ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THÚY HIỀN
THA TÙ TRƢỚC THỜI HẠN CĨ ĐIỀU KIỆN
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THÚY HIỀN
THA TÙ TRƢỚC THỜI HẠN CĨ ĐIỀU KIỆN
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TSKH. LÊ CẢM
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tơi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được cơng bố trong
bất kỳ cơng trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực khoa học,
đồng thời tơi xin chịu hồn tồn trách nhiệm về nội dung khoa học
của luận văn này. Tơi đã hồn thành tất cả các mơn học và đã
thanh tốn tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa
Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tơi có thể bảo vệ Luận văn.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
Lê Thúy Hiền
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chƣơng 1.MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ................................................... 11
THA TÙ TRƢỚC THỜI HẠN CÓ ĐIỀU KIỆN ........................................... 11
1.1. Khái niệm tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện........................................... 11
1.2. Nội hàm của tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện ....................................... 15
1.3. So sánh chế định tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện với chế định đặc xá,
án treo .............................................................................................................. 17
1.3.1. So sánh chế định tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện với chế định đặc xá
......................................................................................................................... 17
1.3.2. So sánh chế định tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện với chế định án treo
......................................................................................................................... 21
1.4. Mục đích và ý nghĩa của tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện .................... 24
1.4.1. Mục đích của tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện................................... 25
1.4.2. Ý nghĩa của tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện ..................................... 26
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 30
Chƣơng 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ MỘT
SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ THA TÙ TRƢỚC THỜI HẠN CÓ ĐIỀU
KIỆN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI NƢỚC TA ..................................... 31
2.1. Quy định về tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện của pháp luật Việt Nam 31
2.1.1. Tiền đề chế định tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện ở Việt Nam.......... 31
2.1.2. Quy định về tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện theo Bộ luật Hình sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) .......................................................... 40
2.2. Pháp luật hình sự của một số nƣớc về tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện 63
2.2.3. Pháp luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ................................ 68
2.2.4. Pháp luật hình sự Cộng hịa Liên Bang Đức......................................... 69
2.3. Thực tiễn áp dụng và giải pháp nâng cao hiệu quả tha tù trƣớc thời hạn có
điều kiện trong thời gian tới tại nƣớc ta .......................................................... 71
2.3.1. Tình hình về việc áp dụng chế định tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện 71
2.3.2. Những khó khăn vƣớng mắc của việc áp dụng tha tù trƣớc thời hạn có
điều kiện .......................................................................................................... 73
2.3.3. Một số kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả chế định tha tù trƣớc thời
hạn có điều kiện trong thời gian tới ................................................................ 75
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2................................................................................ 78
KẾT LUẬN CHUNG ...................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 80
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật hình sự
TTHS
Tố tụng hình sự
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 ghi nhận: “Nhà
nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân
dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” [38; Điều 2]. Một nhà nƣớc dân chủ tiến bộ là
một nhà nƣớc tồn tại trên cơ sở hƣớng tới việc bảo đảm các lợi ích của con
ngƣời, hạnh phúc của con ngƣời là thƣớc đo mọi giá trị của cuộc sống.
Nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam thể hiện rõ bản chất Nhà
nƣớc của dân, do dân, vì dân. Trong nhà nƣớc pháp quyền, sự nghiêm minh
của pháp luật luôn đƣợc đề cao nhƣng pháp luật lại vì con ngƣời, hƣớng đến
mục đích cao cả nhất là đem lại lợi ích và cơng lý cho con ngƣời chính vì thế
mà pháp luật ln mang tính nhân đạo sâu sắc.
Đối với tội phạm, chính sách pháp luật hình sự của Nhà nƣớc ta không
chỉ tuân theo nguyên tắc pháp chế mà còn thể hiện nguyên tắc nhân đạo sâu
sắc, đó là trừng trị kết hợp với giáo dục. Thơng qua hình phạt, Nhà nƣớc vừa
nhằm trừng trị, răn đe kết hợp giáo dục, cảm hóa, cải tạo ngƣời phạm tội trở
thành ngƣời lƣơng thiện, qua đó cũng giáo dục ngƣời khác có ý thức tn thủ
pháp luật, phịng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Vì vậy, Nhà nƣớc và
pháp luật không bắt buộc ngƣời phạm tội phải chấp hành toàn bộ bản án phạt
tù đã tuyên trong các cơ sở giam giữ khi mà ngƣời đó thực sự ăn năn hối cải,
mong muốn sớm làm lại cuộc đời, đóng góp cho gia đình, xã hội. Tha tù trƣớc
thời hạn có điều kiện là một chế định cho phép ngƣời phạm tội đƣợc trả tự do,
chấp hành phần còn lại của bản án phạt tù tại cộng đồng dƣới sự giám sát,
giáo dục của cơ quan có thẩm quyền khi thỏa mãn những điều kiện nhất định.
Thể chế hóa các chủ trƣơng của Đảng tại Nghị quyết số 08/NQ-TW về
một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tƣ pháp trong thời gian tới ngày
02/01/2002; Nghị quyết số 48/NQ-TW về Chiến lƣợc xây dựng và hoàn thiện
1
hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hƣớng đến năm 2020 ngày
24/5/2005 và thực hiện các nhiệm vụ về cải cách tƣ pháp mà Nghị quyết số
49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lƣợc cải cách tƣ pháp
đến năm 2020 đã đề ra, trong đó có nhiệm vụ: “Coi trọng việc hồn thiện
chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tƣ pháp, đề cao hiệu quả phịng ngừa và
tính hƣớng thiện trong việc xử lý ngƣời phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng
áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo khơng giam giữ đối với một số loại
tội phạm. Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hƣớng chỉ áp dụng đối với
một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Giảm bớt khung hình phạt tối
đa quá cao trong một số loại tội phạm”.
