH còn chưa đồng bộ, chưa phù hợp với thực
12
tế, chậm được triển khai hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý thu BHXH
trong giai đoạn hiện tại. Cơ chế, chính sách chưa đầy đủ, hiện tại Luật
BHXH, BHYT và các văn bản hướng dẫn Luật BHXH, BHYT chưa quy định
cụ thể vấn đề quản lý nợ BHXH, BHYT là nguyên nhân quan trọng dẫn đến
tình trạng nợ.
2.4.2.2. Hạn chế trong các quy định về các chế độ bảo hiểm xã hội a)
Hạn chế trong các quy định về chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc Thứ nhất,
pháp luật BHXH chưa có cơ chế kiểm sốt chặt chẽ việc đóng, nộp BHXH..
Thứ hai, các quy định về chế tài và thẩm quyền xử lý vi phạm về BHXH chưa
hoàn toàn hợp lý. b) Hạn chế trong các quy định về chế độ bảo hiểm xã hội tự
nguyện Theo Luật Bảo hiểm xã hội, từ ngày 1/1/2018, người tham gia bảo
hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng gồm: 30%
với người nghèo, dân tộc thiểu số; 25% với người cận nghèo và 10% với đối
tượng khác. Tuy nhiên, mức hỗ trợ này được cho là chưa đủ hấp dẫn, khuyến
khích người lao động tham gia. Khác với bảo hiểm thương mại và BHXH bắt
buộc, BHXH tự nguyện là một chính sách an sinh xã hội nhằm khuyến khích
sự tham gia và hưởng lợi của người lao động khu vực phi chính thức. Đây là
một chính sách ưu việt và nhân văn, nhưng đến nay số người tham gia vẫn
còn hạn chế. Tuy nhiên, có thể thấy, so với chế độ BHXH bắt buộc có tới 5
chế độ, người tham gia BHXH tự nguyện 2019 được hưởng ít quyền 13 lợi
hơn, bởi khơng có chế độ ốm đau, thai sản, bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao
động. Sự khác biệt này tạo ra chênh lệch trong việc đóng - hưởng và giảm
tính hấp dẫn của BHXH tự nguyện. Trong khi mức hỗ trợ của Nhà nước cũng
chưa thực sự cao để thu hút hơn nữa người lao động tham gia. 2.4.2.3. Hạn
chế trong các quy định về quỹ bảo hiểm xã hội - Pháp luật BHXH chưa có cơ
chế quản lý quỹ BHXH một cách chặt chẽ nên tạo ra các kẽ hở cho việc phát
sinh các vi phạm liên quan đến quỹ BHXH. - Pháp luật BHXH chưa quy định
hợp lý về địa điểm chi trả các chế độ BHXH. Hiện nay, các chế độ BHXH
hàng tháng được quy định chi trả tại nơi có hộ khẩu thường trú. Tuy nhiên,
nhiều người làm việc hoặc sinh sống xa nơi đăng ký hộ khẩu thường trú.
Những người này gặp khó khăn trong việc nhận trợ cấp đồng thời cơ quan
13
BHXH cũng khó khăn trong việc theo dõi, quản lý, chi BHXH cho các đối
tượng. 2.4.2.4. Hạn chế trong các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi
phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội - Pháp luật về BHXH quy định về thẩm
quyền xử phạt vi phạm chưa hợp lý như trên đã nêu, thêm vào đó cán bộ
ngành BHXH hạn chế về số lượng, do đó cơng tác thanh tra, kiểm tra về
BHXH gặp nhiều khó khăn. - Quy định cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý
nhà nước về BHXH, cơ quan BHXH và Cơng đồn thiếu chặt chẽ khiến việc
xử lý các vi phạm chậm, thiếu tính răn đe, thiếu kiên quyết, dẫn đến tình trạng
vi phạm pháp luật BHXH trở nên phức tạp, dây dưa, kéo dài, tình trạng doanh
nghiệp trốn đóng, nợ đọng tiền BHXH kéo dài. Cơ quan BHXH đã nhiều lần
báo cáo nhưng chưa được UBND các cấp quan tâm chỉ đạo, xử lý cụ thể.
