Tải bản đầy đủ (.pdf) (122 trang)

Thực trạng kiến thức thái độ hành vi và kết quả của giáo dục truyền thông cải thiện hành vi sức khỏe sinh sản vị thành niên tại trường trung học phổ thông lý thường kiệt thành phố yên bái năm 2010 2011

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.98 MB, 122 trang )

BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÁI NGUYÊN
======================

TRẦN KHẮC QUYỀN

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI VÀ KẾT
QUẢ CỦA GIÁO DỤC TRUYỀN THÔNG CẢI THIỆN HÀNH VI
SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN TẠI TRƢỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÝ THƢỜNG KIỆT
THÀNH PHỐ YÊN BÁI NĂM 2010-2011

LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II

THÁI NGUYÊN - 2012


BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÁI NGUYÊN
======================

TRẦN KHẮC QUYỀN

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI VÀ KẾT
QUẢ CỦA GIÁO DỤC TRUYỀN THÔNG CẢI THIỆN HÀNH VI
SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN TẠI TRƢỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÝ THƢỜNG KIỆT
THÀNH PHỐ YÊN BÁI NĂM 2010-2011

LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II
Chuyên ngành: Y tế công cộng


Mã số: CK 62 72 76 01

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
BSCKII. Phạm Thị Quỳnh Hoa

THÁI NGUYÊN - 2012


i

LỜI CẢM ƠN
Trong q trình hồn thành luận văn này tơi đã nhận được sự giúp đỡ tận
tình của các thầy cơ giáo, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Để hồn thành được luận văn này tơi xin chân thành cảm ơn Đảng uỷ, Ban
giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, các phịng ban chức năng, các thầy cơ giáo
trường Đại học Y khoa Thái Nguyên. Trong suốt thời gian học tập tại trường, tôi
đã cảm nhận được tinh thần hết lịng vì học viên của các thầy cơ. Ngồi việc truyền
đạt kiến thức cho học viên, thầy cơ cịn truyền cho chúng tơi lịng say mê học tập và
nghiên cứu khoa học.
Tôi vô cùng biết ơn cô Phạm Thị Quỳnh Hoa là cô giáo hướng dẫn đề tài đã
hết sức tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tơi trong suốt q trình hồn
thành luận văn này.
Xin cảm ơn bạn đồng nghiệp, tập thể lớp chuyên khoa cấp II Yên Bái, bè bạn
đã động viên giúp đỡ tơi trong suốt q trình hoc tập.
Xin cảm ơn Ban giám đốc và các đồng nghiệp tại Trung tâm Truyền thông
Giáo dục sức khỏe tỉnh Yên Bái; Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học
sinh trường THPT Lý Thường Kiệt, các em học sinh trường Cao đẳng Y tế Yên Bái,
đã nhiệt tình ủng hộ, đã hỗ trợ tơi trong suốt q trình triển khai để tơi hồn thành
tốt luận văn.
Sau cùng tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia

đình, những người bạn thân thiết đã cùng tôi chia sẻ những khó khăn và dành cho
tơi những tình cảm, sự chăm sóc q báu trong suốt q trình học tập và hoàn thành
luận văn này.
Yên Bái tháng 12 năm 2011
Học viên

Trần Khắc Quyền


ii

LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Trần Khắc Quyền, bác sỹ đang công tác tại Trung tâm Truyền
thông giáo dục sức khỏe tỉnh Yên Bái, hiện đang là học viên lớp chuyên khoa cấp II
chuyên ngành Y tế công cộng tại Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp chuyên khoa cấp II chuyên ngành Y tế
công cộng của tôi, tên đè tài: "Thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi và kết quả của
giáo dục truyền thông cải thiện hành vi sức khỏe sinh sản vị thành niên tại trường
trung học phổ thông Lý Thường Kiệt thành phố Yên Bái năm 2010 -2011, là đề tài
do tôi tiến hành từ khi viết đề cương, quá trình điều tra trước can thiệp, quá trình
chuẩn bị tài liệu, quá trình triển khai các hoạt động truyền thơng, cho tới khi hồn
thành luận văn đều do tơi tiến hành, dưới sự hướng dẫn của các thầy cô giáo và sự
giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp. Tôi xin hồn tồn chịu trách nhiệm về tính chân
thực của đề tài do tôi tiến hành.

Người viết cam đoan

Trần Khắc Quyền



iii

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ i
LỜI CAM ĐOAN .................................................................................................... ii
MỤC LỤC ................................................................................................................ iii
CHỮ VIẾT TẮT...................................................................................................... vi
DANH MỤC BẢNG ............................................................................................... vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ......................................................................................... viii
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................................3
1. Tình hình sức khỏe sinh sản vị thành niên .........................................................3
1.1 Một số khái niệm ..................................................................................................3
1.1.1 Khái niệm vị thành niên .................................................................................3
1.1.2 Khái niệm về kiến thức, thái độ, hành vi sức khỏe sinh sản vị thành niên ...3
1.1.3 Các nội dung về chăm sóc sức khỏe sinh sản ...............................................6
1.2 Tình hình nghiên cứu về sức khỏe vị thành niên ..............................................7
1.2.1 Tình hình sức khỏe sinh sản VTN trên thế giới..............................................8
1.2.2 Tình hình sức khỏe sinh sản vị thành niên Việt Nam. ......................................13
1.2.3 Tình hình sức khỏe sinh sản vị thành niên ở Yên Bái ..................................19
1.2.4 Vấn đề cung cấp thông tin về SKSS cho VTN ..............................................21
1.3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc SKSS VTN ............22
1.3.1 Trên thế giới ................................................................................................22
1.3.2 Tại Việt Nam ...............................................................................................22
1.3.3 Tại Yên Bái..................................................................................................23
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp thông tin về sức khỏe sinh sản VTN ...23
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................24
2.1 Đối tƣợng: .........................................................................................................24



iv

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu .................................................................................24
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn đối với học sinh .........................................................24
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu .......................................................................24
2.2.1 Thời gian. .....................................................................................................24
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu. ..................................................................................24
2.2.3 Thiết kế nghiên cứu .....................................................................................25
2.3 Mẫu và phƣơng pháp chọn mẫu: ....................................................................25
2.3.1 Nghiên cứu định lượng ...............................................................................25
2.3.2 Nghiên cứu định tính...................................................................................25
2.4 Phƣơng pháp thu thập số liệu .........................................................................26
2.4.1 Nghiên cứu định lượng ...............................................................................26
2.4.2 Nghiên cứu định tính...................................................................................26
2.5. Xây dựng biện pháp can thiệp...................................................................27
2.6. Các biến số nghiên cứu ....................................................................................27
2.5.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu ................................................28
2.5.2. Đặc điểm gia đình của đối tượng nghiên cứu ............................................28
2.5.3. Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành về SKSS của đối tượng
nghiên cứu .............................................................................................................28
2.7. Các khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá ...............................................................29
2.7.1. Đánh giá kiến thức về hơn nhân, tình dục, tránh thai, bệnh LTQĐTD,
HIV/AIDS của đối tượng nghiên cứu ....................................................................29
2.7.2 Đánh giá thái độ của đối tượng nghiên cứu về hành vi SKSS .....................30
2.7.3 Đánh giá hành vi của đối tượng nghiên cứu về tình dục và tránh thai ......30
2.7.4 Đáng giá KAP về SKSS của đối tượng nghiên cứu ....................................31
2.8 Xử lý và phân tích số liệu ................................................................................31
2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu .......................................................................31
2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số .................32
2.10.1 Hạn chế của nghiên cứu, sai số .................................................................32