Bảo đảm sự phù hợp với Hiến pháp nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam
năm 2013 về tăng cƣờng bảo vệ quyền con ngƣời, đặc biệt là quyền tự do.
Đổi mới nhận thức về chính sách hình sự mà trọng tâm là đổi mới quan
niệm về tội phạm và hình phạt, về chính sách xử lý đối với một số loại tội
phạm và loại chủ thể phạm tội, đồng thời tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm
lập pháp hình sự của các nƣớc trong khu vực và trên thế giới.
Xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc
kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện tạm tha của một số nƣớc trên thế giới.
Tạm tha là một biện pháp trong thi hành án phạt tù đã đƣợc nhiều nƣớc trên
thế giới áp dụng, kể cả những nƣớc phát triển (Mỹ, Canada, Anh, Hà Lan,
Thụy Sỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc…) hay ở những nƣớc đang phát triển (Trung
Quốc, Thái Lan…) với nhiều hình thức và điều kiện cụ thể khác nhau của mỗi
nƣớc. Đây là xu hƣớng tất yếu của công tác thi hành án phạt tù, coi trọng giáo
dục hơn giam giữ; phù hợp với chuẩn mực, thông lệ quốc tế theo tinh thần của
Công ƣớc quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966: “Những ngƣời bị
tƣớc tự do phải đƣợc đối xử nhân đạo… Việc đối xử với tù nhân trong hệ
thống trại giam nhằm mục đích chính yếu là cải tạo và đƣa họ trở lại xã hội”
2
và “Phải tạo điều kiện thuận lợi cho sự tái hòa nhập xã hội của những ngƣời
nguyên là tù nhân theo những điều kiện tốt nhất có thể, với sự tham gia và
giúp đỡ của cộng đồng và các tổ chức xã hội” đƣợc nêu trong “Những nguyên
tắc cơ bản trong việc đối xử với tù nhân” năm 1990 của Liên hợp quốc.
Cũng chính xuất phát từ thực tiễn cơng tác thi hành án phạt tù: Trong 10
năm thi hành Luật Đặc xá, Chủ tịch nƣớc đã 07 lần ban hành quyết định về
đặc xá nhân các ngày lễ lớn, sự kiện trọng đại của đất nƣớc. Cấp giấy xác
nhận kết quả thi hành án cho 86.828 trƣờng hợp. Theo báo cáo của công an
các địa phƣơng, trong tổng số 87.020 ngƣời đƣợc đặc xá, đa số đã về đúng địa
chỉ cƣ trú và đều đƣợc công an địa phƣơng hƣớng dẫn, đăng ký hộ khẩu, cấp
giấy tờ tùy thân [27, tr.86]. Trong đó phần lớn đã ổn định cuộc sống, không vi
phạm pháp luật và tái phạm tội, gần 50.000 ngƣời đƣợc đặc xá đã có việc làm
và thu nhập ổn định. Công tác đặc xá tha tù trƣớc thời hạn phục vụ tốt yêu cầu
chính trị, pháp luật, nghiệp vụ. Tuy nhiên, do đối tƣợng đặc xá tha tù trƣớc
thời hạn với số lƣợng lớn, diện đối tƣợng rộng chƣa thể hiện đầy đủ ý nghĩa
đặc ân của Nhà nƣớc ta đối với ngƣời phạm tội. Mặt khác, Luật đặc xá và các
văn bản pháp luật có liên quan bộc lộ một số hạn chế nhƣ: Về thời gian tổ
chức thực hiện Quyết định đặc xá của Chủ tịch nƣớc: Qua 7 đợt thực hiện cho
thấy, việc tổ chức triển khai đều gấp rút trong khoảng thời gian ngắn nên chất
lƣợng tham mƣu, thẩm định cũng nhƣ trong việc thực hiện chức năng kiểm
sát việc lập hồ sơ đề nghị đặc xá gặp khó khăn [24; tr. 33]. Ngƣời đƣợc đặc xá
tha tù trƣớc thời hạn là ngƣời đã đƣợc pháp luật chấp nhận chấp hành xong
bản án, khơng cịn điều kiện, quy định pháp lý nào ràng buộc nên một số đối
tƣợng không chịu tiếp tục phấn đấu, rèn luyện dẫn đến tái phạm. Trong tổng
số 87.020 ngƣời đƣợc đặc xá từ năm 2009 đến nay vẫn có 1.007 ngƣời có
hành vi vi phạm pháp luật, tái phạm tội, chiếm tỉ lệ 1,16% [27, tr. 87]. Dƣ
luận xã hội cịn một bộ phận có ý kiến chƣa đồng thuận cao với việc tha trƣớc
3
thời hạn cho phạm nhân mà khơng có điều kiện, chế định pháp lý ràng buộc
nên tính nghiêm minh của pháp luật bị hạn chế. Chƣa có nội dung quy định về
điều kiện, tiêu chuẩn đặc xá đối với trƣờng hợp đặc biệt là ngƣời đang đƣợc
hỗn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù [43].