Nhiều doanh nghiệp vi phạm pháp luật BHXH nhưng vẫn được xét khen
thưởng, tôn vinh. 14 2.4.2.5. Hạn chế trong quy định về tuyên truyền, phổ
biến, tập huấn pháp luật BHXH - Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật BHXH triển khai chưa thực sự chuyên sâu, hình thức, biện pháp
tuyên truyền chưa đa dạng và chưa được tổ chức thường xuyên, vì vậy, nhận
thức của các đối tượng tham gia pháp luật bảo hiểm xã hội về quyền lợi và
nghĩa vụ BHXH không đầy đủ. Ý thức tuân thủ pháp luật BHXH của cả NLĐ
và NSDLĐ chưa cao. - Công tác tập huấn pháp luật BHXH cho viên chức
BHXH chưa được chú trọng 2.4.2.6. Hạn chế trong quy định về phát triển đối
tượng tham gia BHXH Pháp luật BHXH chưa quy định trách nhiệm của cơ
quan quản lý nhà nước về BHXH có kế hoạch phát triển đối tượng tham gia
BHXH. Trong thực tiễn, sự lơ là thể hiện khá rõ. BHXH tỉnh chưa có kế
hoạch chi tiết trong việc phát triển đối tượng tham gia BHXH. Với công tác
tuyên truyền trên phương tiện thông tin, truyền thông của thị xã, các xã, thị
trấn, và phát tờ rơi khi đơn vị tới đăng ký mã số thuế và hàng tháng BHXH
tỉnh tiếp nhận danh sách các doanh nghiệp trên địa bàn từ Chi cục thuế và
phịng Kế hoạch-Tài chính, nhưng BHXH tỉnh chưa tổ chức điều tra số đơn
vị, số LĐ tham gia BHXH bắt buộc thuộc khu vực DNNQD trên địa bàn thị
xã. Mới chỉ dừng lại ở việc tách danh sách từng xã, thị trấn và gửi xuống
UBND xã, thị trấn đề nghị phối hợp tuyên truyền, đôn đốc.
14
Chương 3
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ ĐẢM BẢO THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN TỈNH VĨNH PHÚC
3.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển bảo hiểm xã hội
Quốc hội khóa XIII thơng qua Luật BHXH năm 2014, sau đó Nghị định số
115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số
điều của luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc việc sửa đổi, bổ
sung các quy định pháp luật phù hợp, đáp ứng được yêu cầu của thực tế sẽ
đảm bảo việc thực hiện pháp luật về BHXH. Luật BHXH đã đánh dấu một
bước tiến quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả thực
thi chế độ, chính sách BHXH, bổ sung các chính sách BHXH phù hợp với q
trình chuyển đổi của nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, đảm bảo ASXH và hội nhập quốc tế. Tỷ lệ các doanh nghiệp đóng
BHXH như hiện nay là quá thấp và là một trong những nguyên nhân chính
dẫn đến nguy cơ mất cân đối trong việc điều hành chi trả của quỹ bảo hiểm.