2.10.2 Biện pháp khắc phục ..................................................................................32


v

Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................................33
3.1. Một số đặc điểm nhân khẩu học về đối tƣợng nghiên cứu ..........................33
3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ...................................................33
3.1.2 Thông tin về gia đình ..................................................................................34
3.2 Thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi và đánh giá kết quả truyền thông
can thiệp cải thiện hành vi SKSS VTN .................................................................35
3.2.1 Thay đổi về kiến thức của VTN về SKSS....................................................35
3.2.2 Thay đổi về thái độ của VTN về CSSKSS ...................................................44
3.2.3. Thay đổi về hành vi của VTN trước và sau can thiệp .................................47
Chƣơng 4: BÀN LUẬN ...........................................................................................56
4.1. Thông tin chung của ĐTNC ............................................................................56
4.2. Đánh giá kết quả truyền thông cải thiện kiến thức, thái độ, hành vi
trong việc chăm sóc SKSS của VTN ......................................................................57
4.2.1. Kiến thức về SKSS của VTN ........................................................................57
4.2.2 Thái độ của VTN về các nội dung SKSS ......................................................67
4.2.3 Hành vi SKSS của VTN ................................................................................69
KẾT LUẬN ..............................................................................................................72
KHUYẾN NGHỊ......................................................................................................74
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


vi

CHỮ VIẾT TẮT


AIDS

(Acquired Immune Deficiency Syndrome)Hội chứng suy giảm
miễn dịch mắc phải

BPTT

Biện pháp tránh thai

BMTE

Bà mẹ trẻ em

BGH

Ban giám hiệu

BPTTVTN

Biện pháp tránh thai vị thành niên

CBYT
CLB

Cán bộ y tế
Câu lạc bộ

CSSKSS


Chăm sóc sức khoẻ sinh sản

CSSKSSVTN

Chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên

GDSKSSVTN Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
DCTC

Dụng cụ tử cung

ĐTNC

Đối tượng nghiên cứu

HIV/AIDS

Hội chứng suy giảm miễn dịch ở người

KHHGĐ

Kế hoạch hố gia đình

LTQĐTD

Lây truyền qua đường tình dục

QHTD

Quan hệ tình dục


SKSS

Sức khoẻ sinh sản

SKSSVTN

Sức khỏe sinh sản vị thành niên

THPT

Trung học phổ thông

TUTT

Thuốc uống tránh thai

UNICEF

(United Nations Children’s Fund) Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc

UNFPA

(United Nations Population Fund) Quỹ dân số liên hiệp quốc

SKTD

Sức khoẻ tình dục

VTNTN


Vị thành niên thanh niên

UBQG

Uỷ ban quốc gia

PVS

Phỏng vấn sâu


vii

DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Những thông tin chung về đối tượng nghiên cứu .....................................33
Bảng 3.2: Tình trạng hơn nhân của bố mẹ vị thành niên ..........................................34
Bảng 3.3: Trình độ học vấn của bố mẹ VTN ...........................................................34
Bảng 3.4: Nghề nghiệp của bố mẹ VTN ...................................................................35
Bảng 3.5: Tỷ lệ vị thành niên biết các dấu hiệu dậy thì ............................................35
Bảng 3.6: Tỷ lệ VTN biết giai đoạn dễ có thai nhất trong chu kỳ kinh nguyệt .......36
Bảng 3.7: Tỷ lệ VTN biết các biện pháp tránh thai ..................................................37
Bảng 3.8: Tỷ lệ VTN biết ảnh hưởng của nạo phá thai ............................................38
Bảng 3.9: Tỷ lệ VTN biết tai biến của nạo phá thai..................................................38
Bảng 3.10: Hiểu biết của VTN về bệnh LTQĐTD ..................................................39
Bảng 3.11: Tỷ lệ VTN biết lý do mắc bệnh LTQĐTD .............................................40
Bảng 3.12: Tỷ lệ VTN biết các đường lây truyền HIV/AIDS ..................................42
Bảng 3.13: Thái độ VTN về việc có người yêu ở tuổi VTN....................................44
Bảng 3.14: Thái độ của VTN trong việc sử dụng BPTT khi QHTD .......................45
Bảng 3.15: Thái độ VTN về giáo dục SKSS trong nhà trường................................46

Bảng 3.16: Tỷ lệ vị thành niên bắt đầu có người yêu ở các độ tuổi..........................48
Bảng 3.17: Những hành vi thường làm khi vị thành niên đi chơi với người yêu .....48
Bảng 3.18: Tỷ lệ VTN đã có quan hệ tình dục lần đầu .............................................49
Bảng 3.19: Tỷ lệ VTN có quan hệ tình dục lần đầu theo tuổi ..................................49
Bảng 3.20: Địa điểm VTN quan hệ tình dục lần đầu ...............................................49
Bảng 3.21: VTN sử dụng các BPTT trong quan hệ tình dục lần đầu .......................50
Bảng 3.22: Các BPTT VTN thường sử dụng trong QHTD lần đầu .........................50
Bảng 3.23: Lý do vị thành niên không sử dụng BPTT trong QHTD lần đầu ...........50
Bảng 3.24: Tỷ lệ vị thành niên tiếp tục QHTD những lần sau .................................51
Bảng 3.25: Các BPTT VTN thường sử dụng trong QHTD lần sau ..........................51
Bảng 3.26: Tỉ lệ vị thành niên có trao đổi với bố mẹ, giáo viên về tình dục, biện
pháp tránh thai, bệnh LTQĐTD.............................................................52
Bảng 3.27: Nguồn cung cấp thông tin về sức khoẻ sinh sản ...................................54
Bảng 3.28: Các nguồn cung cấp thông tin mà VTN muốn nhận về CSSKSS .........55


viii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ VTN biết tuổi kết hôn theo luật ..................................................36
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ VTN biết về QHTD .....................................................................36
Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ VTN biết về nơi cung cấp BPTT ................................................37
Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ VTN biết cách xử trí khi nghi bị bệnh LTQĐTD .......................41
Biểu đồ 3.5: Đánh giá chung về kiến thức của VTN về CSSKSS ...........................43
Biểu đồ 3.6: Thái độ VTN về QHTD trước hôn nhân ..............................................44
Biểu đồ 3.7: Thái độ VTN về việc mang thai khi ở tuổi VTN .................................45
Biểu đồ 3.8: Đánh giá chung về thái độ chăm sóc SKSS của VTN ........................47
Biểu đồ 3.9: Tỷ lệ vị thành niên đã có người yêu .....................................................47
Biểu đồ 3.10: Đánh giá chung hành vi của VTN về CS SKSS .................................52
Biểu đồ 3.11: VTN có nhu cầu nhận thơng tin về sức khoẻ sinh sản .......................54