Cùng với đó, trong những năm qua, tình hình tội phạm có diễn biến vơ
cùng phức tạp, số lƣợng ngƣời bị kế án phạt tù tăng lên. Từ năm 2008 đến
năm 2015, bình quân hàng năm, số lƣợng ngƣời có án phạt tù tăng khoảng 10
– 12%. Trƣớc khi đặc xá năm 2015, các trại giam quản lý, giam giữ 142.625
phạm nhân. Mặc dù tháng 9 năm 2015, Chủ tịch nƣớc đã Quyết định đặc xá
tha tù trƣớc thời hạn cho 18.298 ngƣời nhƣng tính đến tháng 12 năm 2015,
các trại giam thuộc Bộ Công an vẫn đang quản lý, giam giữ 129.180 phạm
nhân (115.299 nam, 13.881 nữ); các trại tạm giam, nhà tạm giữ quản lý, giam
giữ 4.803 phạm nhân; số đối tƣợng bị kết án tù đang hoàn thiện thủ tục để thi
hành án là 16.359 ngƣời. Việc phạm nhân vào trại giam tăng đã gây áp lực
lớn về ngân sách xây dựng cơ sở vật chất, chi phí cho việc quản lý, giáo dục,
thực hiện chế độ, chính sách đối với phạm nhân và biên chế cán bộ. Hiện nay,
Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tƣ pháp (TC8) – nay là Cục
Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trƣờng giáo dƣỡng (C10)
quản lý 53 trại giam, theo quy mô đƣợc Bộ Cơng an phê duyệt gồm 165 phân
trại, nhƣng tính đến năm 2015 mới có 75/165 phân trại đƣợc đầu tƣ xây dựng,
cải tạo nâng cấp và 25 phân trại đang trong q trình đầu tƣ cải tạo nâng cấp,
cịn lại 59 phân trại chƣa đƣợc đầu tƣ xây dựng, cải tạo bảo đảm giam giữ
theo quy mô, gồm: 17 phân trại phải xây dựng mới; 42 phân trại phải cải tạo
nâng cấp để bảo đảm giam giữ theo quy mô. Trong khi đó, để đầu tƣ xây
dựng mới 01 phân trại quy mô giam giữ 1.000 phạm nhân, cần kinh phí
khoảng 100 tỷ đồng và biên chế khoảng 215 cán bộ, chiến sĩ để quản lý giam
giữ và giáo dục cải tạo phạm nhân. Ngồi ra, cịn các chi phí về đầu tƣ cơ sở
4
vật chất phục vụ việc tổ chức học tập, hƣớng nghiệp, dạy nghề, sinh hoạt,
khám chữa bệnh… cho phạm nhân. Trong những năm qua, mặc dù đã đƣợc
Nhà nƣớc quan tâm cùng với sự nỗ lực cố gắng của các đơn vị, nhƣng đến
nay vẫn gặp rất nhiều khó khăn, ảnh hƣởng đến việc thực hiện chính sách,
pháp luật đối với phạm nhân [43].
Nhằm thực hiện những yêu cầu, những đòi hỏi trên, BLHS năm 2015 đã
bổ sung thêm một quy định mới, một chính sách hình sự mới thể hiện rõ nét
sự nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam đó là Tha tù trƣớc thời hạn có
điều kiện.
Trong suốt hơn 30 năm lịch sử kể từ khi BLHS năm 1985 có hiệu lực thì
tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội nƣớc Cộng hịa XHCN Việt Nam khóa XIII
(Quốc hội) đã thông qua BLHS số 100/2015/QH13, Bộ luật TTHS số
101/2015/QH13. Lần đầu tiên chế định Tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện
đƣợc quy định trong BLHS và Bộ luật TTHS Việt Nam (Điều 3, Điều 66,
Điều 106 BLHS số 100/2015/QH13 và Điều 368 Bộ luật TTHS số
101/2015/QH13). Ngày 29/6/2016, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số
144/2016/QH13 về việc lùi hiệu lực thi hành của BLHS số 100/2015/QH13,
Bộ luật TTHS số 101/2015/QH13, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự số
99/2015/QH13, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 và bổ sung
dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS số 100/2015/QH13 vào
chƣơng trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016. Trong đó, khoản 2 Điều 1
Nghị quyết số 144/2016/QH13 quy định: “Lùi hiệu lực thi hành của BLHS số
100/2015/QH13, Bộ luật TTHS số 101/2015/QH13, Luật tổ chức cơ quan
điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam số
94/2015/QH13 từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 đến ngày Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của BLHS số 100/2015/QH13 có hiệu lực thi hành, trừ quy định
tại điểm a và điểm b khoản 4 Điều này”. Điểm a khoản 4 quy định: “Kể từ
5
ngày 01 tháng 7 năm 2016: Thực hiện các quy định có lợi cho ngƣời phạm tội
tại khoản 3 Điều 7 BLHS số 100/2015/QH13 và điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị
quyết số 109/2015/QH13 về việc thi hành BLHS; tiếp tục áp dụng khoản 2
Điều 1 và các quy định khác có lợi cho ngƣời phạm tội tại Nghị quyết số
109/2015/QH13”. Khoản 3 Điều 7 BLHS số 100/2015/QH13 quy định: “Điều
luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng…, loại trừ
trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trƣớc thời hạn có
điều kiện, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho ngƣời phạm tội, thì
đƣợc áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trƣớc khi điều luật đó có
hiệu lực thi hành”. Theo các quy định nêu trên thì tha tù trƣớc thời hạn có
điều kiện đƣợc áp dụng kể từ ngày 01/7/2016 để bảo đảm quyền lợi đối với
ngƣời bị kết án phạt tù đang chấp hành án ở các cơ sở giam giữ [43].
Trƣớc tình hình trên địi hỏi phải khẩn trƣơng nghiên cứu, tìm hiểu
làm rõ để xây dựng những nội dung về tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện
cho phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Tha tù trước
thời hạn có điều kiện trong luật hình sự Việt Nam” là cần thiết trong
tình hình hiện nay.