Xác định mức lương tối thiểu để làm căn cứ đóng BHXH Hay tại các khu
công nghiệp người lao động phản đối ý kiến của dự thảo luật đối với chế độ
thanh toán BHXH một lần khi họ đủ điều kiện về tuổi nghỉ hưu và chưa đủ 20
năm đóng BHXH, bởi NLĐ thường làm hợp đồng ngắn hạn, khi NLĐ nghỉ
việc và muốn thanh tốn chế độ ln thì khơng được mà họ phải chờ đợi thời
gian quá lâu. Người lao động cịn gặp nhiều khó khăn, cản trở trong việc tiếp
cận các dịch vụ BHXH; tiếp cận, theo dõi các thông tin về BHXH liên quan
đến việc đóng - hưởng của người lao động, người sử dụng lao động và nhà
nước; việc cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng cơng nghệ thơng tin trong
quản lý BHXH cịn chậm; chưa hình thành 16 quản lý BHXH bằng thẻ
BHXH điện tử để mọi người lao động đều có thể truy cập tìm hiểu, kiểm tra
tất cả những thông tin liên quan tới tài khoản BHXH của mình, do vậy, nhiều
trường hợp người lao động bị doanh nghiệp khơng đóng hoặc nợ BHXH đã
rất lâu nhưng không biết.
15
3.2. Hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội 3.2.1. Hoàn thiện pháp
luật về các chế độ bảo hiểm xã hội 3.2.1.1. Hoàn thiện các quy định về chế độ
bảo hiểm xã hội bắt buộc a, Ốm đau Về mặt kết cấu, các quy định về chế độ
ốm đau trong Luật BHXH năm 2014 gồm 06 điều và đã bao quát các vấn đề
quan trọng về chế độ ốm đau của người tham gia BHXH. Theo đó, đối tượng
áp dụng được quy định cụ thể hơn theo hướng mở rộng diện thụ hưởng, rõ
ràng hơn, thuận lợi cho việc thực hiện và quản lý. Việc bổ sung đối tượng là
người lao động làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ 1 tháng đến dưới 3 tháng
tham gia vào BHXH bắt buộc có ý nghĩa tích cực, nhưng trên thực tế triển
khai sẽ gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Nên chăng, chỉ để cho nhóm đối
tượng này tham gia vào hai loại chế độ là hưu trí và tử tuất thì sẽ hợp lý,
thuận lợi hơn trong việc thụ hưởng chế độ. Về điều kiện về thời gian được
hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe. Theo đó, “người lao động sau
thời gian hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại Điều 26 của Luật này mà
trong khoảng thời gian 30 ngày đầu làm việc sau thời gian nghỉ việc hưởng
chế độ ốm đau sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe
từ năm ngày đến mười ngày trong một năm”. Như đã nêu ở phần thực trạng,
việc bổ sung thêm điều kiện về thời gian này chỉ hạn chế phần nào tình trạng
trục lợi quỹ BHXH chứ khơng xóa bỏ được hồn tồn. Luật BHXH năm 2014
cũng khơng nói rõ căn cứ để xác định tình trạng “sức khỏe yếu”. Trên thực tế,
cũng chưa có hướng dẫn để làm rõ khái niệm này. b, Thai sản 17 Luật BHXH
năm 2014 đã mở rộng điều kiện hưởng chế độ thai sản cho phù hợp hơn với
thực tế. Cụ thể: Luật đã bổ sung thêm đối tượng, “lao động nữ mang thai hộ”
và “người mẹ nhờ mang thai hộ” và “lao động nam đang đóng BHXH có vợ
sinh con” được hưởng chế độ thai sản; bổ sung thêm đối tượng lao động nữ đã
đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên và đã đóng BHXH từ đủ 03 tháng trở lên
trong thời gian 12 tháng trước khi sinh (khoản 3, Điều 31); Quy định cụ thể
hơn các đối tượng được hưởng chế độ thai sản khi chấm dứt HĐLĐ, hợp đồng
làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi
dưới 06 tháng tuổi (khoản 4, Điều 31). Quy định linh hoạt hơn về điều kiện
hưởng chế độ thai sản. c, Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Phần sửa đổi
16
của Luật BHXH năm 2014 một số quy định về chế độ TNLĐ, BNN là hợp lý.