1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo thống kê của Uỷ ban Dân số gia đình và trẻ em ở Việt Nam có 17 triệu
vị thành niên (VTN) chiếm 18% cơ cấu dân số (4/2010) [4]. Đây là thời kỳ phát
triển mạnh nhất về thể chất và trí tuệ; là giai đoạn có ý nghĩa quyết định sự hình
thành và phát triển nhân cách con người. Đây là giai đoạn VTN thoát dần từ phạm
vi gia đình để hồ nhập vào tập thể và hoạt động cùng trang lứa. Với đặc điểm của
giới tính, thời kỳ này rất cần chăm sóc giúp đỡ và tạo điều kiện để rèn luyện.
Trong những năm vừa qua, nhóm đối tượng này đã dành được sự quan tâm
của toàn xã hội. Nhiều hoạt động nhằm tác động đến lứa tuổi này như: các chương
trình, hội thảo, hoạt động của các câu lạc bộ…Tuy nhiên những hoạt động này vẫn
chưa đạt được hiệu quả sâu sắc. Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) về hành vi sức khỏe sinh sản (SKSS) cho VTN tuy đã có nhiều cố gắng
nhưng chưa được tổ chức một cách hệ thống. Nam, nữ VTN đang đứng trước sự đe
dọa và thách thức nhiều mặt: đó là bệnh tật, sự tổn thương về thể trạng và tinh thần,
sự thiếu hiểu biết về thơng tin giới tính, về an tồn tình dục và kế hoạch hóa gia
đình. Rất nhiều chuyện đau lịng đã xảy ra như tự tử, mại dâm, ma túy, tảo hôn, yêu
kiểu "trào lưu". Thực trạng này đã và đang trở thành mối quan tâm của gia đình, nhà
trường và toàn thể xã hội. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, vấn đề VTN cũng như
các vấn đề có liên quan đang trở nên bức xúc, có tác động khơng nhỏ đến mỗi cá
nhân, gia đình, cơng đồng và xã hội. Vai trị của truyền thơng trong việc tun
truyền sức khỏe sinh sản VTN càng trở nên cấp bách.
Trước thực trạng đó, cơng tác truyền thơng giáo dục sức khoẻ đã và đang
tham gia vào q trình cung cấp thơng tin, tuyên truyền và giáo dục sức khỏe
(GDSK) sinh sản VTN. Tuy nhiên, vấn đề sức khỏe sinh sản VTN ở nước ta là một
vấn đề hoàn toàn mới và khó, những quan niệm về giới tính cịn mang nặng tư
tưởng ấu trĩ, lạc hậu và rất dè dặt, do đó mà thơng tin về sức khỏe sinh sản VTN cịn
mang tính đơn lẻ, thiếu hệ thống.

Việc nghiên cứu về "Thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi và kết quả của
giáo dục truyền thông cải thiện hành vi sức khỏe sinh sản vị thành niên tại trường
trung học phổ thông Lý Thường Kiệt thành phố Yên Bái năm 2010 -2011” là sự


2

lựa chọn mới mẻ. Cũng đã có một vài nghiên cứu lẻ tẻ về vấn đề sức khỏe sinh sản vị
thành niên SKSSVTN ở một số địa phương nhưng chưa thực sự đầy đủ. Trên địa bàn
tỉnh Yên Bái năm 2009 đã có 1 đề tài nghiên cứu về SKSSVTN nhưng chỉ là nghiên
cứu mô tả cắt ngang tại một huyện, chưa có nghiên cứu can thiệp cộng đồng nào
được thực hiện. Nhất là chưa có nghiên cứu nào ở lứa tuổi học sinh trung học phổ
thông. Đối tượng VTN là học sinh trung học phổ thông, là giai đoạn cuối của tuổi
VTN, nhạy cảm, dễ bị tác của nhiều yếu tố mơi trường xã hội, nếu khơng có nhận
thức, thái độ, hành vi đúng sẽ dễ để lại hậu quả nghiêm trọng lâu dài cho bản thân
VTN, cho gia đình và xã hội.
Với những giải pháp can thiệp đồng bộ như nói chuyện ngoại khố, đưa nội
dung vào chương trình giảng dạy, cấp phát tài liệu, thảo luận nhóm…tác động vào
các đối tượng có liên quan như gia đình, thầy cơ giáo, đồn thanh niên…sẽ cung
cấp kiến thức, đào tạo kỹ năng, làm thay đổi thái độ, chuyển đổi hành vi có lợi cho
sức khoẻ trong lĩnh vực CSSKSS VTN cho lứa tuổi này. Từ đó đánh giá, nhân rộng
ra địa bàn tồn tỉnh.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mơ tả kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe sinh sản VTN tại trường
trung học phổ thông Lý Thường Kiệt, thành phố Yên Bái năm 2010.
2. Đánh giá kết quả truyền thông cải thiện kiến thức, thái độ, hành vi sức
khỏe sinh sản VTN tại trường trung học phổ thông Lý Thường Kiệt thành phố Yên
Bái sau 9 tháng thực hiện.



3

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Tình hình sức khỏe sinh sản vị thành niên
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm vị thành niên
VTN là một nhóm xã hội tập hợp những người nằm giữa khoảng tuổi ấu thơ
và tuổi trưởng thành. Những người này đang phát triển nhanh về thể chất, đang
hoàn thiện bộ máy sinh sản để thực hiện chức năng sinh sản. Đây cũng là thời kỳ
mỗi thành viên của nhóm, định hình nhân cách của mình thơng qua q trình xã hội
hóa trong gia đình, ở nhà trường và xã hội, vươn lên làm chủ bản thân.
VTN sẽ trải qua một giai đoạn chuyển tiếp đầy những tiềm năng nhưng lại
rất mong manh. Họ cần được nuôi dưỡng, chăm sóc và sống trong một mơi trường
thuận lợi để trở thành những người trưởng thành khỏe mạnh, có trách nhiệm, có khả
năng sinh sản và lao động.
VTN có những năng lực, ý tưởng, nhiệt tình, khát vọng và tiềm năng rất lớn.
Họ là tài sản và nguồn lực quan trọng của quốc gia và là thế hệ kế cận để phát triển
giống nòi trong tương lai.
Theo tổ chức y tế thế giới, VTN nằm trong độ tuổi từ 10-19, ở một số nước
VTN là những người từ 13-20 hoặc từ 15-24 tuổi. Các nhà nghiên cứu sinh lý, tâm
lý chia lứa tuổi này thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn VTN sớm tương đương với tuổi thiếu niên: nam từ 12-14 tuổi, nữ
từ 10-12 tuổi.
- Giai đoạn VTN giữa tương đương với lứa tuổi thiếu niên lớn: nam từ 14-16
tuổi, nữ từ 13-16 tuổi.
- Giai đoạn cuối VTN tương đương với lứa tuổi đầu thanh niên: nam từ 1719 tuổi, nữ từ 16-18 tuổi [14].
1.1.2 Khái niệm về kiến thức, thái độ, hành vi sức khỏe sinh sản vị thành niên
1.1.2.1 Khái niệm về sức khỏe sinh sản
- Tại hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển ở Cairo năm 1994 đưa ra định