Mặc dù trong pháp luật hình sự Việt Nam, ở các mức độ khác nhau
có đề cập đến chế định tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện ở hai góc độ
gồm ngƣời từ đủ 18 tuổi trở lên và ngƣời dƣới 18 tuổi, tuy nhiên, do tính
chất rộng lớn, đa dạng và phức tạp của vấn đề nghiên cứu nên trong
khuôn khổ phạm vi của một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ đề cập đến
những vấn đề chung đối với ngƣời phạm tội mà khơng có sự phân biệt
đối với ngƣời từ đủ 18 tuổi trở lên và ngƣời dƣới 18 tuổi, đồng thời
trong quá trình nghiên cứu về chế định tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện
có liên quan đến phần thủ tục tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện thuộc
phạm vi quy định của Bộ luật TTHS năm 2015.
6
2. Tình hình nghiên cứu
Là chế định thể hiện chính sách phân hóa trách nhiệm hình sự và ngun
tắc nhân đạo của luật thi hành án hình sự, tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện là
một chế định có sự quan hệ chặt chẽ mật thiết với chế định giảm thời hạn
chấp hành hình phạt tù, miễn chấp hành hình phạt và một số chế định khác
của luật hình sự và luật thi hành án hình sự, vì vậy, chế định này ở các mức
độ khác nhau đã đƣợc một số nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Có thể kể tới một số cơng trình nghiên cứu của các nhà khoa học
pháp lý mà ở các mức độ khác nhau có liên quan tới nội dung tha tù
trƣớc thời hạn có điều kiện nhƣ:
- GS.TSKH Lê Cảm, sách chuyên khảo: “Nhận thức khoa học về
Phần chung pháp luật hình sự Việt Nam sau pháp điển hóa lần thứ ba”,
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2018.
- Lê Trung Kiên, “Tha tù trước thời hạn có điều kiện trong mối
quan hệ với đặc xá và một số kiến nghị” - Tạp chí nghiên cứu lý
luận, nghiệp vụ, khoa học của Học viện Cảnh sát nhân dân số 07(95)
năm 2017.
- Lê Thị Vân Anh, “Tha tù trước thời hạn có điều kiện” - Tạp chí
Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề tháng 8 năm 2014.
Tuy nhiên, khái quát tất cả những nghiên cứu trên đây của các tác
giả cho thấy nội dung về tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện trong các
cơng trình này mới chỉ dừng lại ở các bài viết đăng trên các tạp chí khoa
học pháp lý chuyên ngành hay việc giải quyết một phần nội dung tƣơng
ứng mà chƣa có cơng trình nghiên cứu chuyên sâu, nghiên cứu có hệ
thống, độc lập, có sự đánh giá, tổng kết thực tiễn chi tiết về tha tù trƣớc
thời hạn có điều kiện trong pháp luật Việt Nam.
7
Với tình hình nghiên cứu trên đây một lần nữa cho phép khẳng định việc
nghiên cứu đề tài “Tha tù trước thời hạn có điều kiện trong luật hình sự Việt
Nam” là địi hỏi khách quan, cấp thiết, có ý nghĩa cả mặt lý luận lẫn thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về tha
tù trƣớc thời hạn có điều kiện dƣới khía cạnh lập pháp hình sự và TTHS, đối
chiếu với việc áp dụng chế định này trong thực tiễn, từ đó luận văn tổng kết,
đúc rút kinh nghiệm để đƣa ra những phƣơng hƣớng nhằm hoàn thiện các quy
định về tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện trong luật hình sự và luật TTHS
Việt Nam đồng thời đề xuất những giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả áp
dụng chế định này trong thực tiễn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu lịch sử hình thành phát triển của
chế định về tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện của luật hình sự và luật TTHS
Việt Nam, phân tích khái niệm, bản chất và ý nghĩa của việc tha tù trƣớc thời
hạn có điều kiện cũng nhƣ so sánh giữa tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện với
các chế định gần giống khác trong pháp luật Việt Nam.
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng các quy phạm pháp
luật về tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện trong thực tiễn ở nƣớc ta, đồng thời,
phân tích những tồn tại xung quanh những quy định về tha tù trƣớc thời hạn
có điều kiện và thực tiễn áp dụng chế định tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện
từ khi BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực pháp luật
nhằm đề xuất và luận chứng sự cần thiết phải hoàn thiện và đƣa ra các giải
pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy phạm về chế định này của pháp luật
về thi hành án hình sự Việt Nam.
8
3.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn
về tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện dƣới góc độ luật hình sự và luật TTHS cụ
thể là: khái niệm về tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện; bản chất và hậu quả
pháp lý của tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện; ý nghĩa của tha tù trƣớc thời
hạn có điều kiện; các quy phạm thực định về tha tù trƣớc thời hạn có điều
kiện; thực tiễn áp dụng các quy phạm về tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện từ
đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp về mặt lập pháp cũng nhƣ các biện pháp
thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về tha tù trƣớc thời
hạn có điều kiện trong pháp luật Việt Nam.
3.4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tha tù trƣớc
thời hạn có điều kiện dƣới góc độ luật hình sự Việt Nam, tuy nhiên có phần
thủ tục xét tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện khơng tránh khỏi có liên quan tới
luật TTHS nhằm giải quyết nhiệm vụ và đối tƣợng nghiên cứu. Đồng thời, do
tính chất rộng lớn, đa dạng và phức tạp của vấn đề nghiên cứu nên trong
khuôn khổ phạm vi của một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ đề cập đến những vấn
đề chung đối với ngƣời phạm tội mà khơng có sự phân biệt đối với ngƣời từ
đủ 18 tuổi trở lên và ngƣời dƣới 18 tuổi.