Điều kiện hưởng chế độ TNLĐ được quy định chi tiết và rõ ràng hơn so với
quy định cũ tạo điều kiện thuận lợi cho q trình thực hiện. Luật đã cụ thể hóa
quy định tại khoản 1 Điều 43 trường hợp bị tai nạn trong các trường hợp nêu
tại điểm a, b, c (khoản 1 Điều 43); bổ sung quy định các trường hợp cần loại
trừ (khoản 2 Điều 43); các quy định nêu trên được thể hiện rõ và thuận lợi cho
việc tổ chức thực hiện. Quy định về phương thức cấp phương tiện trợ giúp
sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình đã hợp lý hơn như nêu cụ thể phương thức cấp
các phương tiện này cho đối tượng thụ hưởng. Luật quy định cấp bằng tiền để
người bị TNLĐ, BNN trực tiếp mua, định mức số tiền được chi trả sẽ do Bộ
LĐ - TB & XH quy định. Đây là một trong những sửa đổi phù hợp với thực
tế, tạo chủ động cho NLĐ. d, Hưu trí Tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV
vừa qua, Quốc hội đã chính thức thông qua Bộ luật Lao động(sửa đổi) với
90,06% số đại biểu tán thành. Theo đó: tuổi nghỉ hưu của người lao động
trong điều kiện bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 60
với 18 nữ vào năm 2035 và 62 với nam vào năm 2028. Từ ngày Luật BHXH
có hiệu lực thi hành cho đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương
hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 54 của
Luật BHXH được tính bằng 45% mức bình qn tiền lương tháng đóng bảo
hiểm xã hội quy định tại Điều 62 của Luật BHXH tương ứng với 15 năm
đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam
và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%. Theo tinh thần của Luật BHXH ngày
20/11/2014 thì NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà
nước quy định tham gia BHXH trước ngày 01/07/2015 thì việc điều chỉnh
tiền lương đã đóng BHXH vẫn được điều chỉnh theo mức lương cơ sở tại thời
điểm hưởng chế độ hưu trí như quy định hiện hành. Đối với NLĐ bắt đầu
tham gia BHXH từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 trở đi thì tiền lương tháng đã
đóng BHXH để làm căn cứ tính mức bình qn được điều chỉnh trên cơ sở chỉ
số giá sinh hoạt của từng thời kỳ như đối với NLĐ đóng BHXH theo chế độ
tiền lương do NSDLĐ quyết định. e, Tử tuất Luật BHXH quy định về chế độ
tử tuất theo hướng cho phép thân nhân NLĐ được lựa chọn hưởng trợ cấp tuất
17
hàng tháng hoặc trợ cấp tuất một lần, trừ trường hợp có thân nhân là con dưới
06 tuổi, con hoặc vợ hoặc chồng mà bị suy giảm khả năng lao động từ 81%
trở lên (khoản 3, Điều 70); tăng mức trợ cấp tuất một lần đối với người chết
khi chưa hưởng lương hưu lên 02 tháng cho mỗi năm đóng BHXH từ năm
2014 trở đi, tương đồng với mức BHXH 1 lần. Luật BHXH ngày 20/11/2014
cũng đã bổ sung đối tượng là NLĐ tham gia BHXH mà bị Tòa án tuyên bố là
đã chết. Với quy định cụ thể này, Luật BHXH năm 2014 đã giúp ngành
BHXH tháo gỡ một vướng mắc trong quá trình giải quyết chế độ cho NLĐ,
đảm bảo quyền được thụ hưởng BHXH trong những trường hợp đặc biệt. 19
Để chế độ tử tuất thực sự có ý nghĩa đối với NLĐ và thân nhân của họ, đồng
thời góp phần ổn định xã hội, trước hết phải xây dựng, hoạch định chính sách
một cách khoa học và khả thi, làm tiền đề cho khâu tổ chức thực hiện. 3.2.1.2.