4

nghĩa về sức khỏe sinh sản như sau: “ Sức khỏe sinh sản là sự thoải mái về thể chất,
tinh thần và xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là khơng có bệnh tật hoặc tàn phế, của
tất cả các vấn đề liên quan đến cơ quan sinh sản của nam và nữ, mà là sự hài hòa
trong mọi hoạt động của hệ thống ấy nhằm mục tiêu sinh sản hay khơng sinh sản
(tình dục)” [7].
- Theo tổ chức Y tế thế giới: "Sức khỏe tình dục (SKTD) là sự tổng hợp các
khía cạnh thể chất, trí thức và xã hội của con người, sao cho cuộc sống con người
phong phú hơn, tốt đẹp hơn về nhân cách, về giao tiếp và tình yêu" [2], [23].
- Theo định nghĩa của WHO, vị thành niên “là giai đoạn khác biệt và
năng động của con người, là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người trưởng
thành được đánh dấu bằng sự phát triển vượt bậc về thể chất, tinh thần, tình cảm
và xã hội”[2].
Sức khỏe sinh sản VTN cần được nhìn nhận một cách toàn diện, sức khỏe
phát triển thể chất, sức khỏe phát triển trí tuệ, tâm thần và khả năng hịa nhập với
cộng đồng. VTN nói riêng và cộng đồng nói chung có quyền được nhận thơng tin
về SKSS, quyền được tiếp cận và nhận dịch vụ chăm sóc SKSS (các dịch vụ về bảo
vệ sức khỏe bà mẹ, KHHGĐ, sức khỏe tình dục..) và tự do lựa chọn các dịch vụ đó
phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và sức khỏe của từng người.
Sự lớn lên và trưởng thành ở VTN có thể xảy ra với tốc độ khác nhau giữa
các cá nhân, phụ thuộc vào các yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội và văn hố. Do đó sự
phân chia về độ tuổi này chỉ mang tính chất tương đối. Tuổi này ít mắc bệnh, tỷ lệ
tử vong thấp nhất nên vấn đề sức khoẻ của họ hầu như bị lãng quên. Song trong quá
trình phát triển, sự thiếu kiến thức đã dẫn tới quyết định không đúng của VTN liên
quan đến sức khỏe và SKSS như quan hệ tình dục bừa bãi gây nên những hậu quả
nghiêm trọng đối với sức khỏe và tương lai trong suốt cuộc đời của họ là:
- Nhiều VTN có thai ngh n sinh đẻ quá sớm, nhất là VTN có thai ngh n sinh

đẻ ngồi ý muốn;
- Các bệnh lây truyền theo đường tình dục mà họ mắc phải có thể làm cho họ
phải chịu đựng lâu dài, có khi trở thành vơ sinh;


5

- Giai đoạn này sự sinh đẻ, thai ngh n sẽ làm VTN gián đoạn việc học tập,
tổn hại cho chính bản thân họ, gia đình và xã hội.
Qua nghiên cứu cho thấy VTN nước ta và nhiều nước khác đang bước vào
tuổi dậy thì và tuổi sinh sản sớm hơn trước. Nhiều hiểm họa đe dọa sức khoẻ do hoạt
động tình dục khơng được bảo vệ ngày càng nhiều hơn; thiếu nữ chưa có chồng mà
đã có thai là đối tượng nguy cơ của nạo phá thai không an toàn, bất hợp pháp hoặc
mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục..
1.1.2.2 Khái niệm về kiến thức, thái độ và hành vi
- Kiến thức hay hiểu biết của mỗi người được tích lũy dần qua q trình học
tập và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống. Mỗi người có thể thu được kiến thức
từ thầy cô giáo, cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp những người xung quanh, sách vở và
các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp [28].
Kiến thức là một trong các yếu tố quan trọng giúp con người có các suy nghĩ
và tình cảm đúng đắn, từ đó dẫn đến hành vi phù hợp trước mỗi sự việc. Kiến thức
của mỗi người được tích lũy trong suốt cuộc đời. Có các kiến thức hay hiểu biết về
bệnh tật, sức khỏe và bảo vệ, nâng cao sức khỏe là điều kiện cần thiết để mọi người
có cơ sở thực hành các hành vi sức khỏe lành mạnh. Vai trò của ngành y tế và cán
bộ y tế trong việc cung cấp kiến thức cho người dân trong cộng đồng là rất quan
trọng, thông qua việc thực hiện nhiệm vụ thông tin-giáo dục sức khỏe [28].
- Thái độ được coi là trạng thái chuẩn bị của cơ thể để đáp ứng với những
tình huống hay hồn cảnh cụ thể. Thái độ cũng là cách nhìn nhận của con người về
các vấn đề trong đó có sức khỏe. Thái độ phản ánh những điều người ta thích hoặc
khơng thích, mong muốn hay không mong muốn, tin hay không tin, đồng ý hay

không đồng ý, ủng hộ hay ngăn cản...Thái độ thường bắt nguồn từ kiến thức, niềm
tin và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống, đồng thời thái độ cũng chịu ảnh
hưởng của những người xung quanh [28].
- Hành vi mỗi cá nhân đều sống trong một tập thể xã hội và có quan hệ với những
người xung quanh trong những mối tác động qua lại nhất định. Sự tác động qua lại giữa
người này với người khác, hay giữa con người với các sự việc, hiện tượng hoàn cảnh xung
quanh được thể hiện qua các hành động hay gọi là hành vi.


6

Hành vi của con người là một tập hợp phức tạp của nhiều hành động, mà
những hành động này lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài,
chủ quan cũng như khách quan (từ điển Wikipedia) [29].
Hành vi sức khỏe là những hành vi của con người có ảnh hưởng tốt hoặc xấu
đến sức khỏe của chính bản thân họ, của những người xung quanh và của cộng
đồng. Từ khái niệm của hành vi chúng ta thấy có hai loại hành vi sức khỏe, đó là
các hành vi có lợi cho sức khỏe và các hành vi có hại cho sức khỏe [28].
1.1.2.3 Khái niệm về tình dục an tồn, tình dục lành mạnh
Tình dục an tồn là những hành vi tình dục bao gồm cả 3 yếu tố: khơng có nguy
cơ nhiễm khuẩn, nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục, khơng gây tổn thương
về thể chất và tâm lý, không làm mang thai ngồi ý muốn.
Tình dục lành mạnh: hành vi tình dục được coi là lành mạnh khi phù hợp với
những đặc thù của tình dục con người, với chuẩn mực đạo đức, văn hóa của xã hội
hiện đại. Tình dục lành mạnh phải đảm bảo 4 yếu tố: tự nguyện, đồng thuận, có
trách nhiệm và tơn trọng lẫn nhau. Một số hành vi tình dục thường được xã hội coi
là khơng lành mạnh: ngoại tình, quan hệ với gái mại dâm, xâm hại tình dục…[10].
1.1.2.4 Khái niệm về dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên
Theo tổ chức Y tế thế giới, dịch vụ sức khỏe thân thiện với VTN là “các dịch
vụ có thể tiếp cận được và phù hợp với VTN”. Dịch vụ sức khỏe thân thiện với