Về thời gian, luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy phạm pháp
luật về tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện từ khi BLHS năm 2015 có hiệu
lực thi hành.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nƣớc ta
về phịng và đấu tranh chống tội phạm, về tính nhân đạo của pháp luật. Nội
dung của luận văn cũng quán triệt sâu sắc tƣ tƣởng chỉ đạo của các Nghị
quyết Đại hội Đảng IX, X, XI, XII và các Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày
01/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lƣợc cải
9
cách tƣ pháp đến năm 2020 ngày 26/5/2005. Luận văn cũng kế thừa và vận
dụng những thành tựu của các bộ môn khoa học pháp lý chuyên ngành nhƣ:
lịch sử Nhà nƣớc và pháp luật; lý luận về Nhà nƣớc và pháp luật; luật hình sự;
luật TTHS; tội phạm học; triết học.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, nhằm tiếp cận và làm sáng tỏ về mặt
lý luận từng vấn đề tƣơng ứng, tác giả luận văn đã sử dụng các phƣơng pháp
nghiên cứu nhƣ: phƣơng pháp lịch sử; phƣơng pháp phân tích và tổng hợp;
phƣơng pháp so sánh, đối chiếu; phƣơng pháp diễn dịch; phƣơng pháp quy
nạp; phƣơng pháp hỏi ý kiến chuyên gia…
5. Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Luận văn là cơng trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật
học về chế định tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện dƣới góc độ pháp lý hình sự
và TTHS trong suốt hơn 30 năm qua (kể từ khi thông qua BLHS năm 1985).
Thông qua kết quả nghiên cứu và các kiến nghị, tác giả mong muốn đóng góp
phần nhỏ bé của mình vào việc phát triển lý luận về tha tù trƣớc thời hạn có
điều kiện giúp cho việc áp dụng chế định này đƣợc chính xác. Ngồi ra, luận
văn có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu,
giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật hình sự nói riêng và
cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại cơ quan Cơng an, Viện kiểm sát,
Tịa án.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận chung, Mục lục, Danh mục tài liệu tham
khảo và Danh mục các từ viết tắt, nội dung của luận văn gồm 2 chƣơng:
Chương 1. Một số vấn đề chung về tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện
Chương 2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và một số nƣớc
trên thế giới về tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện và thực tiễn áp dụng tại
nƣớc ta
10
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
THA TÙ TRƢỚC THỜI HẠN CÓ ĐIỀU KIỆN
1.1. Khái niệm tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện
Tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện là một giải pháp cho phép đƣa ngƣời
phạm tội bị xử phạt tù quay trở về với cộng đồng sớm hơn để sửa chữa lỗi
lầm với sự giúp đỡ và giám sát của gia đình, các cơ quan, đồn thể xã hội.
Đây là một biện pháp đƣợc áp dụng tại nhiều nƣớc trên thế giới dƣới các tên
gọi nhƣ phóng thích có điều kiện hay trả tự do có điều kiện. Việc bổ sung chế
định này sẽ đáp ứng đƣợc mục tiêu về cải cách tƣ pháp về nâng cao hiệu quả
phịng ngừa và tính hƣớng thiện trong xử lý ngƣời phạm tội, cho phép ngƣời
đang chấp hành hình phạt tù đƣợc sớm quay trở lại với cộng đồng, vừa đặt ra
các điều kiện chặt chẽ để thử thách ngƣời phạm tội, có tác dụng giúp đỡ
ngƣời đó sống có trách nhiệm, có kỷ luật, tăng quyết tâm sửa chữa lỗi lầm,
khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm tội. Do vậy, chế định tha tù trƣớc
thời hạn có điều kiện sẽ có hiệu quả cao trong việc phịng ngừa tái phạm,
khuyến khích gia đình, các đồn thể xã hội, cộng đồng tham gia vào việc giáo
dục, phục hồi đối với ngƣời bị kết án, phù hợp với chủ trƣơng xã hội hóa cơng
tác thi hành án của Đảng và Nhà nƣớc ta, đồng thời phù hợp với truyền thống
đoàn kết, tƣơng thân, tƣơng ái của dân tộc ta. Nhƣ vậy, hàng năm sẽ có một lƣợng
lớn ngƣời đang chấp hành án phạt tù đƣợc trả tự do sau khi áp dụng quy định này,
đây là cơ hội để giảm tình trạng quá tải trong các cơ sở giam giữ hiện nay, đảm bảo
các điều kiện sinh hoạt tốt nhất cho ngƣời đang chấp hành án phạt tù, ngoài ra việc
áp dụng chế định này sẽ giảm bớt gánh nặng về kinh tế cho nhà nƣớc, đồng thời, sẽ
tạo ra nguồn cung lao động lớn cho xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất
nƣớc, nâng cao hiệu quả của cơng tác phịng ngừa tái phạm đối với ngƣời kết án
đƣợc miễn chấp hành hình phạt.
11
Chế định tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện lần đầu tiên đƣợc quy định
trong BLHS Việt Nam và đƣợc đánh giá cao bởi nó thể hiện rõ rệt chính sách
hình sự của Đảng và Nhà nƣớc đối với ngƣời phạm tội đang chấp hành hình
phạt tù. Khoan hồng và nhân đạo đƣợc thể hiện đầy đủ trong chế định này, là
một giải pháp cho phép đƣa ngƣời phạm tội bị xử phạt tù về với cộng đồng
sớm hơn thời hạn đã định để phục thiện, sửa chữa lỗi lầm với sự giúp đỡ và
giám sát của gia đình, các cơ quan, đoàn thể xã hội.
Tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện (Conditional Early Release, Release
inmates from Prisons) là một biện pháp trong thi hành án phạt tù đã đƣợc
nhiều nƣớc trên thế giới áp dụng, kể cả những nƣớc phát triển. Thực chất, đây
là việc trả tự do sớm đối với ngƣời đang chấp hành hình phạt tù; sau khi đƣợc
trả tự do, ngƣời đó phải tuân thủ một số điều kiện nhất định do cơ quan có
thẩm quyền xác định trong một thời gian gọi là thời gian thử thách. Nếu trong
thời gian thử thách đó mà ngƣời phạm tội vi phạm các điều kiện đặt ra thì tùy
từng trƣờng hợp cụ thể, cơ quan có thẩm quyền có thể thay đổi điều kiện thử
thách hoặc có thể buộc ngƣời đó phải chấp hành nốt thời hạn cịn lại của hình
phạt tù tại các cơ sở giam giữ.
Nhƣ vậy, có thể hiểu rằng tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện là chế định
cho phép ngƣời đang chấp hành án phạt tù đƣợc trả tự do sớm nhƣng vẫn chịu
sự kiểm sốt thơng qua việc bị buộc phải tuân thủ một số điều kiện thử thách
trong khoảng thời gian nhất định. Nếu trong thời gian thử thách mà ngƣời đó
vi phạm các điều kiện đặt ra thì họ bị buộc phải chấp hành thời hạn cịn lại
của hình phạt tù. Cịn nếu trong thời gian thử thách, ngƣời bị kết án không vi
phạm các quy định này thì họ đƣợc miễn việc chấp hành phần hình phạt tù
chƣa đƣợc chấp hành.
12
Chế định tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện là một chế định đặc biệt, cho
đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm, quan điểm về tha tù trƣớc thời
hạn có điều kiện.
Có quan điểm cho rằng tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện là một trong
các biện pháp tha miễn trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam [20, tr. 49].
Rằng tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện là một dạng của chế định miễn chấp
hành phần hình phạt tù cịn lại.
Trong Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần chung) của Đại học Luật
Hà Nội: “Tha tù trước thời hạn có điều kiện được hiểu là biện pháp miễn chấp
hành có điều kiện thời hạn cịn lại của hình phạt tù đã tuyên” [51, tr. 360].
Hay quan điểm của Vụ pháp luật hình sự - hành chính, Bộ Tƣ pháp thì:
“Tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện là biện pháp miễn chấp hành phần hình
phạt tù cịn lại có điều kiện, đƣợc Tòa án áp dụng đối với ngƣời đang chấp
hành hình phạt tù khi có đủ điều kiện theo quy định của BLHS, xét thấy
không cần buộc họ phải tiếp tục chấp hành hình phạt tù” [59, tr. 4].
Cịn quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì: “Tha tù trƣớc
thời hạn có điều kiện khơng phải là biện pháp miễn chấp hành hình phạt mà là
biện pháp thay đổi việc chấp hành hình phạt từ chấp hành hình phạt trong trại
giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ sang chấp hành hình phạt tại nơi cƣ trú, nơi
làm việc, công tác” [55, tr. 2].
Tại Điều 1 của Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 24/4/2018 về việc hƣớng dẫn áp dụng
Điều 66 và Điều 106 của BLHS về tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện có quy
định: “Tha tù trước thời hạn có điều kiện là biện pháp được Tòa án áp dụng
đối với người đang chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện theo quy
định của BLHS, xét thấy không cần buộc họ phải tiếp tục chấp hành án phạt
tù tại cơ sở giam giữ”.
13
Vậy tại sao lại có quan điểm cho rằng tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện
là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt hay khơng phải là một biện pháp
miễn chấp hành hình phạt ? Vậy miễn chấp hành hình phạt là gì?
Miễn chấp hành hình phạt đƣợc hiểu là việc Tịa án khơng buộc ngƣời đã
bị kết án phải chấp hành tồn bộ hoặc phần cịn lại của hình phạt đã tuyên.
Căn cứ của việc miễn chấp hành hình phạt là tính khơng hợp lý, khơng cần
thiết hoặc khơng có khả năng chấp hành hình phạt do ngƣời bị kết án đã hết
nguy hiểm cho xã hội hoặc do tính chất nguy hiểm khơng lớn cho xã hội của
nhân thân ngƣời phạm tội, do trạng thái sức khỏe của ngƣời phạm tội hoặc do
các tình tiết khác [44, tr. 6].
Theo quan điểm đƣợc thừa nhận phổ biến hiện nay của GS.TSKH Lê
Cảm về miễn chấp hành hình phạt trong luật hình sự, đó là “Tịa án vẫn quyết
định hình phạt nhất định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với
người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm, nhưng khơng buộc người
này phải chấp hành tồn bộ hình phạt ấy khi có đầy đủ căn cứ và những điều
kiện do Pháp luật hình sự quy định” [19, tr. 790]. Nhƣ vậy, chế định miễn
chấp hành hình phạt có thể hiểu là chính sách nhân đạo đối với ngƣời bị kết
án có hồn cảnh đặc biệt và khuyến khích ngƣời bị kết án cố gắng cải tạo để
đƣợc hƣởng sự khoan hồng của Nhà nƣớc, ngƣời bị kết án có thể đƣợc miễn
chấp hành tồn bộ hình phạt hoặc là miễn chấp hành phần cịn lại của hình
phạt đã tun trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật khi có đủ các căn cứ
pháp lý và điều kiện cụ thể do pháp luật hình sự quy định.