Hoàn thiện quy định về bảo hiểm xã hội tự nguyện Trước hết, việc hoàn thiện
pháp luật BHXH tự nguyện phải tuân thủ quan điểm nhất quán của Đảng và
Nhà nước về chính sách BHXH nói chung và phải có sự tương thích, phù hợp
với các quy định của BHXH bắt buộc. Nghị quyết số 21- NQ/TW ngày
22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 – 2020 tiếp tục khẳng định và đặt ra
mục tiêu “Thực hiện có hiệu quả các chính sách, chế độ BHXH, BHYT; tăng
nhanh diện bao phủ đối tượng tham gia BHXH, nhất là BHXH tự nguyện”;
Tuân thủ nguyên tắc đóng - hưởng và bảo đảm khả năng cân đối BHXH; hồn
thiện các chế độ chính sách BHXH, bảo đảm sự bình đẳng trong tham gia và
thụ hưởng BHXH. Ngành bảo hiểm cần ban hành thông tư quy định về thực
hiện cơng nghệ thơng tin, theo đó mỗi người lao động tham gia BHXH tự
nguyện đều được cấp một mã số riêng trong hệ thống thông tin quốc gia. Sử
dụng mẫu sổ BHXH tự nguyện thống nhất trên phạm vi toàn quốc, có thể xem
xét tới việc thực hiện áp dụng thẻ điện tử để có thể sử dụng linh hoạt, cơ động
trong quá trình di chuyển lao động, theo dõi tình trạng sổ BHXH tự nguyện.
Cần quy định các hình thức nộp phí linh hoạt như: nộp bằng tiền mặt, nộp tiền
qua bưu điện, thậm chí là nộp tiền trực tuyến qua chuyển khoản ngân hàng.
3.2.2. Hoàn thiện quy định về thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm pháp luật
18
về bảo hiểm xã hội Theo các quy định hiện hành (Luật BHXH năm 2014,
Nghị định số 01/2016/NĐ-CP), tổ chức BHXH có quyền và trách nhiệm tổ
chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT. Tuy nhiên, BHXH lại 20
chỉ có chức năng thanh tra chuyên ngành về đóng BHXH, BHTN, BHYT, mà
khơng có chức năng thanh tra, xử lý vi phạm trong việc thực hiện chính sách
pháp luật về BHXH, BHYT đối với các tổ chức, cá nhân, đơn vị SDLĐ và các
cơ sở khám chữa bệnh (KCB) BHYT. Thẩm quyền của tổ chức BHXH về
một số hành vi sai phạm chưa được quy định rõ trong các văn bản QPPL nên
khó khăn trong thực hiện (Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, BHXH, đưa người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Nghị định số
176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực y
tế; quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC khi đối tượng vi
phạm khơng tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt...).
3.2.3. Hồn thiện quy định khác liên quan đến bảo hiểm xã hội
3.2.4.1. Hoàn thiện quy định về phạm vi áp dụng Hiện nay, trong bối
cảnh Luật Việc làm năm 2013 với quan điểm BHTN là một trong các chính
sách của thị trường lao động và gắn với quan hệ lao động thì việc chuyển
BHTN sang Luật Việc làm là phù hợp. Nhưng theo quy định thì nhóm đối
tượng là cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; lực lượng vũ trang; những
người lao động làm việc theo mùa vụ sẽ không thuộc đối tượng tham gia bảo
hiểm thất nghiệp. Và rõ ràng, đối tượng áp dụng bảo hiểm thất nghiệp hẹp
hơn rất nhiều so với đối tượng áp dụng bảo hiểm xã hội bắt buộc và cần được
mở rộng nhóm đối tượng này.