VTN cần đảm bảo các tiêu chuẩn như địa điểm, giá cả phù hợp (có thể chi trả được
hoặc miễn phí nếu cần thiết), độ an tồn, phục vụ theo phương cách mà VTN chấp
nhận được nhằm đáp ứng nhu cầu của VTN và khuyến khích các em trở lại cơ sở y
tế khi cần cũng như giới thiệu về dịch vụ với bạn bè. Các dịch vụ sức khỏe thân
thiện với VTN triển khai từ tuyến cơ sở đến trung ương [11].
1.1.3 Các nội dung về chăm sóc sức khỏe sinh sản
- Từ định nghĩa trên về (SKSS) Việt Nam đưa ra 10 nội dung chính của chăm
sóc sức khỏe sinh sản bao gồm:
+ Thông tin giáo dục truyền thông về sức khỏe sinh sản
+ Thực hiện KHHGĐ, tăng cường sự chia sẻ của nam giới


7

+ Làm mẹ an tồn
+ Phịng tránh thai, nạo phá thai an tồn
+ Phịng chống các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản
+ Chăm sóc sức khỏe sinh sản VTN
+ Phịng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục
+ Phịng chống ngun nhân và điều trị vơ sinh.
+ Phịng chống các ung thư sinh dục
+ Sức khỏe sinh sản người cao tuổi và giáo dục tình dục học [8].
- Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho VTN:
Đối với VTN, chăm sóc sức khỏe sinh sản cần tập trung vào một số nội dung
trọng tâm như sau:
+ Các thay đổi giải phẫu, sinh lý, tâm lý của VTN
+ Tư vấn sức khỏe sinh sản cho VTN
+ Tình dục an tồn và lành mạnh ở VTN
+ Kinh nguyệt ở VTN
+ Nạo phá thai ở VTN

+ Thai ngh n và sinh đẻ ở VTN
+ Các biện pháp tránh thai cho VTN
+ Tình bạn, tình u, hơn nhân và gia đình [9].
1.2 Tình hình nghiên cứu về sức khỏe vị thành niên
Trên thế giới ước tính hiện nay có khoảng 800 triệu trẻ VTN sẽ đối mặt với
sự chọn lựa hành vi tình dục vào năm 2010. Nhiều triệu trong số đó bước vào tuổi
hoạt động tình dục với nguy cơ có thai ngồi ý muốn, (HIV/AIDS) và các bệnh lây
truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) khác. Rất nhiều người lớn không chấp nhận
một thực tế là con cái họ đang ở tuổi hoạt động tình dục, mặc dù nhiều nghiên cứu
cho thấy rằng bất chấp ràng buộc về văn hóa, tập tục, tơn giáo, một bộ phận khơng
nhỏ VTN đã bắt đầu có hoạt động tình dục khá sớm, dưới các hình thức khác nhau,
trước tuổi 20. Ở hầu hết các quốc gia, trường học, bố mẹ và xã hội vẫn chưa cung
cấp cho VTN những thông tin cần thiết về (SKSS) để VTN có những quyết định và


8

hành vi đúng đắn về đời sống tình dục của mình, để khơng làm ảnh hưởng đến
tương lai về sức khỏe sinh sản của chính mình.
1.2.1 Tình hình sức khỏe sinh sản VTN trên thế giới
Theo thống kê của quỹ dân số Liên hiệp quốc (UNFPA), hiện nay trên thế
giới có khoảng 1/5 dân số thuộc lứa tuổi VTN, như thế nghĩa là hiện đang có
khoảng hơn 1 tỷ người đang ở tuổi VTN, 80% hiện đang sống tại các nước đang
phát triển ở châu

, châu Phi, châu Mỹ La Tinh. Những nước có nền kinh tế k m

phát triển thì dân số lại càng trẻ, lứa tuổi VTN lại càng lớn, chiếm tới trên 40% dân
số. Đây là tỷ lệ rất cao, nếu so với mức trung bình ở các nước phát triển tỷ lệ này
lớn gấp tới 2 lần và so với các nước đang phát triển nó gấp tới 1,3 lần [35].

Dự báo xu hướng ở một số khu vực thuộc các nước đang phát triển, dân số
trong nhóm tuổi VTN từ những năm 1975 đến 2025 như sau:
So với các nước khu vực trên thế giới, châu Phi là lục địa có số lượng VTN
tăng trưởng ở mức cao nhất hiện nay, năm 1975 là khoảng 94,5 triệu VTN (chiếm
khoảng 22,8%), đến năm 1995 là khoảng 165,5 triệu VTN (chiếm 23%), năm 2005
là khoảng 310,5 triệu; đặc biệt khu vực cận sa mạc Sahara châu Phi từ năm 19601995, mỗi thập kỷ số lượng VTN tăng từ 80-200 triệu người. Với các nước phát
triển, dân số có xu hướng giảm, số lượng VTN cũng giảm đi do tỷ lệ sinh thấp, đe
dọa đến nguồn lực của nước này; năm 1975 tỷ lệ VTN chiếm 23%, năm 2005 dự
kiến 16% so với tổng dân số trong nước. Đối với một số nước đang phát triển, năm
1975 tỷ lệ VTN là 22,3% và có xu hướng giảm dần, năm 1995 là 20,2% và đến năm
2005 chỉ còn khoảng 16,6% so với tổng số dân trong cả nước [35].
1.2.1.1 Về kiến thức
Đối với các nước phát triển trên thế giới, vấn đề sức khỏe sinh sản VTN đã
được đề cập được vài chục năm nay. Phần lớn VTN ở những nước phát triển đã được
tiếp cận các thông tin về sức khỏe sinh sản khá sớm, người ta nhận thấy rằng, việc
cung cấp đầy đủ các thông tin cho VTN về các nội dung liên quan đến thai ngh n và
sinh đẻ, liên quan đến các bệnh LTQĐTD thì VTN sẽ chủ động bảo vệ cho mình, có
các biện pháp phịng tránh các nguy cơ có thai và bệnh tật, do vậy tỷ lệ VTN có thai