Theo cá nhân tơi, tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện là biện pháp miễn
chấp hành hình phạt tù thì sẽ đảm bảo đƣợc các tiêu chí cơ bản tối thiểu và bắt
buộc chung về kỹ thuật lập pháp đối với một văn bản pháp luật hình sự tốt
trong Nhà nƣớc pháp quyền. Theo GS.TSKH Lê Cảm các tiêu chí đó là: Một
– Phải chặt chẽ về mặt cấu trúc; Hai – Phải nhất quán về mặt logic pháp lý;
14
Ba – phải chính xác về mặt khoa học; Bốn – phải khả thi về mặt thực tiễn; và
năm – phải trong sáng (minh bạch) và rõ ràng, đơn giản và dễ hiểu về mặt
thuật ngữ (ngôn ngữ) pháp lý [20, tr. 82]. Bản chất của chế định tha tù trƣớc
thời hạn có điều kiện, đó là biện pháp thay đổi việc chấp hành hình phạt từ
chấp hành hình phạt trong trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ sang chấp
hành hình phạt tại nơi cƣ trú, nơi làm việc, công tác, tuy nhiên ngƣời bị kết án
sẽ không phải chấp hành phần cịn lại của hình phạt đã tun nếu họ không vi
phạm các quy định trong thời gian thử thách, không phạm tội mới, mà không
phải chấp hành phần cịn lại của hình phạt đã tun chính là đặc điểm của
miễn chấp hành hình phạt tù.
Từ các quan điểm trên, tơi có thể đƣa ra khái niệm về tha tù trƣớc thời
hạn có điều kiện trong luật hình sự Việt Nam nhƣ sau: Tha tù trước thời hạn
có điều kiện là việc Tòa án căn cứ vào các quy định của BLHS để miễn việc
tiếp tục chấp hành phần hình phạt tù cịn lại tại các cơ sở giam giữ và ấn
định thời gian thử thách bằng phần hình phạt tù cịn lại đó cho người được
hưởng chế định nhân đạo này.
1.2. Nội hàm của tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện
Từ những lý luận trên, có thể chỉ ra nội hàm của chế định tha tù trƣớc
thời hạn có điều kiện trong luật hình sự Việt Nam với các đặc điểm cơ bản
nhƣ sau:
Thứ nhất, tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện là sự tha miễn, khoan hồng
của Nhà nƣớc, có ý nghĩa chính trị - xã hội – pháp lý hết sức đặc biệt, thể hiện
nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam.
Thứ hai, tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện là biện pháp miễn chấp hành
hình phạt tù có điều kiện. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hệ thống
hình phạt đối với ngƣời phạm tội bao gồm bảy hình phạt chính và bảy hình
phạt bổ sung (đƣợc quy định từ Điều 34 đến Điều 45 BLHS năm 2015 (sửa
15
đổi, bổ sung năm 2017)) trong đó có hình phạt tù có thời hạn. Ngƣời đang
chấp hành hình phạt tù có thời hạn có thể đƣợc hƣởng tha tù trƣớc thời hạn có
điều kiện. Tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện là biện pháp miễn chấp hành
hình phạt tù có điều kiện. Điều đó có nghĩa là ngƣời đƣợc hƣởng tha tù trƣớc
thời hạn có điều kiện là ngƣời đang chấp hành án phạt tù có thời hạn nhƣng
đƣợc miễn chấp hành phần hình phạt tù cịn lại tại trại giam nếu họ thỏa
mãn các điều kiện luật định và không vi phạm các nghĩa vụ trong thời
gian thử thách. Việc cho ngƣời đang chấp hành án phạt tù có thời hạn
đƣợc hƣởng tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện là họ đƣợc “tha tù trước
thời hạn” chấp hành án phạt tù mà Bản án, Quyết định của Tòa án đã
tuyên phạt đối với họ. Những phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại
các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ đƣợc tha tù trƣớc thời hạn có
điều kiện, họ sẽ đƣợc ra tù trƣớc thời hạn mà không phải tới Trại giam,
Trại tạm giam, Nhà tạm giữ tiếp tục chấp hành phần hình phạt cịn lại
nếu họ không vi phạm các nghĩa vụ trong thời gian thử thách.
Thứ ba, tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện thuộc thẩm quyền quyết
định của Tòa án – cơ quan xét xử của nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam
“theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tịa án
quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người bị kết án”,
quy định tại khoản 3 Điều 66 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017).
Thứ tư, văn bản tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện là văn bản đƣợc
thể hiện dƣới dạng Quyết định về tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện của
Tịa án.
Thứ năm, ngƣời đƣợc hƣởng tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện phải
thỏa mãn đầy đủ những điều kiện mà luật hình sự đã quy định.
16
1.3. So sánh chế định tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện với chế định
đặc xá, án treo
Trong các văn bản luật, văn bản hƣớng dẫn luật, trong các ấn phẩm báo
chí hiện nay cũng nhƣ trƣớc đây có các thuật ngữ nhƣ: “đặc xá”, “án treo”…
có khái niệm khá tƣơng đồng, dễ gây nhầm lẫn với chế định tha tù trƣớc thời
hạn có điều kiện.
1.3.1. So sánh chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện với chế định
đặc xá
Trong Từ điển bách khoa Việt Nam đã đƣa ra khái niệm đặc xá nhƣ sau:
“Đặc xá là thể thức miễn tội, giảm hình phạt, miễn hình phạt hoặc xóa án đối
với một người hoặc một số người có biến cải đặc biệt và theo đơn xin của
người phạm tội, của gia đình họ, của cơ quan và tổ chức hữu quan hoặc căn
cứ vào chính sách đối nội, đối ngoại của Nhà nước khi xét thấy cần thiết.