3.2.4.2. Hoàn thiện quy định về đối tượng áp dụng Ngày 20/11/2014,
Luật BHXH đã được Quốc Hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/1/2016 đã
luật hóa một số nhóm đối tượng đã được thực hiện ổn định theo các văn bản
hướng dẫn Luật BHXH như: người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều
hành hợp tác xã có hưởng tiền lương; học viên qn đội, cơng an, cơ yếu đang
19
theo 21 học được hưởng sinh hoạt phí và bổ sung người hoạt động không
chuyên trách ở cấp xã. Việc mở rộng đối tượng áp dụng chế độ BHXH bắt
buộc đối với học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học hưởng sinh
hoạt phí từ Ngân sách Nhà nước và người hoạt động không chuyên trách ở
cấp xã thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Tiếp tục rà soát, phân định
rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm từng đơn vị. Nâng cao
trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác chỉ đạo, hướng dẫn thực thi
nhiệm vụ. Kiên quyết khắc phục tình trạng đùn đẩy cơng việc giữa các phịng
nghiệp vụ, tính thiếu đồng bộ trong chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ, tạo điều
kiện thuận lợi cho NLĐ, NSDLĐ, nhân dân tham gia và thụ hưởng chính sách
BHXH.
3.3. Đảm bảo thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội từ thực tiễn tỉnh
Vĩnh Phúc
3.3.1. Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý Để triển
khai thực hiện nghiêm chính sách, pháp luật về BHXH trong thời gian tới
BHXH tỉnh chủ động xây dựng các chương trình, quy chế phối hợp chủ yếu
với các ngành, cụ thể như sau: - Xây dựng chương trình phối hợp với Sở
LĐTB&XH, Cục thuế, Sở Kế hoạch và Đầu tư rà soát, thống kê các đơn vị
SDLĐ đang hoạt động trên địa bàn tỉnh, nắm chặt chẽ đối tượng thuộc diện
phải đóng BHXH bắt buộc để quản lý và thực hiện chính sách, pháp luật về
BHXH, BHYT. Tiếp tục rà soát, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và trách nhiệm từng đơn vị. Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu
trong công tác chỉ đạo, hướng dẫn thực thi nhiệm vụ. Kiên quyết khắc phục
tình trạng đùn đẩy cơng việc giữa các phịng nghiệp vụ, tính thiếu đồng bộ
trong chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ.
3.3.2. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BHXH
tự nguyện Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền phổ biến pháp luật về BHXH tự
nguyện theo hướng đa dạng hóa các hình thức triển khai và phối hợp sự tham
gia của nhiều tổ chức đoàn thể. Thời gian qua, hoạt động tuyên truyền, phổ
20
biến pháp luật BHXH tự nguyện đã được Đảng và Nhà nước quan tâm thực
hiện.
3.3.3. Đổi mới nội dung thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm pháp luật
về bảo hiểm xã hội Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật BHXH là một
trong những khâu quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện pháp luật về
BHXH. Công tác thanh tra, kiểm tra thời gian qua còn nhiều hạn chế; BHXH
tỉnh Vĩnh Phúc chủ yếu kiểm tra, nắm tình hình, chạy theo chỉ tiêu số lượng,
chưa thanh tra, kiểm tra để khai thác mới, thu hồi nợ BHXH. Vì vậy, cơng tác
thanh tra, kiểm tra thực thi pháp luật về BHXH ở tỉnh Vĩnh Phúc cần phải đổi
mới với một số nội dung chủ yếu như sau:
- Công tác thanh tra, kiểm tra phải được phối hợp chặt chẽ giữa Thanh
tra chuyên ngành của Phòng LĐ-TB&XH, của Liên đồn Lao động, Cơng an,
Sở Kế hoạch- Đầu tư, Thuế, BHXH và các cơ quan liên quan. - Hàng năm
BHXH các cấp tham mưu cho UBND thành lập Tổ kiểm tra liên ngành của