9

và mắc các bệnh LTQĐTD có xu thế giảm trong những năm gần đây.
Đương nhiên trên thế giới vẫn còn có những nước cịn có những phong tục
tập qn lạc hậu để lại những hậu quả nặng nề cho VTN như việc p đã nóng vào
ngực các cơ gái mới lớn hoặc cắt âm vật ở em gái 13 đến 14 tuổi.
Đối với các nước ở khu vực Châu

các nội dung CSSKSS mới được quan


tâm mấy năm gần đây, tình hình SKSS của VTN cũng khơng có gì khác biệt như ở
Việt Nam.
1.2.1.2 Về thái độ
Chương trình nghiên cứu can thiệp giảm nguy cơ AIDS ở vị thành niên có độ
tuổi trung bình từ 14,3 năm (độ lệch chuẩn, ĐLC=1.31; phạm vi: 10 đến 18 tuổi)
được thu nhận. Không nhận sinh viên đại học. Nghiên cứu nhằm “cải thiện thái độ
về nguy cơ AIDS và hành vi bảo vệ, kiến thức về nguy cơ, tăng sự quan tâm đối với
kiêng giao hợp hoặc dùng bao cao su và giảm hành vi tình dục nguy cơ tại các
trường học ở Mỹ ” cho thấy có 88% thay đổi kiến thức, 58% thay đổi thái độ, 60%
thay đổi trong ý định dùng bao cao su, 73% dùng bao cao su và 64% giảm số lượng
bạn tình [13].
1.2.1.3 Về hành vi
Các kết quả nghiên cứu về lĩnh vực quan hệ tình dục, nạo hút thai và sinh đẻ
ở VTN trên thế giới gây ra cho chúng ta hết sức bất ngờ. Theo WHO hàng năm có
khoảng 20 triệu ca nạo phá thai khơng an toàn. Theo quỹ dân số Liên hợp quốc
(UNFPA), hiện nay mỗi năm có khoảng 15 triệu VTN nữ sinh con, chiếm 10% số
phụ nữ sinh con trên thế giới. Mỹ là quốc gia có tỷ lệ nữ VTN mang thai sớm cao
nhất ở các nước phát triển: có khoảng 20% số phụ nữ đẻ trước tuổi 20. Các nghiên
cứu cho thấy ở châu Phi, thai ngh n ngoài dự định dao động từ 50-90% trong số
VTN chưa chồng và 25-40% trong số VTN có chồng. Ở Kenia, số VTN có thai
ngồi dự định trong nhóm chưa chồng là 74% và nhóm có chồng là 47%. Cịn ở
Peru, số VTN có thai ngồi dự định trong nhóm chưa chồng là 69% và nhóm có
chồng là 51%. Các số liệu tổng hợp về tình trạng VTN sinh con ngồi ý muốn ở
một số khu vực có tỷ lệ cao là: Mỹ LaTinh 40-50%; Bắc Phi và Tây

là 15-23%;


10


Ấn Độ và Pakistan là 16%, Philipin, Bangladesh, Srilanka và Thái Lan là 23-41%,...
Với tình trạng mang thai ngồi ý muốn này, mỗi năm có tới 4,4 triệu ca nạo phá thai
của VTN. Ch ng hạn, ở cộng hòa Tanzania có khoảng 71% các cuộc nạo phá thai
rơi vào trẻ VTN, trong khi số VTN chỉ chiếm 24% mẫu điều tra. Mang thai và nạo
phá thai sớm là một trong những nguyên nhân cơ bản tàn phá SKSS VTN trên thế
giới hiện nay [35].
Tình trạng quan hệ tình dục (QHTD) sớm và mắc các bệnh lây truyền qua
đường tình dục (LTQĐTD) ở VTN là một nguy cơ mang tính tồn cầu. Quan hệ
tình dục sớm thường để lại những hậu quả xã hội nghiêm trọng về mang thai,
nạo hút thai ngoài ý muốn và mắc các bệnh LTQĐTD, đặc biệt là mắc căn bệnh
thế kỷ HIV/AIDS.
Một nghiên cứu cho thấy, VTN Mỹ, ở tuổi 15 có khoảng 27% nữ và 33%
nam đã có sinh hoạt tình dục, đến tuổi 17 tỷ lệ này tăng lên 50% và 66%. Nếu tính
riêng trong nhóm VTN học sinh thì có đến 72% số học sinh ở Mỹ có QHTD khi
bước vào năm học cuối trung học phổ thơng (THPT), trong số đó có tới 40% các
học sinh ở tuổi 15. Theo ước tính của văn phịng thơng tin dân số Mỹ về SKSS
VTN thì có ít nhất 80% số người bước vào tuổi 20 ở vùng cận sa mạc Sahara (châu
Phi) đã trải qua quan hệ tình dục. Vì thế đây cũng là nơi mắc các bệnh LTQĐTD
lớn nhất, ch ng hạn như HIV/AIDS. Theo quỹ liên hợp quốc về phòng chống AIDS,
số người mắc AIDS ở đây chiếm 2/3 bệnh nhân này trên thế giới [35].
Ở Thái Lan ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX, các nghiên cứu đã cho
thấy có tới 60% VTN nam có QHTD trong đó một số không nhỏ mới ở độ tuổi 13;
ở Trung Quốc theo thống kê mới đây kh ng định có 20% nữ học sinh có QHTD; ở
Bangladesh 25% và ở Nepan 34% VTN nữ 14 tuổi đã kết hôn; châu Phi là lục địa
có tỷ lệ VTN có QHTD và mắc các bệnh LTQĐTD lớn nhất thế giới. Các nghiên
cứu cụ thể cho thấy, ở Botswana (1995) có 41% nữ và 15% nam ở tuổi 15-16 đã có
QHTD; ở Cameroon (1996) 55% nữ và 70% nam có QHTD ở tuổi 15, nghiên cứu
này còn kh ng định, VTN càng lớn tuổi mức độ QHTD càng tăng và có tới 5% nữ
và 16% nam ở tuổi 12-17 đã có trên 2 bạn tình thường xuyên. Một báo cáo cho biết,