Người bị kết án tử hình nếu được đặc xá thì được tha tội chết, giảm thành tù
chung thân” [52, tr. 747].
Trong cuốn Từ điển Nghiệp vụ phổ thông dùng trong Công an nhân dân
(xuất bản năm 1977) đƣa ra khái niệm: “Đặc xá là xét tha trước hạn tù cho
những phạm nhân cải tạo tiến bộ đạt các tiêu chuẩn quy định nhân dịp Quốc
khánh 02/9 hoặc khi có những sự kiện chính trị đặc biệt ” [57, tr. 179].
Cịn trong Từ điển Bách khoa Cơng an nhân dân Việt Nam thì lại định
nghĩa nhƣ sau: “Đặc xá là việc xét tha trước thời hạn cho những phạm nhân
có quá trình cải tạo, đạt những tiêu chuẩn quy định nhân dịp những sự kiện
chính trị đặc biệt của quốc gia. Người bị kết án tử hình nếu được đặc xá thì
được tha tội chết, giảm thành tù chung thân” [56; tr. 218].
Tuy nhiên, các khái niệm trên đây vẫn chƣa tiếp cận đƣợc chính xác một
số đặc trƣng của đặc xá. Các nghiên cứu về lịch sử đặc xá ở nƣớc ta cho thấy,
17
chỉ có 2 lần Nhà nƣớc quy định đặc xá bao gồm cả việc ân giảm án tử hình,
đó là quy định trong Sắc lệnh số 04/SL ngày 28/12/1946 và Sắc lệnh số
136/SL ngày 15/02/1948. Vấn đề ân giảm cho ngƣời bị kết án tử hình hiện
nay khơng thuộc phạm vi của đặc xá.
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, trƣớc khi Luật đặc xá năm 2007
đƣợc ban hành thì giữa các nhà nghiên cứu, những ngƣời thực thi pháp luật
cịn có nhiều quan điểm khác nhau về chế định đặc xá nhƣ sau:
Theo GS.TSKH Lê Cảm thì:
Đặc xá là sự khoan hồng mang tính chất tổng hợp về mặt pháp lý hình sự
đƣợc thực hiện theo trình tự ngồi Tịa án bằng việc áp dụng đối với riêng
một (những) ngƣời bị kết án cụ thể nhất định một trong các biện pháp tha
miễn của pháp luật hình sự nếu ngƣời đó đáp ứng đầy đủ những điều kiện mà
văn bản đặc xá quy định [19, tr. 843].
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Anh thì:
Đặc xá là việc Chủ tịch nƣớc quyết định tha tù trƣớc thời hạn cho phạm
nhân hoặc miễn chấp hành hình phạt tù cho ngƣời bị kết án phạt tù đang đƣợc
hỗn chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt và có q
trình cải tạo tốt hoặc xét thấy có những lý do khác đáng đƣợc hƣởng sự khoan
hồng, giảm nhẹ đặc biệt [58, tr. 8].
Ngày 21/11/2007, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội nƣớc Cộng hịa XHCN Việt
Nam khóa XII đã thơng qua Luật Đặc xá năm 2007. Luật có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/3/2008. Sau khi Quốc hội thông qua, Chủ tịch nƣớc đã Công bố
Lệnh thông qua Luật này.
Khoản 1 Điều 3 Luật Đặc xá năm 2007 quy định: “Đặc xá là sự khoan
hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời
hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng
đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt”. Khái niệm về
18
Đặc xá theo quy định của Luật Đặc xá năm 2007 đã làm rõ về thẩm quyền
quyết định đặc xá, đối tƣợng đƣợc hƣởng đặc xá, thời điểm đặc xá.
Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nƣớc do Chủ tịch nƣớc quyết
định tha tù trƣớc thời hạn cho ngƣời bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung
thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nƣớc hoặc trong trƣờng hợp
đặc biệt. Ngƣời đƣợc đặc xá tha tù trƣớc thời hạn về cơ bản đƣợc coi nhƣ đã
chấp hành xong hình phạt, khơng phải chịu sự ràng buộc pháp lý nào trừ án
tích và thực hiện hình phạt bổ sung (nếu có). Đối tƣợng, điều kiện cụ thể và
thời điểm xét, thẩm quyền quyết định đặc xá do Chủ tịch nƣớc quyết định.
Giữa đặc xá và tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện có nhiều điểm giống
nhau. Mặc dù đều có những quy định chặt chẽ về điều kiện nhƣng có thể thấy
rõ ràng rằng, đặc xá và tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện là những chế định
mang tính nhân đạo, có sự khoan hồng hơn nhiều so với các biện pháp thi
hành hình phạt tù khác. Ngƣời phạm tội khơng phải chấp hành phần cịn lại
của hình phạt tù trong các cơ sở giam giữ mà đƣợc quay về cộng đồng, hòa
nhập vào xã hội với sự giám sát, quản lý của cơ quan có thẩm quyền nếu thỏa
mãn những điều kiện nhất định. Đặc xá và tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện
đều là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù.
Ngƣời đang chấp hành án phạt tù có thời hạn là chủ thể có thể đƣợc xét
đặc xá và tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện.
Cả đặc xá và tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện đều để lại hậu quả pháp
lý là án tích cho ngƣời chấp hành hình phạt tù trong thời gian nhất định, tùy
theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do ngƣời
đó thực hiện. Cả đặc xá và tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện thì ngƣời chấp
hành hình phạt tù vẫn phải thực hiện hình phạt bổ sung (nếu có), cả hai biện
pháp này đều quy định rõ đối tƣợng, điều kiện cụ thể và thời điểm xét, thẩm
quyền quyết định cụ thể tại các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Thẩm
19