tỉnh Vĩnh Phúc và của các huyện, thị để kiểm tra chuyên đề thực hiện pháp
luật về BHXH; đồng thời xây dựng kế hoạch kiểm tra cụ thể để thực hiện
kiểm tra, xử lý các đơn vị SDLĐ vi phạm pháp luật BHXH. - Tăng cường
củng cố, kiện tồn Phịng kiểm tra của BHXH tỉnh, viên chức phụ trách công
tác kiểm tra của BHXH các huyện, thị xã. - BHXH tỉnh Vĩnh Phúc và BHXH
các huyện, tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện công tác kiểm tra đối với các
đơn vị sử dụng lao động đăng ký với Thanh tra Nhà nước và tổ chức thực
hiện. 23
- Việc thanh tra, kiểm tra phải bảo đảm nghiêm minh, tuân thủ đúng
các quy định của pháp luật. 3.3.4. Nâng cao năng lực đội ngũ làm công tác
BHXH Nâng cao năng lực đội ngũ công chức, viên chức thực thi pháp luật
BHXH (đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo) là một trong những giải pháp cơ
bản nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về BHXH. Một là, chú trọng việc xây
dựng đội ngũ công chức, viên chức theo tiêu chuẩn vị trí chức danh. Hai là,
phân cơng nhiệm vụ, trách nhiệm rõ ràng cho từng công chức, viên chức. Ba
là, bảo hiểm xã hội là một ngành hoạt động nghiệp vụ mang tính chun mơn
21
sâu. Bốn là, tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ
Chí Minh để xây dựng đội ngũ công chức, viên chức BHXH tỉnh có bản lĩnh
chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, giỏi về chun mơn nghiệp vụ,
cần, kiệm, liêm, chính, chí cơng vơ tư trong thực thi nhiệm vụ thực hiện pháp
luật về BHXH. Năm là, thực hiện tốt công tác nâng lương thường xuyên,
nâng lương trước thời hạn và các chế độ chính sách khác đối với viên chức
BHXH tỉnh. Sáu là, nâng cao chất lượng công tác tiếp nhận hồ sơ và trả kết
quả một cửa. Bảy là, bảo đảm trang bị mỗi BHXH huyện, thành phố của tỉnh
Vĩnh Phúc đều có máy chủ, mỗi cơng chức, viên chức đều có máy tính đủ tiêu
chuẩn để thực thi nhiệm vụ.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu về “Pháp luật về bảo hiểm xã hội - từ thực tiễn tại tỉnh
Vĩnh Phúc” cho thấy việc triển khai thực thi pháp luật về bảo hiểm xã hội tại
tỉnh Vĩnh Phúc thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Song
bên cạnh đó vẫn cịn tồn tại những hạn chế, bất cập, địi hỏi các cấp, các
ngành cùng có sự phối hợp để giải quyết trong thời gian tới. Từ thực tiễn pháp
luật về bảo hiểm xã hội tại tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy: Hệ thống Bảo hiểm xã
hội Việt Nam được thành lập, đi vào hoạt động, tổ chức thực hiện các chính
sách bảo hiểm xã hội trên phạm vi toàn quốc đã giải quyết được những vấn đề
cơ bản, có tác dụng nhiều mặt trong việc đảm bảo an tồn xã hội, có ý nghĩa
quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Luật BHXH đã phù hợp với thực
tiễn, được cuộc sống chấp nhận và ngày càng khẳng định vai trị quan trọng
trong hệ thống chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước. Trong khuôn khổ
một luận văn thạc sỹ, tác giả đã vận dụng kiến thức, lý luận được tiếp thu từ
nhà trường, nghiên cứu nguồn tài liệu, đi sâu tìm hiểu, khảo sát và qua thực tế
nghiên cứu tại BHXH tỉnh Vĩnh Phúc. Tuy vậy, công tác nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực là nội dung rộng lớn, khó khăn và phức tạp, nên những nội
dung và đề xuất mà tác giả nêu trong luận văn chưa thể bao quát hết tất cả
những vấn đề thuộc lĩnh vực này. Đồng thời, luận văn không tránh khỏi
những hạn chế, thiếu sót nên rất mong nhân được ý kiến đóng góp của Hội
22
đồng, của các thầy, cô và đồng nghiệp để luận văn được hồn thiện hơn và
mang tính ứng dụng cao hơn.