11

tình trạng QHTD ở tuổi VTN là mang tính chất phổ biến ở nhiều quốc gia. Theo
báo cáo này, tỷ lệ QHTD ở tuổi 15 tại một số nước là: tại Greenland có khoảng
53%, Đan Mạch 38%, Thụy Điển 69%,... và ở tuổi 18 là 54,1% tại Mỹ, 31% tại
New Zealand và 51,6% tại Australia... [35].
Theo thống kê và các kết quả nghiên cứu của Australia: các bà mẹ tuổi VTN
từ 15-19 tuổi có 10.744 chiếm 4% tại thời điểm năm 2005; tỷ lệ sinh của tuổi VTN
chiếm 16%o trẻ VTN [41]. Theo ước tính của WHO, mỗi năm có khoảng 250 triệu
người mắc các bệnh LTQĐTD, trong đó nhóm tuổi 15-19 chiếm tỷ lệ cao thứ 2 sau
nhóm tuổi 20-24. Sở dĩ nhóm thanh niên mắc các bệnh LTQĐTD cao là do khi
QHTD nhóm này thường khơng sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT) an toàn là bao
cao su (BCS). Cũng theo tổ chức này, 1/20 số nữ VTN mắc các bệnh LTQĐTD
hàng năm. Nghiên cứu cụ thể ở Kenya, Nigieria, Sierra Leone tỷ lệ nữ VTN mắc
các bệnh nêu trên dao động từ 16-36%; ở Mỹ 1/8 VTN đăng ký chữa bệnh
LTQĐTD hàng năm. Hiện nay trên thế giới có trên 40 triệu người nhiễm HIV, tỷ lệ
cao nhất đối với nam nhóm tuổi 15-25 tuổi và nữ là nhóm tuổi 25-35 [35].
Ngồi ra, mang thai sớm cịn để lại những hậu quả rất đáng lo ngại về mặt xã
hội. Các kết quả nghiên cứu cho biết, biến chứng do thai ngh n ở tuổi VTN là rất
lớn. Nguy cơ tử vong của VTN là nhóm cao nhất so với các tử vong do thai ngh n
gây ra. Ch ng hạn, ở Matlab Bangladesh tỷ lệ tử vong ở các bà mẹ VTN tuổi từ 1014 cao gấp 5 lần so với nhóm 15-19 tuổi và tỷ lệ tử vong ở nhóm tuổi 15-19 lại cao
gấp 2 lần so với nhóm tuổi 20-24 [35].
Theo tác giả Dr.Y.N.Sridhar và nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu tại trường
học ở miền bắc của Thái Lan và Ấn Độ cho thấy thiếu niên thiếu kỹ năng sống cần
thiết đối với thực tế và những thách thức trong cuộc sống của họ; thanh thiếu niên
chiếm phần lớn nhất của dân số thế giới và có xu hướng ngày càng tăng; có khoảng
230.000.000 người Ấn Độ trong nhóm tuổi từ 4 đến 19 tuổi (dân số và sức khỏe
IndoShare, 2006). VTN ở Ấn Độ là vấn đề nghiên trọng, thiếu tiếp cận với kiến
thức đáng tin cậy về quá trình trưởng thành sức khỏe sinh sản và hệ thống giá trị.

Hiện cần phải cung cấp, giáo dục về những thay đổi phát triển và nhu cầu trong


12

thanh thiếu niên. Điều này có thể làm giảm nguy cơ trong tương lai. Cụ thể họ trở
thành những đứa trẻ lang thang, trẻ có hành vi phạm pháp, cờ bạc, nghiện ma túy,
tội phạm, trốn học, mại dâm, ăn xin; hậu quả của những hành vi bất lợi này, các
trường hợp mang thai bất hợp pháp, nạo phá thai và nhiễm HIV/AIDS đang ngày
càng trở nên nghiêm trọng [45].
Ở nhiều nước đang phát triển, các cô gái kết hôn ngay sau tuổi dậy thì, nhiều
phụ nữ trẻ có thai ngay sau khi kết hôn. Năm 1995, nhân khẩu học và y tế Ai Cập
điều tra thấy rằng 10% dân số nữ dưới 20 đã bắt đầu sinh sản; tuy nhiên chỉ có vài
thanh thiếu niên biết hoặc hiểu khái niệm về SKSS [39].
Theo Elissa Kennedyet all, mỗi năm có khoảng hơn 14 triệu VTN tuổi 1519 sinh đẻ, 91% số này ở các nước có mức thu nhập thấp và trung bình; sáu triệu
VTN mang thai là ngồi ý muốn do khơng sử dụng các BPTT... Hoạt động tình
dục ngồi hơn nhân đang gia tăng, nhưng có dưới một nửa sử dụng các BPTT hiện
đại; tỷ lệ trẻ VTN tử vong do thai ngh n và sinh con cao hơn người trưởng thành;
14% VTN phá thai khơng an tồn; sự bất bình đ ng và nghèo đói của các bà mẹ
VTN có hậu quả lâu dài về kinh tế, xã hội cho đất nước họ [42]. Theo nhóm
nghiên cứu Dân số châu á về SKSS VTN ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương,
độ tuổi kết hơn của VTN các nước ở Nam và Đông Nam

chiếm 6,6% đến 19,7%

trong đó có Việt Nam (chiếm 11,1%) [44].
Theo một báo cáo của Ủy ban quốc gia phịng chống AIDS, tính chung trên
thế giới những năm gần đây, bình quân mỗi ngày có khoảng 7.000 thanh thiếu niên,
hay mỗi phút có 5 thanh thiếu niên tuổi 10-24 bị nhiễm HIV. Mỗi năm thế giới có 1/2
triệu trẻ em dưới 15 tuổi chết do AIDS; có khoảng 1,7 triệu thanh thiếu niên châu Phi

bị nhiễm HIV, trong đó có khoảng 530.000 trẻ sinh ra bị nhiễm do mẹ truyền. Riêng
khu vực châu

-Thái Bình Dương mỗi năm ước tính khoảng 700.000 thanh thiếu

niên bị nhiễm HIV [38]. Theo một nghiên cứu tại Uganda có 17% VTN trong diện
nghiên cứu mắc bệnh LTQĐTD và 6,5% có nguy cơ nhiễm HIV [43].
Với những thực trạng như nêu trên, r ràng, số khía cạnh của vấn đề SKSS
VTN đang trở thành một nguy cơ dẫn tới suy thoái ở nhiều quốc gia trong giai đoạn


13

phát triển hiện nay. Chính thực tế này đang đặt nhân loại trước những thách thức vô
cùng nan giải. Để thay đổi tình trạng nêu trên thực tế địi hỏi chúng ta phải sớm có
một chiến lýợc mới mang tính tồn cầu về SKSS vị thành niên [35].
1.2.2 Tình hình sức khỏe sinh sản vị thành niên Việt Nam.
Việt Nam là một nước đang phát triển, VTN có tỷ lệ tương tự như các nước
đang phát triển khác. Tổng dân số của Việt Nam tháng 4 năm 2009 là 85.789.573
người. Như vậy, Việt Nam là nước đông dân thứ 3 ở Đông Nam

(sau Indonesia

và Philipin) và đứng thứ 13 trong số những nước đông dân nhất thế giới. Với mật
độ dân số 259 người/km2, dân số nam chiếm 49,5% và nữ chiếm 50,5%; trong đó
trẻ vị thành niên là 16.064.066 người chiếm tỷ lệ 18,7% tổng dân số toàn quốc; số
trẻ đang đi học trung học phổ thông là 3.424.368 chiếm tỷ lệ 21.3% trẻ ở độ tuổi vị
thành niên và chiếm tỷ lệ 4% tổng dân số [3].
Theo nghiên cứu thuộc kế hoạch tổng thể quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và
nâng cao sức khỏe VTN và thanh niên trong giai đoạn 2006-2010 và định hướng

chiến lược đến năm 2020 cho thấy, nhóm VTN và thanh niên (từ 10-24 tuổi) chiếm
khoảng 32% dân số Việt Nam (khoảng 27 triệu). Đối tượng này hiện đang đối mặt
với nhiều nguy cơ về sức khỏe sinh sản như quan hệ tình dục khơng an tồn, có thai
ngồi ý muốn, nạo phá thai khơng an tồn, HIV/AIDS [8].
Hiện nay sự phát triển của thanh thiếu niên luôn là vấn đề được quan tâm
hàng đầu ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới. Mặc dù vị thành niên và
thanh niên trên tồn thế giới đều trải qua q trình phát triển với những đặc điểm
chung, nhưng ở mỗi quốc gia, giai đoạn này mang một số đặc trưng nhất định. Tại
Việt Nam, vị thành niên là một hiện tượng tương đối mới mẻ đang nhận được nhiều
sự quan tâm do đây là độ tuổi thường gắn liền với sự phát triển trí tuệ, khả năng và
tính tự chủ, người ta thường quan niệm thanh niên và vị thành niên vẫn cần được
người lớn định hướng, uốn nắn để theo dõi hành vi của họ (SAVY). Bởi vì nam, nữ
VTN đang đứng trước sự đe dọa và thách thức nhiều mặt: đó là bệnh tật, sự tổn
thương về thể trạng và tinh thần, sự thiếu hiểu biết về thơng tin giới tính, an tồn
tình dục và KHHGĐ. Rất nhiều chuyện đau lịng đã xảy ra như tự tử, mại dâm, ma


14

túy, tảo hôn, yêu kiểu "trào lưu"….Thực trạng này đã và đang trở thành mối quan
tâm của gia đình, nhà trường và toàn thể xã hội [12].
Giống như hầu hết các quốc gia trong khu vực, Việt Nam đang trong giai
đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng lại chịu các tác động tiêu cực về mặt xã hội.
Những thay đổi về xã hội đã dẫn đến sự thay đổi nhanh chóng về phong cách sống,
đem lại nhiều thách thức cho VTN như HIV/AIDS, lạm dụng chất kích thích, những
vấn đề về sức khỏe tinh thần, thiếu tiếp cận những dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đặc
biệt là SKSS đảm bảo chất lượng…Vị thành niên thường được xem là lứa tuổi đang
tìm kiếm lời giải đáp cho câu hỏi “tơi là ai”. Trên chặng đường xác định bản sắc
riêng cho mình và quá độ thành người trưởng thành, VTN phải nỗ lực xây dựng và
củng cố một hệ thống giá trị trở nên độc lập hơn và trải qua hàng loạt những thay

đổi về thể chất, tinh thần và xã hội. Đây cũng là giai đoạn mà thanh thiếu niên
thường tò mò và thử nghiệm những hành vi tương đối nguy hại [12].
Điều tra SAVY I có 19,4% nữ thanh thiếu niên được phỏng vấn đã từng có
thai. Tỷ lệ này tính trong nhóm phụ nữ đã từng có quan hệ tình dục là 88,3%; những
phụ nữ đã từng có quan hệ tình dục chiếm 22% trong tổng số nữ thuộc nhóm tuổi 1425; có 11 người trong số 41 nữ chưa lập gia đình (chiếm 26,8%) đã có QHTD trả lời
đã từng mang thai [12]. Tuy con số tuyệt đối khơng lớn, nhưng cứ 4 nữ thanh thiếu
niên có QHTD trước hơn nhân thì có 1 mang thai, điều này cho thấy các tồn tại về
vấn đề tránh thai, kiến thức về thai ngh n, kỹ năng thuyết phục về tình dục an tồn.
Trong số phụ nữ đã từng có thai 7,2% đã kết thúc bằng phá thai. Tỷ lệ phá thai ở
thành thị cao gấp đôi nông thôn (12,6% so với 6,2%). Với nữ VTNTN chưa có gia
đình, tỷ lệ thai ngh n kết thúc bằng phá thai là 27,3%. Tỷ lệ phá thai từ 2 lần trở lên
cũng khá phổ biến đối với các phụ nữ trẻ chưa có gia đình đến các dịch vụ phá thai.
Tỷ lệ phá thai cao là một chỉ số quan trọng cho thấy các dịch vụ tránh thai có thể tiếp
cận được, với giá cả hợp lý và hiệu quả chưa đáp ứng được như cầu. Tuy nhiên, các
con số thống kê đáng tin cậy về tỷ lệ nạo phá thai là rất khó thu thập do sự nhạy cảm
của vấn đề này và một thực tế là các ca nạo thai tại cơ sở y tế tư nhân không thu thập
được để đưa vào con số thống kê chính thức [12].


15

Tổng số thanh thiếu niên nói có nạo hút thai ở điều tra SAVYI tương đối
nhỏ: chỉ 54 trường hợp, trong đó có 03 trường hợp chưa lập gia đình. Trong một
nghiên cứu về sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên tại 07 tỉnh năm 2003
cũng cho kết quả tương tự; ở đây những thanh, thiếu niên chưa có chồng, nạo hút
thai vẫn là vấn đề nhạy cảm nên số liệu có thể khơng được báo cáo đầy đủ; bên
cạnh đó việc tiếp cận với các biện pháp tránh thai cũng được cải thiện làm cho tỷ lệ
nạo hút thai cũng giảm nhiều trong khoảng những năm 2002.
1.2.2.1 Về kiến thức
Nghiên cứu đánh giá về SKSS VTN của UBQG Dân số và KHHGĐ thì tỷ lệ

trả lời đúng về các dấu hiệu dậy thì ở VTN, với nam là 78,4% và ở nữ là 87,5 %. Tỷ
lệ trả lời đúng về sự thụ thai và thời điểm dễ có thai trong chu kỳ kinh nguyệt là
43,1% đối với nữ và 39,8 % đối với nam. Tỷ lệ biết về bao cao su tránh thai là
84,7% với nữ và 89 % với nam [34].
Trong nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Dân số và sức khỏe nông thôn
thuộc đại học Y Thái Bình: hiểu biết đúng về thời điểm dễ có thai trong chu kỳ kinh
nguyệt là 39,6% (sau can thiệp). Hiểu biết về các biện pháp tránh thai nhóm can
thiệp là:74,8% VTN biết về thuốc uống tránh thai theo tháng; 88,1% biết về bao cao
su, 21,6% biết biện pháp xuất tinh ngồi âm đạo. Đó là những biện pháp tránh thai
phù hợp với tuổi VTN [26].
Hiểu biết về tai biến do nạo phá thai: 38,9% biết tai biến thủng tử cung,
39,1% biết tai biến băng huyết. Hiểu biết về bệnh lây truyền qua đường tình dục:
97,7% biết về HIV, 65,7 biết về bệnh lậu, 78,2% biết về bệnh giang mai [25]. Hiểu
biết về con đường lây truyền HIV: đường QHTD: 97,7%, đường máu: 90,6%, mẹ
truyền cho con 79,4%. Về biện pháp giải quyết khi có các bệnh lý ở đường sinh
dục: 21 % đến cơ sở y tế, 4,5 % tự mua thuốc điều trị, 13,6 % khơng làm gì cả [26].
Điều này cho thấy VTN, thanh niên trẻ chưa có đầy đủ kiến thức, kỹ năng về
phòng tránh thai và bị hạn chế tiếp cận với biện pháp tránh thai. Khơng chỉ tình
trạng nạo phá thai, mà tình dục khơng an tồn ở VTN, thanh niên cũng ở mức đáng
báo động. Theo một điều tra khác thì có tới 99,3% thanh niên khơng sử dụng các


×